Đối chiếu giới từ chỉ không gian „aufin‟ trong tiếng Đức với „trêntrong‟ trong tiếng Việt Đối chiếu giới từ chỉ không gian „aufin‟ trong tiếng Đức với „trêntrong‟ trong tiếng Việt Đối chiếu giới từ chỉ không gian „aufin‟ trong tiếng Đức với „trêntrong‟ trong tiếng Việt Đối chiếu giới từ chỉ không gian „aufin‟ trong tiếng Đức với „trêntrong‟ trong tiếng Việt Đối chiếu giới từ chỉ không gian „aufin‟ trong tiếng Đức với „trêntrong‟ trong tiếng Việt Đối chiếu giới từ chỉ không gian „aufin‟ trong tiếng Đức với „trêntrong‟ trong tiếng Việt Đối chiếu giới từ chỉ không gian „aufin‟ trong tiếng Đức với „trêntrong‟ trong tiếng Việt
Trang 1VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ NƯƠNG
ĐỐI CHIẾU GIỚI TỪ CHỈ KHÔNG GIAN “AUF/ IN” TRONG TIẾNG ĐỨC VỚI “TRÊN/ TRONG”
TRONG TIẾNG VIỆT
Ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu
Mã số: 9229024
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI – 2021
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Khoa Ngôn ngữ học,
Học viện Khoa học xã hộiViện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ KIM BẢNG
Có thể tìm hiểu luận án tại:
-Thư viện Học viện Khoa học xã hội
-Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay trong bối cảnh hội nhập, hợp tác quốc tế, tiếng Đức trởthành một ngôn ngữ và phương tiện thật sự quan trọng và cần thiết Mỗi đặcđiểm ngôn ngữ của mỗi quốc gia đều có những nét tương đồng và khác biệt
và hàm chứa những nét văn hóa đặc trưng Chính những sự khác biệt về đặcđiểm ngôn ngữ, đặc biệt khi dùng các giới từ chỉ không gian để nói về sựvật sự việc chính là rào cản ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp hoặc trongvăn bản và dịch thuật Vì vậy, chúng tôi nghiên cứu so sánh đặc điểm giữacác ngôn ngữ nhằm mục đích chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt làviệc làm cần thiết và có ý nghĩa góp phần nâng cao hiệu quả giao tiếp
Đồng thời trong quá trình sử dụng ngôn ngữ chúng giúp cho ngườiđọc và người học nhận thấy cách sử dụng đúng trong câu cũng như hiểu rõđược các loại hình giới từ, cấu trúc câu, cấu tạo từ, chức năng ngữ pháp vàngữ nghĩa của giới từ
Khi tiếp nhận ngôn ngữ, người học tiếng Đức thường gặp khó khănkhi sử dụng giới từ chỉ không gian hay địa điểm Tuy nhiên cho đến ngày
nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu rõ ràng nào về chủ đề “giới từ chỉ không gian trong tiếng Đức trong sự so sánh với tiếng Việt”, đây cũng
chính là một trong những lý do mà chúng tôi lựa chọn cho mình đề tài luận
án tiến sĩ “Đối chiếu giới từ chỉ không gian „auf/in‟ trong tiếng Đức với
„trên/trong‟ trong tiếng Việt”.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục đích nghiên cứu
1 Phân tích, mô tả và khái quát hóa về đặc điểm, nghĩa của các giới từ
định vị không gian cơ bản của tiếng Đức, trong đó tập trung chủ yếu vào hai
giới từ auf/ in.
2 So sánh, đối chiếu những điểm tương đồng, sự khác biệt trong
việc sử dụng giới từ chỉ không gian auf/ in trong tiếng Đức và tiếng Việt.
