LỜI NÓI ĐẦUTrong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, việc nâng caokh†\năng‡cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu mang ý nghĩa quan trọng hàng đầu.Mặt hàng thủy sản của nước ta
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, việc nâng caokh†\năng‡cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu mang ý nghĩa quan trọng hàng đầu.Mặt hàng thủy sản của nước ta trong hơn 20 năm qua đã tạo lập được một vị thếkhả quan trên thị trường thế giới Trong đó, sản phẩm tôm tuy chỉ chiếm khoảng20% về khối lượng xuất khẩu nhưng luôn chiếm trên 40% trong tổng doanh thuxuất khẩu thủy sản Mặt hàng này ngày càng đạt được mức tăng trưởng xuất khẩucao, giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động, trở thành ngành hàng có tầm quantrọng chiến lược đóng góp vào nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, trước những đòihỏi khắt khe của môi trường cạnh tranh toàn cầu, do nội lực chưa được phát huymột cách hiệu quả nên việc sản xuất,\chế biến và xuất khẩu tôm vẫn còn nhiều bấtcập, hiệu quả khai thác chưa thực sự tương xứng với tiềm năng phát triển
Bởi vậy, việc tìm ra những giải pháp thực tiễn để Việt Nam, bằng những tiềmnăng sẵn có trong sản xuất tôm, cùng với định hướng phát triển đúng đắn của Đảng
và Nhà nước nhằm tạo ra vị thế cạnh tranh mạnh mẽ, tạo nên sức mạnh của thươnghiệu tôm Việt Nam trên thị trường thế giới là vấn đề mang tính cấp thiết được sựquan tâm của nhiều ngành, nhiều cấp, nhất là trong thời điểm hiện nay, khi ViệtNam đang trong tiến trình gia nhập WTO
Xuất phát từ yêu cầu cấp bách của thực tiễn và lý luận như đã phân tích ở
trên, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài “Nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm tôm Việt Nam xuất khẩu trong quá trình hội nhập” làm khoá luận tốt nghiệp của
mình
Mục đích của đề tài là nghiên cứu, đánh giá năng lực cạnh tranh của sản
phẩm tôm Việt Nam trên cả ba phương diện chính: chất lượng, giá cả, xúc tiếnthương mại; trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị và đề xuất một số giải pháp nhằmnâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm tôm Việt Nam xuất khẩu trong thờigian tới
Đề tài tập trung nghiên cứu một số vấn đề chính sau:
- Tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu tôm của Việt Nam trongnhững năm gần đây (tập trung vào giai đoạn 1998-2003)
Trang 2- Xu hướng phát triển thị trường tôm Việt Nam và thế giới cho đến năm2010.
- Triển vọng phát triển sản xuất cũng như khả năng cạnh tranh của sản phẩmtôm Việt Nam xuất khẩu trong quá trình hội nhập hiện nay
- Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm tômViệt Nam xuất khẩu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Phù hợp với mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu nêu trên, nội dung của
đề tài được bố cục như sau:
Mở đầu
Chương I: Khái quát chung về hội nhập kinh tế quốc tế và khả năng cạnh
tranh của mặt hàng tôm Việt Nam xuất khẩu
Chương II: Tổng quan về thị trường tôm thế giới và thực trạng khả năng cạnh
tranh của mặt hàng tôm Việt Nam xuất khẩu
Chương III: Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của
mặt hàng Việt Nam xuất khẩu
Kết luận
Khả năng cạnh tranh của mặt hàng tôm Việt Nam có rất nhiều vấn đề để phântích đi sâu, song trong phạm vi khoá luận này còn có một số thiếu sót như các bảngbiểu sắp xếp chưa được hệ thống, chưa khái quát được toàn bộ các nhân tố ảnhhưởng tới khả năng cạnh tranh của mặt hàng tôm; phạm vi nghiên cứu còn chưabao quát được tình hình sản xuất và xuất khẩu tôm của tất cả các vùng trong cảnước Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp để hoàn thiện hơn nữakhoá luận này
Trang 3CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA MẶT HÀNG TÔM
VIỆT NAM XUẤT KHẨU
I Những vấn đề lý luận chung về hội nhập kinh tế quốc tế
1 Quan niệm về hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Ngày nay, cùng với sự phát triển có tính chất bùng nổ của cuộc Cách mạngkhoa học kỹ thuật và công nghệ, trong động thái hết sức sôi động của xu hướng khuvực hoá, toàn cầu hoá thì đối với mỗi quốc gia, quan hệ kinh tế đối ngoại có vai tròhết sức quan trọng trong việc khai thác có hiệu quả lợi thế so sánh của đất nước, thuhút nguồn vốn từ bên ngoài, chuyển giao công nghệ và trình độ quản lý tiên tiếncủa thế giới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng với tốc độ cao Nhìn chung,thế giới đang chuyển từ đối đầu sang đối thoại, hoà bình, hợp tác và phát triển Bởi
lẽ đó, để phù hợp với xu thế hiện nay, không một quốc gia nào có thể phát triển màlại đứng ngoài quỹ đạo toàn cầu hoá
Trước nhu cầu phát triển, nắm bắt khả năng tận dụng những mặt tích cực của
quá trình toàn cầu hoá, các nước trên thế giới đều có thiên hướng từ bỏ chính sách đóng cửa, chuyển sang chính sách mở cửa với bên ngoài để đẩy mạnh xuất khẩu,
tranh thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý để phát triển Bên cạnh quan hệsong phương, quan hệ đa phương đóng vai trò ngày càng quan trọng trong quan hệquốc tế, xuất hiện nhiều cơ cấu trên mợi tầng nấc: tiểu vùng, khu vực, đại khu vực
và toàn cầu
Có thể nói, trong lịch sử, có nhiều nước phát triển bằng con đường kinh tế đốingoại và đã thành công; và cũng không có nước nào đóng cửa, “bế quan toả cảng”lại có thể phát triển mạnh Bản thân nước ta, từ năm 1986, chúng ta đã tìm thấy mộttrong những giải pháp hàng đầu để thoát khỏi khủng hoảng là tiến hành thành côngcác nhiệm vụ chiến lược và mục đích phát triển kinh tế đối ngoại Đại hội Đảngtoàn quốc lần thứ VI đã khởi xướng công cuộc đổi mới xã hội về mọi mặt, mà nộidung trọng điểm là mở rộng quan hệ hợp tác phát triển kinh tế quốc tế Đại hội
Đảng lần thứ VII nêu rõ: “đa dạng hoá, đa phương hóa quan hệ đối ngoại”, “Việt Nam sẵn sàng là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) đã quyết
Trang 4định “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới” Nghị quyết 04 của BCH TW Đảng khoá VIII (12/1997) chỉ rõ nguyên tắc hội nhập là “trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách thu hút các nguồn lực từ bên ngoài”, “tiến hành khẩn trương, vững chắc việc đàm phán Hiệp định thương mại với
Mỹ, gia nhập APEC và WTO” và “có kế hoạch cụ thể để chủ động thực hiện các cam kết trong khuôn khổ AFTA” Trong Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội
2001 - 2010 tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đã nhấn mạnh gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, phát huy cao độ nội lực đồng thời tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững Bởi lẽ, độc lập tự chủ
về kinh tế tạo cơ sở cho hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả; từ đó tạo điều kiệncần thiết để xây dựng kinh tế độc lập tự chủ Quan điểm của Đảng là xây dựng nềnkinh tế độc lập tự chủ, trước hết là độc lập tự chủ về đường lối phát triển theo địnhhướng XHCN, đẩy mạnh CNH - HĐH, tạo tiềm lực kinh tế, khoa học và côngnghệ, cơ sở vật chất - kỹ thuật đủ mạnh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có hiệu quả vàsức cạnh tranh, có thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, giữ vững ổn địnhkinh tế vĩ mô, đảm bảo nền kinh tế đủ sức đứng vững và ứng phó được với các tìnhhuống phức tạp, tạo điều kiện thực hiện có hiệu quả các cam kết hội nhập quốc tế[1]
Vậy thì, hội nhập kinh tế quốc tế là gì? Theo khái niệm mới nhất mà Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế đưa ra thì “Hội nhập kinh tế quốc tế là sự gắn kết nền kinh tế của một nước vào các tổ chức kinh tế quốc tế”, “Hội nhập kinh tế quốc tế là việc các quốc gia thực hiện chính sách kinh tế mở, tham gia các định chế kinh tế tài chính quốc tế, thực hiện tự do hoá và thuận lợi hóa thương mại, đầu tư, bao gồm:
- Cắt giảm thuế quan
- Giảm và bỏ NTBs và chuẩn mực hoá NTMs
- Giảm hạn chế đối với thương mại dịch vụ
- Giảm hạn chế đối với đầu tư
- Thuận lợi hoá thương mại
- Nâng cao năng lực: văn hoá, xã hội,…”
Trang 52 Mục tiêu, nguyên tắc và phương châm hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
2.1 Mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế
Văn kiện Đại hội IX đã nêu rõ chủ trương “xây dựng nền kinh tế độc lập tựchủ đi đôi với hội nhập kinh tế quốc tế Kết hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn
lực tổng hợp để phát triển đất nước” Nói một cách khác, mục tiêu của hội nhập
kinh tế quốc tế là để tạo thêm nguồn lực, cấu thành sức mạnh tổng hợp nhằm đẩymạnh CNH-HĐH theo định hướng XHCN, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh Những nguồn ngoại lực là tiền vốn, thiết bị, vất tư,thị trường, những tiến bộ khoa học và công nghệ, những kiến thức hiện đại về quảnlý; những đối tác làm ăn, hợp tác,… Như vậy, chủ động hội nhập kinh tế quốc tếchính là nhằm đáp ứng yêu cầu và lợi ích của nước ta trong quá trình phát triển,đồng thời qua đó phát huy vai trò của nước ta trong quá trình hợp tác và phát triểncủa khu vực và thế giới
2.2 Nguyên tắc cơ bản của hội nhập kinh tế quốc tế
Nguyên tắc cơ bản và bao trùm là chủ động hội nhập trên cơ sở đảm bảo giữ
vững độc lập, tự chủ và định hướng XHCN, đảm bảo vững chắc an ninh quốc gia,giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Giữ vững độc lập tự chủ trong quá trình hội nhậpđược thể hiện trước hết trong quyết sách hội nhập nhằm khai thác tối đa các lợi thế,đồng thời đối phó thắng lợi với các thách thức trong quá trình hội nhập Sự chủđộng cần được thể hiện ngay trong việc chọn lựa các tổ chức tham gia, các đối tác
ta có quan hệ và thời điểm tham gia Bên cạnh đó, tính chủ động còn được thể hiệnqua việc xây dựng lộ trình hội nhập hợp lý trong khuôn khổ quy định chung; chủđộng điều chỉnh pháp luật, chính sách cho phù hợp, chủ động tổ chức sản xuất vàđiều hành kinh tế trong nước nhằm nâng cao không ngừng khả năng cạnh tranhkhông chỉ trong thị trường nội địa mà cả trên thị trường quốc tế, chủ động phươngcách thực hiện các cam kết Nói một cách khác, tính chủ động được thể hiện trongviệc chọn “sân chơi” và “cách chơi” theo “luật chơi” chung Còn định hướngXHCN được thể hiện trong những mục tiêu cần đạt được qua quá trình hội nhậpnhằm phục vụ công cuộc CNH - HĐH đất nước
2.3 Phương châm hội nhập
Phương châm cơ bản để tiến hành hội nhập là bảo đảm nguyên tắc cùng có lợi
trong quan hệ song phương và đa phương mà nước ta tham gia Theo nguyên tắc
Trang 6này, một mặt không để thiệt hại đến lợi ích cần có và hợp lý mà ta được hưởng; mặtkhác phải chấp nhận một sự chia sẻ hợp lý lợi ích cho các đối tác tuỳ theo mứcđóng góp của các bên hợp tác Trong hợp tác liên kết, cần giữ vững nguyên tắc vừahợp tác vừa đấu tranh, vừa kiên quyết mềm dẻo, để đạt tới mục tiêu đồng thời bảo
vệ được lợi ích chính đáng của ta Bên cạnh đó, việc phát huy tối đa nội lực mang ýnghĩa quyết định; việc tranh thủ tối đa nguồn lực từ bên ngoài cũng có ý nghĩa quantrọng, để kết hợp được chặt chẽ nội lực với ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp đểphát triển đất nước nói chung và thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng
Tóm lại, trong khi hội nhập, chúng ta phải thực hiện nhất quán phương châm
đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ kinh tế quốc tế Thực hiện phương châmnày chẳng những vừa đảm bảo được lợi ích của nước ta mà nó còn có ý nghĩa rấtquan trọng để giữ vững độc lập tự chủ, sự cân bằng trong các mối quan hệ quốc tế,tránh lệ thuộc một chiều vào một hoặc một số đối tác
II Cơ hội và thách thức khi Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế
Xu hướng toàn cầu hoá vừa là tất yếu, vừa là dòng chảy chính nổi bật Thamgia vào quá trình toàn cầu hóa là những quốc gia khác biệt nhau về tiềm lực, khảnăng, hoàn cảnh, điều kiện, lợi ích và mục tiêu,… Một mặt, quá trình này tạo ranhững yếu tố cạnh tranh thuận lợi hơn cho sự phát triển của mỗi nước dựa trên sựkhai thác có hiệu quả lợi thế so sánh của nước đó; mặt khác, nó cũng tạo ra không ítthách thức và khó khăn – nhất là đối với những nước đang phát triển như Việt Nam
