1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nhập môn kỹ thuật điều khiển và tự động hóa

38 112 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 647 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giúp sinh viên có được hiểu biết một cách chính xác và rõ ràng nhất vềngành nghề mình học và ứng dụng nó trong cuộc sống giúp em hình thành ýtưởng và nhìn nhận được tương lai của bản

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay nhu cầu vềnguồn nhân lực có trình độ cao ngày càng lớn Một số ngành quan trọngnhư công nghiệp năng lượng, công nghiệp hóa chất…Trong đó có ngành kỷthuật điều khiển và tự động hóa là một ngành có tiềm năng và cơ hội việclàm rất lớn

Khi bước vào môi trường đại học điều cần làm đầu tiên của một sinhviên là việc xác định ngành nghề và lĩnh vực theo học là vô cùng quan trọng

Để giúp sinh viên có được hiểu biết một cách chính xác và rõ ràng nhất vềngành nghề mình học và ứng dụng nó trong cuộc sống giúp em hình thành ýtưởng và nhìn nhận được tương lai của bản thân mình nhà trường đã đưa vàochương trình giảng dạy bộ môn” Nhập môn kỹ thuật điều khiển và tự độnghóa”

Trong suốt quá trình học tập, nhờ sự giảng dạy và hướng dẫn nhiệttình của các thầy cô em đã được hiểu biết thêm nhiều về ngành nghề mìnhhọc và ứng dụng của nó trong cuộc sống Để đáp ứng yêu cầu của môn họcnày bộ môn khoa đã tổ chức cho chúng em đi tham quan tìm hiểu về nhàmáy Xi măng Hoàng Mai và Viễn thông Nghệ An Sau đợt tham quan thực

tế và tìm hiểu thông tin trên mạng em đã hoàn thành báo cáo kết quả thuđược trong bản báo cáo dưới đây Do thời gian thực hiện có hạn và kiến thứccòn hạn chế nên bản báo cáo không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mongnhận được sự đóng góp của các thầy cô để em có thể hoàn thành tốt hơntrong những đề tài tiếp theo

Em xin chân thành cảm ơn

Trang 2

I LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CUẢ KỸ THUẬT VÀ TỰ ĐỘNG HÓA

Trong đời sống hàng ngày và trong sản xuất hàng hóa chúng ta có thểthấy xung quanh mình có rất nhiều ứng dụng điều khiển tự động, từ những

cơ cấu điều khiển quạt bàn tự quay tới những dây chuyền sản xuất tự độngphức tạp Ứng dụng điều khiển tự động đã len lỏi vào cuộc sống con người

và giúp con người tạo được cho mình cuộc sống văn minh và giầu có hơn.Cho đến nay với nhiều công nghệ khác nhau, nhiều hệ thống điều khiển tựđộng phức tạp đã được thiết kế và sử dụng để phục vụ đời sống con người.Chúng ta hãy thử nhìn khái quát sự phát triển các hệ thống tự động để thấyđược con người đã đạt được những thành quả như thế nào

Theo Bennett (1996) và một số tài liệu khác ghi nhận rằng hệ thốngđiều khiển phản hồi tự động đã xuất hiện lần đầu tiên vào khoảng hơn 2000năm trước Đó là những chiếc đồng hồ nước được Vitruvius mô tả và đượcKtesibios chế tạo thành công (vào khoảng 270 tr.CN) sử dụng một vật nổi đểđiều chỉnh mực nước bình chứa và từ đó điều chỉnh cơ cấu của đồng hồnước Vài trăm năm sau đó Heron của Alexandria đã mô tả một số nhữngmáy móc tự động (automata) khai thác một số cơ cấu phản hồi

Từ thời những chiếc đồng hồ nước tự động đến nay trải qua hơn hainghìn năm phát triển, ngành điều khiển tự động ngày càng lớn mạnh và đạtđược nhiều thành quả trên cả phương diện thực hành lẫn lý thuyết Ví dụnhư đầu thế kỷ thứ 20 thế giới đón nhận sự ra đời của hệ thống điều khiểntàu tự động sử dụng la bàn điện (la bàn con quay) do Sperry (Mỹ) vàAnschutz (Đức) là một bước tiến mới trong lĩnh vực điều khiển tự động.Tiếp theo đó, vào cuối thập niên 50s, đầu thập niên 60s của thế kỷ 20 ứng

Trang 3

dụng của ngành điều khiển tự động đã giúp cho con người chinh phục vũ trụđánh dấu bằng sự kiện Nga phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên, Sputnik, vàotháng 4 năm 1957, và tiếp theo đó Yuri Gararin đã bay vào vũ trụ trên contàu Vostok vào 4 năm 1961 Sự kiện phóng vệ tinh nhân tạo và điều khiển vệtinh bay theo quỹ đạo vòng quanh trái đất là một ứng dụng quan trọng củacông nghệ điều khiển đã mở ra nhiều những ứng dụng khác, trong đó quantrọng nhất là phát triển các hệ thống dẫn đường vệ tinh: GPS (Mỹ) năm