Trên cơ sở đó, có được những tổng kết cụ thể về mức độ tương đồng vàkhác biệt giữa các giới từ định vị không gian trong tiếng Đức và tiếng Việt
3 Làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt về ngữ nghĩa và cơ
chế tri nhận của các giới từ định vị không gian auf/ in của người Đức và
người Việt
Trang 42.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
-Phân tích và miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa của giới từ chỉ không gian tiếngĐức và tiếng Việt
-So sánh và đối chiếu về mặt ngữ nghĩa của giới từ auf/in định vị không gian trong tiếng Đức với trên/ trong trong tiếng Việt nhằm chỉ ra nét giống
và khác nhau về ngữ nghĩa của nhóm giới từ này
-Phát hiện những điểm giống nhau và khác nhau trong cơ chế, cách thức trinhận về giới từ định vị không gian của người Đức và người Việt qua mốiquan hệ tư duy và ngôn ngữ
-Nghiên cứu thực tiễn với việc tìm kiếm và phân tích các giới từ chỉ địa
điểm auf và in trong cuốn tiểu thuyết “Die Vermessung der Welt” (Daniel
Kehlmann) và bản dịch “Đo thế giới” (Lê Quang).
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu những giới từ chỉ không gian trong tiếng Đức
và tiếng Việt, đặc biệt tập trung nghiên cứu hai giới từ “auf/in”.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Tập trung nghiên cứu những vấn đề về ngữ nghĩa và cơ chế tri
nhận không gian của những giới từ định vị không gian auf/in.
-So sánh đối chiếu ngữ nghĩa và cơ chế tri nhận của những giới từ
định vị không gian auf/in với tiếng Việt.
Anh và Mỹ Chương cuối chủ yếu được khảo sát từ tác phẩm văn học Die Vermessung der Welt của tác giả Daniel Kehlmann được tác giả Lê Quang dịch sang tiếng Việt (Đo thế giới).
4 Phương pháp luận và nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp: Phương pháp miêu tả, phân tích, thu thập; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp phân tích ngữ nghĩa; thủ pháp thống kê phân loại.
Trang 55 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Trang 6Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ lý luận về đặc điểm giới từ
định vị không gian trong tiếng Đức cụ thể là các giới từ auf/in đối chiếu
với tiếng Việt và cơ sở tri nhận của nhóm giới từ này
Luận án đã tập trung phân tích ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của giới
từ không gian auf/in trong tiếng Đức đối chiếu với tiếng Việt nhằm làm rõ
sự tương đồng và khác biệt về tri nhận không gian trên/trong của người
bản ngữ và người Việt
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần làm sáng tỏ các luận điểm lý thuyết, lý luận và
bổ sung tư liệu cho việc nghiên cứu về đặc điểm giới từ định vị không gian
auf/ in (trên/ trong) theo các quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận.
Kết quả khảo sát về các đặc điểm ngữ nghĩa của giới từ tri nhậnkhông gian này góp phần giúp cho các nhà nghiên cứu có thêm luận chứng
để đi sâu nghiên cứu thêm về ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của chúng Ngoài
ra luận án còn góp phần khẳng định một trong những hướng đi mới củangành ngôn ngữ hiện đại
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ:
-Giúp cho việc dạy và học giới từ auf/in hiệu quả và hiểu dễ dàng hơn.