1 Những cơ hội phát triển cho Việt Nam
Việc tham gia vào toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ giúp nước ta cóđiều kiện tham gia nhanh vào hệ thống phân công lao động quốc tế, có điều kiệnchọn lọc, có nhiều cơ hội tiếp cận nhanh chóng, kịp thời công nghệ kỹ thuật mới,
có nhiều cơ hội để tiếp cận các nguồn vốn quốc tế, nâng cao trình độ dân trí vàtrình độ văn minh về nhiều mặt cho các tầng lớp nhân dân, các vùng dân cư nhờ sựphổ biến rộng rãi của hệ thống thông tin toàn cầu, sự phát triển của các phương tiệnthông tin đại chúng và sự kết hợp đa phương tiện truyền thông Có thể nhìn nhậnkhách quan rằng, Việt Nam là nước kém phát triển, tham gia vào hội nhập kinh tếquốc tế, Việt Nam sẽ được giúp đỡ rất nhiều Nhờ vào quá trình hội nhập, chúng ta
có thể nhanh chóng bước vào ngành công nghiệp hiện đại của thế giới, từ đó tácđộng đến các ngành kinh tế khác làm cho năng suất và chất lượng sản phẩm tănglên
Trang 7Tham gia vào các mối liên kết kinh tế khu vực cũng như thế giới sẽ tạo điềukiện cho Việt Nam tận dụng được nguồn vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là nguồnvốn đầu tư trực tiếp (FDI)
Hơn thế nữa, khi ký kết các Hiệp định thương mại song phương với các quốcgia, các tổ chức thương mại khu vực và quốc tế, hàng rào thuế quan và phi thuếquan sẽ được hạ thấp hoặc dỡ bỏ, do đó Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội hơn để tiếpcận với thị trường quốc tế Việc mở rộng thị trường sẽ giúp Việt Nam phát huy tối
đa nguồn lực và thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển Bởi thế, cơ hội tiếp theo
mà quá trình hội nhập kinh tế dành cho Việt Nam là tối ưu hoá cơ cấu hàng hoáxuất khẩu của đất nước Do tiếp cận được nguồn vốn đầu tư của các công ty xuyênquốc gia, tiếp cận được công nghệ, kỹ thuật hiện đại cùng với những kinh nghiệmtrong quản lý và mở rộng thị trường, Việt Nam sẽ cải thiện được cơ cấu hàng hoáxuất khẩu của mình với sự gia tăng tỉ trọng thành phẩm trong xuất khẩu cuả đấtnước
Việc tham gia vào các tổ chức liên kết kinh tế quốc tế giúp cho Việt Namtránh được tình trạng bị phân biệt đối xử, được hưởng những ưu đãi trong quan hệkinh tế thương mại quốc tế Đồng thời giúp cho Việt Nam nâng cao được vị tríquốc tế và tạo thế đứng vững chắc trong quan hệ kinh tế, phục vụ đắc lực cho côngcuộc đổi mới đất nước Chúng ta thấy rằng, cộng đồng thế giới ngày càng gia tăngvai trò của mình trong việc giải quyết các vấn đề lớn, nhạy cảm của toàn cầu (tranhchấp xung đột giữa các nước, chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai, ô nhiễm môi trường,
…) Đó cũng là một điều kiện thiết yếu tốt cho sự phát triển ổn định của từng quốcgia trong đó có Việt Nam
2 Những thách thức đối với Việt Nam
Trước hết, hội nhập kinh tế làm cho nền kinh tế đất nước, sự ổn định và pháttriển phụ thuộc rất nhiều vào trạng thái của các nền kinh tế khu vực và trên thế giới.Khi tham gia vào quá trình toàn cầu hoá, Việt Nam sẽ phải chịu tác động từ các nềnkinh tế bên ngoài, do đó bất cứ một biến động xấu nào từ bên ngoài cũng rất có thể
sẽ tác động tiêu cực tới nền kinh tế trong nước Sản xuất trong nước, như một hệquả tất yếu, sẽ phụ thuộc tương đối vào tình hình thị trường bên ngoài Hơn thế nữa
là việc mất dần bản sắc dân tộc, các tệ nạn xã hội phát triển, đạo đức xã hội xuốngcấp,…
Trang 8Thứ hai, đó là những thách thức về cạnh tranh tiêu thụ sản phẩm Chấp nhậnhội nhập vào nền kinh tế thế giới tức là các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải chấpnhận sự cạnh tranh quốc tế gay gắt Hiện tại và trong tương lai sẽ có nhiều nướcphát triển chọn chiến lược tăng trưởng hướng về xuất khẩu Như vậy, Việt Namkhông những phải cạnh tranh với những đối thủ mạnh đi trước mà còn phải thamgia cuộc cạnh tranh giữa các nước tương đồng nhau về trình độ, về cơ cấu sảnphẩm Như vậy, có thể nói Việt Nam sẽ gặp khó khăn trong việc bảo vệ thị trườngnội địa trước áp lực ngày càng tăng của nạn buôn lậu qua biên giới; của việc mởrộng thị trường khi thực hiện đầy đủ các quy chế và “luật chơi” của AFTA, APEC,WTO,… Hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới, trở thành thành viên của các tổchức khu vực và quốc tế, còn tạo ra những thách thức đối với nền kinh tế Việt Namngay trên đất nước Việt Nam, trên thị trường Việt Nam Những cam kết thực hiện
dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi quan thuế,…còn đặt các doanh nghiệp Việt Namvào vị thế phải cạnh tranh quyết liệt với các công ty nước ngoài, bao gồm cả nhữngcông ty khổng lồ, những công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia ngay trên thị trườngViệt Nam
Hơn nữa, Việt Nam là một nước nhỏ và còn lạc hậu, nguồn nhân lực dồi dàosong chất lượng không cao, phân công lao động không đồng đều nên khó có thểbiến các tiềm năng thành hiện thực; khó tiếp thu các công nghệ, kỹ thuật tiên tiến.Thêm vào đó, vì trình độ của chúng ta về khoa học, công nghệ còn thấp nên có thểtrong quá trình nhập công nghệ, chúng ta đã nhập “nhầm” những công nghệ khônghiện đại, hoặc đã được sử dụng,… gây hậu quả nặng nề về kinh tế Vô tình, chúng
ta đã biến đất nước mình thành bãi thải công nghiệp cho các nước phát triển Trongkhi đó, sự bất bình đẳng giữa mua sản phẩm công nghiệp và bán nguyên liệu từkhoáng sản, nông lâm hải sản, sức lao động,… làm cạn kiệt nguồn tài nguyên củađất nước mà vẫn không phát triển được bao nhiêu, dần dần bị lệ thuộc vào kinh tếcác nước khác
Trong khi đó, nổi cộm lên là sự bất cập về cơ cấu quản lý, hệ thống pháp luật
và chính sách kinh tế thương mại chưa hoàn chỉnh - đặc biệt là chính sách thuế.Trong danh mục hàng hoá công bố dự kiến cắt giảm thuế vào AFTA đến năm 2003thì có đến 70% là những mặt hàng hiện nay chưa sản xuất được tại Việt Nam còndanh mục loại trừ tạm thời thì phần lớn gồm các mặt hàng trong nước đã sản xuấtđược Tình hình này có thể gây đột biến về nhập khẩu và tăng sức ép cạnh tranh,
Trang 9gây khó khăn lớn cho doanh nghiệp, nhất là khi không có sự điều chỉnh hoặc tựđiều chỉnh kịp thời.
Diễn đàn kinh tế toàn cầu (WEF) trong các năm 2001 và 2002 đã xếp ViệtNam ở các vị trí 60 và 65 trong 80 quốc gia lựa chọn Trong khi đó, thứ bậc tươngứng cho Trung Quốc là 47 và 33 Trong báo cáo mới nhất về năng lực cạnh tranhtoàn cầu do WEF tổ chức năm 2003, Việt Nam vẫn xếp hạng 65/80 quốc gia Mặc
dù có tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm khá cao, song khả năng cạnh tranh củaViệt Nam vẫn chưa có nhiều cải thiện Với các lợi thế hiện tại về lao động giá rẻ,tài nguyên phong phú,…Việt Nam cần phải làm rất nhiều việc; cần phải có chiếnlược hợp lý và cơ cấu kinh tế phù hợp; tận dụng được các cơ hội và thông tin hữuích để tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường thế giới
III Những vấn đề về hội nhập kinh tế quốc tế đối với mặt hàng tôm Việt Nam
1 Hội nhập kinh tế quốc tế đối với hàng thủy sản Việt Nam nói chung
Trong lịch sử phát triển của ngành thủy sản Việt Nam, đặc biệt là trong nhữngnăm trở lại đây, sự tăng tốc ngoạn mục của ngành này đang có một vai trò quantrọng Thủy sản đã và đang trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn củanền kinh tế quốc dân Bởi vậy, hội nhập kinh tế quốc tế đối với ngành thủy sản làmột trong những hướng đi đúng đắn và lâu dài nhằm tập trung cố gắng cho ngànhthuỷ sản phát triển đúng vai trò và tiềm năng của nó, đem lại những lợi ích to lớncho nền kinh tế quốc dân Ngành thủy sản đang triển khai những chiến lược pháttriển để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ hội nhập kinh tế quốc tế
Thực hiện chính sách hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, mục tiêu chủ yếucủa ngành thủy sản là thâm nhập và mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm trongkhu vực và trên thế giới; giành được vị trí có lợi trên thị trường; kết hợp một cáchhiệu quả nhất các nguồn lực về vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm trong quản lý
và sản xuất để phát huy tốt nhất lợi thế so sánh của ngành thuỷ sản Việt Nam nhằmđem lại lợi ích kinh tế cho đất nước
Có thể thấy, Việt Nam có tốc độ tăng trưởng sản xuất nông lâm thuỷ sảnnhanh và liên tục, bình quân 4,5%/năm Một số mặt hàng đã có vị thế trên thịtrường thế giới như gạo, cà phê, hạt điều, thuỷ sản,… Theo cách tính độ mở củanền kinh tế phổ biến (tỷ trọng ngoại thương so với GDP) thì Việt Nam có độ mởcủa hội nhập tương đối cao là 49,85%; trong đó nông nghiệp có độ mở là 50-60%
Trang 10(phần lớn là xuất khẩu) với một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như cà phê xuấtkhẩu 95% sản lượng, điều 100%, tiêu 90%, chè 50%,…[1] Đến ngày 1/1/2002,Việt Nam đã có trên 85% số dòng thuế của cả nước tham gia chương trình CEPTcủa ASEAN; trong đó tỷ lệ của hàng nông - thuỷ sản là 76% Những nhóm hàngViệt Nam đã tham gia CEPT thuộc nhóm có khả năng xuất khẩu là chè, cà phê, cao
su, lạc, dừa, điều, rau quả tươi, động vật sống, thuỷ sản,… Không thể phủ nhận
rằng thủy sản đang là nguồn thực phẩm quan trọng cho tiêu dùng trong nước và gópphần không nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu Năm 2002, kim ngạch xuất khẩu thủysản đã vượt qua ngưỡng 2 tỷ USD, và năm 2003 phấn đấu đạt kim ngạch xuất khẩukhoảng 2,3 tỷ USD
Trong quá trình hội nhập kinh tế, ngành thủy sản Việt Nam đã nhanh chóngtiếp thu công nghệ sản xuất tiên tiến của các nước trong khu vực và trên thế giới.Nuôi trồng thủy sản ngày nay chủ yếu tập trung vào nuôi các loài thủy sản có giá trịkinh tế cao và có giá trị xuất khẩu như tôm sú, cá tra, basa, tôm càng xanh,… vớicông nghệ nuôi mới như nuôi công nghiệp tuần hoàn khép kín không thay nước, sửdụng thức ăn công nghiệp, dần sử dụng các chế phẩm sinh học thay thế cho các hoáchất và thuốc phòng, chữa bệnh cho thủy sản dùng trong nuôi trồng có ảnh hưởngđến môi trường
Như vậy, bước vào hội nhập, thủy sản Việt Nam có nhiều thuận lợi cả trong vàngoài nước Nhà nước đã và đang đẩy mạnh chế độ tự do hoá sản xuất và kinhdoanh, tự do hoá xuất khẩu, lưu thông, tiêu thụ và xoá bỏ độc quyền Hơn thế nữa,Chính phủ còn có nhiều chính sách hỗ trợ, khuyến khích sản xuất, kinh doanh,giảm thuế,… Bên cạnh đó, nhiều nước ưa chuộng hàng thủy sản Việt Nam vì sảnphẩm vừa có giá thành rẻ, vừa dần dần đáp ứng được các tiêu chuẩn vệ sinh an toànthực phẩm, tiêu chuẩn về môi trường và chất lượng đang được cải thiện rõ rệt Như vậy, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sẽ có ảnh hưởng lớn đối với cácsản phẩm thủy sản Việt Nam Các khu vực mậu dịch tự do hoá sẽ đem lại nhiều cơhội do giảm thuế quan, mở rộng thị trường quốc tế cho hàng thủy sản, tạo cơ hộiđổi mới công nghệ sản xuất, chế biến thủy sản, tăng sức cạnh tranh, tác động tốtđến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn Bởi lẽ, điều kiện và tiềmnăng để phát triển thủy sản toàn diện, đa dạng ở Việt Nam còn rất lớn, thông qua
[1] Trần Lê - Thời báo kinh tế Việt Nam – 24/03/2003
Trang 11việc gia tăng mức độ hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là hội nhập vào WTO thìtiềm năng của Việt Nam có thể khai thác một cách hữu hiệu và năng động hơn.Tuy nhiên, hàng thủy sản Việt Nam cũng đang phải đối mặt với nhiều khókhăn, thách thức Bên cạnh những khó khăn chung mà nền kinh tế cần giải quyếtnhư đã phân tích ở trên, thủy sản Việt Nam còn có những khó khăn riêng Đó là:diện tích nuôi trồng thuỷ sản tự phát còn nhiều và có xu hướng tăng nhanh; nhiềuloài thủy sản ven bờ đang bị khai thác cạn kiệt; đầu tư trực tiếp nước ngoài vàongành thủy sản đang giảm sút mạnh Mô hình tổ chức quản lý theo hướng thịtrường cũng như thông tin về thị trường hầu như rất hiếm hoi và không cập nhật,dẫn đến sự chậm chạp và thiếu thông tin trong xúc tiến xuất khẩu hàng thủy sản.Ngoài ra, Việt Nam sẽ gặp thách thức lớn do trình độ phát triển chưa cao, năngsuất lao động nông nghiệp còn thấp, ngành công nghiệp chế biến thủy sản cònnhiều yếu kém Cho nên Việt Nam có nguy cơ bị cạnh tranh ngay cả trên sân nhà.