1994, GLONASS (Nga) năm 1995 và GALILEO (LH Châu Âu, EU) năm2008-2009

Điều khiển tự động đã được ứng dụng vào nhiều ngành khác nhau vànhiều hệ thống điều khiển chuyên nghiệp khác nhau đã được ra đời Chúng

ta có thể liệt kê một số những ứng dụng chính như: các hệ thống điều khiểncủa các nhà máy nhiệt điện, thuỷ điện; hệ thống tự động trong các nhà máysản xuất thực phẩm như Coca cola, sữa, sản xuất đường, các nhà máy lắp rápôtô, robot; các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng như xi măng, sản xuấtkính, gạch men; các hệ thống điều khiển trong ngành hàng không và vũ trụ,

hệ thống điều khiển điện tử nhúng dùng trong công nghiệp chế tạo và trongđời sống hàng ngày, hệ thống điều khiển phương tiện giao thông trên mặtđất, ứng dụng trong y học, điều khiển tên lửa, điều khiển phương tiện trênbiển, điều khiển các quá trình sản xuất trong công nghiệp, rô bốt và cơ điện

tử, hệ thống sản xuất trong lĩnh vực công nghệ cao như sản xuất, lắp ráp các

hệ thống vi mạch v.v

Để có cái nhìn tổng quát và hệ thống, sự phát triển hệ thống điềukhiển tự động và lý thuyết điều khiển tự động có thể phân chia thành nhữnggiai đoạn như sau:

Trang 4

Giai đoạn 1: thời kỳ cổ đại đến 1900 (máy cơ khí, thiết bị nhiệt, máy

điều tốc ly tâm của James Watt)

Giai đoạn 2: từ 1900 đến 1940 (điều khiển PID, lý thuyết điều khiển

tự động: Maxwell, Routh, Hurwitz, và Lyaponov)

Giai đoạn 3: Giai đoạn 1940-1960 (điện tử, bán dẫn, các bộ lọc, lý

thuyết ổn định, điều khiển tối ưu, sáng lập Hiệp hội Điều khiển Tự độngQuốc Tế - IFAC)

Giai đoạn 4: Giai đoạn 1960-1995 (bộ lọc Kalman, điều khiển hiện

đại tối ưu và thích nghi, hệ thống định vị toàn cầu GPS và hệ thống dẫnđường vệ tinh toàn cầu GLONASS, máy tính, bộ vi xử lý và bộ vi điềukhiển, mở đầu thời kỳ Internet và mạng máy tính)

Giai đoạn 5: Giai đoạn 1995-nay (máy tính, Internet, kỹ thuật mạng

không dây, kỹ thuật dải băng thông rộng, phần mềm, điều khiển bền vững,điều khiển phân tán, điều khiển lô gíc mờ và mạng nơ ron)

II TRÁCH NHIỆM, NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN LỢI

1 TRÁCH NHIỆM VÀ NGHĨA VỤ

Khi đất nước đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nướcthì bất cứ một ngành nghề kỹ thuật nào cũng cần nhân sự cho ngành tự độnghóa Và dù hầu hết các trường thuộc khối kỹ thuật đều đào tạo ngành nàynhưng không phải vì thế mà nguồn nhân lực cho ngành tự động hóa trở nêndồi dào, mà ngược lại lúc nào cũng khan hiếm

Trang 5

Không khó để tìm thấy một lời đề nghị mức lương tầm tầm 500USD của những ứng viên ngành tự động hóa Biết được thế mạnh củamình, nhân sự của ngành này thường “làm cao” giá trị của mình bởi với một

400-số trường đại học, ngành tự động hóa luôn có điểm đầu vào cao hơn nhữngkhoa khác

Quá trình học tập trong nhà trường cũng khó khăn hơn rất nhiềunhững khoa khác vì tính phức tạp của môn học Thế nên, nhiều nhà tuyểndụng, tìm đến những nơi này như một cứu cánh về nhân lực

Chuyên ngành tự động hóa thường xuyên được nhà tuyển dụng lấyngười ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường chứ không cần phải “vác”

hồ sơ đi xin việc

Thầy Đào Văn Tân, Trưởng Bộ môn Tự động hóa, Đại học Mỏ - Địachất cho biết: “Chúng tôi chủ yếu đào tạo SV trong lĩnh vực xí nghiệp mỏ -dầu khí và mở rộng ra cả xí nghiệp điện, nhà máy nước… Năm 2005, có 45

SV bảo vệ đồ án khóa đầu tiên, trong các tân kỹ sư mới bảo vệ, Tổng Công

ty Than Việt Nam đã trực tiếp đến Bộ môn xin 20-25 chỉ tiêu, có đơn vịquân đội cũng đặt vấn đề tuyển 20 kỹ sư hoạt động trong lĩnh vực quân sự”

Nhưng để làm được điều này, không hề đơn giản Những bạn sinhviên, những người theo đuổi chuyên ngành tự động hóa cũng không ngừngnâng cao trình độ của mình, theo kịp với trình độ phát triển của thế giới, củađất nước

Tự động hóa là ngành nghiên cứu các thuật toán điều khiển, sử dụngcác thiết bị điều khiển, chấp hành nhằm mục đích tự động các quá trình côngnghệ sản xuất Đây không phải là một nghề mới, nhưng trong những nămgần đây, nó được chú trọng do sự phát triển mạnh mẽ của các ngành côngnghiệp

Trang 6

Nhiệm vụ của kỹ sư tự động hóa là theo dõi các hệ thống điều khiển,phát hiện những sai sót của hệ thống để kịp thời sửa chữa hoặc hoàn thiện,vận hành, bảo dưỡng, bảo trì hệ thống điện tự động…