-Giúp người học Việt Nam hiểu sâu và rõ hơn về những sự tương đồng
và khác biệt giữa chúng, cũng như đóng góp thêm một hướng nghiên cứumới với một màu sắc riêng về đặc điểm giới từ định vị không gian trong haingôn ngữ
-Kết quả nghiên cứu của luận án cũng cung cấp một khối ngữ liệu Đức– Việt về giới từ này giúp ích cho công tác dịch thuật trong hai ngôn ngữ,việc biên soạn tài liệu tham khảo, giáo trình, từ điển giải thích tiếng Việthoặc từ điển đối chiếu Đức - Việt và Việt - Đức cũng như có thể là đónggóp thêm ý kiến cho việc đổi mới giáo trình phục vụ cho việc dạy và họcgiới từ này nói riêng và tiếng Đức nói chung
7 Cấu trúc của luận án
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương 2 Đặc điểm ngữ nghĩa các giới từ chỉ không gian auf/ in trong
tiếng Đức đối chiếu với tiếng Việt
Trang 7Chương 3 Đối chiếu cơ sở tri nhận không gian của giới từ auf/ in trong
tiếng Đức với tiếng Việt
Chương 4 Khảo sát thực tiễn sử dụng các giới từ auf và in trong tác phẩm
“Đo thế giới” với bản dịch tiếng Việt
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Những nghiên cứu nói chung trên thế giới về giới từ định vị không gian
Các giới từ chỉ không gian được rất nhiều tác giả trên thế giớinghiên cứu như A Herskovits (1986), theo ông mỗi giới từ đều có một
nghĩa lý tưởng (ideal meaning) có tính hình học tồn tại trong một thế giới lý
tưởng của các đường, điểm, bề mặt và của các mối quan hệ như: bao hàm,tiếp xúc, giao nhau Nói về vị trí của giới từ thì Sommerfeldt/ Starke (1998)giải thích theo nghĩa khác: Theo vị trí của chúng, giới từ được xếp vào cácnhóm khác nhau: giới từ luôn ở vị trí đứng trước danh từ hoặc cụm từ vànhóm giới từ thường đứng sau danh từ hoặc cụm từ Theo Helbig/ Buscha
(2001) thì hầu hết giới từ thứ yếu đi với thuộc cách hay sở hữu cách, chỉ rất
ít đi với tặng cách hoặc đối cách Trong tiếng Đức có ba giống: đực (männlich/Maskulinum - der), cái (weiblich/Femininum - die) và trung (sächlich/Neutrum - das).
Những thập niên trở lại đây đã nổi lên như một khuynh hướngngôn ngữ học độc đáo, đầy triển vọng với những tên tuổi lớn nhưLangacker, Fauconnier, Herskovits, Jackendoff, Lakoff, Talmy, Taylor,Weizbicka, Chomsky, Halliday, Klebanowaska„s, Leech và Svartvit, .nghiên cứu về ngôn ngữ học nói chung và giới từ không gian nói riêng
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm giới từkhông gian trong tiếng Anh như một số tác giả Brugman, Brenda, Svorou
với các tác phẩm như The Story of over (1988); The cognitive Perspective
on the Polysemy of the English Spatial Preposition Over (2014); The grammar of space (1994) Muộn hơn về sau này, đáng chú ý là công trình
nghiên cứu của Tyler and Evans (2003) trình bày một phân tích lý thuyết cơ
bản về ngữ nghĩa của giới từ tiếng Anh The Semantics of English prepositions: Spatial senses, embodied meaning and cognition, Cambridge University Press Hoặc bản dịch Tyler, A & Evan, V (2003), The
Trang 8Semantics
Trang 9of English prepositions: Spatial senses, embodied meaning and cognition,
Cambridge University Press (Bản dịch của Lâm Quang Đông và Nguyễn
Minh Hà (2017), Ngữ nghĩa giới từ tiếng Anh: Khung cảnh không gian, nghĩa nghiệm thân và tri nhận, Nxb ĐHQG.)
