1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Các dân tộc Việt Nam

45 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Dân Tộc Việt Nam
Tác giả Đỗ Hải, Nam Phan Thanh Nhàn
Người hướng dẫn TS. Tây Trần Văn Đại Lợi
Trường học Trường Đại Học Sài Gòn
Thể loại học phần
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 251,02 KB
File đính kèm CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM.rar (484 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là một trong số những luật tục mà các quy định của nó không phù hợp, cần phải được loại bỏ ra khỏi đờisống của đồng bào các dân tộc.. Như vậy, duy trì, phát huy những yếu tố tích cực

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN

TRẦN VĂN ĐẠI LỢI

20.1 CHU THỊ HẰNG

20.1 PHAN THANH NHÀN 20.1

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Đặc điểm tự nhiên và xã hội vùng Tây Nguyên

1.1 Điều kiện tự nhiên

Tây Nguyên là một cao nguyên rộng lớn ở tây nam Trung Bộ, là cầu nối giữa hai miềnBắc - Nam Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc, Đắc Nông và Lâm Đồng.Phía bắc Tây Nguyên nối với dãy Trường Sơn hùng vĩ giáp tỉnh Quảng Nam Phía nam nối liềncác tỉnh miền Đông Nam Bộ Phía đông giáp với các tỉnh ven biển miền Trung Trung Bộ Phíatây giáp tỉnh Bình Phước và hai nước Lào, Cam-pu-chia

Tây Nguyên có độ cao trung bình 1.000 mét so với mặt nước biển, đây thực sự là caonguyên trung tâm “nóc nhà của bán đảo Đông Dương” Địa hình Tây Nguyên chủ yếu là rừng,núi, cao nguyên, xen kẽ những thung lũng Tây Nguyên có diện tích tự nhiên khoảng 56.082

km2, chiếm 16,2% diện tích cả nước; dân số khoảng 4,7 triệu người

Tây Nguyên là một trong những cái nôi của loài người trên đất nước ta Các dân tộc lâuđời ở đây thuộc về hai nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer và Mã lai – Đa đảo Văn hóa TâyNguyên là văn hóa của hai nhóm người này Tuy nhiên đặc trưng văn hóa Tây Nguyên cònthấy ở nhiều dân tộc khác sống ở sườn phía Tây dãy Trường Sơn

1.2 Dân cư

Tây Nguyên có khoảng 20 tộc người bản địa và các tộc người khác di cư đến trong nhiềuthế kỉ

Dân tộc Ê Đê, dân số khoảng 195.000 người Cư trú tập trung ở tỉnh Đắc Lắc, nam tỉnh

Gia Lai và miền tây hai tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên

Dân tộc Chu Ru, dân số có khoảng 12.993 người Đồng bào cư trú tập trung ở tỉnh Lâm

Đồng và một số ít ở tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận

Dân tộc Rơ Măm, dân số hơn 230 người Cư trú ở làng Le, xã Mo Rai, huyện Sa Thầy,

tỉnh Kon Tum

Trang 4

Dân tộc Cơ Tu, dân số có khoảng 37.000 người Cư trú tại tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng,

Thừa Thiên - Huế và Lâm Đồng

Dân tộc Tà Ôi, dân số hơn 26.000 người Cư trú tập trung ở huyện A Lưới (Thừa Thiên

Huế), Hướng Hóa (Quảng Trị) và Lâm Đồng

Dân tộc Mạ, dân số khoảng 26.000 người Cư trú chủ yếu ở tỉnh Lâm Đồng.

Dân tộc M'nông, dân số khoảng 67.300 người Cư trú tập trung ở phía nam tỉnh Đắc Lắc,

một phần tỉnh Lâm Đồng

Dân tộc Co, dân số khoảng 22.600 người Cư trú chủ yếu ở Trà My (Quảng Nam), Trà

Bồng (Quảng Ngãi) và một số ít ở các tỉnh Tây Nguyên

Dân tộc Ra Glai, dân số hơn 70.000 người Cư trú chủ yếu ở phía nam tỉnh Khánh Hòa,

Ninh Thuận và Lâm Đồng

Dân tộc Ba Na, dân số: hơn 147.450 người Địa bàn cư trú: Kon Tum, Bình Định và Phú

Yên

Dân tộc Brâu, dân số hơn 200 người Cư trú tập trung ở làng Đắc Mê, xã Bờ Y, huyện

Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum

Dân tộc Xơ Đăng, dân số khoảng 97.000 người Cư trú tập trung ở tỉnh Kon Tum, một số

ít ở miền núi của tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng

Dân tộc Giẻ Triêng, dân số có khoảng 27.000 người Cư trú tỉnh Kon Tum và miền núi

tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng

Dân tộc Chơ Ro, dân số hơn 15.000 người Đồng bào cư trú ở tỉnh Đồng Nai, một số ít ở

Ninh Thuận và Lâm Đồng,

Dân tộc Cơ Ho, dân số có khoảng 104.025 người Địa bàn cư trú chủ yếu là tỉnh Lâm

Đồng

Trang 5

Dân tộc Gia Rai, dân số có khoảng 240.000 người Cư trú tập trung ở tỉnh Gia Lai, một

bộ phận ở tỉnh Kon Tum và phía bắc tỉnh Đắc Lắc

Dân tộc Bru-Vân Kiều, dân số hơn 40.000 người Cư trú tập trung miền núi các tỉnh

Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế

Dân tộc Hre, Dân số khoảng 95.000 người Cư trú chủ yếu ở miền Tây Quảng Ngãi, Bình

Định và một số ít ở Lâm Đồng

Dân tộc Xtiêng, dân số khoảng 50.000 người Cư trú tập trung tại bốn huyện phía bắc tỉnh

Bình Phước và một phần sinh sống ở Đồng Nai, Tây Ninh và Lâm Đồng

Dân tộc Chăm, dân số khoảng 99.000 người Cư trú tập trung ở Ninh Thuận, Bình Thuận,

một số ít ở Tây Ninh và Lâm Đồng

Dân tộc Khơ Me, Dân số khoảng 1.000.000 người Cư trú tập trung tại các tỉnh Sóc

Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Kiên Giang, An Giang, Lâm Đồng

1.3 Luật tục

Luật tục là những quy tắc xử sự mang tính chất bắt buộc do các cộng đồng làng xã xâydựng nên và được truyền từ đời này qua đời khác Luật tục tồn tại bằng truyền miệng hoặcđược ghi thành văn bản Luật tục vừa mang một số yếu tố của luật pháp, lại vừa mang tính chấtcủa lệ tục, phong tục, như các quy ước, lời răn dạy, khuyên răn mang tính đạo đức

Vùng Tây Nguyên, luật tục được hình thành dưới dạng lời nói vần (văn vần) được truyềnmiệng từ đời này sang đời khác Luật tục (người Ê Đê gọi là Phạtkđi, người M’nông gọi làPhạtkđuôi, người Mạ gọi là N’Ri, người Gia Rai gọi là Tơlơiphian,…)

