1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra thành phần loài cây có giá trị cầm máu tại một số địa bàn trong tỉnh nghệ an

47 586 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều tra thành phần loài cây có giá trị cầm máu tại một số địa bàn trong tỉnh Nghệ An
Người hướng dẫn PGS.TS Ngô Trực Nhã
Trường học Đại học Vinh
Chuyên ngành Sinh học
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 568 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sở Y Tế Nghệ An đã phối hợp vớiViện dợc liệu Trung ơng qua nhiều đợt điều tra cây thuốc trên địa bàn các huyệntrong tỉnh đã công bố rất nhiều cây thuốc và bài thuốc có ý nghĩa rất lớn tr

Trang 1

Lời cảm ơn

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

- PGS.TS Ngô Trực Nhã đã gia đề tài, tận tình hớng dẫn và tạo mọi điềukiện thuận lợi nhất cho việc nghiên cứu và hoàn thành luận văn

- TS Phạm Hồng Ban, TS Hoàng Văn Mại đã đóng góp nhiều ý kiến quýbáu trong quá trình làm luận văn

- Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học, các thầy côgiáo thuộc khoa Sinh học trờng Đại học Vinh, cùng Ban lãnh đạo, các cán bộ kỹthuật viên Trung tâm kiểm nghiệm Dợc phẩm – Mỹ Phẩm Nghệ An đã giúp đỡ

và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu

Tôi cũng xin đợc cảm ơn những ngời thân trong gia đình, bạn bè cùng cácanh chị học viên cao học đã động viên, giúp đỡ,tạo điều kiện thuận lợi để tôihoàn thành luận văn này

Trang 2

truyền Y học cổ truyền phát triển dựa vào nguồn tài nguyên cây thuốc trong tựnhiên.

Theo thống kê của tổ chức y học thế giới (WHO) thì đến năm 1985 đã có gần20.000 loài thực vật (trong tổng số 250.000 loài đã biết) đợc sử dụng làm thuốchoặc cung cấp các chế phẩm để chế biến thành thuốc Trong đó ấn Độ có khoảng

6000 loài, Trung Quốc 5000 loài, vùng nhiệt đới Châu Mỹ hơn 1900 loài thực vật

có hoa dùng làm thuốc

ở Việt Nam với 54 dân tộc anh em sống trải dài trên khắp miến rừng núi cao

Đã từ lâu đồng bào các dân tộc miền núi nớc ta đều sống nhờ vào rừng, họ khaithác lơng thực, thực phẩm, rau ăn, nớc uống, vật liệu xây dựng, và đặc biệt làthuốc chữa bệnh từ cây cỏ trong rừng ở các vùng sâu, vùng xa thì việc sử dụngcác cây thuốc để chống chọi với bệnh tật là chủ yếu

Từ đời này qua đời khác, những kinh nghiệm sử dụng cây cỏ chữa bệnh ấyhình thành nên các bài thuốc đợc lu truyền trong dân gian Những kinh nghiệm

ấy tập trung ở ngời già Từ đó hình thành nên các bài thuốc cổ truyền với mục

đích chữa trị nhiều bệnh khác nhau Xã hội càng phát triển, môi trờng càng bị ônhiễm, nhiều bệnh tật mới xuất hiện, thuốc tây dần dần bị bất lực nhng nhữngcây thuốc và bài thuốc cổ truyền lại chữa trị một cách có hiệu quả nên việc sửdụng các bài thuốc cổ truyền từ cây cỏ để chữa bệnh đang đợc nhiều nớc trên thếgiới chú ý Ngời ta đầu t kinh phí thu mẫu cây thuốc, nghiên cứu hoạt chất hóahọc của chúng và chế biến thành dợc thảo đặc trị

