1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải mã hệ thống biểu tượng văn miếu quốc tử giám

47 1,6K 23
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải mã hệ thống biểu tượng văn miếu quốc tử giám
Trường học Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Thể loại bài viết
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 4,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

giải mã hệ thống biểu tượng văn miếu quốc tử giám

Trang 1

MỤC LỤC

Phần mở đầu

Phần nội dung

Chương I Giới thiệu tổng quan về Văn Miếu – Quốc Tử Giám

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Văn Miếu – Quốc Tử Giám

1.2 Vai trò, nhiệm vụ của Văn Miếu – Quốc Tử Giám

1.3 Khái quát cảnh quan và kiến trúc của công trình

Chương II Giải mã các hình trang trí có ý nghĩa biểu tượng của Văn

Miếu – Quốc Tử Giám

2.1 Khảo sát, thống kê, phân loại các hình tượng trang trí

2.2 Ý nghĩa văn hóa của các hình tượng trang trí

2.3 Sơ bộ đánh giá, nhận xét

Chương III Giải mã biểu tượng văn hóa của cảnh quan kiến trúc

3.1 Tổng quan cảnh quan kiến trúc của Văn Miếu – Quốc Tử Giám

3.2 Miêu tả vị trí, chức năng, ý nghĩa văn hóa của các công trình

trong tổng thể cảnh quan kiến trúc

12 13 23 25 25 26

33 34 35 37

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài và lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Khi nói đến văn hoá không thể không nói đến biểu tượng Mọi người đangsống trong thế giới biểu tượng và biểu tượng đang hiện diện trong đời sống của conngười Tác giả J.Cherealier, A.Gheebant trong: “Từ điển biểu tượng văn hoá thếgiới” đã cho rằng: “Các biểu tượng nằm ở trung tâm và là trái tim của cuộc sốnggiàu tưởng tượng dẫu chúng ta có nhận biết hay không đêm ngày trong hành ngôn,trong các cử chỉ, hay trong các giấc mơ của mỗi chúng ta đều sử dụng các biểutượng” Biểu tượng có ảnh hưởng lớn lao trong nhiều lĩnh vực văn học, văn hóa kể

cả trong việc bảo tồn nghiên cứu các di sản văn hoá và các tác phẩm văn học củamỗi dân tộc

Biểu tượng có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Bước vào thế kỷ XX,thuật ngữ biểu tượng thâm nhập vào đời sống xã hội một cách sâu sắc, nó khôngchỉ tồn tại trong một ngành khoa học, mà đã trở thành đối tượng nghiên cứu củanhiều ngành khoa học khác nhau: Triết học, Lịch sử học, Tâm lý học, Khảo cổ học,Văn học Mỗi bộ môn khoa học bằng phương pháp tiếp cận riêng của mình, đã đưa

ra những quan niệm, những phương pháp tìm hiểu, nghiên cứu khác nhau về biểutượng, khiến cho lý thuyết về biểu tượng rất phong phú, đa dạng và đôi khi chưathực sự thống nhất

Văn Miếu - Quốc Tử Giám là quần thể di tích phong phú và đa dạng hàng đầucủa thành phố Hà Nội, nằm ở phía Nam kinh thành Thăng Long Hiện nay, nơi đây

đã được thủ tướng chính phủ đưa vào danh sách xếp hạng 23 di tích quốc gia đặcbiệt Quần thể kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám bao gồm ba khu vực: vườnVăn, hồ Giám và khu nội tự Văn Miếu Quốc Tử Giám, tuy nhiên kiến trúc chủ thểcủa công trình tập chung chủ yếu tại khu nội tự Văn Miếu - Quốc Tử Giám KhuVăn Miếu Quốc Tử Giám có tường gạch vồ bao quanh, phía trong được chia thànhnăm lớp không gian với các kiến trúc khác nhau Mỗi lớp không gian ngăn cáchnhau bằng một bức tường gạch có ba cửa thông với nhau (gồm cửa chính giữa và

Trang 3

hai cửa phụ ở hai bên) Từ ngoài vào trong có các cổng lần lượt là: Văn Miếu môn,Đại Trung môn, Khuê Văn Các, Đại Thành môn và cổng Thái Học

Văn Miếu - Quốc Tử Giám được xây dựng từ năm 1070 thời vua Lý ThánhTông, tính đến nay công trình này đã trải qua gần 1000 năm, nhiều thế kỉ với nhiềuthời kì lịch sử khác nhau, thời kì nào cũng để lại dấu ấn riêng trên công trình, cáclớp văn hóa chồng chất tạo cho Văn Miếu – Quốc Tử Giám vẻ huyền bí, tạo chonhững người nhìn vào những dấu hỏi thắc mắc về công trình, đặc biệt là về kiếntrúc, trong đó trọng tâm là hệ thống biểu tượng và hệ thống các hình trang trí trangtrí Biểu tượng có thể nhỏ nhưng những ý nghĩa văn hóa truyền tải qua nó thìkhông hề nhỏ Bởi lẽ, sáng tạo ra biểu tượng đòi hỏi một trình độ tư duy nhất định,việc sử dụng mô típ trang trí có ý nghĩa biểu tượng thể hiện quan niệm, tư tưởngcủa chủ thể văn hóa, vì thế, việc giải mã các biểu tượng trở thành một thách đố đầythử thách thú vị

Đã có các công trình nghiên cứu về Văn Miếu – Quốc Tử Giám: bài viết: Góp phần “giải mã văn hóa – giải ảo hiện thực” Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội)

trên tạp chí Nghiên cứu văn hóa số 2, Đại học văn hóa Hà Nội của tác giả DươngVăn Sáu; Trung tâm hoạt động khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã xuất bản

hai cuốn sách viết về Văn Miếu đó là Văn Miếu – Quốc Tử Giám Thăng Long –

Hà Nội và Văn Miếu – Quốc Tử Giám và Danh ngôn Khổng Tử…tuy nhiên, xét về

mặt số lượng thì những nghiên cứu về Văn Miếu – Quốc Tử Giám còn khá khiêmtốn hơn nữa về nội dung những công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc miêu

tả kiến trúc, lịch sử hình thành và kiến trúc khái quát, giải mã một vài biểu tượngtiêu biểu, chưa có sự hệ thống, thống kê và phân loại biểu tượng

Từ lịch sử nghiên cứu vấn đề chúng ta có thể có thể nhận thấy tầm quan trọngcủa việc nghiên cứu và giải mã biểu tượng, nhưng ít có công trình nào tập trungnhiều vào vấn đề này, chính vì thế em đã quyết định chọn đề tài “Giải mã ý nghĩacác biểu tượng Văn Miếu - Quốc Tử Giám” để đi vào tìm hiểu và nghiên cứu vấn