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước về giới từ định vị không gian trong tiếng Việt
Có thể nói lịch sử nghiên cứu về giới từ tiếng Việt được bắt nguồn
từ khá sớm nhưng vẫn còn ít công trình nghiên cứu mang tính chuyên sâu.Những nghiên cứu ban đầu làm việc theo phương thức ngữ pháp dịch, cụthể là đối chiếu với các bản dịch tương ứng giữa các ngôn ngữ với tiếngViệt để phân loại giới từ Và những công việc này đã được nhóm các tác giảnhư Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm, Trần Trọng Kim, đã làm trong suốtnhững năm đầu thế kỉ XX và là người đưa ra tên gọi “giới từ” khi xác địnhchúng là “tiếng dùng để liên lạc”
Nhưng về sau này đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đếngiới từ của một số tác giả như Nguyễn Minh Thuyết (1986), Nguyễn Lai(1990), Nguyễn Cảnh Hoa (2001), Lý Toàn Thắng, Trần Quang Hải, Dương
Kỳ Đức (2001), Đinh Văn Đức (2010), Nguyễn Như Ý/ Hà Quang Năng/
Đỗ Việt Hùng/ Đặng Ngọc Lệ (2001), nghiên cứu sâu hơn đến phươngdiện ngữ nghĩa của những giới từ Tuy nhiên không một ai trong những tácgiả này nghiên cứu độc lập về giới từ và sử dụng chúng như là một đốitượng nghiên cứu chủ đạo
1.2 Cơ sở lý thuyết của đề tài
1.2.1 Khái niệm cơ bản về tri nhận và về không gian
Tri nhận (cognition) – là khái niệm trung tâm của khoa học tri
nhận Nó chứa đựng hai nghĩa của những từ La Tinh kết hợp lại: cognitio có nghĩa là nhận thức và cogitatio có nghĩa là tư duy, suy nghĩ và gọi chung là tri nhận (cognition).
Không gian là một mô hình mở rộng ba chiều không biên giới
trong đó các vật thể và sự kiện có vị trí và hướng tương đối với nhau Theo quan điểm của Isaac Newton thì không gian là tuyệt đối - theo nghĩa
nó tồn tại vĩnh viễn và độc lập với sự có mặt hay không của vật chất trongkhông gian
Trang 101.2.2 Sự định vị và các đặc điểm định vị không gian trong ngôn ngữ học
Tác giả Levinson đã mở đầu cho phần tri nhận không gian trong
khoa học tri nhận như sau: “Nhân loại tư duy theo không gian” (Human beings think spatially) Tác giả viết tiếp “Không có ngoại lệ - nhưng cũng không có bất kỳ sự hoài nghi nào về một trong những trò lừa gạt cố hữu của sự tri nhận có tính nhân bản” Và ông cho rằng “Không gian tuyệt đối
là vô nghĩa, nó chỉ cần cho chúng ta để bắt đầu bằng sự quy chiếu không gian đến một hệ thống của các trục (đối xứng) được giới hạn một cách cố định cho cơ chế”.
1.2.3 Vị trí, hướng và các trục định vị không gian
Theo tác giả Frawley thì có những vị trí phụ thuộc vào góc độ (vị trí) của người nói, người nghe và có những vị trí mang tính độc lập riêng Ông đã đưa ra sự định vị có tính chia cắt không gian qua sơ đồ như sau:
Trong đó: a.trùng, b (bên) trong, c (bên) ngoài, d (bên) dưới, e (bên) trên, f (phía) trước, g (đằng) sau, h (bên) cạnh.
1.2.4 Những quan điểm đa nghĩa về không gian trong ngôn ngữ học tri nhận
Theo hai tác giả Tyler và Evans đã đúc kết hai quan điểm để giảithích quan hệ giữa các nghĩa khác biệt của các giới không gian: đồng âm vàđơn nghĩa Với quan điểm đồng âm thì cho rằng các nghĩa gắn với một hìnhthức cụ thể nào đó được lưu trữ đơn giản trong vốn từ vựng tinh thần với tưcách là các mục từ đơn nhất Từ đồng âm hay bị nhầm lẫn với từ nhiềunghĩa vì từ nhiều nghĩa là từ có nhiều nghĩa khác nhau
1.2.5 Tri nhận nghiệm thân
Tri nhận nghiệm thân không chỉ phụ thuộc vào thân thể mà còn cả
sự tương tác giữa con người với môi trường xung quanh (nghiệm thân (với)
tự nhiên) Có rất nhiều cách hiểu về “nghiệm thân” khác nhau, Johnson,
Johnson và Tim Rohrer đã tổng kết có 12 cách hiểu khác nhau về khái niệmnghiệm thân và dù là nghiệm thân hay trải nghiệm thân thể thì đều mangtính vật lí, tri nhận và xã hội
Trang 111.2.6 Các mô hình của ngôn ngữ học tri nhận
Trong văn liệu ngôn ngữ học hiện thời, thuật ngữ Ngôn ngữ học Tri nhận thường có hai cách hiểu: theo cách hiểu rộng và theo cách hiểu hẹp.