Nội dung luật tục của các dân tộc bao gồm các quy định về quan hệ cộng đồng, quan hệcủa người đứng đầu buôn làng với dân, quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng làng bản,giữa cha mẹ với con cái, về sở hữu tài sản, sở hữu đất đai, nương rẫy, nguồn nước, giữ gìn trật

tự công cộng, giữ bình yên, hoà thuận trong buôn làng,… Mỗi tộc người khác nhau có luật tụcriêng, thể hiện bản sắc, đặc trưng riêng của dân tộc mình

Trang 6

Hầu hết các luật tục đều khuyên dạy vợ chồng phải yêu thương quý trọng lẫn nhau, sốngvới nhau thuỷ chung “Đã lấy vợ thì phải ở với vợ cho đến chết, đã cầm cần mời rượu thì phảivào cuộc cho đến khi rượu nhạt, đã đánh cồng thì phải đánh cho đến khi người ta giữ tay lại”(Luật tục Êđê)

Vùng đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, vì coi rừng là nguồn tài sản vô giá của buônlàng, rừng có quan hệ mật thiết với cộng đồng dân cư, luật tục quy định rõ tầm quan trọng củabảo vệ rừng, tôn trọng các quy tắc của cộng đồng về xác lập chủ quyền đối với rừng và đấtrừng của từng gia đình, dòng họ Luật tục Ê Đê có đoạn “…Cây le đang đâm chồi thế mà họchặt mất ngọn, cây lồ ô đang đâm chồi thế mà họ chặt mất đọt Nếu người ta bắt được họ đemcho người tù trưởng nhà giàu thì chân họ tất phải trói lại ngay, tay của họ tất phải xiềng lạingay Cả rừng le bị cháy khô, cả rừng lồ ô bị cháy trụi, hang thỏ, hang chồn đều bị thiêu trụi tất

cả Vì vậy có chuyện nghiêm trọng cần phải xét xử họ”

Hay ở vùng đồng bào Chăm, để giữ gìn đập nước và phân phối nước, đồng bào cắt cử caiđập-đó là người trực tiếp thay mặt nhân dân điều hành hệ thống thuỷ lợi theo quy định của luậttục…

Bên cạnh những yếu tố tích cực mang tính văn hoá, nhân văn, luật tục còn bảo lưu nhiềuyếu tố lạc hậu, lỗi thời có ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, đến tình cảm trong cộng đồng các dântộc Chẳng hạn như tục nối dây (chun nuê của người Ê Đê hay mã kơ mai của ngời Chăm Roi)

là một luật tục tồn tại từ rất lâu trong hôn nhân của đồng bào Hay luật tục của ngời K’Ho vàngười Chu Ru quy định, tục Pơthi Shakơtinh – hay “trả nợ xương cốt” và thực tế, PơthiShakơtinh đã trở thành gánh nặng đè lên vai của người quả phụ, thậm chí còn trở thành gánhnặng cho nhiều thế hệ con cháu nếu chưa hoàn thành nghĩa vụ nặng nề này Đây là một trong

số những luật tục mà các quy định của nó không phù hợp, cần phải được loại bỏ ra khỏi đờisống của đồng bào các dân tộc

Như vậy, duy trì, phát huy những yếu tố tích cực, loại bỏ những hủ tục của luật tục truyềnthống trong cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên là một công việc có ý nghĩa quan trọng để cóthể hình thành, củng cố các làng, bản, buôn, cơ sở để thực hiện tốt vấn đề nông dân, nông thôn,nông nghiệp trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc

Trang 7

2 Đặc điểm vùng văn hóa Tây Nguyên

2.1 Lễ hội

2.1.1 Hội đua voi ở Tây Nguyên

Hội đua voi ở Tây Nguyên thể hiện tinh thần thượng võ và chất hùng tráng hội cổ truyềncủa người M'Nông Hội thường được tổ chức vào tháng 3 hàng năm

Với đồng bào dân tộc dọc theo dãy Trường Sơn, voi là vật quý hiếm nhất, là hiện thâncủa sức mạnh và sự giàu có của mỗi gia đình, mỗi buôn làng Từ một giống vật hoang dã, khiđược bắt về và thuần dưỡng, voi trở thành người bạn thân thiết với con người trong đời sốnghàng ngày, vận chuyển, đi lại, làm rẫy, kéo gỗ làm thủy lợi Voi là loài vật có thân hình to lớn,nhưng cũng là con vật thông minh nhất trong quần thể động vật hoang dã, đồng thời cũng làcon vật giàu tình nghĩa

Ở Tây Nguyên, voi tập trung nhiều nhất ở tỉnh Đắc Lắc, trong đó huyện Ea Súp có đànvoi đồng nhất Bản Đôn thuộc huyện Ea Súp, nơi quy tụ nhiều tộc người M'Nông, Ê Đê, Lào không những nổi tiếng với đàn voi nhà hàng trăm con, mà còn là xứ sở của nghề săn bắt vànuôi dạy voi từ lâu đời Hội đua voi thường diễn ra vào mùa xuân, cụ thể hơn vào dịp tháng Ba

âm lịch, đó là tháng đẹp nhất trong năm ở đây

Để chuẩn bị cho ngày hội (người quản tượng) đưa voi đến những cụm rừng có nhiều cây

cỏ để chúng được ăn uống no nê Họ còn bồi dưỡng thêm cho voi chuối chín, đu đủ chín, míacây, bắp ngô, khoai lang và hầu như không bắt voi phải làm những việc năng để giữ sức

Đến ngày hội, những đàn voi từ các buôn làng xa gần nườm nượp kéo về buôn Đôn tậptrung ở một số bãi, hoặc cánh rừng thưa ven sông Sêrêpốc, cùng với những đàn voi, dân chúngkhắp nơi đổ về dự hội với những bộ áo quân màu sắc rực rỡ Bãi đua là một dải đất tương đốibằng phẳng, bề ngang đủ để 10 con voi giăng hàng đi cùng một lúc, chiều dài từ 1 đến 2km.Một hồi tù và rúc lên, đàn voi dưới sự điều khiển của những chàng mơgát lần lượt tiếnvào nơi khoảng đất bằng, dàn thành hàng ngay ngắn, Theo lệnh người điều khiển, từng tốp voi

đi vào đứng ở tuyến xuất phát Con đầu đàn đứng lên phía trước, trong tư thế uy nghi, hai chântrước đứng thẳng, ngẩng cao, quay cái vòi mấy vòng rồi cúi đầu chào khán giả hai bên, xong

Trang 8

lại lùi vào vị trí cũ Trên mỗi con voi có hai chàng mơgát dũng mãnh, trong bộ trang phục sặc

sở kiểu tướng lĩnh ngày xưa đang trong tư thế sẵn sàng chờ lệnh Một tiếng tù và rúc to báolệnh xuất phát Những chú voi bật lên như những chiếc lò xo phóng về phía trước trong tiếng

hò reo, la hét của khán giả cùng tiếng chiêng làm ầm vang cả núi rừng

Chàng mơgát ngồi phía trước đầu voi cúi rạp mình, ngẩng đầu quan sát và điều khiển voibằng một thanh sắt nhọn dài độ 1 mét gọi là kreo (tiếng M'Nông là gậy điều khiển) dùng đểđâm mạnh vào da, thúc vòi tăng tốc độ, còn anh chàng mơgát thứ hai ngồi ở phía sau thì dùngchiếc búa gỗ Kốc nên mạnh vào mông con voi để voi chay nhanh và thắng đường Khi bóngchàng mơgát ngồi trên lưng chú voi đi đầu vừa xuất hiện từ xa trong vòng quay trở về đích, thìtiếng reo hò vang lên như sấm Tiếng trống chiêng giục giã liên hồi Tiếp theo là tiếng hoan hônhững người thắng cuộc