đề, giúp cho việc đối chiếu và tìm hiểu văn hóa được nhìn một cách toàn diện nhấttrên mọi phương diện

Trang 4

2 Nhiệm vụ của đề tài

Thứ nhất, chỉ ra các giá trị văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng của cácbiểu tượng

Thứ hai, thống kê, phân loại các hình thức biểu hiện và các ý nghĩa biểu trưngcủa biểu tượng để thấy được tần số và ý nghĩa của các biểu tượng, phân loại biểutượng theo cách trình bày để thấy được nghệ thuật đường nét, hình khối hay điêukhắc chiếm ưu thế hơn trong kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám

Thứ ba, góp phần tìm hiểu, nghiên cứu về biểu tượng văn hóa dân gian, đồngthời góp phần vào việc bảo tồn phát huy các giá trị biểu tượng – nét di sản văn hóatruyền thống vô cùng quý báu của dân tộc

Thứ tư, đặt những biểu tượng trang trí trong hệ thống kiến trúc công trình đểhiểu một cách toàn diện nhất về những giá trị văn hóa, thông điệp văn hóa do kiếntrúc của công trình mang lại

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Ý nghĩa hàm chứa trong các hình tượng nghệ thuật,kiến trúc, quy hoạch của công trình Văn Miếu – Quốc Tử Giám

Phạm vi nghiên cứu: Hệ thống các biểu tượng trang trí, cảnh quan kiến trúc ởVăn Miếu – Quốc Tử Giám

4 Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của đề tài

Biểu tượng là một bộ phận cấu thành của văn hóa dân gian Giải mã biểu tượnggiúp đi sâu tìm hiểu và bảo lưu nhiều giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc như phongtục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội Do đó, việc “giải mã biểu tượng Văn Miếu – Quốc

Tử Giám” chính là góp phần vào việc đi sâu, tìm hiểu văn hóa dân tộc Đảng vànhà nước ta đã xác định rõ vai trò, nhiệm vụ của văn hoá trong tình hình côngnghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay Điều đó được thể hiện rõ trong nghị quyết Trungương Đảng khóa VIII: “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc” Trong khi đó “ văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, vừa

là là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển”

Trang 5

5 Phương pháp nghiên cứu

Vì các hiện tượng văn hóa luôn đa dạng, phong phú và bao trùm lên tất cả cácmặt của đời sống xã hội nên ở đây bài báo cáo sử dụng phương pháp liên ngành,kết hợp nhiều chuyên ngành để nghiên cứu Ngoài ra, còn sử dụng phương phápđiền dã để có được cái nhìn chân thực nhất về vấn đề mình nghiên cứu và phươngpháp thống kê để thống kê, phân loại để thấy được số lượng, tần suất của các biểutượng Bên cạnh đó còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như phươngpháp phân tích tài liệu, phương pháp mô tả…

Trang 6

PHẦN NỘI DUNG

Chương I Giới thiệu tổng quan về Văn Miếu – Quốc Tử Giám

1.1 Lịch sử hình thành của Văn Miếu – Quốc Tử Giám

Văn Miếu được xây dựng năm 1070 triều nhà Lý dưới sự trị vì của vua LýThánh Tông Theo sách “ Khâm định Việt sử thông giám cương mục” chính biênquyển thứ ba có đoạn chép như sau: “Tháng 8, mùa thu lập nhà Văn Miếu, đắptượng Chu Công, Khổng Tử và Tứ Phối, vẽ tượng thất thập nhị hiền bày ở VămMiếu, bốn mùa cúng lễ, ai Hoàng Thái tử tới đó học tập” Như vậy chức năng đầutiên của Văn Miếu là nơi thờ tự Chu Công, Khổng Tử, Tứ Phối, Thất thập nhị hiềnngoài ra nơi đây còn mang chức năng của một trường học Hoàng Gia dành choThái tử Lý Càn Đức, con của vua Lý Thánh Tông với Nguyên phi Ỷ Lan

Năm 1072, Thái Tử Lý Càn Đức lên ngôi vua trở thành vua Lý Nhân Tông,năm 1076 ông ra lệnh cho xây trường Quốc Tử Giám ngay bên cạnh Văn Miếu làmtrường học dành cho con của các bậc Vương quyền Có lẽ vì nguyên nhân này màtrường lấy tên là Quốc Tử

Đến thời nhà Trần, đời vua Trần Thái Tông ông đã mở rộng trường Quốc TửGiám, thay tên là Quốc Học Viện, không chỉ dạy cho con em nhà Vương Quyền

mà còn thu nhận cả những học trò con nhà thường dân nhưng có sức học xuất sắc

” Thời đó, chức quan trông nom công việc tại Quốc Học Viện được đặt là Đề ĐiệuQuốc học viện do Thượng thư Phạm Ứng Thần đảm nhiệm

Đời Trần Minh Tông, Chu Văn An được cử làm quan Quốc Tử giám Tưnghiệp(hiểu trưởng) và là thầy dạy trực tiếp của các hoàng tử Năm 1370 ông mấtđược vua Trần Nghệ Tông cho thờ ở Văn Miếu bên cạnh Khổng Tử

Sang thời hậu Lê, Nho giáo rất thịnh hành Vào năm 1484, Lê Thánh Tông chodựng bia của những người thi đỗ tiến sĩ từ khoa 1442 trở đi(chủ trương đề ra năm

Trang 7

1442 nhưng chưa thực hiện được) Mỗi khoa, một tấm bia đá trên lưng rùa Tớinăm đó, nhà Lê đã tổ chức được 12 khoa thi cao cấp, Lê Thánh Tông đã tổ chứcđều đặn 3 năm một khoa thi, đúng 12 khoa.