Vì thế ngôn ngữ học tri nhận đã ứng dụng những mô hình khác nhau để lígiải về những sự vật hiện tượng tồn tại và xảy ra ở thế giới xung quanhchúng ta Chúng ta có thể kể đến các mô hình của ngôn ngữ học tri nhận:các mô hình về kí ức (gồm các “khung” và các “miền”), “chú ý”, “tri giác”
và “phạm trù hóa”
1.2.7 Ẩn dụ ý niệm và sự ý niệm hóa không gian
Ẩn dụ tri nhận (hay còn gọi là ẩn dụ ý niệm – cognitive/conceptualmetaphor) – đó là một trong những hình thức ý niệm hoá, một quá trình trinhận biểu hiện và hình thành những khái niệm mới và không có nó thìkhông thể nhận được tri thức mới Về nguồn gốc ẩn dụ tri nhận đáp ứngnăng lực của con người nắm bắt và tạo ra sự giống nhau giữa những cá thể
và những lớp đối tượng khác nhau
1.2.8 Sự tri nhận không gian với “con người là trung tâm” vũ trụ
Từ xa xưa quan niệm coi con người là trung tâm đã trở thành cách
nhìn, cách nghĩ có sức hấp dẫn, thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà
lý luận và các nhà hoạt động chính trị - xã hội Quan điểm này chính là thái
độ đề cao vai trò chi phối, quyết định của con người đối với xã hội, đối với thế giới (bên trong và bên ngoài con người) và đối với vũ trụ Đó là thái độ thừa nhận nguyên tắc "hoạt động cải tạo không có giới hạn của con người".
1.2.9 Những chiến lược định vị và định hướng trong không gian.
Tác giả Lý Toàn Thắng đã nêu rằng: “Về nguyên tắc người ta có thể sử dụng những chiến lược khác nhau để định vị, định hướng (cho mình hay cho sự vật khác) trong một không gian nào đó và tuỳ ngôn ngữ mà một chiến lược này hay một chiến lược khác có được vai trò quan trọng hay thứ yếu” Ngoài ra, ông cũng khẳng định là có hai chiến lược định vị định
hướng không gian: trực tiếp và gián tiếp
1.3 Một số lý thuyết về giới từ trong tiếng Đức và tiếng Việt
1.3.1 Khái niệm “giới từ” trong tiếng Đức
Ludger Hoffmann cho rằng khái niệm “Präposition” (giới từ) bắt nguồn từ tiếng Latinh, Prä- trong tiếng Đức có nghĩa là trước Theo đó, vị
trí của giới từ đã được giải thích Giới từ thường đứng trước một từ, ví dụ
đứng trước danh từ “an der Tisch”, giới từ “an” đứng trước danh từ “der
Trang 12Tisch” và xác định đặc tính ngữ pháp của các từ đó Ngoài ra giới từ đứng
trước một loại từ khác thể hiện bản chất của ngữ pháp (cách 3 và cách 4)
1.3.1.1 Phân loại giới từ trong tiếng Đức
a) Phân loại giới từ theo ngữ nghĩa
b) Phân loại giới từ theo ngữ pháp
1.3.1.2 Ngữ nghĩa của giới từ
Trong tiếng Đức, thông thường các giới từ được chia thành 3 loại như sau:
8 giới từ đi với cách 3 Dativ, 6 giới từ đi với cách 4 Akkusativ, 9 giới từ đi với cả cách 3 Dativ lẫn cách 4 Akkusativ.