Cuộc đua với kết thúc, những chú voi dự thi lần lượt trở lại các buôn làng xa xôi, mangtheo tiếng hát, lời ca và không khí rộn ràng của ngày hội

2.1.2 Hội bỏ nhà mồ (Hội Po-thi)

Hội Pơ-thi là ngày hội lớn nhất, vui nhất và là ngày hội cuối cùng trong một năm của dântộc Ba Na, Gia Rai, Ê Đê Các dân tộc anh em khác ở Tây Nguyên không có ngày hội cổtruyền này

Theo quan niệm của người Ba Na, Gia Rai, Ê Đê, người chết tuy mất đi về thể xác,nhưng phần hồn vẫn tồn tại, luẩn quẩn xung quanh nhà mồ Hồn sinh hoạt bình thường nhưngười sống trên trần gian Vì quan niệm như thế nên mỗi ngày trước khi ăn cơm, người nhàthường đem cơm, thức ăn, hoa quả đặt vào nhà mồ rồi ngồi khóc

Trong thời gian giữ nhà mồ, hàng năm người ta phải tốn kém nhiều của cải, gia súc, thócgạo để tổ chức những lễ thăm viếng Những người chịu tang không được tham gia vào nhữngngày hội hè lễ tết, không được tham dự những cuộc vui chơi chung Người chồng, hoặc vợ góacủa người chết không được đi lấy chồng, lấy vợ lần nữa Nếu ai vi phạm điều trên thì sẽ bị phạtbằng cách phải trả lại một phân tài sản chung của hai vợ chồng cho gia đình người quá cố Hơnnữa, còn phải xuất tiền riêng của mình để làm lễ Pơ-thi cho người đã chết

Trang 9

Muốn khỏi tốn kém, bận tâm với người chết, gia đình phải tổ chức hội Pơ-thi Từ khi cóngười chết đến khi tổ chức ngày hội Pơ-thi thời gian quy định thường là 3 năm, dài là 7 năm,cùng lắm là 10 năm Hoặc tính khoảng thời gian đó bằng cách trồng bên cạnh mộ một cây ănquả: ví dụ như đu đủ, bao giờ cây ra hoa quả, thì tiến hành làm lễ.

Sau khi được người thân tổ chức hội Pơ-thi xong, hồn người chết sẽ sang một thế giớikhác để làm ăn, sinh sống Hồn không còn quấy rầy những người còn sống ở trên trần giannữa Đến lúc này, những người góa vợ hoặc góa chồng mới có quyền tái giá

Ngày xưa, người Gia Rai, Ba Na, Ê Đê tổ chức hội Pơ- thi trong bảy ngày Nay chỉ tổchức trong bốn ngày

- Ngày thứ nhất gọi là ngày vào hội (mút)

- Ngày thứ hai gọi là ngày vỡ hội (pớchanh)

- Ngày thứ ba là ngày rửa tội (sách gó)

- Ngày thứ tư là ngày giải phóng cho người góa bụa (klei kom lai)

Muốn tổ chức ngày hội này, đồng bào phải chuẩn bị công phu trong một tháng

Việc cần làm đầu tiên là đốn cây to làm hàng rào xung quanh nhà mồ (tiếng dân tộc gọi làđup) Tiếp đó, cần đăn gỗ để đẽo tượng dựng quanh nhà mồ Cuối cùng mới là làm mái nhàmồ

Nếu là nhà mô bình thường thì việc chuẩn bị tốn ít thời gian Nhưng nếu làm nhà mồ điêukhắc thì việc chuẩn bị sẽ phải tốn nhiều thời gian hơn Nhìn vào một nhà mồ, ta có thể khẳngđịnh ngày chủ nhà mồ giàu hay nghèo

Dựng xong nhà mồ, người ta làm tiếp pinang (cái sàn) đặt ngay chỗ đầu người chết.Pơnang là nơi để thức ăn, cơm cho người chết Pơnang gồm bốn cột tượng đẽo gọt hình conchó hoặc con công

Khi nhà mồ đã làm xong, chủ nhà mồ phải chuẩn bị gạo tẻ, gạo nếp để làm cơm lam.Chuẩn bị lợn, trâu, bò, rượu cần đủ ăn, uống trong bốn ngày hội

Trang 10

Thanh niên nam nữ có nhiệm vụ vào rừng hái lá gói thịt, chặt cây nứa con để lùi Cơmlam; đắn ổng lồ ô để đựng nước.

Vào khoảng 3 giờ chiều, buôn làng nhộn nhịp hắn lên Kẻ đi, người lại tấp nập Những côgái trẻ của buôn làng vác từng đống Cơm lam chất lên sàn nhà chuẩn bị đưa tới nhà mồ Nam

nữ thanh niên rủ nhau ra suối khiêng, vác nước

Chủ nhà mồ dắt trâu, bò đến buộc quanh nhà mồ Một số người khác có nhiệm vụ giếtlợn chuẩn bị cho cuộc uống rượu ban đêm

Sau khi làm xong phần việc của mình, nam nữ thanh niên chuẩn bị ra nhà mồ Họ đóngkhố, mặc váy ktêh mới tinh để vui chơi, ca múa trong những ngày hội

Chủ nhà mồ cúng xong, chiêng công nổi lên rộn ràng, có lúc cả ba, bốn bộ chiêng cùngđược đánh lên âm hưởng rộn ràng, náo nức lòng người Dòng người là thanh niên nam nữ nhịpnhàng, uyển chuyển múa theo nhịp trống Khi mệt, họ nghỉ để lấy lại sức Chủ nhà mồ thết đãi

họ bằng thịt và cơm lam Uống rượu, ăn thịt, cơm lam xong, họ lại tiếp tục nhảy múa, Cạnh đó

là các ông già múa rồi giật, trò chơi này thu hút thanh niên đến xem rất đông vui

Đến gần sáng, thanh niên về nhà ngủ Thay thế họ lúc này là lớp người già

Trời mờ sáng, mọi người hò giết trâu, bò làm thịt Đây là ngày đông nhất, vui nhất củahội bỏ nhà mồ Mọi người trong xã ùn ùn kéo đến Không phân biệt già trẻ, trai gái, mọi ngườiđều tham gia vào những cuộc chơi múa hát Vui nhất là ngày làm hê rối (tiếng dân tộc gọi làbram) Tối đến, cuộc vui chơi tạm ngừng Ai nấy về nhà mình để nghỉ ngơi

Sang ngày thứ ba, họ tiếp tục uống rượu, ca hát ở nhà

So với hai ngày đầu, ngày thứ ba cũng không kém phần sôi nổi Họ hàng, anh em xa gầncủa chủ nhà mồ, của buôn làng kéo đến rất đông Mỗi người mang theo một ghè rượu, một conlợn hoặc gà để góp vui Trong ngày này, họ không đánh chiêng, công như ở nhà mồ mà chỉ ănuống, vui chơi, ca hát, thăm hỏi lẫn nhau tại buôn làng Cuộc vui này kéo dài cho đến tối thìtạm nghỉ