Cuối triều Lê thời Cảnh Hưng, bia vẫn được khắc đều đặn

Năm 1762, Lê Hiển Tông cho sửa lại là Quốc Tử Giám – cơ sở đào tạo và giáo dụccao cấp của triều đình

Đời nhà Nguyễn, Quốc Tử Giám lập tại Huế Năm 1082, vua Gia Long ấn định đây

là Văn Miếu Hà Nội tổng trấn bắc thành Nguyễn Văn Thành cho xây thêm KhuêVăn Các bên cạnh giếng vuông Như vậy, vào đầu thời Nguyễn, Văn Miếu ThăngLong đã một lần được sửa sang, chỉ còn là Văn Miếu của trấn Bắc Thành, sau đổithành Văn Miếu Hà Nội còn Quốc Tử Giám thì đổi thành học đường của phủ HoàiĐức và sau đó tại khu vực này xây đền Khải Thánh để thờ cha mẹ Khổng Tử Đầu năm 1947, thực dân Pháp nã đạn đại bác vào khu vực này làm đổ sập căn nhà,chỉ còn cái nền với hai cột đá và bốn nghiên đá Ngày nay, toàn bộ khu Thái họcđược xây dựng với diện tích 1530m2 trên tổng diện tích 6150m2 gồm các côngtrình tiêu biểu là Tiền đường, Hậu đường, Tả vu, Hữu vu, nhà chuông, nhà trốngđược mô phỏng theo kiến trúc truyền thống trên nền đất cổ xưa của Quốc TửGiám

1.2 Vai trò, nhiệm vụ của Văn Miếu – Quốc Tử Giám

Vai trò đầu tiên của Văn Miếu – cũng chính là ý tưởng xây dựng Văn Miếu củaVua Lý Thánh Tông là để thờ Đức Khổng Tử, Tứ Phối và thập nhị hiền triết.Ngoài ra, Văn Miếu thời đó còn kiêm luôn nhiệm vụ là trường học, người học tròđầu tiên đó là Thái tử Lý Càn Đức con của Vua Lý Thánh Tông với Nguyên phi ỶLan

Sau này khi Vua Lý Nhân Tông lên ngôi và cho xây dựng trường Quốc TửGiám cạnh Văn Miếu làm trường học cho con các bậc Vương quyền Trải quanhiều giai đoạn tới thời Vua Trần Thái Tông, trường Quốc Tử Giám được mở ravới quy mô lớn hơn, nhận cả học sinh có xuất thân bình thường nhưng sức họcxuất sắc

Trang 8

Dưới mỗi thời đại, chức năng và nhiệm vụ của Văn Miếu – Quốc Tử Giám liêntục thay đổi nhưng chủ yếu vẫn là nơi thờ tự các bậc Tiên sư, Tiên thánh của đạonho và dạy học cho học sinh Đến thời vua Lê Thánh Tông cho mở khoa thi đểchọn Trạng nguyên, khắc tên người đỗ đầu bảng lên bia đá thì Văn Miếu lại trởthành nơi lưu giữ thông tin lịch sử.

Còn bây giờ đây khi Văn Miếu được chủ tịch nước xếp hạng 23 di tích QuốcGia trọng điểm, Văn Miếu – Quốc Tử Giám trở thành nơi để du khách trong vàngoài nước đến tham quan và tìm hiểu văn hóa

1.3.Khái quát cảnh quan, kiến trúc công trình

Sa bàn kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám thời xưa.

Văn Miếu Quốc Tử Giám nằm ở phía Nam kinh thành Thăng Long, xưa thuộcthôn Minh Giám, tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương; thời Pháp thuộc làngThịnh Hào, tổng Yên Hạ, huyện Hoàng Long, tỉnh Hà Đông, nay thuộc thành phố

Hà Nội Bốn mặt đều là phố, cổng chính là phố Quốc Tử Giám(phía Nam), phíaBắc là phố Nguyễn Thái Học, phía Tây là phố Tây là phố Tôn Đức Thắng, phía

Trang 9

Đông là phố Văn Miếu Quần thể kiến trúc này nằm trên diện tích 54133m2 baogồm: hồ Văn, vườn Giám và khu nội tự Văn Miếu Quốc Tử Giám.

Năm Quý Mão niên hiệu thứ 14 (1483) Lê Thánh Tông đã thực hiện một đợtđại trùng tu, được ghi lại trong Đại Việt sử kí toàn thư như sau: Tháng giêng, mùaxuân sửa nhà Thái học…Đằng trước nhà Thái học dựng Văn Miếu Khu nhà cũ củaVăn Miếu có điện Đại Thành để thờ Tiên thánh, Đông Vũ và Tây Vũ chia ra thờcác Tiên hiền,Tiên nho; điện Canh Phục để làm nơi túc yết,một kho để chứa đồ tếkhí và một phòng để làm nhà bếp; đằng sau nhà Thái học dựng cửa Thái học, nhàMinh luân Giảng đường phía đông và giảng đường phía tây dùng làm chỗ dạy cáchọc sinh Lại đặt thêm kho Bí thư để chứa ván gỗ khắc thành sách; bên đông bêntây nhà thái học làm nhà cho học sinh trong ba xá, mỗi bên ba dãy, mỗi dãy 25gian để làm chỗ nghỉ ngơi của học sinh

Văn Miếu Quốc Tử Giám nhà Lê đã được Lê Quý Đôn miêu tả trong “Kiếnvăn tiểu lục”(1777) thì: “Văn Miếu; cửa Đại Thành nhà ba gian hai chái, lợp bằngngói đồng(ngói ống), Đông Vũ và Tây Vũ hai dãy đều 7 gian, đằng sau cửa nhỏmột gian, điện canh phục một gian hai chái, nhà bếp hai gian, kho tế khí 3 gian 2chái, cửa Thái học 3 gian, có tường ngang lợp bằng ngói ống, nhà bia phía đông vàphía tây đều 12 gian, kho để ván khắc sách 4 gian, ngoại nghi môn một gian, xungquanh đắp tường, cửa hành mã ngoài tường ngang 3 gian, nhà Minh Luân 3 gian 2chái, cửa nhỏ bên tả và bên hữu đều một gian, có tường ngang Nhà giảng dạy ởphía đông và phía tây 2 dãy, mỗi dãy đều 14 gian Phòng học của học sinh tam xá

ở phía đông và phía tây đều 3 dãy, mỗi dãy 25 gian, mỗi gian 2 người

Toàn bộ kiến trúc Văn Miếu thời nay đều là kiến trúc thời kì đầu nhà Nguyễn.Khuôn viên được bao bọc bởi bốn bức tường gạch vồ(đây là sản phẩm của nhà hậuLê)

Hiện nay, quần thể kiến trúc Văn Miếu Quốc Tử Giám được chia thành ba khuvực chính: 1 là Văn hồ, 2 là vườn Giám và 3 là khu nội tự Văn Miếu Quốc TửGiám đây là khu tổng thể, bố cục đăng đối từng khu từng lớp theo trục Bắc Nam,

mô phỏng tổng thể quy hoạch khu Văn Miếu thờ Khổng Tử ở quê hương ông tạiKhúc Phụ, Sơn Đông, Trung Quốc Tuy nhiên, quy mô và kiến trúc ở đây đơn giản

Trang 10

hơn và theo phương thức nghệ thuật truyền thống dân tộc Việt Nam(từ thế kỉ 17đến thế kỉ 19).