Phạm Nguyên Anh - cựu sinh viên khoa Tự động hóa trường ĐHBách khoa chia sẻ: “Ra trường, mình không khó khăn lắm để xin việc Bâygiờ mình đang làm việc cho Công ty Tự động hóa Điện tử - Tự động

"Khi còn học Bách khoa mình đã được nhận vào làm thử, ra trường

có kinh nghiệm nên bắt đầu làm việc ngay mà không “bị” đào tạo lại Mìnhlàm trong dây chuyền sản xuất máy trộn xi măng tự động

"Theo dõi sự làm việc của nó sau khi đã nghiệm thu, công đoạn đầuvẫn là mua thiết bị, cài đặt các thông số, lắp đặt máy, giám sát kỹ thuật trongquá trình vận hành thử máy”

Công việc tưởng chừng như rất nhàm chán nhưng với Nguyên Anhmỗi lần triển khai công việc lại như thêm một lần khám phá những cỗ máy

và ấn tượng về những lần di chuyển, lắp máy đến các vùng miền của Tổquốc như một kỷ niệm khó quên trong anh

Trong khoảng hơn chục năm trở lại đây, hầu hết các trường trongkhối kỹ thuật đều thành lập khoa hay bộ môn TĐH Được nhiều người biếtđến và có truyền thống hơn cả vẫn là bộ môn TĐH xí nghiệp công nghiệpthuộc khoa Điện của trường ĐH Bách khoa Hà Nội Các kỹ sư TĐH cũngđược đào tạo tại ĐH Công nghiệp Hà Nội, ĐH Kỹ thuật Thái Nguyên, ĐHBách khoa Đà Nẵng, ĐH Bách khoa TP.HCM, ĐH Sư phạm kỹ thuậtTP.HCM hay Học viện Kỹ thuật quân sự

Trang 7

Ngoài ra, một số trường thành lập bộ môn TĐH phù hợp với từngchuyên ngành của trường mình Như Bộ môn TĐH thiết kế cầu đường củatrường ĐH GTVT Hà Nội, Bộ môn Điện và Tự động tàu thủy của ĐH Giaothông vận tải TP.HCM, Bộ môn TĐH xí nghiệp mỏ và dầu khí của ĐH MỏĐịa chất Hà Nội

Theo ông Phạm Quốc Hải - Phó Chủ nhiệm bộ môn TĐH xí nghiệpcông nghiệp - ĐH Bách khoa Hà Nội: “Mỗi năm, bộ môn có khoảng từ 100đến 150 kỹ sư ra trường Tuy nhiên, số này cộng với SV tốt nghiệp của cáctrường khác, chưa thể đáp ứng nhu cầu nhân lực của các nhà máy, xí nghiệp,các công ty”

Ông Hải cho biết thêm: “SV TĐH ra trường có thể làm được rấtnhiều việc liên quan đến chuyên ngành học của mình như thiết kế, ứng dụng,kinh doanh các sản phẩm TĐH

"Họ cũng có thể làm việc với các dây chuyền tự động trong các nhàmáy, xí nghiệp của nhiều ngành khác nhau như giấy, xi măng, mía đường,thực phẩm, giao thông vận tải Nhiều nơi cần nên kỹ sư TĐH không khó đểkiếm được một công việc như mong muốn”

Dù vậy, đó cũng chỉ là lý thuyết cơ bản Muốn làm được việc, họphải chủ yếu học tập từ thực tế công tác Với các kỹ sư tự động hóa, dễ kiếmviệc không đồng nghĩa với dễ làm việc Nhưng dù khó khăn trong quá trìnhhọc thì tự động hóa vẫn là một ngành của tương lai và rất xứng đáng được

các bạn trẻ trước ngưỡng cửa lập nghiệp quan tâm chú ý.

2 QUYỀN LỢI

- Không nhất thiết phải học tất cả

Sự phát triển theo cả chiều sâu và chiều rộng của công nghệ tự độnghóa làm cho số môn học tăng lên và trong khuôn khổ hạn hẹp của 5 năm đàotạo chúng ta không thể thực hiện được việc truyền tải tất cả các môn học, mà

Trang 8

môn nào cũng thấy là cần thiết khi so sánh với yêu cầu của thị trường laođộng Xu hướng đào tạo theo chuyên ngành rộng còn các kỹ sư sẽ tự bổ sungkiến thức khi ra công tác đang trở lên phổ biến Tuy nhiên, nhược điểm cơbản của xu hướng này là sinh viên phải học một lượng kiến thức nhiều hơnthực tế sử dụng nhưng khi tốt nghiệp lại chưa thể bắt tay vào làm việc ngaydẫn tới kéo dài thời gian đào tạo thực tế (không phải là 5 năm nữa mà là 6hoặc 7 năm) gây lãng phí lớn cho xã hội, giảm sức cạnh tranh của doanhnghiệ và của cả nền kinh tế

Chúng ta sẽ thấy rõ điều này hơn khi đặt khoảng thời gian đào tạo nàytrong tương quan với quỹ thời gian lao động của một đời người vào khoảng