Trang 11

Sang ngày thứ tư, họ tiếp tục uống rượu Theo phong tục, với những nghi thức đơn giản,

họ làm lễ giải phóng cho những người góa vợ hoặc góa chồng Người ta tắm, gội cho ngườigóa, cho phép được cười, hát như những người bình thường Tính hết ngày thứ tư này, ngườigóa hoàn toàn tự do Họ không còn phụ thuộc vào người chết nữa

So với các ngày hội mùa, hội mừng sức khoẻ, hội đâm trấu thì hội Pơ-thi của dân tộc Ba

Na, Gia Rai, Ê Đê là ngày hội lớn nhất Qua việc tổ chức ngày hội Pơ-thi, những người sống

đã biểu lộ lòng thương tiếc của mình đối với những người thân đã chết Trong ngày hội này,những cuộc múa, hát mang tính quần chúng rất cao Đồng thời, đây cũng là một dịp tốt để đilại thăm hỏi lẫn nhau, cùng nhau trao đổi kinh nghiệm sản xuất để những mùa rẫy sau làmđược tốt hơn

2.1.3 Hội mùa: Pơtrum (Gia Rai), Somok (Ba Na)

Hội mùa là ngày hội lớn, có từ lâu, rất phổ biến ở Tây Nguyên, tương tự như ngày Tếtcủa đồng bào Kinh Hội mùa được người Gia Rai gọi là Pơtrum, người Ba Na gọi là Samok,thường tổ chức vào tháng 12 dương lịch

Nếu chúng ta tính theo dương lịch, người dân Tây Nguyên lao động thật sự vất vả, cựcnhọc chỉ có 9 tháng (tính từ tháng 3 đến tháng 11) Theo đồng bào tính thì một năm có 9 tháng

và 3 tháng thừa Ba tháng thừa này đồng bào gọi là Blan ningnông

Bốn ngày hội lớn diễn ra trong 3 tháng này Người Gia Rai có câu rằng:

Dua pån blan ble ia hă, ia hangRonang Blang kutang hoa hang klao blan(Chín tháng ra mồ hôi, lao động mệt nhọc

Ba tháng nhàn rỗi vui hội thoải mái)

Như vậy, hội mùa là những ngày vui chơi giải trí của người Tây Nguyên sau những thángngày lao động cực nhọc, nhưng chủ yếu hội mùa là ngày lễ tạ ơn thần nông nghiệp (Yã Pôm).Ngày xưa, đồng bào Tây Nguyên tổ chức hội mùa rất linh đình tốn nhiều của cải, mấtnhiều thời gian, với những lễ nghi rất cầu kỳ Ngày nay, người Ba Na, Xe Đăng tổ chức hội

Trang 12

này trong ba ngày ba đêm, người Gia Rai chỉ tổ chức có một ngày một đêm Có dân tộc tổchức hội mùa riêng lẻ theo từng gia đình với nghi thức đơn giản cốt sao tỏ lòng biết ơn đối vớiY5 Pôm để già làng và buôn làng khỏi chê trách Hiện nay chỉ có dân tộc Ba Na, Xơ Đăng còn

tổ chức hội mùa tương đối long trọng, còn giữ lại gần nguyên vẹn những tục lệ, lễ nghi củaông cha từ ngàn xưa

Trong ngày hội, tất cả các bếp trong buôn làng đều nổi lửa cùng một lúc và tuỳ vào khảnăng của từng gia đình có thể giết lợn hoặc gà Để góp thêm thức ăn cho ngày hội, đồng bàothường chuẩn bị từ hai, ba ngày trước như đi săn bán, bắt cá, hái rau

Buổi sáng ngày hội, đồng bào lấy ghè rượu gốc (nước rượu đầu tiên, ngon nhất) buộc vàocột giữa nhà guù) hoặc buộc vào tay thân (tổngan yang) cắm giữa nhà Tiếp đó đồng bào lấyphần thịt ngon nhất như thịt thăn, mông và gan, lá lách, quả cật chia thành hai phần, phần thịtchín để vào bát to, phần thịt tươi đựng trong bát nhỏ, có một ít tiết Những thứ này được đặtcạnh ghê rượu gốc

Khi chủ nhà hoặc ông Riu Ang (người cúng) khấn, mọi người đều yên lặng Nội dung củabài khấn là kiệu bà Yã Pôm xuống ăn cơm mới, ăn thịt uống rượu phù hộ cho gia đình, buônlàng sang năm mới làm ăn khá giả, được mùa to hơn năm cũ Vừa khấn xong, tiếng trống,tiếng cồng chiêng nổi lên, cuộc uống rượu bắt đầu Người già nhất trong làng hoặc trong giađình được uống trước, sau đó là những người đứng tuổi, thanh niên, con cháu trong gia đình.Người đánh trống, chiêng cồng cứ đánh, người già cứ uống rượu

Uống rượu xong, thanh niên nam nữ xuống đất đứng theo hàng như sau: Người đánhtrống đi trước, tiếp đến là những người đánh chiêng cồng và sau cùng là những người mua.Nam nữ múa nhịp nhàng hòa với nhịp chiêng công, họ đến từng gia đình trong buôn làng bắt

vạ (người Gia Rai gọi là đú) Mục đích của việc bắt vạ là làm sao mỗi gia đình đưa cho một bátgạo và một ít thịt để cúng Yàng Tiếng hát đôi lúc át cả tiếng cồng chiêng, đi đú các gia đìnhxong họ về nhà làm lễ

Theo tục của người Gia Rai thì tổ chức hội mùa xong mới được lấy thóc trong kho ra ăn,đồng thời mới được phép tổ chức những ngày hội khác Và nếu chưa tổ chức hội mùa, chưa lễ

Yã Pôm mà đã lấy thóc mới ăn, Yă Pôm sẽ bắt tội, không phù hộ cho buôn làng được mùa nữa

Trang 13

Đây chính là thể hiện sự tôn trọng, lòng biết ơn và yêu quý cây lúa, yêu quý những gì đã nuôisống con người.

2.1.4 Lễ hội đâm trâu

Ở Tây Nguyên, các buôn làng của người Xơ Đăng, Ba Na, Gia Rai thường được làmbên các bờ suối, bờ sông Chính giữa mỗi buôn làng, đồng bào thường dựng lên một cái nhàrông Đây là nơi tập trung tinh hoa văn hóa của cả buôn làng Nhìn vào nhà rông, chúng ta cóthể đánh giá được khả năng hội họa và điêu khắc cùng với sự giàu, nghèo của buôn làng đó

Có hai loại nhà rông: Nhà rông trống và nhà rông mái Nhà rông trống (tiếng Gia Rai gọi

là rông tơ nao) có mái to cao chót vót Có nhà rông cao đến 30 mét Nói chung, nhà rộng trốngđược trang trí rất công phu Nhà rông mái (tiếng dân tộc gọi là rông ama) nhỏ hơn nhà rôngtrống, mái thấp Hình thức bên ngoài và bên trong đơn giản hơn