Sa bàn kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám ngày nay

Khu vực thứ nhất là Hồ Minh Đường hay Văn hồ, dân gian thường gọi là hồGiám, diện tích hiện nay là 12297m vuông Giữa hồ có gò Kim Châu, trên dựngThủy Phán đường-là nơi diễn ra các buổi bình thơ của các nho sinh thời xưa

Khu vực thứ hai là vườn Giám trồng nhiều cây cối và nằm về phía Đông củakhu nội tự, góp phần tạo vẻ đẹp về cảnh quan cho công trình

Khu vực thứ ba – khu chủ thể của di tích là khu nội tự Văn Miếu – Quốc Tử Giám gồm các kiến trúc chính như sau ( từ ngoài vào trong): Tứ trụ gồm bốn cột trụ xây bằng gạch ngăn cách Văn Miếu – Quốc Tử Giám với không gian bên ngoài.Tiếp đến là cổng chính Văn Miếu môn (tam quan) gồm ba cửa, cửa giữa xây to và cao hai tầng, trên đặt một quả chuông lớn Tiếp đến là cổng Đại Trung xây kiến trúc nhà ba gian với hai hang cột ở hiên trước và hiên sau, trên lợp ngói mũi hài

Trang 11

Sau cổng Đại Trung là Khuê Văn Các xây dựng vào năm 1805 do Tổng trấn

Nguyễn Văn Thành triều Nguyễn đương thời cho xây dựng; bên dưới là 4 trụ gạch,

đỡ phần kiến trúc phía trên hoàn toàn bằng gỗ là một lầu vuông 8 mái, 4 mái hạ và

4 mái thượng

Khu kiến trúc tiếp theo đó là vườn bia tiến sĩ gồm 82 tấm bia, dựng thành 4 hàngsong song nhau quay mặt vào giếng Thiên Quang ( Giếng soi ánh sáng bầu trời ).Mỗi tấm bia khắc tên các vị tiến sĩ qua các khoa thi Trong số 82 tấm bia ngày naycòn lại thì tấm bia dựng sớm nhất là năm 1484 khắc tên các vị tiến sĩ khoa NhâmTuất, niên hiệu Bảo Đại năm thứ ba Tấm muộn nhất là tấm dựng vào năm 1780,khắc tên các Tiến sĩ khoa Kỉ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 40 (1779)

Khi qua các cổng trên sẽ tới khu Điện thờ Đại Thành Trước cửa điện Đại Thành làmột sân rộng lát gạch Bát Tràng, hai bên phải trái của sân là hai dãy nhà Tả vu,Hữu vu, chính giữa là Đại Bái đường, song song với Đại Bái Đường là ThượngĐiện 9 gian, tường xây ba phía Nơi đây thờ các vị Tiên sư của đạo Nho

Khu Khải Thánh là khu sau cùng của di tích, thờ cha mẹ của Khổng Tử Nhà TiềnĐường Hậu Đường khởi công xây dựng vào ngày 13/7/1999 gồm có 9 gian với 40cột lim chống mái, đầu hồi gạch xây có kích thước 30.30.7cm mạt ngoài để trầnkhông trát Hậu Đường là kiến trúc gỗ 2 tầng Tầng 1 gồm 9 gian 2 chái với 72 cộtlim Tầng 2 có 5 gian mặt trước và mặt sau có tổng 9 cửa để ra lan can

Trang 12

Chương II Giải mã các hình trang trí có ý nghĩa biểu tượng

của Văn Miếu – Quốc Tử Giám

2.1 Thống kê, khảo sát, phân loại các hình tượng trang trí

Sau khi khảo sát khu nội tự Văn Miếu – Quốc Tử Giám (tính từ tứ trụ trở vào,

đã thống kê sơ bộ được 20 hình trang trí tiêu biểu ( với tổng số lần xuất hiệnkhoảng 576 lần) mang ý nghĩa biểu tượng và được dùng phổ biến trong trang tríkiến trúc của công trình Văn Miếu – Quốc Tử Giám Ở đây bài nghiên cứu chỉ tậptrung vào các hình trang trí tiêu biểu mang ý nghĩa biểu tượng và bỏ qua nhữngphần trang trí bằng chữ Hán, cuốn thư, câu đối… Các biểu tượng được thống kê,phân loại trong bảng sau:

STT Tên hình tượng Số lần

xuất hiện

Số lượnghình vẽ

Số lượngtượng

Số lượng hìnhđiêu khắc(hoặcđắp nổi)

Trang 13

2.2 Ý nghĩa văn hóa của các hình tượng trang trí

2.2.1 Con rồng và những đứa con của rồng

Hình tượng được sử dụng trang trí nhiều nhất trong kiến trúc Văn Miếu –Quốc Tử Giám là hình ảnh con rồng với tổng số 160 lần xuất hiện Trong đó, sốrồng được tạc thành tượng là 20

Rồng là một sản phẩm của trí tưởng tượng, nó mang dáng vẻ dũng mãnh, cơthể được miêu tả mang bộ phận của nhiều loài động vật khác nhau: thân rồng giốngvới thân của con rắn nhưng lại phủ một lớp vảy cá; tai thú, trán lạc đà, móng chimưng Ở Việt Nam, rồng rất được coi trọng vì nó đứng đầu trong tứ linh và là con

vật trong truyền thuyết Con rồng cháu tiên và vì vậy, nó là con vật của huyền

thoại, của linh thiêng

Con rồng thể hiện tư duy lưỡng phân của cư dân nông nghiệp: sống ở dướinước như cá, bay ở trên trời như chim, khạc ra lửa để làm sấm chớp, tạo mưa bão

Trang 14

Rồng trở thành nơi tích tụ những khát vọng lớn nhất của con người: Trời đất córồng để mưa thuận gió hòa, cuộc sống ấm no, sung túc,…

Mô típ được sử dụng phổ biến trong trang trí ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám đó

là hình tượng “Lưỡng long chầu nguyệt” Chúng ta có thể thấy biểu tượng này xuấthiện trên nóc của khu nhà Đại Bái Đường, và đặc biệt trên các khám thờ, bệ thờ…những điêu khắc về lưỡng long chầu nguyệt vô cùng nhiều Hình tượng này thểhiện hai con rồng ở hai bên, châu đầu vào mặt trăng ở giữa Biểu tượng này mangtính chất của quẻ Ly trong bát quái: thiên thời là ban ngày; địa lí ở phương Nam;ngũ hành thuộc hỏa, nhân vật là nhân văn; tính cách thông minh, sáng đẹp, có tàihọc; về thời gian là tháng 5, mùa hạ Do đó, đây là biểu tượng cho mong ước cáttường, tính chất hiếu học, đức độ của người Việt Nam