Việc su tầm cây thuốc và bài thuốc cổ truyền hiện nay đã đợc nhiều nhà khoahọc chú ý và chuyên tâm nghiên cứu nh GS- TS Đỗ Tất Lợi, TS Võ Văn Chi đã

có rất nhiều công trình đợc công bố trong và ngoài nớc ở Nghệ An việc su tầmnghiên cứu cây thuốc cũng đợc chú ý từ lâu Sở Y Tế Nghệ An đã phối hợp vớiViện dợc liệu Trung ơng qua nhiều đợt điều tra cây thuốc trên địa bàn các huyệntrong tỉnh đã công bố rất nhiều cây thuốc và bài thuốc có ý nghĩa rất lớn trongviệc phòng và chữa bệnh cho nhân dân trong tỉnh

ở khoa Sinh học, Đại học Vinh việc điều tra nghiên cứu cây thuốc và bàithuốc cũng đã tiến hành rất sớm trong các đợt thực tập thiên nhiên, và đã cónhiều đề tài của cán bộ, sinh viên và học viên cao học viết về đề tài này nh : Năm

1996, Ths Tô Vơng Phúc với đề tài “Điều tra cây thuốc và kinh nghiêm sử dụng

Trang 3

chúng của đồng bào Thái xã Yên Khê huyện Con Cuông”; Bùi Hồng Hải, LơngHoài Nam (2004) nghiên cứu về cây thuốc vùng Tây Bắc Nghệ An đã góp phần

su tập đợc nhiều cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng thuốc của các dân tộc miềnnúi Nghệ An

Trong số rất nhiều cây thuốc với nhiều tác dụng khác nhau nh cây cầm máu,chữa cảm sốt, chữa đau bụng thì cây thuốc có tác dụng cầm máu chiếm mộtphần không nhỏ trong tự nhiên Tuy nhiên việc nghiên cứu về cây thuốc có tácdụng cầm máu thì cha đợc tiến hành một cách có hệ thống và việc điều tra cácloài cây có tác dụng cầm máu còn hạn chế vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu

đề tài Điều tra thành phần loài cây có giá trị cầm máu tại một số địa bàn

trong tỉnh Nghệ An”

Chơng ILịch sử nghiên cứu cây thuốc

1.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nớc trên thế giới

Từ khi xuất hiện loài ngời, để tồn tại con ngời đã phải sử dụng các cây cỏphục vụ cho cuộc sống của mình (tìm nguồn thức ăn, cây làm nhà, chữa bệnh…))

và qua nhiều thế hệ cây cỏ đợc sử dụng hành ngày và kinh nghiệm dùng câythuốc để chữa bệnh đợc phổ biến rộng rãi Nhân dân ta đã biết sử dụng cây cỏlàm thuốc từ rất lâu trong sự phát triển của dân tộc và đã tạo nên nền Y học cổtruyền riêng

ở nhiều nớc trên thế giới, việc dùng cây cỏ làm thuốc cũng xuất hiện từnhiều thế kỷ trớc Lịch sử y học Trung Quốc, ấn Độ ghi nhận về việc sử dụng cáccây cỏ làm thuốc có cách đây 3000 – 5000 năm Vào đầu thế kỷ thứ II TrungQuốc, họ đã biết dùng thuốc là các loài cây cỏ để chữa bệnh nh: Sử dụng nớc chè

(Thea sinensi L.) đặc để rửa vết thơng và tắm ghẻ [theo 41, 48] còn theo Fujiki

(Nhật Bản) cùng các nhà khoa học ở Viện hàn lâm Hoàng Gia Anh thì Chè xanh

Trang 4

(Thea sinensis L.) còn ngăn chặn sự phát triển các loại ung th gan, dạ dày nhờ chất Gallat epigallocatechine Hoặc dùng rễ cây cốt khí củ (Polygonum cuspidatum Sieb et Zucc), vỏ rễ cây táo tàu (Zizy phusjujuba Miller)…) để chữavết thơng, mà ngày nay khoa học đã chứng minh là trong chúng có tanin ThầnNông là ngời đã su tầm và ghi chép nên 365 vị thuốc đông y trong cuốn sách