Trong nhà rông, đồng bào thường để những vật tổ vô giá (tiếng Gia Rai gọi là Bang HoDung) Đó là những vũ khí, giáo mác, khiên, tù và mà xưa kia, ông cha họ đã từng dùng đểđánh giặc bảo vệ buôn làng Nhà rông là nơi chứng kiến những cuộc họp để bàn việc chungcủa buôn làng, là nơi dạy nghề và mọi người đến đây để sinh hoạt Văn nghệ

Theo tục của người dân Ba Na, Gia Rai, Xơ Đăng, hàng năm dân làng tổ chức một lầnhội đâm trâu tại nhà rộng Mọi phí tổn trong ngày hội do dân làng đóng góp lại Dân làng làmngày hội đâm trâu nhằm tạ ơn những tù trưởng xưa kia đã có công xây dựng và gìn giữ buônlàng và sau nữa là tỏ lòng biết ơn đối với người hiện đang giữ gìn vật quý

Những khi đau, ôm bất ngờ (ví dụ đi tắm về bị cảm, vào rừng bị sốt hoặc bị gai đâm )dân làng cho là thần làm ốm nên muốn khỏi cũng phải làm lễ đâm trâu Nhưng lễ đâm trâu nàynhỏ hơn lễ đâm trâu trong ngày hội

Đồng bào thường tổ chức ngày hội đâm trâu trong khoảng thời gian từ đầu tháng 12 chođến tháng 3 âm lịch

Dân tộc Xơ Đăng, Ba Na tổ chức hội đâm trâu trong ba ngày, dân tộc Gia Rai một ngàyrưỡi Người Gia Rai gọi ngày đầu của hội đâm trâu là ngày vào hội (mút); ngày sau là ngày ănđầu trâu (bong bó)

Trang 14

Để chuẩn bị cho ngày lễ, đồng bào vào rừng chặt bốn cây to bằng bắp chân, đem về buôn

và khắc lên đó những hình hoa văn rất đẹp (những cây này tiếng dân tộc gọi là ging ga) Lấybốn ngọn lô ô trên có khắc nhiều hình hoa văn để buộc tua Chặt một cây lô ô gọi là gốc về làmtay thân cắm ở giữa Sau đó, đồng bào làm dây để buộc trâu vào cột ging ga

Trong ngày đầu tiên của hội đâm trâu, vào lúc 4 giờ đồng bào dắt trâu buộc vào cột ging

ga Trói một con lợn to và đặt sát vào cột Những thanh niên có nhiệm vụ đánh trống, chiêng,công trong ngày hội, đầu chít khăn đó, mặc áo Blah' hoặc áo ló”, đóng khô kợtehỏ, đã ở trong

tư thế sẵn sàng Nữ thanh niên mặc áo phia, váy hotehº, đầu quàng khăn trắng Ông già, trẻ em,người đứng tuổi đều mặc những bộ đồ mới nhất của mình Tất cả mọi người đứng chật níchtrước sân nhà rông

Người chủ trì ngày hội là già làng, hay còn gọi là ông Riu Yang đứng gần cột buộc trâu.Thanh niên nam nữ đánh chiêng, cồng, múa đứng sau lưng Riu Yang Khi Riu Yang khấn xong(nội dung bài khấn: câu xin thần trời, thần nước, thân núi, thân sống hay lên đây chứng kiếnngày hội đâm trâu này, cầu xin các thân hay phù hộ cho dân làng trong được nhiều lúa, nuôiđược nhiều trâu cho dân làng trồng được nhiều lúa, nuôi được nhiều trâu bò Xin các thầnxuống buôn làng ăn thịt trâu và uống rượu cần ngọt) Tiếng chiêng, cồng bắt đầu nổi lên hòavới tiếng hú của dân làng Cảnh buôn làng trở nên rộn ràng, sinh động

Suốt đêm hôm đó, họ ăn thịt lợn, uống rượu, múa và đánh chiêng, cồng không biết mỏichân, mỏi tay Mờ sáng hôm sau, tiếng chiêng, công càng nổi lên rộn rã thúc giục mọi ngườiđến xem cảnh đâm trâu truyền thống

Tiếng trống, chiêng, cồng vừa dứt, những thanh niên khỏe mạnh, đầu chít khăn đỏ, taycầm khiên, gươm sáng loáng lao ra nhảy múa Gươm chạm vào nhau xoang xoảng hòa vớitiếng hò reo cổ vũ của hàng trăm người Đó là những cuộc đánh nhau tượng trưng, những cuộcchiến đấu dũng cảm của các tù trưởng và dán làng vào thời xa xưa để bảo vệ buôn làng Tuychỉ là những cuộc đánh nhau tượng trưng nhưng nó không kém phần hào hứng và sôi nổi Sau

đó, họ bỏ gươm xuống Cuộc đấu sẽ được tiếp tục với vũ khí là những gậy gỗ dài khoảng 1mét

Trang 15

Những cuộc đấu này mang tính chất vui chơi lành mạnh và thể hiện được lòng dũng cảmvới truyền thống thượng võ của dân tộc Những cuộc đấu đó kết thúc không phân thắng bại.Nhưng nếu ai kém thì trên lường người đó sẽ nổi lên chi chít những vết hằn.

Tốp này nghỉ, tốp khác lại ra thay Cứ một người mua khiên thì có một cô gái đứng bêntát nước vào người Chàng trai nào múa khiên giỏi, đỡ cừ thì người không bị ướt, tiếp tục thiđấu Anh nào để không được thì mình ướt,coi như bị thua

Sau cuộc nhảy múa này, bọ bắt đầu đâm trâu Người thanh niên nào chỉ đâm một nhát màtrâu chết thì được mọi người khen Ai không đâm được hoặc trâu lâu chết thì sẽ bị cả làng chêbai, đả kích

Khi con trâu đã tắt thở, thầy cúng mang nồi đồng nhỏ đến hứng huyết trâu hòa với rượu,

bộ phận đao kiếm tiếp tục xẻ thịt trâu, làm thịt trâu xong, họ chia đều cho từng bếp trong buônlàng Một phần thịt trâu sẽ được dành lại để uống rượu chung tại nhà rông

Sau khi ông Riu Yang khấn lần hai, cuộc ăn uống vui chơi kéo dài cho đến ngày thứ hai.Sáng ngày thứ hai, đồng bào tổ chức lễ rước đầu trâu lên nhà rông Đầu trâu được họ pha ralàm món ăn Riêng sừng được giữ lại và giặt lên vách nhà rông Trong ngày thứ hai này, họcùng họa tiết với rượu để rửa những vật quý được giữ trong nhà rông

Ngày này chủ yếu là vui chơi, múa hát trong nhà rông Những người tham dự phần lớn làngười đứng tuổi và các ông già

2.2 Kiến trúc

2.2.1 Nhà rông

Nhà rông là một trong những lối kiến trúe cổ lưu ruyền lớn nhất về nhà ở của nước ta Nhàrông là ngôi nhà chung của dân cu trong một buôn hay trong một plei (plây), nghĩa là trongmột làng của đồng bào Tây Nguyên Cũng như ngôi đình làng của đồng bào Kinh Bắc Bộ,đồng bào ở Tây Nguyên coi nhà rông là nơi linh thiêng Ở đó, con người có thể tiếp xúc vớicác vị thần bảo hộ làng, thông qua các nghi thức lễ hội truyền thống của buôn làng