Ngoài mô típ lưỡng long chầu nguyệt thì còn một mô típ “rồng hóa” cũng được

sử dụng phổ biến và xuyên suốt kiến trúc của các khu Bước vào cổng Văn Miếumôn là biểu tượng “long vân” (mây hóa rồng), long thú (thú hóa rồng), vào đếnĐại Trung môn là hình ảnh “ngư long” (cá hóa rồng), “hỏa long” (rổng lửa) trênTiền tế Đại Thành môn, “trúc hóa long”, “tùng hóa long” trong điện ĐạiThành thực ra gọi là “rồng hóa” hay “hóa rồng” đều hợp lí, điều này cho thấy,rồng là một hình tượng gần gũi có thể hóa thân thành bất cứ sự vật gì gần gũiquanh ta Ngay cả chiếc lá cũng có thể hóa thành rồng hoặc rồng có thể hóa thànhchiếc lá Tư duy này cho thấy sự vận động biến đổi của sự vật: mọi sự vật đều cóthể vận động và biến đổi, đều có thể “hóa”

Quay trở lại với chủ đề hóa rồng trong trang trí kiến trúc của Văn Miếu – Quốc

Tử Giám, chủ đề này phản ánh sự biến đổi và phát triển không ngừng của nền giáodục nước nhà, phản ánh sự tiến bộ của các Nho sinh qua từng chặng đường Khibước vào Văn Miếu môn, người nho sinh sẽ trở nên nhẹ nhàng thanh tao, thoát tụcnhư đám mây “long vân”; khi đến cửa Đại Trung môn sẽ thấy mình như những chú

cá chép vượt qua kì khảo sát gắt gao “Vũ môn” để tiến xa hơn nữa trên con đườnghọc hành; vào đến Khuê Văn Các sẽ lại có cảm giác như “diệp long”, trở thànhnhững con rồng lá, bay lên để hấp thụ những tia sáng tri thức từ gác Văn Khuê tỏa

Trang 15

xuống Và cuối cùng khi tới Đại Bái Đường, khi đi qua đủ các cung đường, tiếpthu đủ tri thức thì người nho sinh đã hoàn toàn hóa thành một con rồng hoàn chỉnh,trong tư thế bay lên trên nóc của Tòa Tiền Tế Thông qua những đồ án trang trí,điêu khắc hình tượng các con vật hay cây cỏ có thể hóa rồng người xưa còn muốnnói lên quan niệm “hữu vật vô loài” trong thế giới quan Nho giáo.

Sở dĩ hình tượng rồng được dùng phổ biến trong trang trí với số lần xuất hiệnnhiều nhất là vì hai lí do Thứ nhất, rồng là con vật đứng đầu trong tứ linh theoquan niệm dân gian, mang sức khỏe và sự may mắn Thứ hai theo truyền thuyết “con Rồng cháu Tiên” thì Lạc Long Quân và Âu Cơ kết duyên và sinh được một cáibọc trăm trứng, trăm trứng nở thành trăm con và đây được xem là tổ tiên của cưdân Văn Lang Người Việt sau này cũng luôn tự hào về nguồn gốc của mình vàxưng là con Rồng cháu Tiên, điều này cho thấy hình ảnh rồng khá gần gũi với conngười đất Việt

Theo truyền thuyết kể lại, rồng sinh được chín người con nhưng không con nào

là rồng cả Rồng là một con vật linh vì vậy những đứa con của nó cũng mang linhkhí ấy, vì vậy mà chúng cũng được sử dụng trong trang trí kiến trúc mà ở đây làkiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám

Theo khảo sát sơ bộ thì có những con của rồng sau đây là được sử dụng trongtrang trí ở Văn Miếu (7/16 con của rồng): Nhai Tệ, Si Vẫn, Bá Hạ, Bồ Lao, ToanNghê, Trào Phong, Tì Hưu

“Si vẫn còn được gọi là Si Vĩ, mình cá, đầu rồng, miệng rộng, thân ngắn Nóvốn là con của huyền thoại Makara trong văn hóa Ấn Độ chuyên sống dưới nước,

có hình đầu thú ( đầu voi hoặc đầu cá sấu), phần sau là đuôi cá Makara là con vậtcưỡi của Ganga – chúa tể sông Hằng và Varuna – chúa tể của biển cả Sau, Hán Vũ

Đế là người đưa linh vật của Ấn Độ này vào văn hóa cung đình bằng việc việc đắphình trên các nóc điện, coi đó như vị thần trừ hỏa hoạn, và gọi nó là Si vẫn Sách

Thái Bình ngự lãm của Lý Phường đời Bắc Tống có kể lại câu chuyện: “vào đời

Hán, sau khi cung điện Bách Lương bị hỏa hoạn, có người thầy cúng đất Việt nóirằng: ngoài biển có con Ngư cù (rồng cá), đuôi giống đuôi con si, đập song làm

Trang 16

mưa Vua bèn tạc tượng co vật đấy để yểm họa hỏa tai” Loài này có miệng to,thích nuốt, nên người ta hay đắp hình hai con Si vẫn há to miệng nuốt hai đầu sốngnóc mái nhà, vừa có giá trị trang trí, vừa có hàm ý nó có thể làm mưa tránh hỏahoạn cho công trình kiến trúc” [tài liệu 1] Ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám, tượngcon Si vẫn được đặt trên hai trụ cao của hệ thống Tứ Trụ và trên sống nóc mái nhàcủa khu điện Đại Thành với hàm ý tránh hỏa hoạn cho công trình Đây là do từ thời

kì trước công trình được xây dựng bằng gỗ, sau này khi xây bằng gạch, xi măng thìngười ta vẫn dung con Si vẫn để trang trí

Bá hạ còn được gọi là Bật hí, Thạch long quy, hình dáng như con rùa, đầurồng, có sức mạnh kinh hồn, thích cõng vật nặng trên lưng[tài liệu 1] Vì thế màngười ta thường dùng nó làm vật trang trí chân cột, chân bia đá biểu thị ý tưởngcho chân cột, chân bia đá luôn được chắc chắn, bền vững đồng thời cũng tượngtrưng cho sự trường thọ, cát tường Trong vườn bia tiến sĩ ở Văn Miếu – Quốc TửGiám có 11 con bá hạ cõng bia đá, ở cửa Đại Thành môn có 4 con Bá hạ nằm bêndưới chân cột để trang trí và biểu tượng cho mọi thứ luôn được chắc chắn, bềnvững