“Mục lục thuốc thảo mộc” Từ thời cổ xa các chiến binh La Mã đã biết dùng dịch cây Lô hội (Aloe barbadensis Mill) để rửa vết thơng, vết loét,…) chóng lành sẹo[theo 33,41] mà ngày nay khoa học đã chứng minh là dịch cây có tác dụng liềnsẹo thông qua khả năng kích thích tổ chức hạt và tăng nhanh quá trình biểu mô

hóa [theo 38,58,59] ở nớc Nga, Đức, Trung Quốc đã dùng cây Mã đề (Plan tago major L.) sắc hoặc giã lá tơi đắp chữa trị vết thơng, viêm tiết niệu, sỏi thận [theo

64,68,69] Cũng đã từ lâu ngời Hai Ti hay ở nớc Dominíc (Trung Mỹ) thờng

dùng cây cỏ Lào (Eupatorium odoratum L.) để làm thuốc chữa các vết thơng bị

nhiễm khuẩn hay cầm máu, áp xe, nhức răng, vết loét lâu ngày không liền sẹo…)[theo 53,54]

Y học dân tộc Bungari “Đất nớc của hoa hồng” đã coi Hoa hồng là một vịthuốc chữa đợc nhiều bệnh, ngời ta đã dùng cả hoa, lá, rễ, làm thuốc tan huyết ứ

và bệnh phù thũng Ngày nay ngời ta đã chứng minh rằng trong cánh hoa hồng cóchứa một lợng tanin, glucosid, tinh dầu đáng kể Tinh dầu này không chỉ để chếnớc hoa mà còn đợc dùng để chữa nhiều bệnh Nhân dân ấn Độ dùng lá cây Ba

ché (Desmodium triangulare Retz Merr.) sao vàng sắc đặc để chữa kiết lỵ và

tiêu chảy Có những loài cây mọc hoang mà nơi nào cũng sẵn nh cây Bồ cu vẽ

(Breynia fruticosa (L.) Hook f.) đồng bào Philipin dùng vỏ cây sắc làm thuốc

cầm máu, hoặc tán bột rắc lên mụn nhọt, vét lở loét làm chúng chóng khỏi [theo

32] ở Malaixia cây Húng chanh (Coleus amboinicus Lour.) dùng là sắc cho phụ

nữ sau khi đẻ uống hoặc lấy lá giã nhỏ vắt nớc cốt cho trẻ uống trị sổ mũi, đauhọng, ho gà…) ở Cămpuchia, Malaixia, dùng toàn cây hơng nhu tía (Ocimun sanctum L.) rễ trị đau bụng, sốt rét, nớc lá tơi trị họng đờm hoặc lá giã nát đắp trị

bệnh ngoài da, khớp [15,16,34,35]

Ngải cứu (Artemisia vulgaris L.) đợc dùng trị thổ huyết, trực tràng xuất

huyết, tử cung xuất huyết, đau bụng, bế kinh, phụ nữ có mang bị động thai kiêmtác dụng cờng tráng, trị chứng xuất huyết thuộc hàn và h [37,38] Tỏi đợc dùng

Trang 5

để chống bệnh đau óc, xơ động mạch, huyết áp cao, ung th, viêm đờng ruột,…)

Lá của cây Psychotria rubra Lour Poit đợc phụ nữ Philippin dùng chữa bệnh

kinh nguyệt không đều, lá và hoa chữa ho, giun, giúp tiêu hoá tốt Galien đã xem

tỏi (Allium sativum L.) là một thuốc chữa bệnh của ngời nông thôn có tác dụng

lợi tiểu, trị giun, giải độc, chữa hen xuyễn, vàng da, đau răng và các bệnh về da[30,34]