Trang 16

Ngôi nhà tua như một chiếc rìu khổng lồ, biểu tượng sức mạnh cường tráng của người đànông núi rừng Tây Nguyên Việc thiết kế mái nhà có hình lưỡi rìu ngược cao vút lên tận khôngtrung tượng trưng cho sức mạnh và tránh những cơn gió Tây Nguyên, đồng thời cũng là ngườichỉ đường giúp cho những người dân trong buôn làng mải mê làm rẫy chẳng may bị lạc thì códấu hiệu để tìm về

Nhà rông có hai loại, nhà rông trống và nhà rông mái Nhà rông trống (tiếng Gia Rai gọi làrông tơ nao) có mái to, cao chót vót Có nhà rông cao đến 30 mét Nói chung, nhà rông trốngđưoc trang trí rất công phu Nhà rông mái (tiếng dân tộc gọi là rông ama) nhỏ hơn nhà rôngtrống, mái thấp Hình thức bên ngoài và bên trong đơn giản hơn Trong nhà rông, đồng bàothường để những vật tổ vô giá (tiếng Gia Rai gọi là Bang Hơ Dung) Đó là những vũ khí, giáomác, khiên, tù và mà xưa kia, ông cha họ đã từng dùng để đánh giặc bảo vệ buôn làng Nhà rông được làm bằng những nguyên vật liệu của núi rừng Tây Nguyên Điều đặc biệt là

cả một công trình đồ sộ này, không hề sử dụng một chiếc đinh sắt nào, các bộ phận của ngôinhà được liên kết với nhau bằng hệ thống ngoàm và dây chằng buộc Nhà rông biểu hiện sựtrường tồn và phát triển của các tộc người Tây Nguyên, nên được chọn đặt ở vị trí trung tâmcủa làng và nhà dựng càng lớn, chứng tỏ buôn làng càng giàu có Đó là nơi hội họp của cộngđồng, của hội đồng già làng, chủ làng đế bàn bạc các công việc liên quan đến cả buôn làng,dạy bảo con cháu trong buôn mỗi khi có ai vi phạm những điều cấm kỵ hay hòa giải nhữngtranh chấp, kiện tụng và cũng là nơi để các già làng xây dựng luật tục bảo vệ phong tục tậpquán của từng tộc người

Nhà rông còn là trung tâm của các lễ hội cộng đồng, là nơi trình diễn các loại hình nghệthuật dân gian Bên ánh lửa hồng, trong tiếng cồng, chiếng ngân vang thâu đêm suốt sáng,dân làng mặc áo váy mới, đeo những đồ trang sức đẹp nhất đến với lễ hội để ôn lại truyềnthống lịch sử của mình, bày tỏ những tình cảm và khát vọng về cuộc sống tự do, thanh bình vàcường thịnh, khát vọng được giao tiếp với thần linh trời đất Hàng ngày, cứ vào buổi tối, đámthanh niên đến tuổi trưởng thành chưa lấy vợ thì phải ra nhà rông ngủ để bảo vệ buôn làng mỗikhi có thú dữ hay trộm cướp cũng như đế con gái trong buôn muốn "bắt chồng" thì tìm đến Vì

Trang 17

thế không riêng con gái trong buôn mà cả những buôn khác cũng tụ hội quanh nhà rông hát hòhay to tình với các chàng trai.

đó còn ít tuổi thì người chị cả tạm thay quyền cho tới lúc cô em trưởng thành thì trao lại Nhà dài bao giờ cũng được chia làm ba phần: sân sàn, ngăn khách và ngăn dưới Có hai sânsàn: sân sàn trước và sân sàn sau Sân sàn trước thường rộng rãi, là nơi phơi phóng, nơi giã gạomỗi sáng, nơi ngồi chơi hóng mát mỗi chiều Sân sàn sau nhỏ hơn, thường là nơi rửa ráy, nấu

ăn Sân sàn trước có một hoặc hai cầu thang, sân sàn sau chỉ có một cầu thang và dành riêngcho người trong gia đình Từ sân sàn trước bạn bước vào khoảng không gian quan trọng nhất:ngăn khách (gah thường chiếm tới 1/3 diện tích sử dụng) Đây là nơi tiếp khách và sinh hoạtchung của cả gia đinh, cũng là nơi bạn có thể chiêm ngưong những đo quý giá và linh thiêngcủa người Tây Nguyên như trống, chiêng, ché rưou, các bộ sừng trâu, hươu nai Nối tiếp ngănkhách là ngăn ở (ôk) được chia thành từng ngăn nhỏ cho các tiểu gia đình dọc loi đi suốt tớisân sàn sau

Nhà dài còn là nơi thường diễn ra những sinh hoạt cộng đồng Sử thi E Đê có viết: " NhàĐăm Di có chiếc cầu thang to bằng cái chieu bon người nam, rộng bằng tam phên mươi ngưoingu, đu cho ba, bốn người lên xuống mot lú Đầu cầu thang có cham nổi một doi vú to, nhắnbóng, dê ngưoi lên năm, ngưoi xuống vin Con gái di lên, ngực chạm ngực, đàn bà đi xuống

Trang 18

vú chạm vú, ông già di xuống chạm đầu gối, đàn bà chạm khuỷu chân Sàn nhà Đăm Di lát vándài, phía trên trải tre bóng Phía cuối sàn dựng chiếc trống to, đụng xà ngang, chạm xà do Đầu hè chất đầy bành voi dưới gác treo lủng lắng những sọt muối, gùi cá khô, thịt nưởng.Người làm bếp, kẻ ra vú chạm vú, người vào vai chạm vai, mải mê thổi cơm, nấu nước Những

bộ chiêng chiếm dầy ngăn, chặt giá Phía trước nhà treo những dây dài xương hàm hươu, nai,lợn lòi "

Nhà dài không chỉ là biểu tượng vật chất của thể chế đại gia đình mẫu hệ mà còn là nơi gìngiữ những giá trị văn hóa tinh thần của người Tây Nguyên Trải qua nhiều biến động về chínhtrị, kinh tế xã hội cũng như sự giao lưu văn hóa mạnh mẽ giữa các cộng đồng dân cư nênnhững thế hệ mới của người Tây Nguyên đã thay đổi cách sông theo xu hướng tách khỏi giađình lớn và nhạt nhòa dần thể chế mẫu hệ Vi vậy, số lượng nhà dài không còn được phát triển.Tuy nhiên, việc bảo tồn một số nhà dài tại các buôn của người Tây Nguyên là một nhu cầuthiet yếu như gìn giữ một nét văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, một di sản quý giá trên vùng đấtTây Nguyên

2.2.3 Nhà mồ

Nhà mồ và tượng mồ là mảng đặc sắc của văn hóa cổ truyền Tây Nguyên Trong thời giangần đây, truyền thống dựng nhà mồ, tượng mồ chỉ còn thấy tập trung ở các dân tộc Ba na, Ê đê,Gia rai, Mnông, Xơ Đăng Nghĩa địa của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên thường được bố trí