Bồ lao có hình dạng như con rồng đang cong mình Nó vốn sống ở ven biển, làcon của rồng nhưng lại sợ con cá kình (cá voi) nên mỗi khi bị cá kình tấn công thìlại bỏ chạy kêu thét Người ta thấy vậy co là nó thích kêu thét, thích những âmthanh lớn Vì thế nó thường được đúc trên những quai chuông với hàm ý tiếngchuông sẽ to và vang xa như tiếng của Bồ lao kêu khi bỏ chạy vì sợ cá kình [tàiliệu 1] Trong Văn Miếu có 3 quả chuông lớn ở Văn Miếu môn, điện Đại Thành vàgác chuông cạnh nhà Thái học đều có đúc con Bồ lao trên quai

Toan nghê còn có tên khác là Kim nghê, linh nghê Hình dạng nó như con sư

tử, đầu rồng, có sách lại cho rằng nó là loài ngựa hoang Nó thích ngồi yên lại thíchkhói lửa nên được đúc làm vật trang trí trên nắp lò đốt hương trầm với ngụ ý mongmuốn lò hương luôn được đốt và luôn tỏa hương thơm ngát [tài liệu 1] Ở VănMiếu có thế tìm thấy Toan Nghê trên nắp lư hương ở sân Đại Bái đường và một số

lư hương trong điện thờ

Trang 17

Trào phong có hình dạng như loài thú Sách Thăng am ngoại tập ghi: “Tràophong, bình sinh hiếu khiểm, kim điện giác tẩu thú thị kì di tượng” ( Trào phong làloài bình sinh thích nguy hiểm, nay loài thú chạy ở góc mái cung điện là hình ảnhcủa nó Nó không chỉ thích sự nguy hiểm mà còn thích nhìn ra xa, nên chọn chỗcao, cheo leo như đầu cột, góc mái của ngôi nhà, điểm cao của một số công trìnhkiến trúc…làm chỗ leo trèo hoặc đứng nhìn Vì vậy nó được điêu khắc ở những vịtrí ấy với ngụ ý chống hỏa hoạn, xua đuổi yêu ma Ngoài ra, hình tượng TràoPhong trên góc mái còn tượng trưng cho điều tốt lành, may mắn, tạo giá trị trang tríđẹp mắt và uy nghi Trào phong ở Văn Miếu được điêu khắc trên đầu cột xà ngangcủa nhà chông và đứng ở một số vị trí trên góc mái.

Tì hưu được phân ra thành đực và cái Con đực là Tì, con cái là hưu Theomiêu tả thì Tì hưu có hình dáng như con hổ, có người thì lại cho rằng nó là congấu, long màu tro, người Liêu Đông gọi nó là con gấu trắng Trong văn hóa TrungHoa thì Tì hưu được phân thành hai loại: loại thứ nhất có hai sừng, là loài mãnhthú, có tác dụng xua đuổi tà ma, từng nằm trong số sáu loài mãnh thú (Tì, Hưu, Hổ,Bưu, Bi, Hùng) theo Hoàng đế đánh nhau trong cuộc chiến thần thoại với Xuy Vưutrên cánh đồng Trác Lộc Loại thứ hai chỉ có một sừng, bẩm sinh không có hậumôn, lại thích ăn vàng bạc mà không tiêu hóa, giống như thần giữ cửa nên thườngđược trang trí trong nhà với mong muốn cầu tài lộc [tài liệu 1] Trong hai loại Tìhưu kể trên thì loại được chọn để trang trí ở Văn Miếu là loại thứ nhất, nó đượcđắp trên bệ đặt con Si vẫn của tứ trụ trong tư thế chạy ra ngoài không gian, bốn gócbốn con Tì hưu để xua đuổi tà ma, kẻ xấu không cho bước chân vào khu vực linhthiêng Cùng trang trí trên bệ đấy nhưng là bốn mặt của bệ chính là hình ảnh củacon Nhai tệ - con thứ 7 của rồng Con Nhai tệ được miêu tả: trông nó như con chósói có sừng rồng, hai sừng mọc dài, dọc về phía lưng, ánh mắt dữ dằn…vì vậy nóđược trang trí ở trên cột để tăng thêm sự trang trọng, làm cho tà ma khiếp sợ, bảo

vệ sự uy nghiêm cho công trình

Kì lân là con duy nhất của rồng được cùng rồng đứng vào hàng tứ linh (long,lân, quy, phượng) theo quan niệm dân gian Theo miêu tả thì nó có đầu rồng, mình

Trang 18

ngựa, thân phủ vảy cá, đuôi trâu, chia ra đực và cái Con đực gọi là kì, con cái làlân Kì lân được người xưa coi là con thú báo điềm lành, sự thái bình, trường thọ;khi kì lân xuất hiện báo hiệu sụ xuất hiện của bậc minh quân, minh chúa hay bậchiền nhân quân tử nên được sử dụng trong trang trí ở nhiều nơi ngụ ý cầu mongluôn có sự an lành, may mắn Trong Văn Miếu, Kì lân được trang trí cùng với tứlinh, ngoài ra ở sân Đại Bái đường có đặt một đôi tượng kì lân để cầu sự may mắn,tốt lành, canh chừng các thế lực tà ám.

2.2.2.Mây

Sau con Rồng và các con của rồng thì hình tượng được trang trí phổ biến thứhai đấy là hình ảnh những đám mây Mây được cho là biểu trưng mang đến nhữngdấu hiệu tốt lành, may mắn Mây luôn đi liền với mưa, có vai trò tạo nên nhữngcơn mưa, liên quan đến hoạt động của trời, gắn liền với lễ nghi, đảo vũ, tạo nênkhả năng tồn tại sinh trưởng và phát triển của cây trồng và cả sự sống của conngười Đối với cư dân nông nghiệp, mây báo hiệu một cơn mưa Lớn hơn nữa, mâycòn mang những điềm cát tường thường biểu hiện là đám mây ngũ sắc, mang ýnghĩa là ngũ phúc Những ông Bụt, bà tiên trong truyện cổ tích khi xuất hiện đềucưỡi mây hoặc là hiện ra cùng với đám mây ngũ sắc Trong quan niệm về tínngưỡng khi đức Phật ra đời có mây ngũ sắc tỏa ánh hào quang; trong lễ tế thần,người xưa quan niệm có ứng nghiệm là khi có những đám mây trắng hoặc ngũ sắchiện ra… Với những ý nghĩa trên, hình tượng mây được người nghệ nhân sử dụng

trong trang trí những đồ án cùng với Tứ linh như long vân khánh hội, long vân ẩn,

phượng mây, mây nâng vòng thái cực…Trong kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử

Giám thì ngoài những đồ án trang trí kể trên thì mây còn xuất hiện ở Văn Miếumôn trong bức phù điêu “long ngư tụ hội”, những đám mây xếp thành hình rồng “long vân”; mây được điêu khắc trang trí trên những xà ngang cột dọc trong điệnThái học, trên những góc mái, và còn được vẽ cùng với rồng trên những cột trụ củacửa Đại Thành môn

2.2.3 Con rùa

Trang 19

Con rùa – một trong tứ linh với 83 lần xuất hiện với đa số là hình tượng tạc đãtrở thành biểu tượng phổ biến khiến người ta nhớ đến ngay khi nhắc tới Văn Miếu.

