Vì vậy mà tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu Điều tra thành phần“ Điều tra thành phần loài hệ thực vật rừng ngập mặn và một số nhân tố môi trờng tác động đến chúng ở xã Hộ Độ và Xuân Hộ
Trang 1Phần mở đầu
1 tính cấp thiết của đề tài
Vùng rừng ngập mặn là vùng chuyển tiếp nên nó chịu ảnh hởng bỡicác điều kiện từ đất liền lẫn từ hớng biển, nhìn chung các bãi bồi, nơi có điềukiện thổ nhỡng, khí hậu thích hợp đều có cây ngập mặn Rừng ngập mặn làmột hệ sinh thái quan trọng ở vùng ven biển, có rất nhiều chức năng sinh thái
và lợi ích kinh tế (Nguyễn Hoàng Trí, 1999 [14])
Rừng ngập mặn là hệ sinh thái quan trọng có năng suất cao ở vùng cửasông ven biển nhiệt đới nhng rất nhạy cảm với tác động của con ngời vàthiên nhiên(Phan Nguyên Hồng, 1999[3])
Rừng ngập mặn không những cung cấp những lâm sản có giá trị nh gổ,than, củi, tanin, thức ăn , thuốc uông…mà còn là nơi sống và mà còn là nơi sống và ơng giống củanhiều loài hải sản, chim nớc chim di cvà một số động vật có ý nghĩa kinh tếlớn nh khỉ, lợn rừng, cá sấu, kỳ đà, chồn, trăn…mà còn là nơi sống và
Rừng ngập mặn có tác dụng to lớn trong việc bảo vệ bờ biển , bờ sông
điều hoà khí hậu, hạn chế xói lở, mở rộng diện tích lục địa, hạn chế sự xâmnhập mặn, bảo vệ đê điều, đồng ruộng, nơi sống của ngời dân ven biển trớc
sự tàn phá của gió mùa, bảo, nớc biển dâng (Phan Nguyên Hồng,1999[3];1998[7])
Tóm lại, rừng ngập mặn là nguồn tài nguyên vô cùng quý báu vùngven biển do hậu quả của chiến tranh, mà đặc biệt là do sức ép của kinh tế,dân số dẫn đến việc khai thác quá mức và phá rừng ngập mặn để nuôi tômkhông có kế hoạch làm cho hơn một nả diện tích rừng ngập mặn ở nớc ta bịbiến mất, phần còn lại đang bị đe doạ nghiêm trọng (Nguyễn Hoàng Trí,
1999 [14])
Diện tích đất thoái hoá ngày càng tăng, khí hậu diễn biến theo chiều ớng xấu đi rõ rệt, nớc mặn lấn sâu vào nội địa làm giảm năng suất cây nôngnghiệp, nguồn tôm giống, cua, cá giảm nhiều, nhiều loài hải sản mất nơisống, một số loài cá, ốc, sò mất bãi đẻ, hiện tợng xói lở bờ sông, bờ biển diễn
h-ra hàng ngày do mất rừng, gió bão phá hoại đê điều, đồng ruộng và nhà cửa,
đời sống của ngời dân nghèo ven biển bị đe doạ (Phan Nguyên Hồng, 1999[3]; 1998 [7)
Trang 2ở Hà Tĩnh hiện nay một trong những vẫn đề đợc quan tâm là khôi phụcrừng ngập mặn, việc lựa chọn trồng loại cây gì, vừa có tác dụng giữ đất bảo vệ
đê biển, hồ đầm thuỷ sản, vừa có hiệu quả kinh tế cao thích ứng tốt với điềukiện tự nhiện của địa phơng đang còn là những vẫn đề khó khăn (Phan NguyênHồng, 1999 [3])
Nhận rõ tầm quan trọng của rừng ngập mặn, mà đặc biệt là hậu quảcủa thiên tai trong những năm gần đây ở những vùng ven biển bị mất rừngngập mặn
Vì vậy mà tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu Điều tra thành phần“ Điều tra thành phần
loài hệ thực vật rừng ngập mặn và một số nhân tố môi trờng tác động đến chúng ở xã Hộ Độ và Xuân Hội – Hà Tĩnh” Hà Tĩnh” Hy vọng với những kết quảthu đợc qua đề tài này sẽ cung cấp những thông tin khoa học cho việc nghiêncứu, công tác phục hồi, phát triển, mở rộng, sử dụng và quản lý hệ sinh tháirừng ngập mặn tại vùng này, góp phần đảm bảo sự cân bằng sinh thái
2 ý nghĩa khoa học và thực triển.