ở những cánh rừng già khá thâm u, cùng với vô vàn tượng gỗ đủ hình thù, tư thế, khiến người

ta có cảm giác như lạc vào ranh giới giữa thế giới thực tại và thế giới tâm linh

Tượng Nhà mồ được các nghệ nhân của đại ngàn làm ra để dùng cho lễ bỏ mả - cuộc chiatay tưng bừng cuối cùng giữa người sống và người chết, để tiễn những linh hồn về thế giới ông

bà Sau lễ bỏ mả, tượng Nhà mồ cũng nằm lại nghĩa địa cùng thời gian, mưa nắng Quần thểtượng mô tả sự hình thành, ra đời và lớn lên của một đời người với đủ các cảnh sinh hoạt vàcác mối quan hệ của con người Nhà mồ được xây trùm trên nấm mộ và là trung tâm của lễ bỏ

mả Nhà mồ có nhiều loại khác nhau Trang trí nhà mồ thường sử dụng 3 màu: đen, đỏ vàtrắng Tượng mồ là những tác phẩm điêu khắc độc đáo bậc nhất của đồng bào các dân tộc vùngđất này, trong đó tượng mồ Gia rai, Ba na phong phú và đặc sắc hơn cả

Trang 19

Theo chu trình dựng nhà mồ, để tiến hành nghi lễ bỏ mả, việc đầu tiên của người chủ hộ làđẽo tượng mồ Nếu như một ngôi nhà mồ dự định bỏ vào tháng 3 trong năm, thì từ tháng 1năm đó người chủ hộ đã bắt đầu kiếm gỗ đẽo tượng Ở những ngôi nhà mồ to đẹp, bề thế trướcđây, cột tượng thường được làm bằng loại gỗ tốt như gỗ cây hương, cây cà chít Tuy nhiên,

thời gian gần đây do những loại gỗ tốt cạn kiệt, người dân không thể kiếm được gỗ tốt nên hầuhết những ngôi nhà mồ khi tiến hành bỏ mả, người Gia-rai sử dụng các loại gỗ tạp, dễ trồngnhư gỗ cây gạo (pơ lang) để đẽo tượng

Gỗ đẽo tượng được kéo về dựng tại nghĩa địa của làng, bên cạnh ngôi nhà mồ sắp bỏ mả, trước khi đẽo tượng mồ, người Gia rai có cúng thần nhà rông (yang rôông), thần bến nước (yang ia), xin phép đẽo tượng mồ cho người chết ở trong làng, lễ cúng thường được mổ lợn

làm vật hiến sinh Dụng cụ đẽo tượng hữu hiệu và thông dụng nhất là chiếc rìu (jong), dụng cụ

có một đầu lưỡi sắc, một đầu lưỡi tù, cán được tra bằng một thanh gỗ dài Một loại dụng cụ

nữa là cây chà gạc (loại dao đa năng thông dụng của người Gia rai) dùng để sửa lại các chi tiết

trên mặt tượng

Những bức tượng mồ Gia rai, về mặt nghệ thuật gần với mỹ thuật nguyên thuỷ, có rất nhiềuđiểm giống với các đặc trưng nghệ thuật từ thời cổ đại của các thị tộc, bộ lạc trên hầu khắp thếgiới Để làm cho bức tượng mồ trở nên ấn tượng, người Gia rai còn sử dụng đến màu sắc đểtrang điểm Màu sắc là một trong những yếu tố cơ của nghệ thuật điêu khắc làm nổi rõ hơnkhuynh hướng đa dạng trong tạo hình tượng mồ Trong bảng màu tự nhiên của người Gia rai

có đầy đủ các sắc màu: vàng, đen, trắng, đỏ, xanh các sắc màu này được lấy ngay từ thiênnhiên trong môi tường sống của họ

Nghệ thuật tượng mồ còn bắt nguồn từ bản thân sự sống động của mỗi bức tượng Hầu hếtcác bức tượng đều diễn tả các trạng thái động của con người Người Gia rai khi tạc tượng đãlàm cho cho từng bức tượng trở nên sinh động như có hồn Khi tham dự lễ bỏ mả của ngườiGia rai, được chiêm ngưỡng tượng mồ sẽ chúng ta có cảm giác như mình đang có mặt tại chínhbuôn làng của họ với các hoạt động quen thuộc của con người diễn ra trong lễ hội bỏ mả Nghệthuật chính là đem đến sự gần gũi thân thuộc của cuộc sống đời thường vào trong tác phẩmmột cách tự nhiên

Trang 20

Theo quan niệm của người Gia rai và Ba na thì người chết có linh hồn biến thành ma(atâu) Sau khi chết, linh hồn cứ lẩn quất gần nơi chôn, lưu luyến với cuộc sống dương thế,không siêu thoát được Người thân hàng ngày phải mang cơm nước đến, quét dọn nhà mả, gọi

là thời kỳ giữ mả Chỉ sau khi làm lễ bỏ mả thì linh hồn mới được siêu thoát, trở về với thế giớibên kia một cách nhẹ nhàng, không còn lưu luyến gì với cuộc sống trước đây, mà người sốngcũng yên tâm trở về làm ăn với ý nghĩ hồn ma đã yên nghỉ, không còn lẩn quất và quấy phádương gian

Trước lễ bỏ mả vài chục ngày, người Gia rai và Ba na vào rừng chọn cây gỗ tốt để dựngnhà mồ Nhà mồ được xây dựng tập thể, người già có nhiều kinh nghiệm thì chịu trách nhiệmtrang trí mỹ thuật, còn thanh niên trai tráng thì dựng cột và làm những việc nặng nhọc hơn Khi

đo đạc làm nhà mồ, người ta không dùng thước mà dùng những đơn vị cơ thể người như mộtsải tay, một cánh tay, một bàn tay… Những ngôi nhà mồ Tây Nguyên là những công trình nhỏnhưng mang dáng vẻ hoành tráng đồ sộ, mang tầm khái quát cao Kỹ thuật dựng nhà mồ hoàntoàn thô sơ, chỉ có hệ thống kết nối bằng gá, buộc chứ không có hệ thống kèo, mộng Vật liệuxây dựng chỉ có gỗ nứa, lá mà không dùng gạch; công cụ xây dựng chỉ có dao, rìu Chính điều

đó tạo cho nhà mồ một dáng vẻ nguyên sơ mộc mạc với nét đẹp tự nhiên nguyên thủy

Những nghi lễ diễn ra xung quanh không gian nhà mồ đầy linh thiêng cũng là tập hợpnhững hoạt động văn nghệ dân gian như ca hát, nhảy múa, cồng chiêng, cúng tế, nấu ăn… củangười Gia rai và Ba na Tất cả kết hợp hài hòa, trở thành một pho sử sống vô cùng quý giá trênmảnh đất Tây Nguyên Đối với đồng bào Tây Nguyên, nhà mồ và tượng mồ được làm ra chỉ đểphục vụ Lễ bỏ mả, sau đó những bức tượng đó được bỏ lại nghĩa địa Qua thời gian cùng nắngmưa, những bức tượng đó sẽ bị hư hỏng, tan biến, trở thành cát bụi hòa lẫn vào đất mẹ Trongkhi đó, do không được bổ sung mới nên tượng Nhà mồ ngày càng vắng bóng tại các nghĩa địacủa đồng bào địa phương và theo sự phát triển của kinh tế, xã hội ngày nay một di sản văn hóađộc đáo đang dần mai một