Về mặt sinh học, rùa là loài bò sát lưỡng cư có tuổi thọ cao và thân hình vữngchắc Rùa có khả năng nhịn đói dài lâu nên nó được coi là một con vật thanh caothoát tục, ngoài ra nó còn có tuổi thọ cao nên rùa là con vật thiêng, biểu tượng cho

sự trường sinh bất lão, cho sinh lực và sự trường tồn vĩnh cửu Theo quan niệm củangười Việt Nam, rùa là thần Kim Quy giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa,

là thần thánh giúp vua Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh…Rùa là con vật được hợp lại

từ cả hai yếu tố âm và dương, sự hòa hợp của cả trời và đất: bụng phẳng tượngtrưng cho đất mang yếu tố âm, mai khum tượng trưng cho vòm trời mang yếu tốdương Trong số 82 bia tiến sĩ có mặt ở vườn bia Văn Miếu – Quốc Tử Giám thì cótới 71 bia được đặt trên lưng rùa Mỗi con rùa trên lưng cõng theo một tấm bia cókhắc tên vị trạng nguyên của khoa thi Rùa ở trong tư thế nằm 4 chân xoài ra bốnphía, đầu ngẩng cao Bia đá đặt trên lưng rùa khẳng định sự trường tồn của trí tuệ,tinh hoa dân tộc, đồng thời cũng là tấm gương cho con cháu đời sau học tập vàphấn đấu Ngoài những tượng rùa đá cõng bia thì hình tượng rùa còn được điêukhắc trên hệ thống Tứ Trụ cùng ba con vật còn lại trong tứ linh, điêu khắc trên cáckhám thờ của điện Đại Thành và nhà Thái học…hay cõng hạc trên ban thờ trên tòatiền tế Ngoài ra, thêm một cách hiểu nữa về hình tượng con rùa đó là: rùa tượngtrưng cho sự nhẫn nại, chịu đựng, hi sinh như ta vẫn thấy trong văn học:

Thương thay thân phận con rùa Lên đền đội hạc, xuống chùa đội bia.

2.2.4 Phượng hoàng

Phượng hoàng là linh vật được biểu hiện cho tầng trên Cũng giống như rồng,phượng hoàng là sản phẩm của trí tưởng tưởng tượng, các bộ phận trên cơ thểmang dáng dấp của nhiều loài khác nhau Phượng hoàng thường được miêu tả có

mỏ vẹt, thân chim, cổ rắn, tóc trĩ, móng chim ưng…

Trang 20

Các bộ phận của chim phượng hoàng đều mang ý nghĩa riêng của nó: Đầu độicông lý và đức hạnh, mắt tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng, lưng cõng bầu trời,cánh là gió, đuôi là tinh tú, lông là cây cỏ, chân là đất Phượng hoàng còn là loàichim linh vật tượng trưng cho vũ trụ, cho trời đất với tư cách vận chuyển cả bầutrời, mỗi khi chim phượng hoàng bay là cả vũ trụ đang chuyển động

Hình ảnh chim phượng được sử dụng trang trí nổi bật nhất trong kiến trúc củaVăn Miếu đó là “phượng hóa”: hình ảnh bốn con chim phượng chắp đuôi vào nhautrên đỉnh cột nghi môn Văn Miếu tạo thành một nụ hoa, khi kết hợp với cả phầnthân cột bên dưới thì lại tạo thành hình ảnh của một cây bút lông – bút viết chữNho Ở nơi tinh hoa Văn hóa hội tụ này, ngọn bút kia như biểu trưng cho linh khícủa bốn phương trời đất, tinh túy của đạo học đều hội tụ ở đây

2.2.5 Con dơi

Có một hình trang trí mà có lẽ ít người để ý đến đó chính là con dơi, xuất hiện

12 lần trong trang trí kiến trúc của Văn Miếu – Quốc Tử Giám Nó được trang trí ởmặt sau của Văn Miếu môn và cửa Thành Đức – Đạt Tài

Theo như sự tích con dơi giận ông trời đã sinh ra một loài như nó, không phảichim vì nó nuôi con bằng sữa mẹ và không phải thú vì nó bay lượn trên trời vàkhông chạy bằng bốn chân, không loài nào chịu nhận dơi là họ hàng vì thế mà nókhông như các loài khác, vậy nên nó đậu chúc đầu xuống đất, đít chổng lên trời đểphản kháng

Còn việc sử dụng nó làm hình ảnh trang trí có lẽ là do ảnh hưởng từ văn hóaTrung Hoa, dơi trong tiếng Hán Việt là chữ “bức” gần âm với chữ “phúc” trongphúc đức vậy nên người ta đã lấy con dơi biểu trưng cho phúc đức và vì vậy nóđược sử dụng trong trang trí

2.2.6 Hạc trên lưng rùa

Trang 21

Hình ảnh xuất hiện nhiều trong các điện thờ là hình ảnh hạc cưỡi trên lưng rùa,đặt ở hai bên khám thờ Trong những khu điện thờ, hình ảnh đặc trưng là hình ảnhhạc đứng trên lưng rùa “Con hạc gắn liền với nhiều biểu tượng và truyền thuyếtkhác nhau

Người xưa quan niệm có 4 loài hạc nổi tiếng, được phân biệt qua màu lông:đen, vàng, trắng, xanh Trong đó loài hạc đen là loài sống lâu nhất Tuy nhiên,trong nghệ thuật tạo hình, con hạc thường được thể hiện với bộ lông trắng muốt,biểu tượng cho sự cao quý, thanh khiết Đầu hạc màu đỏ, hành hoả, nơi tập trungkhí dương, tạo nên sự bền bỉ và sức sống dẻo dai Hình tượng con hạc với với đôicánh dang rộng bay trên trời xanh, thể hiện cảm hứng thi ca và những ước vọngcao quý Con hạc với đôi cánh dang rộng và một chân hơi co lên, lại liên hệ vớinghi lễ với người đã khuất” [tài liệu 11]