35 năm Hơn nữa, hai năm thêm vào của quá trình đào tạo này là những năm

mà khả năng sáng tạo của con người là tốt nhất Ở đây chúng ta cần xem xétlại một thực tế là các kỹ sư khi ra trường sẽ không làm việc trong mọi lĩnhvực mà tự động hóa bao trùm và do vậy việc đào tạo tất cả các môn học chomọi kỹ sư sẽ là không cần thiết Giải pháp cho vấn đề này là thiết kế chươngtrình đào tạo vừa đáp ứng yêu cầu đa dạng của thị trường lao động và vừađáp ứng được yêu cầu chuyên sâu nhưng không đòi hỏi sinh viên phải họchết các môn học Có nghĩa là các kỹ sư tốt nghiệp trong cùng một khóa họckhông nhất thiết phải học những môn giống nhau

Về lâu dài hướng đào tạo theo tín chỉ sẽ là giải pháp thích hợp chomục tiêu đào tạo như vậy Tuy nhiên trong giai đoạn trước mắt khi ta chưa

đủ điều kiện tiến hành việc đào tạo theo tín chỉ có thể khắc phục bằng cáchhoạch định chương trình cơ bản trong ba năm rưỡi hoặc bốn năm đầu, nămthứ năm được chia thành nhiều chuyên đề cho phép sinh viên tự lựa chọn

Số lượng và nội dung các chuyên đề có thể thay đổi để thích ứng với yêu cầucủa sản xuất Trước mắt, các chuyên đề có thể là: Tự động hóa quá trình sảnxuất, điện tử công suất nâng cao, truyền động điện nâng cao, tự động hóa tòa

Trang 9

nhà, Thông qua các chuyên đề này, ngoài việc tiếp cận với các kiến thứcnâng cao sinh viên sẽ được rèn luyện phương pháp tư duy hệ thống.

Theo kinh nghiệm bản thân là người học tự động hóa, mình đã rút rađược 1 điều, các hệ thống tự động đều được thống nhất với nhau về giaothức truyền, nguyên tắc lập trình và các nguyên lý logic số Sự khác nhauchủ yếu giữa các loại hệ thống tự động của các hãng là cách thức lập trìnhcho hệ thống tự động Vậy liệu ta có thể học hết được giao thức lập trình chotất cả các loại hệ thống tự động trên ghế giảng đường hay không câu trả lời

là không, và theo mình nghĩ, thì những gì sinh viên được dạy tốt nhất nên làkhả năng tư duy, kĩ năng thiết kế hệ thống và những nguyên tắc chung nhất

cả các hệ thống tự động Việc còn lại là của mỗi người kĩ sư nhiệm vụ củamỗi kĩ sư là học những hệ thống tự động phù hợp với công ty của mình hoặcnhững hệ thống dự định phát triển trong tương lai

Những năm gần đây đã bổ sung thêm hình thức đào tạo cử nhân caođẳng tự động hóa Đây là một bước bổ sung kịp thời cho lực lượng lao động

kỹ thuật của ngành tự động hóa Để hoàn thiện thêm hệ thống nhân lực kỹthuật của ngành tự động hóa, chương trình đào tạo cử nhân cao đẳng tự độnghóa không nên làm theo hướng thu nhỏ chương trình đào tạo kỹ sư mà nênthiết kế sao cho cử nhân cao đẳng tự động hóa có nhiều kỹ năng thực hànhhơn và kiến thức cơ bản thì ở mức độ có thể tự triển khai các thiết kế do kỹ

sư thiết kế ra

- Đổi mới phương pháp giảng dạy

Để sinh viên có thể tiếp thu được lượng kiến thức nhiều hơn trongkhoảng thời gian ngắn hơn và đặc biệt là trang bị cho sinh viên kỹ năng tìmkiếm thông tin, kỹ năng tự học nâng cao trình độ chuyên môn sau này khi racông tác đòi hỏi phương pháp giảng dạy phải có sự thay đổi Nói chung kỹ

sư đào tạo ra của chúng ta đều thiếu tính chủ động trong công việc Trong

Trang 10

nền kinh tế thị trường thì điều này làm giảm một cách đáng kể hiệu quả côngviệc của người kỹ sư Để giải quyết vấn đề này việc giảng dạy cần phải theohướng giảm tính áp đặt từ phía người dạy và tăng tính chủ động từ phíangười học Việc đánh giá kết quả học tập cũng nên theo hướng coi trọng tínhsáng tạo của người học hơn.

- Đổi mới chương trình đào tạo liên tục

Sẽ là không thực tiễn nếu chúng ta áp dụng một chương trình với cácmôn học cố định cho việc đào tạo kỹ sư công nghệ cao nói chung, kỹ sư tựđộng hóa nói riêng trong sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ ngày nay.Đối với từng môn học cũng vậy, nội dung của nó cần được cập nhật đổi mớihàng năm theo sự phát triển của công nghệ chuyên ngành Tuy nhiên vấn đềđặt ra là đổi mới như thế nào? Về điểm này chúng tôi xin được tiếp cận vấn