Cùng với phơng thức chữa bệnh theo kinh nghiệm y học cổ truyền, các nhàkhoa học trên thế giới còn đi sâu tìm hiểu nghiên cứu cơ chế và các hợp chất hoáhọc trong cây cỏ có tác dụng chữa bệnh, đã công nhận rằng hầu hết cây cỏ đều

có tính kháng sinh đó là một trong các yếu tố miễn dịch tự nhiên Tác dụngkháng khuẩn là do các hợp chất tự nhiên hay gặp nh: các chất phenolic,antoxyan, các dẫn chất quinon, alcaloid, heterosid, flavonoid, saponin…)[30,43].Theo Anon (1982) trong vòng gần hai trăm năm trở lại đây, ít nhất đã có 121 hợpchất hoá học tự nhiên đã năm đợc cấu trúc, mà đợc chiết từ cây cỏ với mục đíchlàm thuốc hoặc từ đó tổng hợp nên các loại thuốc chữa trị có hiệu quả Nh từ cây

Aloe vera L Theo Gotthall (1950) đã phân lập đợc chất Glycosid barbalion có tác

dụng với vi khuẩn lao ngời và tác dụng với Baccilus subtilic Lucas và Lewis

(1944) đã chiết từ kim ngân (Lonicera sp.) một hoạt chất có tác dụng với các loài

vi khuẩn gây bênh tả lị, mụn nhọt [theo 43,44] Ngời ta cũng đã chiết đợc

becberin từ cây Hoàng kiên (Coptis chinensis Franch.) Theo Gilliver (1946) thì

becberin có tác dụng chữa bệnh đờng ruột và kiềm chế một số vi khuẩn làm hại

cây cối Trong lá và rễ (Allium odorum L.) có các hợp chất Sulfua, saponin và

chất đắng Năm 1948 Shen - Chi - Shen phân lập đợc một hoạt chất Odorin có tácdụng ít độc với động vật cao cấp, nhng lại có tác dụng kháng khuẩn [theo

44].Trong nhiều loài ba gạc (Rauwolfia sp.) chiết đợc chất Resecpin, Serpentin

làm thuốc hạ huyết áp Chất Vinblastin, Vinblastin đợc chiết xuất từ cây dừa cạn

(catharanthus roseus (L.) Gdon.) vừa có tác dụng hạ huyết áp vừa làm thuốc

chống ung th máu Hoặc Strophantin đợc chiết xuất từ các loài sừng dê

(Strophanthus sp.) dùng làm thuốc trợ tim đã nhiều thập kỷ nay Vài chục năm

gần đây, ứng dụng các thành tựu nghiên cứu cấu trúc, hoạt tính của các hợp chấthoá học tự nhiên, bằng con đờng tổng hợp hoặc bán tổng hợp hoá học, một sốloại thuốc hiện đại có hiệu quả chữa bệnh cao lần lợt ra đời [41,52]

Trang 6

Gần đây theo thống kê của tổ chức Y học thế giới (WHO) thì đến năm

1985 đã có gần 20.000 loài thực vật (trong tổng số 250.000 loài đã biết) sử dụnglàm thuốc cung cấp các hoạt chế để biến thuốc Trong đó ở ấn Độ có khoảng6.000 loài, Trung Quốc 5.000 loài ; vùng nhiệt đới Châu Mỹ hơn 1.900 loài thựcvật có hoa Theo số liệu của WHO thì mức độ sử dụng thuốc ngày càng cao ởTrung Quốc tiêu thụ hàng năm hết 700.000 tấn dợc liệu, sản phẩm thuốc Y họcdân tộc đạt giá trị hơn 1,7 tỉ USD vào năm 1986 Tổng giá trị về thuốc có nguồngốc thực vật trên thị trờng Âu – Mỹ và Nhật Bản vào năm 1985 là hơn 43 tỉUSD Tại các nớc có nền công nghiệp phát triển từ năm 1976 – 1980 đã tăng từ