Do đó, khi hội nhập kinh tế quốc tế cần lưu ý những tác động ngược của quá trìnhhội nhập, tự do hoá thương mại đối với nền kinh tế còn non yếu của Việt Nam như:
sự thâm nhập của hàng nhập khẩu, sự biến động giá cả trên thị trường thế giới, vấn
đề cạnh tranh quyết liệt của chất lượng và giá cả thủy sản, thực phẩm do cắt giảmthuế quan hay do hàng rào bảo hộ bị hạn chế hay xoá bỏ,… Nếu không chuẩn bị kỹlưỡng những vấn đề đó thì chúng ta sẽ dễ dàng mang đến tình trạng thua thiệt, phásản, thất nghiệp, nghèo túng cho các hộ nông dân cũng như các doanh nghiệp trongviệc thực hiện đa dạng hoá nông nghiệp, từ đó gây nên sự bất ổn cho nền kinh tế -
xã hội của đất nước
2 Hội nhập kinh tế quốc tế đối với mặt hàng tôm Việt Nam
Ngành thủy sản Việt Nam, trong đó có lĩnh vực xuất khẩu tôm cũng đã nhậnthức rõ ràng rằng, để thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả, điều cần thiếttrước hết là phải xây dựng được nhận thức đúng đắn và thống nhất trong toànngành về vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế; đặc biệt là những nguyên tắc chỉ đạo cơbản và bước đi; cũng như nhận thức được những cơ hội và thách thức, lợi ích vànhững khó khăn phức tạp trong quá trình hội nhập của ngành
Trên thực tế, căn cứ vào điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của đấtnước, tiềm năng phát triển của mặt hàng tôm về diện tích mặt đất, mặt nước, khíhậu, con người, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có; căn cứ vào chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước, ngành thủy sản đã đề ra những chủ trương hội nhập
Trang 12cụ thể Đó là việc phát triển tôm thành mặt hàng chủ lực trong sản xuất, chế biến vàxuất khẩu thủy sản Để làm được như vậy, sản phẩm tôm chế biến cần phải nângcao được chất lượng, hạ được giá thành sản phẩm để hội nhập kinh tế có hiệu quả;bên cạnh việc cạnh tranh bằng giá sẽ chủ yếu là cạnh tranh bằng chất lượng sảnphẩm, bằng thương hiệu trên thị trường thế giới Nhận thức được tầm quan trọng
đó, ngành thủy sản đã và đang tiếp tục triển khai đồng bộ các chương trình kinh tế
-xã hội mục tiêu như Chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản; Chương trình phát triển xuất khẩu thủy sản; Chủ trương phát triển khai thác hải sản xa bờ và ổn định khai thác vùng gần bờ; Tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư; Nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng thủy sản Việt Nam cả trong thị trường nội địa và thị trường quốc tế Đây sẽ là tiền đề cho sự chủ động tham gia hội nhập kinh tế quốc tế
và đưa Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu tôm hàng đầu thế giới
IV Những vấn đề cơ bản về khả năng cạnh tranh
1 Khái niệm về khả năng cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của hàng thủy sản Việt Nam
1.1 hái niệm K
Trong nền kinh tế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, năng lực cạnh tranh
là một khái niệm quan trọng để chỉ khả năng tăng trưởng và phát triển của nền kinh
tế, của doanh nghiệp hay của sản phẩm trên thị trường trong nước và quốc tế
Người ta phân biệt khái niệm năng lực cạnh tranh quốc gia (national competitiveness) và năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp; năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ (competitiveness of company, product and service) Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) đã đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh quốc gia (dưới sự chỉ đạo khoa học của hai giáo sư của Đại học Havard là Michael
E Porter và J Sachs) như sau: Năng lực cạnh tranh quốc gia là năng lực của một
nền kinh tế có thể tạo ra tăng trưởng bền vững trong môi trường kinh tế đầy biếnđộng của thị trường thế giới[1] Còn năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ của
một doanh nghiệp được định nghĩa là khả năng một chủ thể tạo ra, duy trì và giatăng lợi nhuận, thị phần tại các thị trường ngoài nước mà tại đó có nhiều chủ thểkhác cùng tham gia kinh doanh mặt hàng, dịch vụ đó, thông qua việc tận dụng lợithế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất và một loạt các nhân tố đặc trưng kháccủa ngành
Trang 13Năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, củasản phẩm, dịch vụ có mối liên hệ hữu cơ Không thể có năng lực cạnh tranh quốcgia cao khi năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp đều thấp; mặt khác, năng lựccạnh tranh quốc gia, thể hiện qua môi trường kinh doanh, các chính sách kinh tế vĩ
mô, ảnh hưởng quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của các sảnphẩm và dịch vụ
1.2 Các tiêu chí của khả năng cạnh tranh
Trước hết, đối với năng lực cạnh tranh của một quốc gia, WEF sử dụng một
số nhóm tiêu chí và chỉ tiêu để đánh giá Tuy nhiên, có thể chia ra làm hai thời kỳ:trước năm 1999 và sau năm 1999
Trước năm 1999, WEF sử dụng 8 nhóm tiêu chí với 155 chỉ tiêu, vừa kết hợpđiều tra theo mẫu, vừa thăm dò ý kiến của 1500 công ty trên toàn thế giới Támnhóm tiêu chí này bao gồm:
- Độ mở cửa của nền kinh tế
- Vai trò hiệu lực của Chính phủ
- Sự phát triển của hệ thống tài chính - tiền tệ
- Trình độ phát triển của công nghệ
- Trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng
- Trình độ quản lý của doanh nghiệp
- Số lượng và chất lượng của lao động
- Trình độ phát triển của thể chế: bao gồm hiệu lực của cơ quan bảo vệ phápluật
Mỗi nhóm tiêu chí này có vai trò quan trọng khác nhau và đều có những trọng
số nhất định
Sau năm 1999, WEF điều chỉnh lại các nhóm tiêu chí, gộp lại thành ba nhóm
lớn là: sáng tạo kinh tế, khoa học công nghệ, tài chính, quốc tế hóa, trong đó trọng
số của sáng tạo kinh tế, khoa học công nghệ đã tăng mạnh từ 1/9 lên 1/3
Đối với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, sản phẩm, dịch vụ, các vũ khí
cạnh tranh chủ yếu là:
- Cạnh tranh bằng sản phẩm: Uy tín của sản phẩm sẽ tạo nên lợi thế có tínhquyết định trong cạnh tranh, cạnh tranh về sản phẩm sẽ thể hiện ở những mặt sau:+ Cạnh tranh về trình độ của sản phẩm: chất lượng, tính hữu dụng của sảnphẩm, bao bì Tùy những sản phẩm khác nhau sẽ có những tiêu chí khác nhau
Trang 14và điều quan trọng là phải lựa chọn trình độ sản phẩm phù hợp với yêu cầucủa thị trường.
+ Cạnh tranh về chất lượng: tùy theo từng sản phẩm khác nhau với các đặcđiểm khác nhau để lựa chọn chỉ tiêu phản ánh chất lượng, nếu tạo ra nhiều lợithế cho chỉ tiêu này thì sản phẩm càng có nhiều cơ hội giành thắng lợi trongcạnh tranh
+ Cạnh tranh về bao bì: đặc biệt là những ngành có liên quan đến lương thực,thực phẩm, những mặt hàng có giá trị sử dụng cao Cùng với việc thiết kế bao
bì cho phù hợp, doanh nghiệp còn phải lựa chọn cơ cấu sản phẩm cho phù hợp
và cơ cấu hàng hóa, chủng loại hợp lý Điều đó có nghĩa là trong việc đa dạnghóa cơ cấu chủng loại và sản phẩm nhất thiết phải dựa vào một số sản phẩmchủ yếu Cơ cấu thường thay đổi theo sự thay đổi của thị trường, đặc biệt lànhững cơ cấu có xu hướng phù hợp với người tiêu dùng
+ Cạnh tranh về nhãn mác, uy tín sản phẩm: đây chính là công cụ để đánh trựctiếp vào trực giác của người tiêu dùng
+ Cạnh tranh do khai thác hợp lý chu kỳ sống của sản phẩm: cần có nhữngquyết định sáng suốt để đưa ra một sản phẩm mới hoặc dừng cung cấp sảnphẩm đã lỗi thời
- Cạnh tranh về giá: giá là một công cụ quan trọng trong cạnh tranh, thườngđược sử dụng trong các giai đoạn đầu của doanh nghiệp khi doanh nghiệp bước vàomột thị trường mới Cạnh tranh về giá thường được thể hiện ở những khía cạnh sau:+ Kinh doanh với chi phí thấp
+ Bán với mức giá hạ và mức giá thấp
- Cạnh tranh về phân phối và bán hàng: thể hiện ở những nội dung chủ yếusau:
+ Khả năng đa dạng hóa các kênh và chọn được kênh chủ lực
+ Tìm được người điểu khiển đủ mạnh: đối với các doanh nghiệp sử dụng cácđại lý độc quyền thì cần phải xem xét đến sức mạnh của các doanh nghiệpthương mại làm đại lý cho doanh nghiệp
+ Có hệ thống bán hàng phong phú: đặc biệt là hệ thống các kho, các trungtâm bán hàng được trang bị cơ sở vật chất hiện đại
+ Có nhiều biện pháp để kết dính các kênh lại với nhau
Trang 15+ Có các dịch vụ bán và sau bán hàng hợp lý: chủ yếu thể hiện ở nội dung: tạonhững điều kiện thuận lợi nhất cho thanh toán; có chính sách tài chính và tiền
tệ hợp lý để tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán với khách hàng; hệthống thanh toán phải nhanh đồng thời đảm bảo công tác quản lý của doanhnghiệp; các phương tiện bán văn minh, nắm được phản hồi của khách hàngnhanh nhất và hợp lý nhất; bảo đảm lợi ích củâ người bán và người mua,người tiêu dùng hợp lý nhất và công bằng nhất, thường xuyên cung cấp nhữngdịch vụ sau bán cho người sử dụng, hình thành mạng lưới dịch vụ rộng khắp ởnhững địa bàn dân cư
- Cạnh tranh về thời cơ thị trường: vấn đề là các doanh nghiệp cần dự báođược và nắm được thời cơ thị trường mà thường xuất hiện do các yếu tố sau:
+ Do sự thay đổi của môi trường công nghệ
+ Do sự thay đổi của yếu tố dân cư, điều kiện tự nhiên
+ Do các quan hệ tạo lập được của từng doanh nghiệp
Cạnh tranh về thời cơ thị trường thể hiện ở chỗ doanh nghiệp dự báo đượcnhững thay đổi của thị trường, từ đó có những chính sách khai thác thị trường hợp
lý và sớm hơn các doanh nghiệp khác Tuy nhiên, cạnh tranh về thời cơ thị trườngcòn thể hiện ở chỗ doanh nghiệp tìm ra được những lợi thế kinh doanh sớm và đivào khai thác thị trường và một loạt sản phẩm của doanh nghiệp cũng có thể sẽ sớm
bị lão hóa Yêu cầu này đòi hỏi các doanh nghiệp phải thích ứng nhanh với nhữngthay đổi đó
- Cạnh tranh về không gian và thời gian:
Loại cạnh tranh này xuất hiện những vấn đề về chính sách sản phẩm và chínhsách giá cả của sản phẩm Giá cả của các doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trườngchênh lệch là không lớn, chất lượng tương đối ổn định, trong trường hợp như vậythời cơ và thời gian có vai trò quan trọng và nó quyết định việc mua bán Doanhnghiệp nào có quá trình mua bán thuận tiện nhất, nhanh nhất sẽ chiến thắng trongcạnh tranh Để thực hiện việc bán hàng nhanh nhất, thuận tiện nhất phải sử dụngmột loạt các biện pháp sau:
+ Ký hợp đồng nhanh và thuận tiện
+ Điều kiện bán hàng nhanh và thuận tiện
+ Thủ tục thanh toán nhanh
+ Các hoạt động sau bán hàng phải phong phú
Trang 16Song vấn đề cơ bản vẫn là tạo lập được uy tín giữa người mua và người bán,làm tốt được công tác này là một trong những điều kiện quyết định năng lực cạnhtranh của sản phẩm của doanh nghiệp.