- Đây là đề tài đầu tiên điều tra thành phần loài và một số nhân tố môitrờng ảnh hởng đến chúng tại vùng rừng ngập mặn ở Hà Tĩnh
- Việc điều tra thành phần loài và một số nhân tố môi trờng tác động
đến thực vật rừng ngập mặn là cơ sở cho công tác quản lý, sử dụng hợp lý hệsinh thái rừng ngập mặn
3 Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở nghiên cứu điều tra thành phần loài hê thực vật rừng ngậpmặn và một số nhân tố môi trờng tác động đến chúng nhằm cung cấp nhữngthông tin khoa học cho việc nghiên cứu, công tác phục hồi, phát triển rừngngập mặn tại vùng này, góp phần đảm bảo sự cân bằng sinh thái
4 Đối tợng và phạm vị nghiên cứu.
- Địa điểm nghiên cứu
Các nghiên cứu đợc tiến hành tại vùng rừng ngập mặn ở Hộ Độ vàXuân Hội – Hà Tĩnh” Hà Tĩnh
Trang 4Chơng I Tổng quan về nghiên cứu thực vật rừng ngập mặn
1 Trên thế giới
Việc nghiên cứu các hệ thực vật trên thế giới đã có từ lâu, trong đó
ng-ời đầu tiên có công đề xớng ra phơng pháp phân loại thực vật và đã mô tả đợckhoảng 500 loài cây đó là Theophraste (371 - 286 trớc Công nguyên)
ở thế kỷ thứ XVII - XVIII các công trình nghiên cứu tập trung chủyếu vào việc mô tả, định tên và hệ thống các loài đồng thời cũng dần dần xác
định đợc thành phần thảm thực vật từng vùng Đáng kể là công trình nghiêncứu của nhà tự nhiên học Thuỷ Điển Cac Linne (1707 - 1778) Ông đã mô tả
đợc 10.000 loài cây trong đó có cả các loài thực vật rừng ngập mặn và sắpxếp chúng vào một hệ thống nhất định đồng thời đề xuất ra cách gọi tênbằng hai tiếng La tinh rất thuận lợi mà ngày nay chúng ta đang sử dụng
Tenning , Bird (1967),Wash (1974) và Chapman (1977)(dẫn theoNguyễn Hoàng Trí, 1999[14]) đã mô tả những yếu tố cơ bản tác động đếnquần xã rừng ngập mặn, đặc biệt đã tập trung nghiên cứu các yếu tố nh yếu
tố nhiệt độ, độ mặn, thể nền
Hutchings và Seanger (1987) (dẫn theo Nguyễn Hoàng Trí, 1999[14])
đã đánh giá diện tích rừng ngập mặn trên thế giới là 15.429.000 ha, trong đó6.246.000 ha nằm ở vùng châu á và châu Đại dơng, 5.781.000 ha nằm ởvùng châu Mỹ nhiệt đới và 3.402.000 ha thuộc châu Phi Tuy nhiên, theo mộtcông bố khác của Field (1996) thì có sự sai khác khá lớn Theo Saenger vàcộng sự (1983) (dẫn theo Nguyễn Hoàng Trí, 1999[14]) cho rằng các hệ sinhthái rừng ngập mặn hết sức đa dạng về mặt thành phần loài thực vật cấu trúcrừng và tỷ lệ tăng trởng với hơn 80 loài thực vật thuộc 30 chi của hơn 20 họ.Trong tổng số các loài trên có 59 loài cây ngập mặn chính thức và 21 loài gianhập
Wash (1974) (dẫn theo Phan Nguyên Hồng, 1999[3]) cho rằng sựphân bố địa lý của rừng ngập mặn trên thế giới làm hai khu vực chính là khuvực ấn Độ - Thái Bình Dơng và khu vực ấn Độ - Malaisia
Đã có nhiều nghiên cứu về sự phân vùng của rừng ngập mặn, Macnae(1966) và Snedaker (1982) cũng đã đề cập đến vấn đề phân vùng của rừngngập mặn đã nêu ra những bằng chứng về tác động điều kiện của địa mạo lênkiểu thực vật (dẫn theo Nguyễn Hoàng Trí, 1999[14])
4