335 triệu USD lên 551 triệu USD Còn ở Nhật Bản năm 1979 nhập 21.000 tấn,

đến năm 1980 tăng lên 22.640 tấn dợc liệu tơng đơng 50 triệu USD Điều nàychứng tỏ rằng ở các nớc công nghiệp phát triển cây thuốc phục vụ cho nền y học

cổ truyền cũng phát triển mạnh Cây thuốc là loại cây kinh tế , nó cung cấp nhiềuloại thuốc dân tộc và thuốc hiện đại trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ conngời (theo tuyên ngôn Chiang Mai, 1988)

Trên thế giới có rất nhiều loại cây thuốc qúy hiếm nhng do con ngời khaithác quá bừa bãi cho nên rất dễ trở thành tuyệt chủng Theo Raven (1987) và OleHarmann (1988) trong vòng hơn trăm năm trở lại đây, có khoảng 1000 loài thựcvật đã bị tuyệt chủng, có tới 600.000 loài có thể bị gặp rủi ro hoặc sự tồn tại củachúng là mỏng manh vào giữa thế kỷ tới, nếu chiều hớng đe doạ này vẫn tiếpdiễn Trong số những loài thực vật đã bị mất đi hoặc đe doạ gay gắt, đơng nhiên

có nhiều loài cây thuốc Do khai thác liên tục của con ngời làm triệt cả nguồngen nên đã lâm vào tình trạng bị nguy hiểm, làm mất cân bằng sinh thái[2,12,14] Vì vậy, song song với các nghiên cứu về sử dụng cây thuốc đó cũngcần đợc đặt ra Tại Hội nghị Quốc tế và bảo tồn quỹ gen cây thuốc họp từ ngày

21 đến 27 tháng 3 năm 1983 tại Chieng Mai- Thái Lan, hàng loạt các công trìnhnghiên cứu về tính đa dạng và việc bảo tồn cây thuốc đợc đặt ra khẩn thiết

Hớng tới thế kỷ XXI, để phục vụ cho mục đích sức khoẻ con ngời, cho sự

h-ng thịnh của nớc nhà và sự phát triển khôh-ng h-ngừh-ng của xã hội, để chốh-ng lại cácbệnh nan y, thì sự cần thiết là phải kết hợp giữa Đông – Tây y, giữa Y học hiện

đại và cổ truyền

1.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam.

Trang 7

Đã lâu đời đến nền y học cổ truyền của Việt Nam đã có nhiều bài thuốc,cây thuốc đợc áp dụng chữa bệnh trong có hiệu quả Qua kinh nghiệm dân gian

đã dần đúc lại và xuất bản thành những cuốn sách có giá trị và và lu truyền rộngrãi trong nhân dân ta

Thời vua Hùng Vơng dựng nớc (2900 năm TCN) qua các văn tự Hán Nômcòn sót lại (Đại Việt sử ký ngoại ký, Lĩnh Nam Chích Quái liệt truyện, Long uy

bí th…)) và qua các truyền thuyết chứng tỏ tổ tiên ta đã biết dùng cây cỏ làmthuốc chữa bệnh [theo 13,37,39,41] Theo Long Uý chép lại vào đầu thế kỷ II

TCN có hàng trăm vị thuốc từ đất Giao chỉ (Việt Nam) nh: ý dĩ (Coix lachrymajobi L.), Hoắc hơng (Pogostemon cablin (Blanco) Benth.)…) ợc ngời đTàu đa về nớc để giới thiệu sử dụng [theo 41]

Cùng với sự tiến hoá của lịch sử, nền Y học cổ truyền Việt Nam cũng dần dầnphát triển, gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của các danh Y nổi tiếng đơng thời