Trang 171.3 Năng lực cạnh tranh của hàng thuỷ sản Việt Nam
Năng lực cạnh tranh của hàng nông - lâm - thủy sản của Việt Nam được chialàm 3 nhóm[1]:
- Nhóm có khả năng cạnh tranh và đang cạnh tranh có hiệu quả: bao gồm
thủy sản, trái cây đặc sản (vải thiều, xoài, bưởi, ), một số đặc sản nông nghiệp
(mè, măng khô, ), điều, tiêu, gạo,
- Nhóm có khả năng cạnh tranh có điều kiện: bao gồm chè, cao su, rau, hoatươi, thực phẩm chế biến,
- Nhóm có khả năng cạnh tranh thấp: bao gồm mía đường, bông, cây có dầu,
đỗ tương, ngô, sữa bò,
Hàng thủy sản nằm trong nhóm một – nhóm có khả năng cạnh tranh và đang
cạnh tranh có hiệu quả; trong đó tôm chế biến là mặt hàng có tỷ lệ lao động cao;dựa vào lợi thế so sánh về sự khéo léo, tiếp thu nhanh của lao động, chi phí tiềncông lao động tương đối thấp Song ngành hàng này đang phải đối mặt với sự cạnhtranh gay gắt, đa số chưa có thương hiệu, chưa có mẫu mã sản phẩm riêng; chưa tạođược cơ sở nguyên liệu, phụ liệu, cơ sở công nghệ và kỹ thuật cần thiết nên giáthành còn cao, tính độc đáo của sản phẩm bị hạn chế nhiều, chất lượng thiếu ổnđịnh, năng lực sản xuất còn yếu, chưa đáp ứng được những đơn hàng lớn
Những sản phẩm thuộc nhóm hai, có khả năng cạnh tranh có điều kiện bao
gồm những sản phẩm rất đa dạng thuộc cả 3 ngành chính nông nghiệp, côngnghiệp, dịch vụ, trong đó có những ngành có thể tương đối nhanh trở thành nhữngngành có năng lực cạnh tranh như chè, rau quả, hoa tươi, Chè là một ví dụ điểnhình về tiềm năng to lớn nếu được cải thiện về giống, công nghệ trồng trọt và chếbiến, Các sản phẩm thuộc nhóm này cần nhanh chóng nâng cao khả năng cạnhtranh trong thời gian tới khi mà thời hạn thực hiện đầy đủ các cam kết AFTA đangđến gần
Nhóm thứ ba gồm những sản phẩm mà hiện tại và trong thời gian trước mắt,
khả năng cạnh tranh có khoảng cách quá xa so với những đối tác cạnh tranh đangphải đối mặt Những sản phẩm nông nghiệp được liệt kê là những sản phẩm mànăng suất, chất lượng, giá thành còn kém xa so với những sản phẩm đang đượcchào bán trên thị trường thế giới
[1] Theo tài liệu của Viện nghiên cứu kinh tế trung ương 1999, Thời báo Kinh tế Việt Nam 18/03/2003
Trang 182 Những lợi thế so sánh của mặt hàng tôm Việt Nam khi hội nhập kinh tế quốc tế
2.1 Về điều kiện tự nhiên và khí hậu
Việt Nam nằm ở ven biển khu vực Đông Nam Á với những điều kiện tựnhiên hết sức thuận lợi đối với việc phát triển ngành thuỷ sản nói chung và mặthàng tôm nói riêng Đường bờ biển dài 3260 km với 12 đầm phá và các eo vịnh,
112 cửa sông và khoảng 4000 đảo lớn nhỏ ven biển rất thuận lợi cho việc khai tháccác loại tôm nước mặn như tôm hùm, Trong nội địa, hệ thống sông ngòi, kênhrạch chằng chịt và nhiều hồ lớn nhỏ, những vùng đất cát rộng lớn ở các tỉnh miềnTrung,…tạo cho nước ta có tiềm năng lớn về nuôi trồng tôm
Mặc dù có những nét khác biệt giữa ba miền Bắc, Trung, Nam song nhìnchung cả nước mang sắc thái hai mùa: mùa mưa và mùa khô Miền Bắc khí hậu ônhoà, là vùng chịu ảnh hưởng nhiều của bão Miền Trung lượng mưa nhiều nhất, cónhiều đầm phá thích hợp nuôi tôm Miền Nam khí hậu mang tính chất xích đạo.Nhìn chung, chế độ khí hậu, thời tiết và các điều kiện tự nhiên đa dạng tạo điềukiện phát triển nuôi trồng nhiều loài tôm khác nhau, và hiện nay diện tích nuôitrồng tôm ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang được mở rộng hơn nữa
Ngoài ra, về địa lý, Việt Nam nằm ở khu vực gần các thị trường lớn đối vớimặt hàng tôm như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc,…có tiềm năngtăng trưởng lớn đối với việc tiêu thụ sản phẩm tôm tươi sống cũng như qua chếbiến
2.2 Về nguồn lợi tôm tự nhiên
Vùng biển Việt Nam là một trong những vùng biển có năng lực tái tạo sinhhọc tương đối cao do nằm trong vùng sinh thái nhiệt đới Hơn nữa, môi trường biểncòn tương đối trong sạch, chưa bị ô nhiễm nhiều Điều kiện tự nhiên của Việt Namrất thuận lợi để các loài thuỷ sinh vật quần tụ, sinh sôi, phát triển, có thể khai thácđược nhiều loài tôm nước mặn giá trị cao Bên cạnh đó, Việt Nam có một lợi thếđịa lý thực sự với vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn, hàng nghìn hòn đảo mà nhiềunơi có khả năng xây dựng những trung tâm nuôi tôm lớn
Nhìn chung, ở nước ta, các nguồn tôm ở vùng phía Bắc tập trung hầu như toàn
bộ ở Vịnh Bắc Bộ Chiều sâu của Vịnh trung bình khoảng 50m, với đáy là cát vàbùn Các đảo Cát Bà và Bạch Long Vĩ (cách bờ khoảng 75km) là hai đảo lớn nhất
và giữ vai trò là hai trung tâm khai thác lớn của Vịnh Bắc Bộ Khu vực miền Trung
Trang 19có đặc điểm là phần thềm lục địa rất hẹp Vùng nước có độ sâu 100m rất gần bờ.Vùng nước có độ sâu từ 200m trở lên cách bờ khoảng 30 - 50km Do phần thềm lụcđịa hẹp nên những tàu đánh bắt lớn không nhiều Hơn nữa vùng này nằm trongvành đai bão gây ảnh hưởng lớn đến các hoạt động khai thác tôm Các ngư trườngmiền biển phía nam Việt Nam bao gồm các vùng biển ở phía Tây nam của ViệtNam, trong vùng Vịnh Thái Lan và ngoài khơi phía Đông nam của Việt Nam Độsâu của vùng biển này khoảng 60m Đây là vùng chịu ảnh hưởng mạnh của sôngCửu Long, sông này đổ ra biển một khối lượng lớn nước ngọt mang theo nhiều chấtdinh dưỡng trầm tích, do đó năng suất đánh bắt thủy sản nói chung và đánh bắt tôm
ở vùng này nói riêng là tương đối cao
Trên toàn quốc có khoảng 250 hồ và đầm phá, chiếm khoảng 34.000ha Tỷ lệlớn nhất là ở các vùng ven biển Nam Trung Bộ, sau đó là châu thổ sông Hồng vàcác vùng khác Nước ta có khoảng 2.360 con sông với trên 100 sông lớn Các ruộnglúa ở Việt Nam chiếm một diện tích khoảng 548.000ha Đây là nguồn khai thác rấtlớn Các loài sinh sống ở vùng này chủ yếu là các loại tôm nước ngọt với sản lượngkhai thác không nhiều, tập trung chủ yếu để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước,ngoại trừ tôm càng xanh có giá trị cao ở vùng sông Cửu Long có thể khai thác vàtập trung cho xuất khẩu
Các loài tôm khai thác được trên biển thường là những loài có giá trị kinh tếcao, sản lượng lớn, chủ yếu tập trung cho xuất khẩu như: tôm he, tôm chì, tômvàng, tôm sắt, tôm rằn,…Theo các kết quả nghiên cứu, tại vùng biển Việt Nam đãbắt gặp 225 loài tôm thuộc 69 giống của 24 họ, trong đó có 96 loài của 6 họ tômquan trọng nhất: họ Penaeidae có số lượng đông nhất - 59 loài; họ Solenoceridae -
12 loài; họ Nephropidae - 3 loài; họ Aristeidae - 3 loài; họ Palinuridae - 9 loài; họScyllaridae - 9 loài Trong 96 loài trên, có 43 loài có giá trị kinh tế và xuất khẩu(chiếm 45%), trong đó có 10 loài đang được nuôi tại Việt Nam
2.3 Về nguồn lao động
Toàn ngành thuỷ sản hiện có khoảng hơn 450.000 lao động tham gia đánh bắthải sản, trong đó hoạt động gần bờ khoảng hơn 310.000 người chiếm tỷ trọng 73%,hoạt động xa bờ khoảng 120.000 người; ngoài ra là lao động với các hoạt độngđánh bắt khác Ngành thủy sản đang tích cực đào tạo nâng cao trình độ tay nghềcho đội ngũ lao động nghề cá để họ tiến kịp với sự phát triển về ứng dụng khoahọc, công nghệ, trang bị của đội tàu xa bờ
Trang 20Với trên 4 triệu dân sống ở vùng triều và khoảng 1 triệu người sống ở đầmphá tuyến đảo của 714 xã phường thuộc 28 tỉnh, thành phố có biển và hàng chụctriệu hộ nông dân, hàng năm đã tạo ra lực lượng lao động nuôi trồng đáng kể,chiếm tỷ trọng quan trọng trong sản xuất nghề cá nói chung và nuôi tôm nói riêng.Chưa kể 1 bộ phận khá đông ngư dân làm nghề đánh cá nhưng không đủ phươngtiện để hành nghề khai thác cũng chuyển sang nuôi trồng thủy sản và lực lượng laođộng vừa sản xuất nông nghiệp vừa nuôi trồng thuỷ sản Trong nhiều năm qua,nông ngư dân đã tích luỹ nhiều kinh nghiệm trong nuôi trồng thuỷ sản và là độnglực quan trọng góp phần thực hiện thắng lợi chương trình phát triển nuôi trồng thủysản
Bên cạnh đó, chi phí lao động của nước ta thấp, lực lượng lao động lại dồi dào
đã góp phần giảm giá đầu vào khiến cho sản phẩm thuỷ sản có sức cạnh tranh cao
2.4 Về đội tàu khai thác, đánh bắt
Qua 10 năm đổi mới, năng lực tàu thuyền khai thác hải sản đã phát triểnnhanh Năm 1986, toàn ngành thủy sản có 31.680 tàu thuyền máy với tổng côngsuất 537.500 CV, 29.000 phương tiện thủ công bao gồm bè mảng và thuyền gỗ từ1-3 tấn/chiếc Đến nay số tàu thuyền đã tăng lên thành 72.000 chiếc với tổng côngsuất khoảng 2,5 triệu CV và 29.000 thuyền thủ công
Ngoài ra, từ những nghiên cứu thực tế, từ các cuộc khảo sát thị trường, phântích các yếu tố liên quan tác động và cân đối hiệu quả sản xuất - kinh doanh chếbiến xuất khẩu mặt hàng tôm trong những năm qua, ta có thể thấy mặt hàng tômcủa Việt Nam có những lợi thế như: có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, tôm đangtrở thành mặt hàng chiếm tỉ trọng lớn nhất trong cơ cấu các mặt hàng thủy sản xuấtkhẩu, thường xuyên chiếm trên 44% giá trị kim ngạch thủy sản xuất khẩu; nhu cầu
về ẩm thực của thế giới đã có sự lựa chọn và chuyển dần sang nguồn thực phẩmdưới nước, thị trường tiêu thụ tôm đang trên đà tăng trưởng nhanh; khả năng cungcấp nguồn nguyên liệu cho các nhà máy chế biến trong nước dồi dào, phong phú vàđang phát triển mạnh;…
3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của mặt hàng tôm xuất khẩu
3.1 Các nhân tố bên trong
Trang 21- Chiến lược kinh doanh sản phẩm của các doanh nghiệp, của cả ngành hàngdựa trên cơ sở phân tích thị trường, lợi thế so sánh, định hướng thị trường và loạisản phẩm.