Trang 5Trong một loạt các thí nghiệm trên thực địa ở Panama, Rabinowitz(1975) (dẫn theo Nguyễn Hoàng Trí, 1999[14]) cho rằng các loài cây ngậpmặn u thế ở vùng nớc triều thấp, có số lợng cây con lớn Chapmam (1977)Cho rằng nớc càng nông thoai thoải thì rừng ngập mặn mở rộng ở những nơi
bờ biển nông nhng hẹp thì rừng chỉ hình thành một giải ven bờ nớc (dẫn theoPhan Nguyên Hồng, 1999[3])
Bunt (1982) đã nghiên cứu sự phân bố của thảm thực vật rừng ngậpmặn, Specht (1970), Wright (1974), Lugo và Snedaker (1974) đã nghiên cứu
và phân loại rừng ngập mặn (dẫn theo Phan Nguyên Hồng, 1999[3]; [4]; [5])
Tomlinson (1986), Spalding và cộng sự cũng đã nghiên cứu nhiều đếnrừng ngập mặn Fisher và Spalding (1993) đã đa ra số liệu diện tích rừngngập mặn trên thế giới là 198.818 km2 (dẫn theo Nguyễn Hoàng Trí,1999[14])
Tiếp theo còn nhiều công trình nghiên cứu về thảm thực vật rừng ngậpmặn, các tổ chức IUCN, WWF, CIFCR, CARE đã tiến hành các nghiên cứunhằm hớng tới sự ổn định trong công tác bảo tồn rừng ngập mặn (dẫn theoPhan Nguyên Hồng, 1999[3])
5
Trang 62 ở Việt Nam
ở nớc ta rừng là những quần hợp thực vật đặc trng, ở những vùng venbiển nhiệt đới và cận nhiệt đới, có các đảo che chắn ở phía ngoài Chúng còn
có tên lá rừng “ Điều tra thành phầnsác”, “ Điều tra thành phầnrừng sú vẹt,” ‘rừng triều”và “ Điều tra thành phầnrừng chịu mặn” Trongnhững điều kiện môi trờng thuận lợi chúng có khả năng tái sinh tự nhiệnmạnh nhờ khả năng phát tán và cố định nhanh của trụ mầm trên mặt bùn làmthành những cánh rừng bạt ngàn, có nhiều cây gỗ to, tăng trởng nhanh Nh ởcác tỉnh ven biển thuộc lu vực sông Cửu Long và sông Đồng Nai Nhiều loàicũng thích nghi với điều kiện môi trờng làm thành các nhóm loài đặc trng đợcgọi là quần xã Một quần xã nh vậy kết hợp và tác động qua lại với môi trờngvật lý tạo thành một hệ sinh thái mang tên hệ sinh thái rừng ngập mặn Đó là
hệ sinh thái đặc trng nằm giữa đất liền và biển Ngời ta cho rằng đó là một loại
“ Điều tra thành phần Ecotone” hết sức đặc biệt (Thái Văn Trừng, 2000 [17])
Trong các hệ sinh thái rừng ngập mặn ở nớc ta,(Phan Nguyên Hồng,1999[3]; Nguyễn Hoàng Trí, 1999 [14]) đã công bố 77 loài cây ngập mặnthuộc hai nhóm đợc phân chia theo các điều kiện môi trờng và dạng sốngkhác nhau
ở Việt Nam Phan Nguyên Hồng,1999[3] là ngời đầu tiên đã đề cập
đến phân bố địa lý và diễn thế các quần xã rừng ngập mặn
Công trình nghiên cứu thảm thực vật rừng ngập mặn xuất hiện ngàycàng nhiều, đặc biệt là những công trình nghiên cứu có giá trị tập trung vàothế kỷ XIX - XX
Phan Nguyên Hồng,1999 [3] đã nghiên cứu quá trình diễn thế củarừng ngập mặn ở mũi chùa, huyện Tuyên Yên - Quảng Ninh
Nguyễn Đức Tuấn, 1994 [8] đã nghiên cứu sự tăng trởng sinh khối củaMắn, Vẹt dù, Trang và ông cho rằng nhiều nơi đã trồng các loài cây này nh-
ng cha nắm đợc quá trình sinh trởng và phát triển của chúng Phan NguyênHồng, 1997 [8], 1998, [7], 1999 [3] Đã nghiên cứu về thảm thực vật rừngngập mặn Việt Nam và ông cho rằng rừng ngập mặn là nơi nuôi dởng cho ấutrùng của một số loài thuỷ hải sản có giá trị
Nguyễn Hoàng Trí, 1999[14] cho rằng rừng ngập mặn phân bố hầu hếttrên các loại đất từ bùn sét, bùn cát và ngay cả trên các rạn san hô cổ
3 ở Hà Tĩnh.