Đời nhà Lý (1020- 1224) nhà s Nguyễn Minh Công tức Nguyễn Chí Thành

đã dùng nhiều cây cỏ chữa bệnh cho dân và cho nhà Vua, nên đợc tấn phong

“Quốc s” Triều Lý

Đời nhà Trần (1225 – 1399) có sự kiện, Phạm Ngũ Lão thừa lệnh Hng

Đạo Vơng – Trần Quốc Tuấn xây dựng một vờn thuốc lớn dùng cây thuốc đểchữa bệnh cho quân sỹ, trên núi gọn là “Sơn Dợc” hiện vẫn còn di tích để lại tạimột quả đồi thuộc xã Hng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Hng Chu Tiên biên

soạn cuốn sách “Bản thảo cơng mục toàn yến” là cuốn sách thuốc đầu tiên xuất

bản năm 1429 Có hai Danh y nổi tiếng cùng thời đó là Phạm Công Bân (vào thế

kỷ XIII) và ngời thầy thuốc nổi tiếng là Tuệ Tĩnh, tên thực là Nguyễn Bá Tĩnh

(vào thế kỷ XIV) Ông biên soạn bộ “Nam dợc Thần hiệu” gồm 11 quyển với

496 vị thuốc nam, trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc thực vật và 3932 phơngthuốc đơn giản để trị 184 chứng bệnh của 10 khoa lâm sàng Ông còn viết cuốn

Hồng nghĩa giác t

y th” gồm hai Hán Nôm phú, tóm tắt công dụng của 130 loài

cây thuốc cùng 13 đơn thuốc và cách trị cho 37 chứng sốt khác nhau Ông đãkhẳng định vai trò của thuốc nam trong đời sống Trong “Nam dợc Thần Hiệu”

có ghi: Tô mộc (Caesalpinia sappan L.), vị mặn, tính bình không độc, trừ huyết xấu, trị đau bụng thơng phong, sng lở [69] Sử quân tử (Quisqualis indica L.) có

vị ngọt, tính ôn, không độc vào hai kinh tỳ và vị, chữa 5 chứng cam trẻ em, tiểu

Trang 8

tiện, sát khuẩn, chữa tả lị, còn làm thuốc mạnh tỳ vị, chữa hết thẩy các chứng lở

ngứa của trẻ em [63], Sầu đâu rừng (Brucea javanica (L.) Merr.) vị đắng, tính

hàn, có độc, sát trùng, trị đau ruột non nhiệt trong bàng quang, điên cuồng và ghẻ

lở Cây lá móng (Lawsonia inermis L.) chữa hắc lào, lở loét ngoài da, tê mỏi, viêm đờng hô hấp, gan Bạc hà (Mentha arvensia L.) chữa sốt, nhức đầu [68]

Tuệ Tĩnh đ

…) ợc coi là một bậc Danh y kỳ tài trong lịch sử Y học nớc ta , là “Vịthánh thuốc nam” Ông chủ trơng lấy” Nam dợc trị nam nhân” Trong bộ sáchquý của ông về sau bị quân minh thu gần hết nay chỉ còn lại: [69]

- “Nam dợc thần hiệu”

- “Tuệ Tĩnh y th”

- “Phơng tam gia giảm”

- “Thơng hàn tam thập thất trùng pháp”

Sau Tuệ Tĩnh một thời gian không thấy xuất hiện tác giả nào mãi đến thời

Lê Dụ Tông xuất hiện Hải Thợng Lãn Ông - tên thực là Lê Hữu Trác (1721 –1792) Ông là ngời am hiểu nhiều về y học, sinh lý học, sinh lý học, học nhiềusách thuốc Trong 10 năm khổ cùng tìm tòi nghiên cứu, ông viết bộ “Lãn Ôngtâm lĩnh” hay “Y tôn tâm lĩnh” gồm 66 quyển đề cập tới nhiều vấn đề y dợc Nh