đề dưới góc độ và khía cạnh của người làm tự động hóa Theo chúng tôi các

cơ sở đào tạo cần phải thiết lập hệ thống phản hồi về kết quả đào tạo củamình từ phía những người sử dụng lao động và từ chính các kỹ sư mình đàotạo ra Hệ thống phản hồi này có thể thông qua các diễn đàn, các cuộc hộithảo và thông qua việc phát các phiếu thăm dò và từ đó xử lý kết quả, đưa racác điều chỉnh hợp lý Đối với phương pháp giảng dạy cũng vậy, ta có thểtiến hành thu thập các ý kiến phản hồi từ chính sinh viên để có sự điều chỉnhcho phù hợp

- Chất lượng đào tạo

Cần phải nhìn thẳng vào sự thật là đội ngũ kỹ sư tự động hóa củachúng ta đã góp phần tích cực vào quá trình đổi mới công nghệ sản xuất củanền kinh tế trong những năm vừa qua nhưng so với yêu cầu của thực tiễn thìvẫn chưa đạt yêu cầu Vấn đề đổi mới hệ thống giáo dục đại học theo hướng

xã hội hóa đang còn có nhiều tranh cãi nhưng có lẽ đó là xu hướng khôngthể đảo ngược trước yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo đại học Việc đào

Trang 11

tạo kỹ sư tự động hóa cũng không nằm ngoài quy luật này, không có cáctrang thiết bị thí nghiệm và thực hành cần thiết ta không thể nói tới việcnâng cao chất lượng đào tạo Khi các nguồn đầu tư từ phía Nhà nước cònhạn chế, cơ chế để tìm kiếm các nguồn đầu tư khác còn chưa có thì việc các

kỹ sư của chúng ta bị đánh giá là “thiếu kỹ năng thực hành” là điều dễ

hiểu Tuy nhiên, thực tế nền kinh tế thị trường không cho phép chúng tachậm trễ và các trường đại học phải tìm cách nâng cao chất lượng đào tạocủa mình nếu không muốn bị tụt hậu lại phía sau Trong khi các nhà giáodục vẫn đang bàn cãi về vấn đề đổi mới giáo dục đại học, về việc Nhà nước

có nên “bảo lãnh” cho các tấm bằng đại học nữa không, thì thực tế tại hầuhết các doanh nghiệp việc sử dụng lao động, trả thù lao không còn dựa trênbằng cấp mà dựa trên kết quả công việc của người đó Chúng ta chưa có một

tổ chức nào tiến hành việc đánh giá chất lượng đào tạo cụ thể nhưng trênthực tế việc đánh giá chất lượng đào tạo đã diễn ra trên thị trường lao động.Đối với việc đào tạo kỹ sư tự động hóa, theo chúng tôi đề xuất việc áp dụng

tư tưởng của hệ thống quản lý chất lượng vào việc nâng cao chất lượng đàotạo Theo đó, chất lượng đào tạo sẽ được đảm bảo nếu ta đảm bảo chất lượngcủa các yếu tố liên quan như chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy,chất lượng đầu vào, kiểm tra sát hạch từng môn học,

Những ý kiến trên đây của chúng tôi có thể không bao quát được hếtcác vấn đề, các khó khăn của quá trình đào tạo kỹ sư tự động hóa nhưng từgóc độ của người học và sử dụng lao động chúng tôi mong muốn những ýkiến của mình như là các tín hiệu phản hồi giúp cho các nhà quản lý đào tạo

có thêm thông tin để hoạch định chương trình đổi mới, nâng cao chất lượngđào tạo kỹ sư nói chung và kỹ sư tự động hóa nói riêng

Sự khó khăn lớn nhấn mà sinh viên tự động hóa gặp phải đó là cơ sởvật chất Ví dụ: để học tốt môn học lập trình PLC thì sinh viên cần được lập

Trang 12

trình chủ yếu trên 1 con PLC trong thời gian ít nhất là 2-3 tháng Các bạn cóthể mô phỏng, nhưng kết quả sẽ không trực quan và có thể sẽ gây ra lỗi khiđưa ra hệ thống thực sự Nhưng giá thành của những con PLC thì khôngphải rẻ, 1 con PLC S7-200 của hãng Siemen 2nd bán lại ngoài thị trường gần

2 triệu đồng, trong khi sinh viên của chúng ta ăn chưa đủ no Phòng thínghiệm của trường thì có hạn, và sẽ rất khó cho sinh viên có thể làm quenđược với nó vậy làm cách nào để chúng ta có những "kĩ sư lành nghề" cũngnhư kinh nghiệm Một câu hỏi lớn cho ngành tự động hóa cũng như nền giáodục của chúng ta

III NHẬN THỨC VÀ HIỂU BIẾT CỦA BẢN THÂN QUA ĐỢT THAM QUAN THỰC TẾ.

1 Sơ lược về nhà máy xi măng hoàng mai

Xi măng là một loại vật liệu xây dựng, một chất kết dính trong xâydựng mà các nhà khoa học đã tìm ra vào cuối thế kỉ thứ 19 và đã sản xuấttrước tiên ở một số nước tư bản như Đan Mạch , Anh, Pháp ,Mỹ … Đầu thế

kỷ 20 ,xi măng đã thực sự trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong xâydựng và phát triển kinh tế Xi măng xuất hiện hầu hết trên khắp thị trườngthế giới.Và ở nước ta,sau khi chiến tranh kết thúc, nền kinh tế nước ta đangbước đầu hồi phục, trước tình hình đó Đảng và Nhà nước hoạch định chiếnlược phát triển kinh tế xã hội, trong đó xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật củanền kinh tế được coi trọng hàng đầu Để làm được viêc đó, ngành côngnghiệp vật liệu xây dựng phải đi trước một bước