2.3 Văn học – nghệ thuật

Trang 21

2.3.1 Sử thi

Sử thi có thể coi là cuốn “bách khoa toàn thư” của đồng bào Tây Nguyên Bởi qua đó,người ta thấy được cả một bề dày văn hóa, một chiều dài lịch sử, cũng như những kinh nghiệmsống được tích lũy lâu đời

Tây Nguyên được coi là mảnh đất của huyền thoại và sử thi chính là những áng anhhùng ca ca ngợi cuộc sống, tình yêu, con người của vùng đất huyền thoại ấy Có thể nói, sử thi

là linh hồn của văn hóa Tây Nguyên Tùy theo mỗi dân tộc, sử thi được gọi với những tên khácnhau như: Khan (đồng bào Ê Đê), H’amon (đồng bào Ba Na), Hri (đồng bào Gia Rai)…

Có nhiều giả thiết về thời gian ra đời, nhưng có một điều không ai có thể phủ nhận, đó

là sử thi Tây Nguyên là một kho tàng văn học dân gian khổng lồ, thậm chí có thể so sánh vớithần thoại Hy Lạp Nét khác biệt giữa sử thi Tây Nguyên với các tác phẩm sử thi cổ điển kháctrên thế giới như Ô-đi-xê, Kalevala… là đến nay, sử thi Tây Nguyên vẫn được lưu truyềnnguyên bản trong nhân dân, vẫn được trình diễn trong các buổi sinh hoạt cộng đồng Như vậy,

sử thi Tây Nguyên vẫn “sống” trong đời sống cộng đồng, thay vì chỉ tồn tại trên sách vở

Nội dung của sử thi chứa đựng những biến cố của dân tộc, xoay quanh những chiếncông của những anh hùng có công bảo vệ buôn làng, chống lại những thế lực đen tối Nhữngnhân vật trong sử thi không mang tính cá nhân, mà đại diện cho ước vọng của cả cộng đồng,cho những cuộc đấu tranh vì lý tưởng nhân văn cao cả Đó là những anh hùng như Đăm San,Đăm Di, Dyông Dư…

Sử thi Tây Nguyên truyền từ đời này qua đời khác thông qua hình thức truyền miệng,

nó được lưu giữ trong trí nhớ của người dân Mỗi khi gia đình hay bộ tộc có lễ lạt như: cướixin, mừng nhà mới, mừng trẻ nhỏ đầy tháng thì sử thi lại được cất lên Sử thi Tây Nguyên cónhững bộ chỉ kể trong 1-2 đêm là xong, nhưng có những tác phẩm phải kéo dài đến cả tuần Vàđiều đặc biệt ở sử thi Tây Nguyên chính là cách kể độc đáo Người kể sử thi khi cao giọng, khilắng trầm, khi diễn giọng nữ, khi diễn giọng nam, khi giọng quỷ, khi giọng thần tiên, khi lắngtrầm, khi lại ngâm ngợi Dường như mọi cảm xúc của họ đều dồn hết vào từng nhân vật, nhưđắm chìm vào thế giới riêng và mỗi lần kể là mỗi lần thăng hoa, “nhập đồng”

Trang 22

Sử thi được truyền tải đến người nghe qua hình thức hát, kể, diễn xướng Có những tácphẩm có độ dài đến hàng ngàn câu mà các nghệ nhân thuộc lòng Chính vì thế, nghệ nhân hát,

kể sử thi được coi như “báu vật sống” Và có lẽ, vì sử thi được sáng tác theo loại văn vần đặcbiệt nên các nghệ nhân lại dễ nhớ, dễ thuộc đến vậy Tuy nhiên, trong số hơn 300 nghệ nhânbiết hát, kể sử thi đã được lập hồ sơ đề nghị phong tặng danh hiệu “nghệ nhân dân gian”, thìhiện nay, số người còn sống là rất ít Riêng ở Đắk Lắk và Đắk Nông, hiện chỉ còn vài ngườibiết hát, kể sử thi Ê Đê và M’nông…

Nếu ai đã một lần được nghe sử thi giữa không gian núi rừng huyền ảo, bên bếp lửa bậpbùng, bên ché rượu cần say mê thì sẽ không bao giờ có thể quên được cái không gian lung linh,huyền thoại, nửa hư nửa thực ấy

2.3.2 Không gian văn hóa Cồng chiêng

Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai,Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng Chủ nhân của di sản văn hóa quý giá và đặc sắc này là 17

dân tộc thiểu số thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Á (Austro-Asian) và Nam đảo (Austronesian) sống

trên khu vực cao nguyên trung bộ của Việt Nam Các cộng đồng cư dân nơi đây chủ yếu sốngbằng canh tác nông nghiệp truyền thống Họ đã phát triển nhiều loại hình nghề thủ công, sángtạo ra nhiều phong cách trang trí và các kiểu nhà ở truyền thống độc đáo của mình

Bao ngàn đời nay, cồng chiêng gắn với Tây Nguyên như một phần không thể thiếutrong suốt vòng đời mỗi con người và trong hầu như tất cả các sự kiện quan trọng của cộngđồng: từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh, lễ cưới xin, lễ tiễn đưa người chết, lễ đâm trâu trong ngày

bỏ mả, v.v cho đến lễ cúng máng nước, mừng lúa mới, lễ đóng cửa kho, lễ mừng nhà rôngmới, v.v Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên, là tiếng nói củatâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động vàsinh hoạt hàng ngày của họ Cồng chiêng là loại nhạc khí bằng hợp kim đồng, có khi pha vàng,bạc hoặc đồng đen Cồng là loại có núm, chiêng không núm Nhạc cụ này có nhiều cỡ, đườngkính từ 20cm đến 60cm, loại cực đại từ 90cm đến 120cm Cồng chiêng có thể được dùng đơn

lẻ hoặc dùng theo dàn, bộ từ 2 đến 12 hoặc 13 chiếc, thậm chí có nơi từ 18 đến 20 chiếc

Ngày đăng: 08/10/2021, 08:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Uông Thái Biểu. Ứng xử bình đẳng với văn hóa các dân tộc thiểu số. https://nhandan.vn/binh-luan-phe-phan/ung-xu-binh-dang-voi-van-hoa-cac-dan-toc-thieu-so-tiep-theo-va-het-%E2%98%85-458954/ Link
4. Uông Thái Biểu. Hành trình về với văn hóa Tây Nguyên. https://nhandan.vn/di- san/hanh-trinh-ve-voi-van-hoa-tay-nguyen-596295 Link
5. TS. Buôn Krông Tuyết Nhung. Nhìn nhận lại thực trạng văn hóa tây nguyên. https://ordi.vn/nhin-nhan-lai-thuc-trang-van-hoa-tay-nguyen.html Link
6. Khắc Dũng. Sự giao thoa giữa các vùng văn hóa. http://baolamdong.vn/dalatxuanay/201208/nam-tay-nguyen-mot-goc-nhin-van-hoa-ky-iii-su-giao-thoa-giua-cac-vung-van-hoa- Link
7. Nguyễn văn Chiến. Đồng bào Tây Nguyên làm theo lời Bác. Dangcongsan.vn Khác
8. Lê Hường. Có một Tây Nguyên đa sắc màu văn hóa. m.baodantoc.vn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w