- Trình độ khoa học công nghệ, khả năng tiếp cận công nghệ và đổi mới côngnghệ hiện có, chi phí cho nghiên cứu và triển khai, là những yếu tố hàng đầu vềchất lượng sản phẩm tôm
- Vấn đề nguồn nhân lực và năng suất lao động: bao gồm các yếu tố liên quanđến người lao động, các nhân tố tổng thể về năng suất lao động (TFP - Total FactorProductivity), vai trò của đào tạo, bồi dưỡng nhân viên, người lao động
- Chi phí sản xuất và quản lý, bao gồm những chi phí của sản xuất kinhdoanh và những chi phí quản lý, giao tiếp, tất cả những chi phí này là một bộphận cấu thành nên giá thành của sản phẩm, do đó nếu những chi phí này cao sẽ độigiá thành và giá cả sản phẩm lên rất cao Theo báo cáo của các doanh nghiệp vàtheo điều tra của JETRO - Cơ quan thương mại hải ngoại của Nhật Bản- vào năm
2002 thì nhiều chi phí đầu vào ở Việt Nam được coi là cao hơn nhiều so với mứcgiá khu vực, ví dụ như giá cước điện thoại quốc tế, giá bốc xếp ở các cảng, giá củacác sản phẩm độc quyền như xi măng, đều cao hơn giá của thế giới, ngoài ra cònnhững khoản chi không nhỏ ngoài quy định của pháp luật,
- Đầu tư cho nghiên cứu, triển khai, thương hiệu, kiểu dáng công nghiệp
3.2 Các nhân tố bên ngoài
- Các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên như khí hậu, thổ nhưỡng có tác độngrất lớn đến hoạt động khai thác và nuôi trồng tôm
- Sự tham gia của các đối thủ cạnh tranh trên lĩnh vực kinh doanh, sự xuấthiện những đối thủ mới
- Khả năng xuất hiện sản phẩm thay thế, tính độc đáo của từng loại mặt hàng
- Vị thế đàm phán để cung ứng sản phẩm tôm (độc quyền, vị thế tài chính, )
- Mức độ cạnh tranh trên thị trường của doanh nghiệp trong nước và nướcngoài
- Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô: là các hệ thống chính sách, biện pháp,chủ trương của Nhà nước đối với mặt hàng như chính sách thuế, chính sách hỗ trợđầu tư, chính sách thương mại,
Trang 22CHƯƠNG II
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG TÔM THẾ GIỚI VÀ THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA MẶT
HÀNG TÔM VIỆT NAM XUẤT KHẨU
1 Tổng quan về thị trường tôm thế giới
2 Khái quát chung
Trên thị trường thế giới, hàng thuỷ sản được xếp vào nhóm sản phẩm cơ bản,luôn trong tình trạng cung không đáp ứng được cầu ở quy mô toàn cầu Nguyênnhân cơ bản của sự phồn vinh của thị trường thủy sản thế giới là do sự gia tăng dân
số, tăng thu nhập trên phạm vi toàn cầu (nhất là ở các nước đang phát triển) cùngvới làn sóng thứ hai về chuyển dịch cơ cấu nhu cầu thực phẩm của thế giới từ thịtgia cầm sang thủy sản (làn sóng thứ nhất bắt đầu bằng việc chuyển từ tiêu thụ thịt
đỏ sang thịt gia cầm)
Đặc điểm chung của buôn bán hàng thủy sản thế giới là nhiều nước vừa lànước xuất khẩu vừa là nước nhập khẩu thủy sản Hàng thủy sản trong thương mạiquốc tế thường chia thành 7 nhóm sản phẩm chính, trong đó nhóm giáp xác và
nhuyễn thể tươi, ướp đông và đông lạnh (chủ yếu là tôm) chiếm tỷ trọng lớn thứ hai
(khoảng 35-40% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản thế giới), đứng saunhóm thứ nhất là cá tươi, cá ướp đông, đông lạnh (chiếm khoảng 43-45%) Thịtrường tôm thế giới là thị trường đắt đỏ nhất trong buôn bán thủy sản thế giới Khốilượng tôm khai thác và tôm nuôi chỉ chiếm khoảng 5,5-6% tổng khối lượng thủysản thế giới song giá trị tôm xuất khẩu lại chiếm tới hơn 22% tổng giá trị xuất khẩuthủy sản của thế giới Trên thị trường tôm thế giới, hai họ tôm chính được trao đổibuôn bán là tôm nước lạnh và tôm nước ấm (với tỉ lệ 1/5) Tôm nước lạnh đượcđánh bắt chủ yếu ở các nước Bắc Âu, Canada,…Còn lại hầu hết tôm nước ấm đượcđánh bắt và nuôi ở các vùng nhiệt đới trên thế giới như: Châu Á, Châu Phi, Châu
Mỹ Latinh và Hoa Kỳ Các sản phẩm tôm được buôn bán trên thế giới là tôm sống,tôm ướp đá, tôm đông lạnh, tôm luộc đông lạnh, tôm khô, và các sản phẩm khácnhư tôm xay, tôm hộp, tôm tẩm bột, và các sản phẩm hỗn hợp có tôm Trong đó,tôm đông lạnh chiếm tỷ trọng lớn nhất, tôm sống được coi là sản phẩm có giá trịgia tăng cao với tỉ trọng tăng dần, còn tôm khô có tỉ trọng giảm
Trang 233 Sản xuất tôm của thế giới
Theo thống kê của FAO, năm 1980, tổng sản lượng tôm thế giới mới đạt1.682 nghìn tấn thì năm 1990 là 2639 nghìn tấn, năm 1995 là 3.397 nghìn tấn năm
1999 là 4.118 nghìn tấn và năm 2000 là 4.168 nghìn tấn Trong đó, sản lượng tômkhai thác tự nhiên năm 2000 chiếm 73,9%, còn sản lượng tôm nuôi chiếm 26,1%.Trong số các loại tôm nuôi thì tôm sú cho sản lượng cao nhất, chiếm 70% sảnlượng tôm nuôi, trong đó chủ yếu được nuôi ở khu vực Đông Nam Á và Nam Á.Như vậy có thể thấy, sản lượng tôm thế giới dựa vào hai nguồn cung cấp chính là
từ khai thác tự nhiên và nuôi tôm.
Bảng 1: Tình hình sản xuất tôm của thế giới giai đoạn 1996-2002
Năm
lượng (1.000 tấn)
Sản lượng (1.000 tấn)
% tăng giảm
Sản lượng (1.000 tấn)
% tăng giảm
Nguồn: Glofish highlights series number 1993-2002
Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA); USA Fishery Products Annual 2002 2.1 Sản lượng tôm khai thác
Sản lượng tôm khai thác tự nhiên chiếm khoảng 77,5% tổng sản lượng tômthế giới - một tỷ lệ áp đảo Điều đáng chú ý là sản lượng tôm khai thác tự nhiêntăng liên tục và bền vững, điều này chức tỏ nghề khai thác tôm tự nhiên đã đượcquan tâm đặc biệt và công tác bảo vệ nguồn lợi tôm, quản lý nghề khai thác tôm đãđược các quốc gia chú trọng và thực hiện tương đối tốt Tôm khai thác đang có nhucầu ngày càng cao và việc xuất khẩu chúng thuận lợi hơn là tôm nuôi Các quốc giakhai thác tôm tự nhiên đã đưa vào sản xuất các tàu tôm cỡ lớn và hiện đại có lắpcác dây chuyền chế biến tôm ngay trên tàu, tôm vừa lên khỏi mặt nước được chếbiến ngay nên sản phẩm có chất lượng cao, được người tiêu dùng ưa chuộng
Trung Quốc là nước khai thác tôm số một thế giới với sản lượng năm 2000đạt gần 1 triệu tấn Đây là kết quả rất lớn và có được là do chính sách bảo vệ nguồnlợi tự nhiên, thả tôm giống xuống biển liên tục trong nhiều năm và quản lý rất tốt
Trang 24nghề khai thác tôm tự nhiên Tiếp theo đó là Ấn Độ, Indonesia, Mỹ, Thái Lan,Canada, Việt Nam,…
Tuy nhiên trong thời gian gần đây, sản lượng tôm khai thác của thế giới có vẻchững lại, trong khi sản lượng tôm nuôi lại liên tục gia tăng
2.2 Sản lượng tôm nuôi
Hiện nay, do chưa tìm ra được nhiều ngư trường mới nên cung cấp tôm củathế giới hiện nay tăng lên hay giảm xuống chủ yếu là do tình hình sản xuất tômnuôi quyết định Nhìn chung, trong những năm qua, sản lượng tôm nuôi nhân tạobiến động rất thất thường qua từng năm và khó có thể dự báo chính xác, mặc dùnghề nuôi tôm đang được nhiều nước rất coi trọng, đầu tư lớn và có rất nhiều dự ánphát triển Nguyên nhân dẫn đến thực tế thăng trầm trong nghề nuôi tôm trên thếgiới hiện nay là do những vấn đề bức xúc đi kèm như nạn dịch tôm luôn bùng nổ ởdiện rộng và gây tổn thất to lớn; thảm rừng ngập mặn bị triệt phá nghiêm trọng; nạn
ô nhiễm nước và đất; nạn mặn hoá các vùng đất nông nghiệp; môi trường xuốngcấp,…Sau khi đạt mức sản lưọng cao nhất là 840 nghìn tấn năm 1992; sản lượngtôm nuôi của thế giới tăng giảm thất thường Năm 1998 đạt 820 nghìn tấn; năm
1999 tụt xuống còn 796 nghìn tấn Năm 2000, sản lượng tôm nuôi đạt 865 nghìntấn, chiếm 22,5% tổng sản lượng tôm toàn thế giới với giá trị khoảng 5,1 tỷ USD Tuy có hơn 20 loài tôm được nuôi nhân tạo trên phạm vi cả thế giới, cả tômnước ngọt, nước lợ và nước mặn; song cho sản lượng lớn nhất là tôm sú (TigerShrimp), chiếm 70% sản lượng tôm nuôi Năm 2000, sản lượng tôm sú toàn thếgiới đạt 585 nghìn tấn, trị giá 3,7 tỷ USD, chiếm 67,6% sản lượng tôm nuôi Rõràng ở giai đoạn hiện nay, tôm sú vẫn là đối tượng nuôi quan trọng nhất và có giátrị cao nhất (trung bình tôm nuôi thương phẩm có giá 6,34 USD/kg)
Hiện nay tôm nuôi chủ yếu tập trung ở Châu Á, chiếm 87% sản lượng tômnuôi thế giới; sau đó là Mỹ Latinh Nhìn chung, nghề nuôi tôm tập trung ở khu vựcChâu Á - Thái Bình Dương Về phương thức nuôi cũng có nhiều thay đổi Các môhình nuôi thâm canh giảm và đang chuyển dần sang nuôi bán thâm canh Các hệthống nuôi quảng canh hoạt động với công suất lớn Việc quản lý ao nuôi đã đượctăng cường, người nuôi tôm đã có thói quen sử dụng ngày càng nhiều hơn cáckháng sinh và chế phẩm sinh học trong quản lý chất lượng nước và nuôi tôm Đây
là những tín hiệu tích cực cho ngành nuôi tôm nhân tạo của thế giới
Ta có thể xem xét tình hình sản xuất tôm của một số nước Châu Á
Trang 252.2.1 Thái Lan
Mặc dù tổng sản lượng tôm năm 2002 chỉ đạt khoảng 340.000 tấn, giảmkhoảng 60.000 tấn so với năm 2001, Thái Lan vẫn là nước sản xuất tôm lớn nhấtthế giới Diện tích nuôi tôm sú năm 2002 là 76.000 ha; ngoài ra còn trên 244.000 harừng ngập mặn nuôi tôm Thái Lan là nước nuôi tôm sú lâu năm, có nhiều kinhnghiệm trong nuôi tôm công nghiệp Song từ năm 1999 trở lại đây, năng suất tômgiảm dần do dịch bệnh và môi trường bị xuống cấp khá nặng Năm 2002, sản lượngtôm nuôi chỉ đạt trung bình 3,9 tấn/ha; giảm 1,2 tấn/ha so với năm 1999 Tuy nhiên,
từ năm 2001, loài tôm he chân trắng đã được đưa vào nuôi và ngày càng mở rộngdiện tích Năm 2003, loài này ước tính chiếm khoảng 10% tổng sản lượng tôm của
cả nước
2.2.2 Trung Quốc
Trung Quốc đang từng bước chứng tỏ ưu thế ngày càng áp đảo trên thị trườngtôm quốc tế do có mức tăng trưởng sản lượng rất cao Năm 2002, sản lượng tômTrung Quốc đạt 310.750 tấn; tăng 17% so với năm 2001 Mức tăng trưởng nàyđược duy trì và nâng cao là do có sự đổi mới và nâng cấp công nghệ nuôi; áp dụngviệc thả giống mật độ cao; nhanh chóng chuyển sang nuôi tôm he chân trắng; mởrộng diện tích nuôi và tăng cường biện pháp kiểm soát dịch bệnh Tuy nhiên, hiệnnay sản xuất tôm của Trung Quốc đang gặp những khó khăn cơ bản là thiếu nguồntôm bố mẹ; thiếu các cơ sở sản xuất giống thế hệ thứ 2; chưa có các loại chế phẩmthay thế có hiệu quả với các kháng sinh chữa bệnh cho tôm,…
2.2.3 Inđônêxia
Inđônêxia hiện có 380.000 ha nuôi tôm ở vùng ven biển - một diện tích rất lớn
so với các nước trong khu vực và trên thế giới Hình thức nuôi phổ biến ởIndonesia là quảng canh truyền thống, chiếm tới 75% diện tích; năng suất khoảng