Để đáp ứng yêu cầu phát triển phù hợp với nền kinh tế thị trường,Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế đất nước, nhu cầu ximăng cho xây dựng ngày một tăng Công ty đã đầu tư mở rộng, khẩn trươngtiến hành xây dựng dây chuyền II có công suất thiết kế là 1,2 triệu tấn /năm,

Trang 13

trên mặt bằng của Công ty hiện có, dây chuyền II được khởi côngngày 28/12/1993 Sau gần 3 năm thi công xây dựng, ngày 12/5/1996 dâychuyền II đươc khánh thành và đi vào sản xuất, như vậy tổng công suất của

2 dây chuyền lúc này là 2,3 triệu tấn/năm

Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước Công ty xi măng Hoàng Mai

đã không ngừng lớn mạnh và phát triển sản phẩm của Công ty năm sau caohơn năm trước, chất lượng sản phẩm luôn ổn định ở mức cao Trước tìnhhình tăng trưởng kinh tế giai đoạn (2006-2010), dự án đầu tư xây dựng dâychuyền III Công ty xi măng Hoàng Mai có công suất thiết kế là 1,2 triệu tấn/năm, được Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư tại quyết định số 91/QĐ-TTg ngày 20/01/2003 Dây chuyền III được khởi công xây dựng ngày04/02/2007 trên mặt bằng hiện có của Công ty với diện tích đất sử dụng là7,46 ha, dự kiến đến quý III năm 2009 khánh thành đi vào sản suất Như vậykhi dây chuyền Hoàng Mai III đi vào sản xuất sẽ đưa tổng công suấtcủa Công ty lên 3,5 triệu tấn/năm Trải qua thời gian, đội ngũ cán bộ côngtác kỹ thuật ngày càng trưởng thành cả về số lượng lẫn chất lượng , sảnphẩm đạt chất lượng cao Tên tuổi của nhà máy xi măng Hoàng Mai ( nay làcông ty xi măng Hoàng Mai) cùng với việc sản xuất xi măng Poorland có inhình con sư tử – biểu tượng của sự bền vững , an toàn và ổn định đã đang và

sẽ còn được người tiêu dùng trên cả nước mến mộ và tin dùng

- Phòng ĐH Trung Tâm : Chỉ đạo vận hành liên động toàn bộ hệ

thống thiết bị trong dây chuyền sản xuất xi măng hoặc cục bộ từng công

Trang 14

đoạn: Nguyên liệu, Lò nung, Nghiền than, Nghiền xi măng.v.v Đảm bảocác thiết bị hoạt động liên tục, có hiệu quả Tham mưu cho Giám đốc chỉđạo việc điều độ kế hoạch sản xuất giữa các đơn vị phù hợp với kế hoạchsản xuất của Công ty Trực tiếp điều hành sản xuất thông qua hệ thống điềuhành đảm bảo sản xuất liên tục không bị gián đoạn.

- Phòng Kỹ Thuật Sản xuất : Quản lý chuyên sâu về kỹ thuật công

nghệ, tiến bộ kỹ thuật để sản xuất Clanh-ke, xi măng từ các nguyên liệu đávôi, đá sét, thạch cao, than, dầu, các loại phụ gia, quản lý mẫu mã vỏ bao vàcác vật tư khác đảm bảo chất lượng sản phẩm phục vụ sản xuất kinh doanhcủa công ty đạt hiệu quả cao nhất Tham mưu cho Giám đốc Công ty về cáctiến bộ khoa học, xây dựng các đề tài nghiên cứu ứng dụng khoa học vào sảnxuất Chỉ đạo các đơn vị có liên quan về lĩnh vực công nghệ phân tích hoá,

lý xác định các thành phần hoá học có trong nguyên liệu để tính toán phốiliệu nhằm đáp ứng theo yêu cầu sản xuất đề ra

- Phòng Thí Nghiệm – KCS : Kiểm tra và xác định chất lượng

nguyên, nhiên, vật liệu, phụ gia, kiểm tra chất lượng từng công đoạn sảnxuất và thành phẩm của Công ty theo tiêu chuẩn TCVN và tiêu chuẩn cơ sở,duy trì hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn ISO – 9001

- Xưởng Đóng Bao : Ngoài chức năng nhiệm vụ đóng bao sản phẩm,

quản lý tài sản, vận hành các thiết bị trong dây chuyền được giao còn phốihợp với phòng Kinh doanh để tổ chức xuất hàng cho 3 loại phương tiện làĐường sắt, Đuờng thuỷ, Đường bộ, đảm bảo chất lượng, số lượng đúngchủng loại và an toàn lao động, đáp ứng kịp thời cho khách hàng

- Xưởng Xi Măng : Giúp Giám đốc vận hành và quản lý thiết bị từ

khâu vận chuyển Clanh-ke, Thạch cao, phụ gia đến máy nghiền, vận chuyển

xi măng bột vào Xilô, đảm bảo các thiết bị hoạt động liên tục, đồng bộ, antoàn nhằm nâng cao năng suất chất lượng Tổ chức bốc xúc, vận chuyển

Trang 15

nguyên, nhiên, vật liệu tại cảng đưa về kho và vận hành thiết bị xuất ke.