Có 2 nhóm lớn, đó là:
Lokale Präpositionen (Nhóm giới từ chỉ địa điểm)
Temporale Präpositionen (Nhóm giới từ chỉ thời gian)
1.3.2 Khái niệm “giới từ” trong tiếng Việt
Giới từ trong tiếng Việt được một số tác giả định nghĩa khác nhau
Tác giả Nguyễn Kim Thản cho rằng: “Giới từ là một loại hư từ (trong nhóm quan hệ từ) có tác dụng nối liền từ phụ (hoặc từ tổ phụ) với từ chính (hoặc từ tổ chính) biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa hai đơn vị đó”.
Các tác giả Đỗ Việt Hùng, Hà Quang Năng, Đặng Ngọc Lệ và
Nguyễn Như Ý (2001) giải thích: “Giới từ là biểu thị mối quan hệ của đối tượng với đối tượng, hiện tượng, cảnh huống Ý nghĩa này được biểu hiện không phải bằng ý nghĩa từ vựng chân thật mà bằng đặc điểm hoạt động của chúng với tư cách là các hư từ chỉ quan hệ”.
1.3.3 Nghĩa của giới từ trong ngữ nghĩa học truyền thống và ngữ nghĩa học tri nhận
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về ngữ nghĩa học Theo Lyons
đã xác định “ngữ nghĩa học là sự nghiên cứu nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp của ngôn ngữ tự nhiên”.
Với Lê Quang Thiêm thì cho rằng ngữ nghĩa học nghiên cứu nghĩacủa các biểu thức, các đơn vị của ngôn ngữ trong hệ thống cũng như nhữnghoạt động hành chức ở phương diện đồng đại cũng như trong tiến trình pháttriển của ngôn ngữ
Qua đó, chúng ta có thể nhận thấy rõ quan niệm về nghĩa của từtrong ngữ nghĩa học truyền thống và ngữ nghĩa học tri nhận là hoàn toànkhác nhau
Trang 131.3.4 Hệ thống các giới từ chỉ không gian trong tiếng Đức và tiếng Việt
Xét về mặt nội dung ý nghĩa thì trong tiếng Đức có 9 giới từ chỉ
không gian: vor, hinter, unter, auf, über, in, an, neben, zwischen.
1.3.4.1 Giới từ “vor/ hinter” (trước/ sau) trong tiếng Đức
1.3.4.2 Giới từ “trước, sau” (vor, hinter) trong tiếng Việt
1.3.4.3 Giới từ “an/ auf/ über/” (trên), và “unter” (dưới) trong tiếng Đức 1.3.4.4 Giới từ “trên, dưới” trong tiếng Việt
1.3.4.5 Giới từ “in” (trong) và “neben” (bên cạnh) trong tiếng Đức 1.3.4.6 Giới từ “trong” và “bên/ cạnh/ bên cạnh/ gần/ sát” trong tiếng Việt 1.3.4.7 Giới từ “zwischen” (ở giữa) trong tiếng Đức
1.3.4.8 Giới từ “giữa” (zwischen) trong tiếng Việt
1.4 Một số cơ sở lý luận về ngôn ngữ học đối chiếu
1.4.1 Khái niệm ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu
Thuật ngữ so sánh, đối chiếu thường được dùng để chỉ phương
pháp hoặc phân ngành nghiên cứu lấy đối tượng chủ yếu là hai hay nhiềungôn ngữ Mục đích của nghiên cứu là làm sáng tỏ những nét giống nhau vàkhác nhau giữa hai hay nhiều ngôn ngữ được đưa ra so sánh, đối chiếu.Nguyên tắc nghiên cứu chủ yếu là nguyên tắc đồng đại
1.4.2 Các bình diện đối chiếu ngôn ngữ
Theo Bùi Mạnh Hùng, khi đối chiếu các ngôn ngữ thì phải tuântheo những nguyên tắc nào và vấn đề các bình diện đối chiếu ngôn ngữ là
gì Việc nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ có thể thực hiện ở tất cả các bình
diện khác nhau hay còn gọi là đối tượng đối chiếu bao gồm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp; ở tất cả các đơn vị thuộc các cấp độ khác nhau của cấu trúc ngôn ngữ như âm vị, hình vị, từ và các đơn vị của lời nói như ngữ đoạn và câu.