500 kg/ha Sản lượng tôm nuôi của Inđônêxia mấy năm gần đây tăng liên tục; năm
2001 đạt 248.000 tấn; năm 2002 đạt 260.000 tấn và hết năm 2003 ước đạt 262.000tấn Song ngành tôm Inđônêxia đang phải đối mặt với những trở ngại như tình hình
xã hội bất ổn gây mất an ninh cho các cơ sở nuôi; người dân thiếu vốn trầm trọng
và không có đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó là lệnh hạn chế nhập khẩu tôm của
Mỹ do không sử dụng thiết bị loại bỏ rùa biển; vấn đề dư lượng kháng sinh của EU,vấn đề chống bán phá giá tôm,…
Trang 262.2.4 Ấn Độ
Ấn Độ là nước có nhiều tiềm năng nuôi tôm Hiện nay Ấn Độ có khoảng194.000 ha tôm nuôi tại 9 bang Năm 2001, sản lượng tôm nuôi của Ấn Độ đạt trên127.000 tấn Hai năm gần đây, bên cạnh loài chủ đạo là tôm sú, Ấn Độ đã tăngnhanh diện tích nuôi tôm nước ngọt, chiếm tới 19% tổng sản lượng tôm Năm 2003,sản lượng tôm của Ấn Độ tăng lên 157.000 tấn, trong đó tôm sú tăng 10-20%, tômnước ngọt tăng 30-50% và loài tôm he chân trắng được mở rộng nuôi mới
4 Xuất khẩu tôm của thế giới
Tuy tổng sản lượng tôm đã lên tới gần 4 triệu tấn/năm, song đến nay tôm vẫn
là mặt hàng quý có giá trị thương mại cao nhất trong số hàng trăm mặt hàng thủysản khác Trong tổng sản lượng tôm hàng năm, khoảng 1 nửa được chính các quốcgia sản xuất tôm tiêu thụ tại thị trường nội địa, còn lại được trao đổi trên thị trườngtôm quốc tế Các nước xuất khẩu tôm ngày một nhiều Hiện nay thế giới đã có gần
70 quốc gia tham gia vào lĩnh vực này Các nước xuất khẩu tôm lớn trên thế giớiphải kể đến Thái Lan, Ấn Độ, Inđônêxia, Việt Nam, Trung Quốc, Ecuado,…
Nhìn chung, tôm luôn là mặt hàng thủy sản quan trọng nhất, chiếm tới 19%tổng giá trị thương mại thủy sản quốc tế Trung Quốc và Thái Lan là 2 nước xuấtkhẩu tôm lớn nhất Hiện nay, sau khi phát triển mạnh chế biến tôm xuất khẩu trongvài năm gần đây, Trung Quốc đã trở thành nước sản xuất tôm lớn nhất thế giới - vịtrí mà Thái Lan đã giữ từ năm 1993 Do nhanh thu lời và lợi nhuận cao nên rấtnhiều quốc gia ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đang thực thi các dự án tươngđối lớn về nuôi tôm, chế biến tôm xuất khẩu Mặc dù có rất nhiều rủi ro trong cảsản xuất lẫn thương mại song nhiều quốc gia, nhiều tập đoàn, nhiều công ty lớn vẫnphát triển các dự án lớn về tôm Đến cuối năm 2003, xuất khẩu tôm diễn ra tích cựchơn; trong đó Brazin và Việt Nam tăng mạnh cả về khối lượng và giá trị xuất khẩu
Trang 27Bảng 2: Tình hình xuất khẩu tôm thế giới giai đoạn 1998 – 2003
Nguồn: Glofish highlights series number 1998-2003
Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA); USA Fishery Products Annual 2003
- Trung Quốc
Có thể nói, sự phát triển của ngành tôm Trung Quốc tương đối đồng đều trên
cả 3 lĩnh vực: sản lượng, xuất khẩu và tiêu thụ trên thị trường nội địa Năm 1990,Trung Quốc đã từng dẫn đầu thế giới về xuất khẩu tôm với kim ngạch hơn 710 triệuUSD; sau đó, sản lượng giảm dần, chỉ còn 83.000 tấn (trị giá 320 triệu USD) năm
1999 Đến năm 2000, khối lượng xuất khẩu tôm của Trung Quốc đã tăng lên, đạt127.000 tấn, với giá trị xuất khẩu đạt 540 triệu USD Đối tượng xuất khẩu tôm củaTrung Quốc trước năm 1999 chủ yếu là tôm he Trung Quốc, sau chuyển dần sangtôm he Nhật Bản và tôm sú Trong vài năm gần đây, cơ cấu tôm nuôi xuất khẩuchuyển đổi theo hướng tăng nhanh sản lượng của tôm he chân trắng Sở dĩ TrungQuốc được coi là có lợi thế cạnh tranh tương đối lớn về mặt hàng tôm xuất khẩu làbởi nước này có ưu thế về sản lượng, đồng thời có ưu thế về giá cả Giá thành nuôitôm của Trung Quốc rất thấp nên có khả năng cạnh tranh lâu dài về giá Các thịtrường chính tiêu thụ tôm của Trung Quốc là Nhật Bản, Mỹ, Tây Ban Nha, HànQuốc, Đài Loan, Italia và Hồng Kông
- Thái Lan
Khối lượng tôm xuất khẩu của Thái Lan năm 2002 đạt 212.091 tấn, giảm 17%
so với năm 20001 Tính đến hết quý 1 năm 2003, giá trị kim ngạch xuất khẩu tômcủa Thái Lan tăng 8% so với cùng kỳ năm 2002, đạt 15,86 tỷ Baht, với khối lượngđạt 47.471 tấn[1] Năm 2002, Thái Lan là nhà xuất khẩu tôm lớn nhất sang thịtrường Mỹ với giá trị 870 triệu USD Tính đến hết quý 1/2003, Mỹ vẫn là thịtrường xuất khẩu tôm lớn nhất của Thái Lan, với giá trị 204 triệu Baht, và khốilượng đạt 842 tấn Có thể nói, ngành tôm của Thái Lan có 2 điểm rất đáng chú ý,
[1] Theo Hiệp hội sản xuất và xuất khẩu tôm của Thái Lan
Trang 28đó là: 1) tỷ trọng xuất khẩu rất lớn: năm 2002, Thái Lan xuất khẩu hơn 212.000 tấn
so với khoảng 60.000 tấn tiêu thụ nội địa; 2) tỷ lệ hàng chế biến giá trị gia tăng caonhất trong tất cả các nước xuất khẩu tôm
- Việt Nam
Mặc dù phải trải qua nhiều khó khăn song kim ngạch xuất khẩu tôm của ViệtNam vẫn tăng đều qua các năm Các sản phẩm tôm vẫn và sẽ tiếp tục giữ vị trí chủlực trong xuất khẩu thủy sản những năm tới vì tôm vẫn là mặt hàng có giá trị cao vànhu cầu tiêu thụ tôm vẫn tăng mạnh ở hầu khắp các nước trên thế giới Đến cuốinăm 2003, Việt Nam ước tính sẽ đạt giá trị tôm xuất khẩu vào khoảng 1tỷ USD, làmức cao nhất từ trước đến nay Các thị trường nhập khẩu chính của tôm Việt Nam
là Mỹ, Nhật Bản, EU, Trung Quốc,… Đây là những thị trường tương đối khó tính
và cặn kẽ trong việc đánh giá chất lượng tôm nhập khẩu, vì thế để giữ vững và mởrộng được các thị trường này, các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu tôm của ViệtNam cần phải tuân thủ những quy định nghiêm ngặt về chất lượng vệ sinh thựcphẩm nhằm giữ uy tín cho mặt hàng tôm Việt Nam, tạo quan hệ làm ăn lâu dài
Trang 29Bảng 3: Một số quốc gia xuất khẩu tôm hàng đầu thế giới
* Ước tính
Quốc gia
Khối lượng (nghìn tấn)
Giá trị (triệu USD)
Khối lượng (nghìn tấn)
Giá trị (triệu USD)
Khối lượng (nghìn tấn)
Giá trị (triệu USD)
Khối lượng (nghìn tấn)
Giá trị (triệu USD)
Khối lượng (nghìn tấn)
Giá trị (triệu USD)
Nguồn: Glofish highlights series number 1998-2003
Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA); USA Fishery Products Annual 2003
5 Nhập khẩu tôm của thế giới
Sau gần 20 năm qua, nhu cầu nhập khẩu tôm của thế giới đã tăng gần gấp 3lần Nếu năm 1985 toàn thế giới mới nhập khẩu 625.000 tấn tôm các loại, trị giá2.633 triệu USD thì đến năm 1998 khối lượng tôm nhập khẩu toàn thế giới đã tănglên 1.245.000 tấn, trị giá 10.819 triệu USD
Có thể thấy rằng, EU, Nhật Bản và Mỹ là 3 thị trường nhập khẩu tôm lớn nhấtthế giới, trung bình 950.000 tấn/ năm, chiếm từ 80-85% tổng khối lượng tôm nhậpkhẩu toàn thế giới Vậy nên, những gì diễn ra ở 3 thị trường này đều tác động trựctiếp và mạnh mẽ đến thị trường tôm thế giới
Nhập khẩu tôm của EU tăng trưởng nhanh sau hơn một thập kỷ qua với giá trị
tương đối ổn định Năm 1999, EU nhập khẩu 370.000 tấn tôm, trị giá 2.186 triệuUSD Năm 2000, khối lượng tôm nhập khẩu của EU có giảm sút, chỉ còn 303.153tấn Tuy nhiên năm 2001, nhập khẩu tôm của EU đạt 315.279 tấn, tăng 4% so vớinăm 2000 Tính đến những tháng cuối năm 2003, tình hình nhập khẩu tôm của EUcũng đã tăng dần, đạt khoảng 350.000 tấn; cho thấy những tín hiệu khả quan đốivới các nhà xuất khẩu tôm vào thị trường này Các thị trường tiêu thụ lớn nhấttrong EU là Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Italia và Hà Lan Lượng tôm nhập khẩu vàocác nước này chiếm tới gần 60% tổng khối lượng tôm nhập khẩu vào EU
Trước khi bị Mỹ vượt vào năm 1997, Nhật Bản vẫn là nước nhập khẩu tôm
số 1 thế giới Sau khi đạt mức kỷ lục là 303.000 tấn năm 1994, nhập khẩu tôm củaNhật Bản giảm dần và xuống mức thấp nhất năm 1998 là 239.000 tấn Sau đó, khốilượng tôm nhập khẩu vào thị trường Nhật phục hồi rất chậm, năm 2000 và năm
Trang 302001 đạt mức tương đương khoảng 246.000 tấn Hiện nay, Nhật Bản là thị trườngtôm lớn thứ 2 thế giới và thị trường này đang có xu hướng chuyển từ các loài tômtruyền thống sang các loài tôm nước lạnh và thủy đặc sản Nhập khẩu tôm nướclạnh trong năm 2002 tăng 1,5%; đạt 38.355 tấn Khối lượng tôm giá trị gia tăngnhập khẩu có xu hướng tăng lên; năm 2002 giữ ở mức 2,43 tỉ USD.
Mỹ là nước nhập khẩu tôm đông lạnh lớn nhất thế giới hiện nay Năm 2000,
Mỹ nhập khẩu 342.077 tấn tôm, trị giá 3,7 tỷ USD; chiếm 37% tổng giá trị nhậpkhẩu thủy sản Năm 2001, khối lượng tôm nhập khẩu vào Mỹ tăng 17%, đạt400.337 tấn; song giá trị lại giảm 3,5% so với năm 2000 Năm 2002, Mỹ nhập khẩu429.303 tấn tôm, trị giá 3,4 tỷ USD Năm 2003, xu hướng nhập khẩu tôm của Mỹvẫn tăng lên; đến hết năm có thể Mỹ sẽ nhập khẩu 475.000 tấn Tính đến tháng9/2003, nhập khẩu tôm của Mỹ đã tăng khoảng 15% so với cùng kỳ năm ngoái.Theo Báo cáo của Trung tâm dịch vụ thủy hải sản quốc gia của Mỹ, Trung Quốcđang tăng khối lượng tôm xuất khẩu vào Mỹ lên 61%; tôm xuất khẩu của Brazilsang thị trường Mỹ tăng 48% và tôm xuất khẩu của Việt Nam tăng 46% Thái Lanvẫn là nước có khối lượng tôm xuất khẩu vào thị trường Mỹ lớn nhất Năm 2002,Thái Lan đã xuất khẩu 115.000 tấn tôm sang Mỹ, tương đương với 870 triệu USD.Đến hết năm 2003, có thể Mỹ sẽ nhập khẩu khoảng 49.797 tấn tôm từ Thái Lan
6 Giá tôm thế giới
Trên thị trường tôm thế giới, 3 thị trường tôm chính là Mỹ, Nhật Bản và EU
có tác động quyết định đến sự tăng, giảm nhu cầu tiêu thụ và do đó có tác độngmạnh đến giá cả thế giới về mặt hàng tôm
Nhìn chung, giá tôm của thế giới tăng đều trong giai đoạn 1989 - 1994, sau đógiảm đột ngột vào năm 1995 Việc giảm giá này có nguyên nhân chủ yếu là do nhucầu tiêu thụ tôm của thị trường Nhật Bản giảm Năm 1996, thị trường Nhật Bảnphục hồi ở mức bình thường; do đó giá tôm lại dần dần tăng lên Cuộc khủng hoảngtài chính tiền tệ của Châu Á năm 1997 lại một lần nữa làm tôm rớt giá, giảm đi 2lần so với năm 1996 Cho đến nay, giá tôm toàn cầu vẫn có xu hướng giảm Năm
2002, do chính sách đòi hỏi dư lượng kháng sinh trong tôm ở mức bằng 0 của Liênminh châu Âu khiến cho giá tôm có sự xáo động trên các thị trường Do các nhàxuất khẩu tôm châu Á chuyển hướng xuất khẩu từ các quốc gia EU sang thị trường
Mỹ dẫn đến việc giá tôm ở thị trường Mỹ giảm; trong khi các nước trong Liênminh châu Âu, do nguồn cung cấp tôm bị giảm nên giá tôm lại tăng lên Đến nay,
Trang 31có thể kết luận rằng, nhà nhập khẩu tôm hàng đầu thế giới là Mỹ có ảnh hưởngquyết định đến giá thị trường.