6
Trang 7Trớc sự tàn phá do bão gây ra ở Hà Tĩnh, chính quyền địa phơng đã cốgắng nâng cấp toàn bộ hệ thống đê điều và phát động trong rừng ngập mặn
để bảo vệ đê biển Năm 1989, quỹ cứu trợ nhi đồng (SCF ) đã xây dựng đề ántrồng rừng ở huyện Thạch Hà - Hà Tĩnh, một trong những vùng nghèo nhấtcủa Việt Nam Sau giai đoạn đầu trồng 300.000 cây trên 17ha dọc đê biển ởThạch Môn, giai đoạn hai bắt đầu năm 1991 trồng tiếp 281 ha ở 9 xã Đây làmột trong những dự án trồng rừng ngập mặn đầu tiên ở các tỉnh miền trung,miền Bắc và cũng là dự án trồng rừng ngập mặn đầu tiên của NGO ở Việt Nam
Hiện nay, một trong những vấn đề đợc quan tâm là phục hồi rừng.Việc lựa chọn trồng loại cây gì, vừa có tác dụng giữ đất bảo vệ đê biển, hồ
đầm thuỷ sản, vừa có hiệu quả kinh tế cao, thích ứng tốt với điều kiện tựnhiên của địa phơng đang còn là những vấn đề khó khăn Nhiều nơi đã trồngmột số loài cây nh đâng, đợc, vẹt, trang, dừa nớc vv Nhng cha nắm đợc quátrình sinh trởng, phát triển của chúng (Nguyễn Đức Tuấn, 1994 [18])
Tổ chức OXFAM, sau khi cho đắp đê chắn sóng đã nhờ trung tâmrừng ngập mặn nghiên cứu các loại cây để trồng Cụ thể là đã trồng hơn100ha trong đó có cây Giá, cây Trang, (Lê Thị Ơm, 1994[2])
Gần đây đã có nhiều nghiên cứu về các nhân tố môi trờng tác động lênthảm thực vật, nghiên cứu trồng và phục hồi rừng ngập mặn ở Hà Tĩnh cụ thểlà:
Nghiên cứu trồng lại rừng ngập mặn ở tỉnh Hà Tĩnh, miền Trung ViệtNam Của Donald F.Macitosh và Phan Nguyên Hồng 1994 [4]
Lê Thị Trễ,1994[16] đã nghiên cứu hiện tợng học sinh sản một số loàicây ngập mặn nh Đớc vòi, và Trang đợc trồng ở xã Thạch Môn, và Hộ Độ -Thạch Hà - Hà Tĩnh
Mai Sỹ Tuấn, 1994 [19]; [20] Cũng đã nghiên cứu ảnh hởng của độmặn và trọng lợng quả tới tỷ lệ nảy mầm, phát triển cây con của Mắm biển(Avicennia mariana), ảnh hởng của nồng độ muối trong môi trờng dinh dởng
tới tỷ lệ tiết muối và khả năng sinh trởng của Avicennia mariana.
Nguyễn Đức Tuấn, 1994 [18] cũng đã nghiên cứu sự tăng trởng vàsinh khối của 3 loài cây ngập mặn đó là Đớc vòi, Trang, Vẹt dù ở Thạch Hà
- Hà Tĩnh
Nguyễn Hoàng Trí, 1999[14], [15] cũng đã nghiên cứu kỷ thuật trồngrừng ngập mặn chắn sóng bảo vệ đê biển ở Kỳ Anh - Hà Tĩnh
7
Trang 8Nh vậy cho đến nay việc nghiên cứu thảm thực vật rừng ngập mặn vàcác nhân tố môi trờng tác động đến chúng ở Hà Tĩnh còn rất ít, mặc dùnhững nghiên cứu theo hớng này chắc chắn sẽ giúp ích cho việc hiểu biết vềcông tác phục hồi, phát triển, mở rộng, sử dụng và quản lý một sinh thái hếtsức đặc biệt này.