Canh Xưởng Lò Nung : Phối hợp với phòng Điều hành Trung Tâm tổ

chức vận hành hệ thống thiết bị trong phạm vi của đơn vị quản lý để đảmbảo các thiết bị hoạt động liên tục, đồng bộ, an toàn nhằm sản xuất Clanh-ke

có chất lượng tốt, hiệu quả cao Lập kế hoạch báo cáo với ban Giám đốc vềtình trạng hoạt động, tình trạng thiết bị của công đoạn Lò Nung để lịp thời

- Xưởng Nguyên Liệu : Quản lý toàn bộ tài sản, vật tư, lao động của

đơn vị mình, tổ chức vận hành các thiết bị từ máy đập đá vôi, đá sét, hệthống vận chuyển đến kho đồng nhất sơ bộ, hệ thống cấp phụ gia điều chỉnhnguyên liệu, đồng thời phối hợp với phòng Điều hành Trung Tâm tổ chứcvận hành hệ thống thiết bị nghiền liệu và đồng nhất bột liệu trong phạm vixưởng quản lý Đảm bảo các thiết bị hoạt động liên tục, đồng bộ, an toàn,phục vụ cho sản xuất Clanh-ke với chất lượng và năng suất cao nhất

- Nhà máy Vật liệu chịu lửa Kiềm tính : Nhà máy vật liệu chịu lửa

Kiềm tính Việt Nam là đơn vị trực thuộc Công ty xi măng Hoàng Mai hoạtđộng và sản xuất trên địa bàn Bắc Ninh, có chức năng sản xuất, kinh doanhsản phẩm vật liệu chịu lửa các loại, xây dựng và lắp đặt các loại lò côngnghiệp, dân dụng Nhà máy vật liệu chịu lửa Kiềm tính tự quản lý, sử dụngngười lao động cũng như về dây chuyền sản xuất của đơn vị mình

- Xí nghiệp bao bì Vĩnh Tuy : Xí nghiệp bao bì Vĩnh Tuy là đơn vị

trực thuộc Công ty xi măng Hoàng Mai hoạt động và sản xuất trên địa bàn

Hà Nội, có chức năng sản xuất kinh, doanh bao bì phục vụ sản xuất xi măng,công nghiệp và dân dụng

Khối Cơ Điện :

Trang 16

- Phòng Kỹ thuật Cơ Điện : Quản lý chuyên sâu về kỹ thuật công

nghệ, tiến bộ kỹ thuật để sản xuất Clanh-ke, xi măng từ các nguyên liệu đávôi, đá sét, thạch cao, than, dầu, các loại phụ gia, quản lý mẫu mã vỏ bao vàcác vật tư khác đảm bảo chất lượng sản phẩm phục vụ sản xuất kinh doanhcủa công ty đạt hiệu quả cao nhất Tham mưu cho Giám đốc Công ty về cáctiến bộ khoa học, xây dựng các đề tài nghiên cứu ứng dụng khoa học vào sảnxuất Chỉ đạo các đơn vị có liên quan về lĩnh vực công nghệ phân tích hoá,

lý xác định các thành phần hoá học có trong nguyên liệu để tính toán phốiliệu nhằm đáp ứng theo yêu cầu sản xuất đề ra

- Phòng Kỹ thuật An toàn - Môi trường : Giúp Giám đốc Công ty

quản lý chuyên sâu về công tác kỹ thuật an toàn lao động., vệ sinh lao động,

vệ sinh môi trường, bảo hộ lao động đúng với quy định của công ty Duy trìquản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO-14001:2004 Lập kế hoạch và kiểmtra đôn đốc hàng năm các đơn vị trong Công ty thực hiện việc huấn luyệnATLĐ-VSLĐ và bảo vệ môi trường, nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối chocán bộ công nhân viên trong Công ty

- Xưởng Điện - Điện tử : Xưởng Điện-Điện tử là đơn vị trực thuộc

Công ty có chức năng quản lý toàn bộ tài sản, lao động và tổ chức vận hành,sửa chữa các thiết bị thuộc hệ thống cung cấp điện, hệ thống máy lạnh và hệthống đo lường điều khiển, đảm bảo cho các thiết bị hoạt động liên tục ổnđịnh Quản lý, bảo dưỡng, sửa chữa mạng thông tin nội bộ của Công ty

- Xưởng Cơ Khí : Thực hiện việc sửa chữa, lắp đặt, gia công, chế tạo,

phục hồi thiết bị, nắm vững các thiết bị của dây chuyền sản xuất trong lĩnhvực cơ khí, đảm bảo các thiết bị hoạt động liên tục, an toàn, ổn định Phốihợp với các đơn vị theo dõi hoạt động của các thiết bị, tìm ra nguyên nhân

sự cố, đề xuất ý kiến với lãnh đạo Công ty biện pháp khắc phục xử lý kịpthời

Trang 17

- Xưởng Nước : Quản lý hệ thống cấp nước phục vụ cho sản xuất kinh

doanh và nhu cầu sinh hoạt của cán bộ công nhân viên trong Công ty Nắmvững nguồn nước, khả năng cung cấp để tổ chức vận hành và xử lý nước,điều phối nước hợp lý