Giá bình quân tôm đông lạnh nhập khẩu vào Mỹ đã tăng từ mức 7,8USD/kglên 9,6USD/kg năm 1996 và 10,9USD/kg năm 2000 Như vậy sau 10 năm, chỉ sốgiá tôm đã tăng 40% Tuy nhiên, năm 2001 và 2002, giá tôm nhập khẩu của Mỹgiảm và ở mức thấp Tháng 6/2003, giá tôm sú cỡ 20 bán được 8,08 USD/kg; cỡ 30giá 6,99 USD/kg, cỡ 40 giá 4,8 USD/kg và cỡ 50 giá 3,49 USD/kg Tính đến tháng9/2003, giá tôm ở thị trường Mỹ có xu hướng giảm nhẹ; khoảng 0,43 - 0,44USD/kg[1] Giá tôm thẻ chân trắng của Thái Lan khoảng 4.5 USD/lb (cỡ 26/30);tôm sú luộc để đuôi dao động trong khoảng 7USD/lb Ở thị trường Nhật Bản, giátôm cũng bị ảnh hưởng bởi sự dao động giảm dần của giá tôm thế giới Giá tômtrung bình nhập khẩu năm 2001 giảm 7% so với năm 2000 Năm 2002, giá trungbình tôm đông lạnh nhập khẩu giảm từ 9,3 USD/kg năm 2001 xuống còn8,8USD/kg Giá tôm sú vỏ Ấn Độ nhập khẩu vào Nhật Bản chỉ còn khoảng 112USD/kg tính đến tháng 9/2003 so với mức 12,8 USD/kg so với năm ngoái Còn ở
Ấn Độ, giá tôm sú xuất khẩu hiện vào khoảng 7,6 - 15,2 USD/kg; tôm thẻ chântrắng từ 4,4 USD - 8 USD/kg và tôm nâu giá khoảng 1,75 - 5 USD/kg[2]
7 Xu hướng thị trường tôm thế giới
6.1 Về sản lượng
Do ứng dụng được các thành tựu về khoa học công nghệ trong nuôi trồng tômnên sản lượng tôm nuôi ở một số nước có thể tăng Nhưng đối với một số nước sảnxuất và xuất khẩu tôm trên thế giới thì sản lượng đã đạt mức bão hoà
Tổng sản lượng tôm thế giới có thể sẽ tăng khoảng 8%/năm trong năm 2004với các nhà xuất khẩu chính là Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Mêhicô, Việt Nam,…Trong thời kỳ tới (giai đoạn 2005 - 2010), sản lượng tôm thế giới sẽ tăngtrung bình khoảng 3,5%/năm giai đoạn 2003 - 2005 và tăng 3,2%/năm giai đoạn
2006 -2010; đạt mức 4.504.000 tấn vào năm 2005 và 5.272.400 tấn vào năm 2010
6.2 Về nhu cầu tôm của thị trường thế giới
Trong 10 năm qua đã xuất hiện các xu hướng mới trong tiêu thụ tôm thế giớidưới tác động của sự bùng nổ tôm nuôi toàn cầu Đó là việc phổ biến hoá tiêu thụ
tôm: Giá rẻ một cách tương đối của tôm nuôi nhiệt đới đã xâm nhập sâu rộng vào
[1] Foodmarketexchange, 15/9/2003
[2] Shrimp market report sample – www.foodmarketExchange.com
Trang 32thị trường Âu - Mỹ, nơi tiêu thụ tôm theo đầu người chỉ bằng 1/3 ở Nhật Bản; hơn
nữa tôm là mặt hàng xa xỉ nhưng không khan hiếm, từ chỗ chỉ được tiêu thụ trong
các nhà hàng, nay đã được tiêu thụ rộng rãi ở các hộ gia đình Mặt khác, sau thời kỳ
phát triển mạnh về nhu cầu tôm đến đầu thập kỷ 90, tiêu thụ tôm ở 3 thị trường lớn
là Nhật Bản, Mỹ, EU đã đạt đến mức bão hoà; khả năng tăng lớn về nhu cầu chỉ xảy
ra khi giá tôm rẻ tới mức bình dân và điều đó đã trở thành thực tế Còn ở các thịtrường đang nổi lên thuộc khu vực châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan,Hồng Kông,…nhu cầu lại đang tăng mạnh Các thị trường này hàng năm đều cólượng nhập khẩu khá lớn về tôm
Như vậy, có thể nhận định và dự báo rằng, khu vực châu Á - Thái BìnhDương đã thực sự trở thành thị trường nhập khẩu tôm chính của thế giới và đâycũng sẽ là khu vực tiêu thụ tôm lớn nhất thế giới trong những năm tới
Cùng với xu hướng tăng nhanh của sản lượng tôm và với mức giá tương đối
rẻ, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm tôm trên thế giới ngày càng trở nên phổ biến hơn ởcác nước và trong các hộ gia đình Tuy nhiên, tôm vẫn là mặt hàng thuộc đối tượngtiêu dùng có mức thu nhập cao Nhịp độ tăng tiêu thụ tôm trên thế giới sẽ tăng bìnhquân 3,2%/ năm từ nay đến năm 2005 và khoảng 3%/năm trong giai đoạn 2006 -
2010 Trong đó, nhu cầu tôm tăng mạnh nhất ở các nước Trung Quốc, Hàn Quốc vàĐài Loan
Nhịp độ tăng giá trị xuất khẩu tôm trên thế giới trong giai đoạn bùng nổ (1985
- 1995) đạt 14%/năm Trong giai đoạn từ nay đến năm 2010, nhịp độ tăng xuấtkhẩu tôm của thế giới chỉ đạt mức 2,6%/năm do các thị trường Nhật Bản, Hoa Kỳ,
EU đã ở mức bão hoà
6.3 Về giá cả
Giá bán lẻ tôm sẽ giảm và có khả năng kích thích nhu cầu tiêu dùng giúp giá
cả ổn định Nhưng các nhà sản xuất tôm Thái Lan dự đoán giá tôm của họ có khảnăng sẽ nhích lên vì giá thành sản xuất tăng khi áp dụng tăng cường kiểm tra vàtiêu chuẩn ATTP cũng như thức ăn nuôi tôm tăng giá
Nhật Bản không còn có vai trò quyết định đến giá thị trường quốc tế đối vớicác sản phẩm tôm đông lạnh bloc truyền thống nữa Trong tương lai gần, Mỹ sẽ cóảnh hưởng lớn tới tình hình giá tôm quốc tế
Như vậy, có 4 yếu tố cơ bản tác động đến sự tăng trưởng nhu cầu, tăng trưởngxuất khẩu tôm và giá cả tôm trên thị trường thế giới là:
Trang 33- Tăng trưởng kinh tế của các thị trường tôm chính: Mỹ, Nhật Bản, EU
- Quy mô và nhịp độ tăng trưởng sản lượng tôm nuôi trên thế giới, nhất là cácnước châu Á
- Mức độ đáp ứng các yêu cầu tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm đối vớisản phẩm tôm nhập khẩu của các nước nhập khẩu tôm chính
- Mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường của sản phẩm tôm nuôi củacác thị trường nhập khẩu chính
II Thực trạng khai thác, nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu mặt hàng tôm Việt Nam
1 Tình hình khai thác, nuôi trồng và chế biến tôm ở Việt Nam hiện nay
1.1 Tình hình khai thác tôm tự nhiên
Về trữ lượng tôm biển, nói chung, cho đến nay chưa có tài liệu nào công bố,song những kết quả điều tra khảo sát từ 1980-1995 cho thấy trữ lượng tôm biểnViệt Nam khoảng 70 - 80 nghìn tấn và khả năng cho phép khai thác khoảng 30 - 32nghìn tấn Theo thống kê sản xuất hàng năm, trong thời kỳ 1990-2000, sản lượngtôm biển khai thác của cả nước khoảng 25-35 nghìn tấn Ba năm trở lại đây, tuychưa có số liệu thống kê đầy đủ song theo khảo sát ở một số tỉnh ven biển thì sảnlượng tôm biển khai thác được trong tự nhiên đang giảm dần Hiện tại, Việt Nammới chỉ khai thác sông và khai thác biển gần bờ là chủ yếu, khai thác xa bờ trênquy mô lớn chiếm tỷ lệ nhỏ do ta chưa có đủ công nghệ, chi phí khai thác còn cao,chưa hiệu quả Điều này đã dẫn đến một thực trạng là nhiều vùng sông, biển gần bờ
bị khai thác quá mức, trong khi tiềm năng đánh bắt tôm xa bờ khá dồi dào vẫn cònđang bị bỏ ngỏ
Chúng ta đã chú trọng nâng cao được năng lực vươn ra khai thác xa bờ trongkhi vẫn ổn định khai thác tôm vùng ven bờ Thực hiện Quyết định 393/TTg ngày09/06/1997 và Quyết định 159/1998/QĐ/TTg về việc ban hành quy chế quản lý và
sử dụng vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch nhà nước cho các dự án đóng mới, cảihoán tàu đánh bắt và dịch vụ đánh bắt xa bờ, năng lực tàu thuyền đánh bắt xa bờ đãtăng nhanh
Trong số các loài tôm khai thác được thì có lẽ tôm hùm là một trong số nhữngloài có giá trị kinh tế cao nhất Ở vùng biển thuộc vịnh Chu Mới (cảng Chân Mây)huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, từ năm 1999, người dân đã khai thác tômhùm để bán lại cho các chủ buôn Tôm hùm khai thác được ở vùng biển này có
Trang 34nhiều loại như tôm hùm trắng, tôm hùm xanh, tôm hùm đỏ, tôm hùm giấm, tômhùm tre, tôm hùm bông, tôm hùm ma,…song mang lại lợi nhuận cao hơn cả vẫn làtôm hùm bông và tôm hùm xanh Vào thời điểm đầu vụ (khoảng tháng 10 âm lịch),giá mỗi con tôm hùm bông con lên đến 120 - 130 nghìn đồng Đây là một nguồn lợilớn mà người dân đã phát hiện được để khai thác
Về công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản và nguồn lợi tôm nhìn chung đã cónhiều biến chuyển Các Đội bảo vệ đã thường xuyên tuần tra trên sông lạch và cácvùng ven bờ nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm Đồng thời,công tác giáo dục, tuyên truyền cũng đã được chú trọng Các hộ ngư dân làm nghềkhai thác tôm đã ký cam kết thực hiện Chỉ thị 01/1998/CT - TTg về việc nghiêmcấm sử dụng chất nổ, xung điện, chất độc hại trong khai thác thủy sản Ở phía namtỉnh Bình Thuận, trong những tháng đầu năm 2003, hàng triệu con tôm giống đượcthả trở lại biển nhằm duy trì giống tôm tự nhiên
Tuy nhiên, cho đến nay, không thể phủ nhận rằng, nguồn lợi thủy sản nóichung và nguồn lợi tôm nói riêng đang dần cạn kiệt Theo đánh giá của Chi cụcBảo vệ nguồn lợi thủy sản, nguồn lợi thủy sản hiện nay vẫn đang trong tình trạng bịkhai thác bừa bãi do các phương tiện nhỏ đánh bắt ven bờ mang tính chất huỷ diệtnhư sử dụng chất nổ, hoá chất,…Nhiều loài tôm ở những khu vực ven sông, venbiển trong thời gian gần đây bị chết hàng loạt mà một trong những nguyên nhân cơbản là do môi trường nước bị ô nhiễm từ các nguồn rác và chất thải của các khu dân
cư, khu công nghiệp, khu chế biến hải sản,…Sự suy giảm nguồn lợi tôm biển đãảnh hưởng lớn đến kinh tế - xã hội ở nhiều vùng ven biển, cụ thể:
- Số lượng nghề khai thác tôm biển giảm nhiều, từ 30-40% so với đầu nhữngnăm 90 và phần đông rơi vào các hộ ngư dân nghèo
- Nguồn tôm giống ngày càng khan hiếm, đặc biệt là tôm bố mẹ (một cặp tôm
bố mẹ giá có thể bằng 100kg tôm sú thương phẩm loại 1-2)
- Việc khai thác quá mức đã làm thay đổi đáng kể về mặt môi trường, đặc biệt
ở các khu vực có tôm tập trung với mật độ cao
1.2 Tình hình nuôi trồng tôm nước mặn và nước ngọt tại Việt Nam
Những đặc tính địa lý và khí hậu của Việt Nam với tài nguyên thiên nhiên đadạng và phong phú đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thiết lập nhanh một ngànhcông nghiệp nuôi tôm năng động và phát triển
Trang 35Có thể nói, tiềm năng nuôi trồng dọc theo bờ biển khác nhau tùy theo các điềukiện thời tiết, sinh thái, thuỷ văn và nước ngọt Khu vực miền Bắc đặc trưng bởi sựthay đổi theo mùa về nhiệt độ nên chỉ cho phép có 1 vụ tôm/năm Từ trước đến nay,trung tâm quan trọng nhất cho việc nuôi tôm về mặt diện tích là các tỉnh phía Nam,nhất là khu vực đồng bằng sông Cửu Long Song trong một vài năm gần đây, doviệc nuôi tôm trên cát phát triển mạnh nên khu vực miền Trung lại đang dần trởthành vùng nuôi tôm tương đối lớn của cả nước
Chúng ta có thể thấy sự tăng lên về diện tích, sản lượng cũng như năng suấttôm nuôi trong bảng dưới đây