8
Trang 9Chơng II Nội dung và phơng pháp nghiên cứu
2 1 Nội dung nghiên cứu.
- Điều tra thành phần loài của thảm thực vật rừng ngập mặn, trên cơ sở đó lậpdanh lục các loại thực vật tại địa điểm nghiên cứu
So sánh độ đa dạng thành phần loài của thực vật ở xã Xuân Hội và Hộ
- Giấy ép mẫu: Báo khổ 28 x 24 cm
- Giấy khâu mẫu: Croki
2.2.2 Phơng pháp thu mẫu ngoài thực địa
Theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997 [13] để thu mẫu một cách đầy đủ và
đại diện cần chọn tuyến và điểm nghiên cứu
Các tuyến đợc chọn đi qua các điều kiện sinh thái khác nhau, đi xuyênqua các môi trờng sống của khu nghiên cứu và thu mẫu theo các tuyến mình
đã đi qua
2.2.2.1 Nguyên tắc thu mẫu.
- Mỗi mẫu phải có đủ các bộ phận nhất là cành, lá cùng với hoa quả (với câylớn) Thu cả cây đối với cây thảo, dơng xỉ
- Mỗi cây lớn thu ít nhất từ 3 mẫu trở lên
9
Trang 10- Các mẫu thu trên cùng một cây thì đánh cùng một số hiệu, thu đợt nào đánh
- Xếp lại và dùng cặp mắt cáo buộc chặt
- Các bó mẫu đợc phơi nắng hoặc đem sấy trên bếp than, thay báo 2 - 3 lần /ngày cho đến khi khô
2.3 Phơng pháp xác định tên.
Sử dụng chủ yếu phơng pháp hình thái so sánh
2.3.1 Sơ bộ xác định nhanh họ và chi ngoài thiên nhiên.
Dựa vào những đặc điểm hình thái cơ quan sinh dỡng (Rễ, thân, lá) vàcơ quan sinh sản (hoa, quả) kết hợp với các tài liệu: Cẩm nang nghiên cứu đadạng sinh vật của Nguyễn Nghĩa Thìn [13]
2.3.2 Phân tích mẫu và xác định tên khoa học.
- Phân tích mẫu: dựa vào các đặc điểm về lá, thân, hoa, quả
- Giám định loài: chúng tôi sử dụng tài liệu của Phạm Hoàng Hộ kết hợp tàiliệu "Cây cỏ thờng thấy ở Việt Nam" Lê Khả Kế chủ biên
2.3.3 Lập bảng danh lục các loài.
Danh lục các loài đợc sắp xếp theo hệ thống của Brummitt, Phạm Hoàng Hộ,
Lê Khả Kế
2.3.4 Lên tiêu bản.
Giấy để khâu mẫu là loại giấy bìa trắng Croki có kích thớc chuẩn bằng
42 x 29 Khâu mẫu trực tiếp vào giấy (gắn và khâu cả các bộ phận hoa, quả,lá…mà còn là nơi sống và )
+ Góc dới bên phải của tờ giấy khâu gắn nhẵn cố định (8 x 12 cm).+ Phủ lên mẫu 1 tờ giấy khác hoặc bao nilon để bảo quản mẫu
2.4 Phơng pháp xác định các yếu tố sinh thái
10
Trang 11- Để xác định độ mặn của nớc chúng tôi sử dụng khúc xạ kế càm tay,thớc chia độ, ống đong 100ml.
- Để xác định loại nền đáy chúng tôi đã sử dụng phơng pháp sa lắng cơhọc
11
Trang 12chơng III kết quả nghiên cứu và biện luận3.1 Sơ lợc điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu.
3.1.1 Địa lý.
Hà Tĩnh có hơn 260km đê bảo vệ cho ba hệ thống cửa sông lớn, trong
đó lớn nhất là ở Thạch Hà ở phía bắc Hai hệ thống cữa sông là Cẩm Xuyên(vùng trung tâm) và Kỳ Anh ở phía nam Mỗi hệ cửa sông đợc hình thành từ
3 con sông (hay nhiều hơn), điều đó giải thích tại sao ở đây thờng hay bịngập lụt
Hà Tĩnh nằm ở phía bắc Trung Bộ của Việt Nam, từ vĩ độ 17057' đến
18016' Bắc, kinh độ 105007' đến 106030' Đông, thuộc miền nhiệt đới củabắc bán cầu, lng tựa vào dãy Trờng Sơn và ngoảnh mặt ra phía đông Cònhuyện Thạch Hà là huyện ở giữa tỉnh, phía bắc giáp Can Lộc, phía nam giáphuyện Cẩm Xuyên, phía tây giáp dãy Trờng Sơn và một phần của huyện H-
ơng Khê, phía đông giáp Biển Đông
ở huyện Nghi Xuân, phía đông giáp Biển Đông, phía nam giáphuyện Can Lộc, phía bắc giáp Nghệ An (Lê Thị Trễ, 1994 [16])