Hạc đứng trên lưng rùa biểu hiện sự hài hòa giữa trời và đất, giữa hai thái cực

âm – dương Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh tế và thanh cao, rùa biểu tượngcho sự vững chãi, trường tồn Theo truyền thuyết rùa và hạc là đôi bạn thân củanhau Rùa tượng trưng cho con vật biết bò, sống dưới nước ; hạc tượng trưng chocon vật sống trên cạn, biết bay Khi trời làm mưa lũ, ngập úng cả một vùng rộnglớn, hạc không thể sống dưới nước nên rùa đã giúp bạn hạc vượt vùng ngập úngđến nơi khô ráo Ngược lại khi trời hạn hán, hạc đã giúp đưa rùa đến nơi có nước.Điều này nói lên lòng chung thủy và sự tương trợ lẫn nhau trong lúc khó khăn hoạnnạn giữa những người bạn tốt

2.2.7 Cá

Nói đến học hành thi cử, người ta hay nói tới câu chuyện “cá chép hóa rồng”,

đó chính là “trường thi huyền thoại” trên thác Hồ Khẩu(thác miệng bình) trên sôngHoàng Hà chảy trên địa phận tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc): hàng năm thiên đình

tổ chức một cuộc thi tài, con cá nào vượt qua vũ môn thì sẽ hóa thành rồng Hìnhtượng cá chầu hồ lô trên nóc Đại Trung môn như vừa muốn nhắc nhở các học trò

Trang 22

“phía trước là những cuộc thi” vừa muốn khích lệ, động viên những người sĩ tử cốgắng để hóa rồng Ngoài ra quan niệm của người phương Đông cho rằng cá là convật báo điềm lành

Trong tiếng Hán, chữ “ngư” (cá) và chữ “dư” (dư thừa) có cách phát âm giốngnhau nên con cá còn biểu trưng cho sự giàu sang phú quý, của cải dư thừa

Tuy hình ảnh trang trí và ý nghĩa có thể thấy ít nhiều ảnh hưởng văn hóa TrungHoa nhưng cách trang trí lại hoàn toàn đậm chất Việt Nam biểu hiện ở việc khitrang trí hình ảnh con cá được lấy nguyên mẫu từ con cá thật mà hoàn toàn khôngcách điệu Cách trang trí này chưa thấy ở văn hóa Trung Hoa

2.2.8 Các biểu tượng khác

Ngoài những biểu tượng xuất hiện với tần suất nhiều lần thì cũng còn có nhữngbiểu tượng chỉ xuất hiện 1 lần nhưng lại ở những vị trí nổi bật và mang những ýnghĩa lớn

Hình tượng con hổ được đắp nổi ở mặt trước cổng Tam quan Văn Miếu trongbức tranh mãnh hổ hạ sơn Hổ được xem là chúa tế sơn lâm và biểu tượng cho sựquyền uy, dũng mãnh Hình tượng hổ thường được đắp nổi bằng vữa trên nghimôn, nhằm trấn trừ ma quỷ vào đình quấy nhiễu Hổ được đắp đối xứng với rồngcòn có ý nghĩa phong thủy: “tả thanh long, hữu bạch hổ”, biểu thị mảnh đất có linhkhí, đem lại sự an lành, thịnh vượng

Ngoài các hình trang trí động vật thì kiến trúc Văn Miếu cũng sử dụng một số

mô tip trang trí thực vật như hoa, lá, tùng, trúc…Trong điện thờ Khổng Tử, ngaybên cạnh ban thờ của Khổng Tử có đặt một cây trúc Trong nghệ thuật tạo hình,cây trúc là biểu tượng của người quân tử: Sống ngay thẳng không khuất phục trướccường quyền và danh lợi Đốt trúc rỗng (vô tâm) thể hiện sự trong sáng, ngaythẳng, khiêm tốn, không vụ lợi [tài liệu 11] Cây trúc đặt tại vị trí đó tượng trưngcho đức Khổng Tử sống ngay thẳng, liêm chính

Trang 23

Biểu tượng người duy nhất được dung trong trang trí kiến trúc Văn Miếu –Quốc Tử Giám đó là bức phù điêu đắp nổi hình tượng năm vị tiên ông tượng trưngcho “ngũ phúc” Ngũ phúc ở đây gồm: thọ, phú, khang ninh, hiếu đức, chungmệnh Phúc thứ nhất là trường thọ, phúc thứ hai là phú quý, phúc thứ ba là khangninh, phúc thứ tư là hiếu đức, phúc thứ năm là chung mệnh Con người luôn mongmuốn cầu được trường thọ, giàu sang sung túc, thân thể khỏe mạnh yên vui, lươngthiện gần gũi, và lâm chung(chết) được yên ổn.

2.3 Sơ bộ đánh giá, nhận xét

Qua thống kê sơ bộ về hệ thống biểu tượng của Văn Miếu – Quốc Tử Giám, cóthể nắm bắt một cách khái quát về những hình trang trí, những biểu tượng với sốlần được sử dụng Hình tượng trang trí con rồng cùng với các con của nó chiếm ưuthế với nhiều vị trí trang trí khác nhau với những ý nghĩa khác nhau Rồng vàtruyền thuyết các con của rồng có nguồn gốc từ Trung Quốc, trong quá trình giaolưu văn hóa thì những hình tượng này trở nên phổ biến ở nước ta Tuy nhiên ôngcha ta đã có sự tiếp biến ví dụ như trong những đứa con của rồng thì có những conchúng ta không sử dụng trong trang trí: Tiêu đồ, Si thủ, Công phúc, Thao thiết.Ngoài ra các hình tượng cũng không giống với hình trang trí gốc của Trung Quốc

mà có sự biến đổi nhất định một phần nào đó theo văn hóa bản địa

Là một nước nông nghiệp nên ngoài những biểu tượng trang trí động vật thìông cha ta còn sử dụng những hình trang trí mang yếu tố thực vật (cây, hoa, lá ) vàyếu tố tự nhiên(mây, mặt trăng, mặt trời )

Qua phân loại có thể thấy nghệ thuật trang trí bằng hình khối và điêu khắcchiếm nhiều ưu thế hơn còn nghệ thuật đường nét sử dụng ít hơn thể hiện qua sốlượng hình vẽ trang trí còn khá khiêm tốn

Ngày đăng: 26/12/2013, 12:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2. Hình ảnh “phượng hóa”: bốn con phượng hoàng chụm lại trên đỉnh Tứ trụ tạo thành nụ hoa - giải mã hệ thống biểu tượng văn miếu quốc tử giám
2. Hình ảnh “phượng hóa”: bốn con phượng hoàng chụm lại trên đỉnh Tứ trụ tạo thành nụ hoa (Trang 36)
3. Hình ảnh con si vẫn và một số hình trang trí trên Tứ trụ - giải mã hệ thống biểu tượng văn miếu quốc tử giám
3. Hình ảnh con si vẫn và một số hình trang trí trên Tứ trụ (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w