1.4.3 Về nghiên cứu đối chiếu ngữ nghĩa và tương đương về ngữ nghĩa của từ giữa các ngôn ngữ
Lê Quang Thiêm cho rằng, nghiên cứu đối chiếu ngữ nghĩa của từgiữa hai hay nhiều ngôn ngữ là để tìm ra những điểm giống nhau và khácnhau về ngữ nghĩa của từ giữa hai hay nhiều ngôn ngữ đó, và để thực hiệnđiều này thì phải tiến hành đối chiếu trên bậc các nét nghĩa
1.4.4 Mọ t số v n đề về ngo n ngữ học so sánh đối chiếu và đối chiếu ngo
n ngữ
Trang 14Trong luạ n án này, khi đối chiếu các giới từ auf/ in trong tiếng Đức với trên/ trong trong tiếng Việt, tác giả sử dụng phu o ng pháp so sánh đối
chiếu (contrastive), hay nói ngắn gọn, phu o ng pháp đối chiếu là phu o ngpháp quan trọng nhất Có thể nói rằng bản chất của phu o ng pháp đốichiếu
là tìm ra những điểm tu o ng đồng và dị biẹ t giữa hai đối tu ng đu ợc đối
chiếu Để thực hiẹ n viẹ c đối chiếu cần có các tie u chí và quy trình cụ thể
Be n cạnh đó, tác giả cũng cũng đề cạ p đến quy trình đối chiếu đu ợc thựchiẹ n qua ba bu ớc: Bu ớc 1: Mie u tả; Bu ớc 2: Xác định các tie u chí đốichiếu và Bu ớc 3: Đối chiếu
1.5 Tiểu kết
Ngoài phần tổng quan, chương một tác giả đã trình bày các lýthuyết cơ bản liên quan đến đề tài làm cơ sở cho việc so sánh đối chiếu vềđặc điểm ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của giới từ định vị không gian tiếngĐức với tiếng Việt ở trong các chương tiếp theo Và tác giả cũng hệ thốngnhững giới từ không gian trong tiếng Đức và đối chiếu với tiếng Việt để
làm cơ sở tập trung nghiên cứu hai giới từ “auf/in” trong các chương tiếp
theo
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CÁC GIỚI TỪ CHỈ KHÔNG GIAN “AUF/ IN” TRONG TIẾNG ĐỨC ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT 2.1 Giới từ chỉ không gian trong tiếng Đức
Một nhóm từ với ý nghĩa địa điểm tạo thành phần chính trong giới
từ tiếng Đức Theo Schröder, giới từ chỉ không gian trong tiếng Đức đượcchia thành hai nhóm là giới từ chỉ địa điểm tĩnh và giới từ chỉ hướngchuyển động
2.2 Giới từ “auf/in” trong tiếng Đức đối chiếu với tiếng Việt
Trong văn phạm tiếng Đức thì hai giới từ này có tần suất thườngxuyên xuất hiện trong hầu hết mọi câu và chiếm tỷ lệ lớn trong khối lượng
từ của văn phạm Theo cuốn ngữ pháp tiếng Đức (Die Grammatik Unentbehrlich für richtiges Deutsch) thì giới từ in đứng đầu với tỷ lệ 23%
được sử dụng tùy theo ngữ cảnh mang nghĩa khác nhau, tương đương với
nghĩa tiếng Việt thì in có nghĩa là trong Giới từ auf chiếm 6% cũng được
sử dụng trong ngữ cảnh khác nhau trong văn phạm tiếng Đức và mang
Trang 15nghĩa trên trong tiếng Việt nhưng ở nhiều ngữ cảnh khác thì auf còn có các