- Xưởng Sửa chữa Công trình

- Tổng Kho : Quản lý, cấp phát, thu hồi, vật tư, bảo quản thiết bị, phụ

tùng, nguyên, nhiên vật liệu, dầu mỡ và các mặt hàng khác phục vụ cho yêucầu sản xuất kinh doanh Xây dựng nội quy bảo quản, cấp phát ở từng khovật tư cho phù hợp với yêu cầu bảo quản của từng loại thiết bị, nguyên,

nhiên vật liệu

Khối Khai Thác Và Vận Chuyển :

- Phòng Kỹ Thuật Mỏ : Quản lý chuyên sâu về lĩnh vực khai thác đá

vôi, đá sét, vận tải và chỉ đạo công tác nghiệp vụ, kỹ thuật đối với các xưởng

Xe máy và Khai thác, nhằm nâng cao hiệu quả khai thác Lập kế hoạch khaithác, sửa chữa thiết bị, lập đơn hàng vật tư để phục vụ cho việc khai thác

- Xưởng Khai Thác : Có chức năng quản lý lao động, sửa chữa các

loại máy xúc, máy ủi, máy nén khí, máy khoan và các thiết bị khác để tổchức khai thác, bốc xúc đá vôi, đá sét theo kế hoạch được giao Khảo sát, đođạc để làm cơ sở cho việc khai thác và lập hộ chiếu khoan nổ mìn theo đúngquy trình quy phạm khai thác

- Xưởng Xe Máy : Lập kế hoạch vận tải đá vôi, đá sét, Clanh-ke, phụ

gia, vật tư…Quản lý, sửa chữa, bảo dưỡng các thiết bị xe máy (ôtô tải, máyxúc, xe cẩu…) và các thiết bị máy móc khác nhằm phục vụ sản xuất Quản

lý, vận hành các trạm máy phát điện để sẵn sàng cấp điện khi có sự cố điệnlưới

Khối Hành Chính – Kinh Doanh :

- Văn Phòng : Là đơn vị trực thuộc Công ty, giúp Giám đốc Công ty

quản lý nghiệp vụ và tài sản thuộc các lĩnh vực: Hành chính - Quản trị, vănthư-lưu trữ; Thi đua-khen thưởng, Tuyên truyền; công tác đối ngoại, Quản lý

Trang 18

mạng thông tin nội bộ… Quản lý công văn tài liệu, rà soát trước khi banhành Hướng dẫn các đơn vị trong Công ty thực hiện đúng các quy chế vềcông văn giấy tờ.

- Phòng Kinh Doanh : Quản lí hoạt động kinh doanh của công ty.

- Phòng Đời Sống : Giúp Giám đốc quản lý, tổ chức, phục vụ ăn ca

cho Cán bộ Công nhân viên trong Công ty, phục vụ bữa ăn cho khách đếnlàm việc, cấp phát độc hại hàng tháng cho Cán bộ Công nhân viên

- Phòng Y Tế : Giúp Giám đốc quản lý chăm sóc sức khoẻ, khám,

điều trị và cấp cứu cho cán bộ công nhân viên theo khả năng chuyên môn vàphân cấp của ngành Y tế, tổ chức phòng bệnh, phòng dịch, vệ sinh môitrường và các hoạt động y tế khác của Công ty Xây dựng và thực hiện kếhoạch phòng, chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ hàng năm cho Cán bộ Côngnhân viên

Khối Phòng Ban Chức Năng :

- Phòng Kế Hoạch : Giúp Giám đốc quản lý, lập kế hoạch sản xuất,

kinh doanh, sửa chữa (lớn, vừa và nhỏ) thiết bị, công trình kiến trúc, tiếnhành hợp đồng kinh tế với các chủ thể trong và ngoài Công ty Ngoài ra còngiám sát việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh nhằm đạt hiểu quảkinh tế cao nhất

- Phòng Tổ chức Lao động : Chức năng quản lý, tổ chức, đào tạo lao

động, pháp chế, tiền lương và các chế độ chính sách đối với người lao độngnhằm phục vụ sản xuất kinh doah đạt hiệu quả cao nhất Đề xuất với Giámđốc về lĩnh vực tổ chức kết cấu bộ máy làm việc và bố trí nhân sự trongCông ty, đảm bảo đúng người đúng việc

- Phòng Vật tư : Thực hiện việc mua sắm vật tư (nguyên vật liệu,

máy móc, phụ tùng…), tiếp nhận hàng hoá nội địa và nhập khẩu, đặt giacông chế tạo thiết bị phụ tùng phục vụ sửa chữa nhằm đảm bảo duy trí sảnxuất liên tục Nắm vững giá cả để mua sắm các loại vật tư, tham gia cùngcác đơn vị lập định mức,dự trù nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế

Trang 19

Sơ đồ công nghệ :

Ngày đăng: 08/10/2021, 10:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Hệ thống thu – phát: Truyền thanh, truyền hình, thoại, di động, orba, vệ tinh. - Báo cáo nhập môn kỹ thuật điều khiển và tự động hóa
th ống thu – phát: Truyền thanh, truyền hình, thoại, di động, orba, vệ tinh (Trang 33)
Hình 3.1. Cấu trúc chuyển mạch - Báo cáo nhập môn kỹ thuật điều khiển và tự động hóa
Hình 3.1. Cấu trúc chuyển mạch (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w