Bảng 4: Tình hình nuôi tôm tại Việt Nam giai đoạn 1998-2003
Tạp chí Thông tin thương mại, số 9/2003
1.2.1 Về diện tích và sản lượng tôm nuôi
Ngành nuôi tôm của Việt Nam được bắt đầu từ những năm cuối của thập kỷ
80 và phát triển mạnh trong những năm 90, đặc biệt là trong một vài năm trở lạiđây Sự phát triển này chủ yếu là theo chiều rộng, tức là mở rộng diện tích nuôitôm
Sau 4 năm đầu triển khai Chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản 1999
-2010, sản lượng thủy sản được nuôi đã tăng cao Đặc biệt, sản lượng tôm nuôi hiện
đã chiếm phần lớn mặt hàng chế biến xuất khẩu, với mức tăng từ 60.000 tấn năm
1999 lên 105.000 tấn năm 2000; gần 159.000 tấn năm 2001; 160.000 tấn năm 2002
và dự kiến đến hết năm 2003 sản lượng tôm nuôi sẽ đạt mức 193.000 tấn Chúng ta
có thể thấy sản lượng tôm nuôi của Việt Nam tăng dần qua các năm trong biểu đồdưới đây
Trang 36Biểu đồ 1 : Sản lượng tụm nuụi của Việt Nam giai đoạn 1998-2003
Đơn vị: tấn
Sản lượng tôm nuôi của Việt Nam
giai đoạn 1998-2003
050000100000150000200000
Nguồn: Bỏo cỏo tỡnh hỡnh thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 1998-2002 của
Trang 37suất nuôi tôm quảng canh đạt 250 -300 kg/ha; nuôi tôm trong ruộng lúa, rừng đạtkhoảng 270 - 300 ha Có thể nhận thấy rằng, diện tích nuôi tôm được mở rộng, cáchình thức nuôi trồng ngày càng được đa dạng hoá là dấu hiệu đáng mừng chongành nuôi trồng tôm của Việt Nam Hiện nay, mô hình nuôi tôm công nghiệp -bán công nghiệp cho hiệu quả khá cao, trung bình lãi từ 80 - 120 triệu đồng/ha.Nhìn chung, nhiều hình thức nuôi tôm được áp dụng tùy điều kiện và tập quán củatừng vùng, song phổ biến nhất vẫn là nuôi tôm bán thâm canh Theo Bộ Thủy sản,diện tích chuyển đổi trên vùng quy hoạch trồng lúa và bỏ hoang đã lên tới 110.000
ha, tăng gần 70.000 ha so với kế hoạch và đang tiếp tục tăng lên nữa Ví dụ như ở
Cà Mau, diện tích chuyển đổi sang nuôi tôm đã lên cao nhất, tới 97.569 ha; BạcLiêu là 10.956 ha; Kiên Giang chuyển đổi 2.512 ha
1.2.2 Về năng suất
Năng suất tôm nuôi bình quân hàng năm khá chênh lệch Năm 1997 và 1998,năng suất tôm đạt khoảng gần 400 kg/ha; năm 1999 khoảng 450 kg/ha; năm 2000đạt mức kỷ lục khoảng 50 kg/ha Song sang năm 2001, do dịch bệnh và thời tiếtkhông thuận lợi, cộng với việc tăng nhanh diện tích nuôi trong khi những nông dânmới nuôi tôm chưa có kinh nghiệm, khiến năng suất nuôi tôm bình quân giảmmạnh, chỉ còn khoảng 300kg/ha Xu hướng giảm năng suất này cũng kéo dài sangnăm 2002 Tuy nhiên, năm 2003, năng suất bình quân cũng có chiều hướng tănglên, do việc chọn giống nuôi và phương thức nuôi trồng cũng đã được cải thiệnđáng kể Đặc biệt, sản lượng tôm hùm nuôi đã đạt khoảng 1.000 tấn trên cả nước,mang lại giá trị lợi nhuận rất cao
1.2.3 Về con giống
Tính đến hết năm 2003, cả nước có khoảng 4.000 trại sản xuất tôm giống vàlượng tôm giống sản xuất được vào khoảng hơn 12 tỷ con Tuy nhiên lượng tômgiống sản xuất được không đủ cung ứng cho nhu cầu tôm ngày càng nhiều Theo
Bộ Thủy sản, vụ tôm năm 2003 cả nước cần 20 tỷ con tôm giống, như vậy chúng taphải nhập khẩu mới đủ phục vụ cho nhu cầu sản xuất Việc phân bố trại giống cònnhiều bất hợp lý 70% số trại được tập trung tại các tỉnh miền trung, trong khi vùngnuôi tôm trọng điểm hiện nay lại ở các tỉnh phía nam, nên việc cung cấp giốngkhông kịp thời Bên cạnh đó, do sợ không tiêu thụ được hàng, giá tôm bố mẹ lạicao (từ 5-6triệu đồng/con), nên các chủ trại chỉ sản xuất cầm chừng, dẫn đến tìnhtrạng sốt giá Cũng theo Bộ Thủy sản, để có được 20 tỷ con tôm giống phục vụ cho
Trang 38sản xuất, lượng tôm bố mẹ cần có là 50.000 con; song hiện nay cả nước mới chỉ có30.000 con Do sự khan hiếm nguồn tôm bố mẹ, nhiều cơ sở sản xuất giống đã mua
cả những tôm bố mẹ không đảm bảo chất lượng để thả nuôi, dẫn đến tình trạng tômcon giống kém chất lượng Tuy nhiên, từ đầu năm đến nay, lượng tôm giống đã quakiểm dịch tăng cao so với trước Nhờ vậy, đã hạn chế được con giống không đạtyêu cầu, mang mầm bệnh và góp phần hạn chế bớt tình hình dịch tôm Bộ Thủy sản
đã và đang khẩn trương xây dựng chiến lược giống thủy sản đến năm 2010, trong
đó xác định sẽ hình thành 6 trung tâm giống quốc gia (3 trung tâm nước ngọt, 3trung tâm nước lợ) Đây là những động thái tích cực nhằm tăng thêm nguồn tômgiống cho sản xuất, hạn chế việc nhập khẩu tôm giống với giá cao và tôm giốngmang dịch bệnh
Các loài tôm được nuôi trồng hiện nay phải kể đến:
- Nuôi nước mặn: tôm hùm
- Nuôi nước lợ: tôm rảo, tôm sú, tôm bạc thẻ
- Nuôi nước ngọt: tôm càng xanh
Giá tôm hùm thịt tăng mạnh và ổn định ở mức khoảng 600.000 đ/kg trong
nhiều tháng qua cộng với nhiều nguồn tôm hùm giống bắt được đã kích thích nhiềuvùng biển từ Khánh Hoà đến Bình Định phát triển nghề nuôi tôm hùm Ngư dân đãchọn hình thức nuôi tôm hùm trên bè thay vì nuôi lồng để dễ di chuyển đến vùngnước sạch, ít bị sóng gió và tránh được các bệnh thường gặp cho tôm
Tôm sú cũng được nuôi trồng phổ biến, có thể coi là giống tôm chủ lực trong
giai đoạn hiện nay, nhất là ở các tỉnh phía Bắc Năm 2002, chỉ riêng sản lượng tôm
sú của 8 tỉnh phía Bắc đã đạt được 12.805 tấn, năng suất bình quân hơn 500 kg/ha,cao gấp 3 lần sản lượng tôm nuôi năm 2000 Tuy nhiên nhìn chung tôm sú thườngđược nuôi với phương thức quảng canh và bán thâm canh nên năng suất bình quânchưa thực sự cao
Trong thời gian gần đây, tôm thẻ chân trắng được đưa vào nuôi và cho thấy
hiệu quả kinh tế tương đối ổn định Theo thống kê sơ bộ, vụ tôm năm nay, lượngtôm thẻ chan trắng được thả nuôi ít nhất là 2/20 tỷ con tôm của nhu cầu trên cảnước Như vậy, tôm thẻ chân trắng giống đã chiếm khoảng 10% diện tích thả nuôitôm nước mặn và nước lợ Có thể thấy, tôm sú giống bị thiếu và giá luôn ở mức cao
kể từ vụ tôm đầu năm nay là lý do tôm thẻ chân trắng được người nông dân chấpnhận Theo Viện kinh tế và Quy hoạch thủy sản (thuộc Bộ Thủy sản), tôm thẻ chân
Trang 39trắng có nguồn gốc từ Nam Mỹ, song được nuôi rộng rãi ở nhiều nước, với nhiều
ưu điểm so với con tôm sú Tôm thẻ chân trắng có thời gian nuôi ngắn hơn songnăng suất tương đương, lại chịu được độ mặn cao và có thể nuôi được trong cảnước mặn, nước ngọt và nước lợ; trong khi tôm sú chỉ sống được ở nước lợ, nếu độmặn cao tôm sẽ bị sốc Khả năng kháng bệnh của tôm thẻ chân trắng tương đối cao
và điều kiện sinh sản cũng dễ hơn so với tôm sú Hiện tại, trong năm n ay ở một sốnơi đã nuôi tôm thẻ chân trắng chỉ 3 tháng là cho thu hoạch, năng suất không kémtôm sú nuôi 4 - 6 tháng Việc đưa tôm thẻ chân trắng vào nuôi bằng phương phápnuôi công nghiệp với quy mô lớn cho thấy những dấu hiệu khả quan đối với ngànhsản xuất và xuất khẩu tôm của Việt Nam, bởi nó đã góp phần đa dạng hoá cơ cấusản phẩm tôm xuất khẩu
Tôm càng xanh được nuôi nhiều ở những vùng nước ngọt, nhất là ở các tỉnh
phía Nam Nông dân thường nuôi tôm càng xanh kết hợp với trồng lúa, nuôi aohầm và nuôi đăng quầng Trong đó vụ lúa - vụ tôm được xem là mô hình phát triểntương đối bền vững Bởi lẽ, sau vụ tôm mặt ruộng rất giàu dinh dưỡng, trồng loạicây nào cũng tốt, hơn nữa lại xen canh nên môi trường được cải tạo Ngoài ra, tômcàng xanh còn được nuôi chung với cá rô đồng và cá trắng các loại,…
là một số điển hình, còn rất nhiều đợt bệnh dịch khác là mối lo thường trực củangười dân nuôi tôm
Giải thích về lý do gây ra dịch bệnh tôm, có thể kể đến các yếu tố sau:
Trang 40Thứ nhất là do sự phát triển bùng phát của diện tích nuôi tôm quá nhanh so
với hạ tầng cơ sở cho nuôi trồng thủy sản Hệ quả của việc hạ tầng không theo kịp
sự phát triển của diện tích nuôi trồng là nguồn nước dẫn vào ao nuôi cũng như nướcthải ra không giải quyết kịp, chưa đủ các trạm, trung tâm quan trắc có thể cung cấpthông tin cảnh báo về vấn đề mực nước, mức độ xâm nhập mặn Hơn nữa, hệ thốngthuỷ lợi chưa được đầu tư đúng mức trong khi thời tiết vào mùa khô nóng, nắnghạn và diện tích nuôi tôm lại đa phần là quảng canh nên nguy cơ tôm nhiễm bệnhlại càng cao Mô hình nuôi tôm công nghiệp có thể ngăn chặn dịch bệnh hiệu quả
hơn nhiều thì chi phí đầu tư quá cao so với vốn của người dân Thứ hai, kiến thức
kỹ thuật nuôi tôm của các hộ nông dân, đặc biệt là các hộ mới vào nghề còn thấpcũng góp phần làm dịch bệnh thêm trầm trọng Người nuôi tôm xử lý vệ sinh ao hồ,quản lý chất lượng không tốt, thức ăn cho tôm không phù hợp, thả giống với mật độquá dày,… đều có thể làm tôm nhiễm bệnh Ngoài ra, để sản xuất được hai vụ tômtrong năm, nhiều hộ còn xuống giống sớm khi tình hình thời tiết và độ mặn chưa
phù hợp Thứ ba, bệnh dịch tôm còn do chất lượng con giống chưa được kiểm soát.
Trong số tôm giống thả xuống ao nuôi, chỉ có khoảng 10% con giống được cơ quanquản lý kiểm nghiệm do trang thiết bị và lực lượng kiểm nghiệm quá mỏng, lại quanhiều con đường mua bán không chính thức, do nhu cầu giống khan hiếm nênngười dân buộc phải mua con giống không đảm bảo chất lượng[1]
1.3 Tình hình chế biến tôm của Việt Nam
Khâu chế biến là khâu rất quan trọng trong xuất khẩu thủy sản nói chung vàxuất khẩu tôm nói riêng, vì chế biến kéo dài được thời gian giữ chất lượng và độtươi sống của sản phẩm; đồng thời tạo ra nhiều chủng loại mặt hàng, trọng lượng,mẫu mã với chất lượng tốt, số lượng nhiều,giá thành hạ, phục vụ nhu cầu ăn ngay,nấu ngay của người tiêu dùng và nâng cao giá trị mặt hàng tôm của Việt Nam, mởrộng thị trường tiêu thụ Hiện nay, cơ cấu chế biến tôm xuất khẩu của nước ta đã có
sự thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng tôm xuất khẩu chế biến thô và tăng tỷ trọngsản phẩm chế biến sâu, tinh Lúc đầu, xuất khẩu tôm của Việt Nam chủ yếu là tômđông lạnh, trong vài năm trở lại đây, cơ cấu mặt hàng tôm xuất khẩu đã đa dạnghơn với các loại tôm luộc để đuôi, tôm tươi sống, tôm bỏ vỏ,…
Xét chung, ngành công nghiệp chế biến tôm của Việt Nam đã có bước pháttriển khá nhanh trong thời gian qua cả về số lượng nhà máy chế biến cũng như công