“Y huấn cách ngôn”, “Y lý thân nhân”, “Lý ngôn phụ chính”, “Y nghiệp thần

ch-ơng” xuất bản năm 1772 Trong bộ sách này ngoài sự kế thừa “Nam dợc Thầnhiệu” của Tuệ Tĩnh ông còn bổ sung thêm 329 vị thuốc mới Trong quyển “Lĩnhnam bản thảo” Ông đã tổng hợp đợc 2854 bài thuốc chữa bệnh bằng kinhnghiệm dân gian Mặt khác ông mở trờng đào tạo y sinh, truyền bá t tởng vàhiểu biết của mình về y học Do vậy Lãn Ông đợc mệnh danh là ông tổ sáng lập

ra nghề thuốc Việt Nam [64]

Cùng thời với Hải Thợng Lãn Ông còn có hai trọng nguyên là Nguyễn Nho

và Ngô Văn Tĩnh đã biên soạn bộ Vạn Phơng tập nghiêm” gồm 8 quyển xuất

bản năm 1763 [theo 39]

Vào thời kỳ Tây Sơn và nhà Nguyễn (1788 – 1883) có tập “Nam dợc”

“Nam dợc chỉ danh truyền”, “La Khê phơng dợc”…) của Nguyễn Quang Tuân ghichép 500 vị thuốc nam trong dân gian dùng để chữa bệnh [theo 41] hoặc quyển

“Nam dợc tập nghiệm quốc âm” của Nguyễn Quang Lợng viết về các bài thuốc nam đơn giản thờng dùng [theo 37] hay trong “Ng tiều vấn đáp y thuật ” của

Trang 9

Nguyễn Đình Chiểu [theo 37,38], “Nam Thiên Đức Bảo toàn th” của Lê Đức

Huệ gồm 511 vị thuốc nam và bệnh học [theo 34,37] Đến 1858 Trần NguyênTây Phơng đã kể tên và mô tả công dụng của trên 100 loài cây thuốc trong cuốn

“Nam bang thảo mộc [theo39]

Trong thời kỳ 1884 – 1945, thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân,loại Y học dân tộc nớc ta ra khỏi chính sách bảo hộ, việc nghiên cứu cây thuốcgặp nhiều khó khăn, tuy nhiên có một số nhà thực vật học, dợc học ngời Phápnghiên cứu nhng với mục đích chính là khai thác tài nguyên Điển hình là các

nhà dợc học nổi tiếng của Paris nh: Crevost; petelot; đã xuất bản bộ “Catalogue desproduits del zndochine’zndochine ” (1928 – 1935) trong đó ở tập V(Produits me dicinaux, 1928) đã mô tả 368 cây thuốc là các loài thực vật có hoa Đến năm

1952 Petelot bổ sung và xây dựng thành bộ “Les plantes m edicinales du’zndochine

cambodge, du laos et du Việt Nam” gồm 4 tập đã thống kê 1482 vụ thuốc thảo

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân pháp, với phơng châm của Đảng

đề ra tự lực cánh sinh, tự cung tự cấp, ngành y tế đã cha đợc thuốc nam vào pháthuy vai trò to lớn của nó xây dựng nên “Toa căn bản”, nêu các phơng pháp chữabệnh bằng 10 vị thuốc thông thờng [9,10,16,17]

Từ ngày hoà bình lập lại ở Miền Bắc và giải phóng miền Nam, thống nhất

đất nớc Đảng và nhà nớc ta đã có nhiều nỗ lực, quan tâm đến công tác điều tranghiên cứu nguồn cây thuốc ở Việt Nam, phục vụ cho vấn đề sức khỏe toàn dân.Ngày 27 tháng 2 năm 1955, trong th của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Hội nghị ngành

y tế Ngời đã đề ra đờng lối xây dựng nền y học Việt Nam khoa học, dân tộc và đạichúng, dựa trên sự kết hợp giữa y học cổ truyền của dân tộc với Y học hiện đại Bộ

Y tế cũng tạo điều kiện cho đông Y phát triển, nên việc nghiên cứu thuốc nam đợcxúc tiến mạnh mẽ Nhà nớc đã tổ chức mạng lới y học từ Trung ơng đến địa phơng,