3.1.2 Khí hậu.
ở Hà Tĩnh, nhiệt độ trung bình nằm vào khoảng 2308, biên độ nhiệtxấp xỉ là 120C, riêng ở Thạch Hà nhiệt độ thờng từ 24 đến 360C, nhiệt độthấp nhất là 110 C, ở đây biên nhiệt độ rất cao (Lê Thị Trễ, 1994 [16]), ở đâymùa đông ngắn và ấm hơn các tỉnh phía bắc, mùa hè đến sớm hơn và kếtthức muộn hơn, mùa ma đến muộn và kết thúc muộn Mùa không điển hình
do lợng ma trong mùa này vẫn lớn hơn nhiều so với các nơi khác (Nguyễn
ới 70% (Lê Thị Trễ, 1994 [16] Nguyễn Đức Tuấn, 1994 [18])
12
Trang 13ở Nghi Xuân về điều kiện khí hậu cũng tơng tự ở huyện Thạch Hà, ở
Hà Tĩnh thờng có các đợt gió mùa đông(kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4) vàgió Tây nam trong mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 10)
Vùng ven biển Hà Tĩnh thuộc về chế độ nhật triều không đều, biên độtriều khoảng 117 cm, trung bình một chu kỳ triều thờng từ 10 đến 15 ngày
Do tính chất nhật triều không đều, nên sự chênh lệch về thời gian triều dâng
và thời gian triều rút càng rõ rệt Đặc biệt ở các thời gian triều rút dài khoảnggấp rỡi thời gian triều dâng, ở huyện Thạch Hà có sông Rào Cái chảy qua và
đổ ra biển ở cửa Sót Đây là một sông ngắn (69 km) và với thợng lu bị chắnthành hồ Kẻ Gỗ nên trầm tích lắng đọng lại ở hồ nhiều, nớc chảy ra biển ítphù sa Các bãi bồi ven biển và sông có độ dày 20-25 cm, có độ mặn n ớc th-ờng từ 16 - 250/00 ở huyện Nghi Xuân có sông Lam chảy qua, có độ mặn n-
ớc từ 6 - 150/00.
3.1.3 Đất.
ở Hà Tĩnh, hầu hết đất ven đê là đất bùn đen, có độ pH thờng từ 6,0 6,5 Độ mặn thờng biến động theo mùa và theo quy luật chung với chế độthuỷ triều, ở Thạch Hà chế độ mặn thờng từ 6,0 - 7,0, ở huyện Nghi Xuân có
trung ở ngành hạt kín (Magnoliophyta) với 34 họ,80 chi,93 loài (Bảng 1,
Bảng 2)
Thảm thực vật ở đây gồm 11 loài chịu mặn thật sự trong đó ở xã Hộ
Độ bắt gặp 10 loài (chiếm 90,9 0/0) Bao gồm: Ôrô gai, Ôrô to, Quả nổ, Sambiển, Mắm quăn, Sú, Ráng dại, Vẹt dù, Trang, Đớc vòi ở xã Xuân Hội bắtgặp 5 loài (chiếm 45,5 %) Bao gồm: Ôrô gai, Ôrô to, Sú, Ráng dại và Bầnchua Nguyên nhân chủ yêú dẫn đến sự phân bố này là do sự tác động của các
13
Trang 14nhân tố mối trờng, những nhân tố này đợc xem nh những nhân tố quyết định
đầu tiên đến tăng trởng và phát triển của thực vật
Bảng 2: Số lợng họ, chi, loài thuộc hai lớp ngành hạt kín
họ, chi, và loài của ngành Còn lớp 1 lá mầm có số lợng ít hơn, chỉ có 3 họ(chiếm 8,8%), 16 chi (chiếm 20%) và 19 loài (chiếm 20,4%) (Bảng 2)
14