Trang 10

thành lập viện y học dân tộc để đào tạo y, bác sỹ, các bệnh viện y học dân tộc, hội

đông y …) cho su tầm các nguồn tài liệu về thuốc nam, tổ chức điều tra, phân loạitìm hiểu dợc tính, thành phần hoá học lập bản đồ dợc liệu trong cả nớc và sản xuấtcác loại thuốc từ nguồn cây cỏ trong thiên nhiên Vấn đề này đã đợc GS – TS ĐỗTất Lợi dày công nghiên cứu trong nhiều năm và đã đợc xuất bản nhiều tài liệutrong việc sử dụng của đồng bào dân tộc về vấn đề cây con dùng làm thuốc Đáng

chú ý nhất là năm 1957 đã biên soạn bộ “Dợc liệu học và các vị thuốc Việt Nam”

gồm 3 tập Năm 1961 tái bản in thành 2 tập Trong đó tác giả đã mô tả nêu côngdụng của hơn 100 cây thuốc nam [55] và [theo 64]

Từ 1962 – 1965 Đỗ Tất Lợi lại cho xuất bản bộ “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập, đến năm 1969 tái bản thành hai tập trong đó có 500 tập

vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc động vật và khoáng vật Ông đã kiên trì nghiên cứu,

bổ sung về cây thuốc liên tục trong các công trình của ông đợc tái bản nhiều lần vàocác năm 1970, 1977, 1981, 1986, 1995, 2000 Lần tái bản thứ 7 (1995) số cây thuốccủa ông nghiên cứu đã lên tới 792 loài Trong đó ông đã mô tả tỉ mỉ tên khoa học,phân bố, công dụng , thành phần hoa học chia tất cả các cây thuốc theo đó các nhómbệnh khác nhau [55], đây là một bộ sách có giá trị lớn về khoa học và thực tiễn, kếthợp giữa khoa học không gian với khoa học hiện đại

Năm 1978 Đảng và Chính phủ đã có nhiều chủ trơng phát triển Y học dântộc với phơng châm: “thừa kế phát huy, phát triển y học dân tộc cổ truyền và kếthợp Đông y với y học hiện đại để xây dựng nền y học Việt Nam” Nền y học dântộc phát triển có nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu và cho ra đời nhiều bộ sáchquý nh Vũ Văn Kính năm 1979 cho xuất bản cuốn sổ tay y học gồm “500 bàithuốc gia truyền” và tái bản lần thứ ba vào năm 1997 [53]; Năm 1980 Đỗ HuyBích, Bùi Xuân Chơng đã giới thiệu 519 loài cây thuốc, trong đó có 150 loài mớiphát hiện “Sổ tay cây thuốc Việt Nam” [9] Liên quan đến vấn đề cây thuốc, việndợc liệu, tập thể các nhà khoa học dã xuất bản cuốn “Dợc điển Việt Nam” Tập I, II

đã tổng kết các công trình nghiên cứu về cây thuốc trong những năm qua [14].Viện Dợc liệu (bộ Y tế) cùng với hệ trạng nghiên cứu dợc liệu điều tra ở 2795 xã,phờng, thuộc 351 huyện thị xã của 47 tỉnh thành phố trong cả nớc, đã có những

đóng góp đáng kể trong công tác điều tra su tầm nguồn tài nguyên cây thuốc vàkinh nghiệm sử dụng cây thuốc trong Y học cổ truyền dân gian Kết qủa đúc kết

Trang 11

trong “Danh mục cây thuốc miền Bắc Việt Nam”, “Danh mục cây thuốc ViệtNam” tập Atlas (bản đồ) cây thuốc đã thống kê và công bố một danh sách về câythuốc từ 1961 – 1972 ở Miền Bắc là 1.114 loài từ 1977 – 1985 ở một Miền Nam

là 1119 loài Tổng hợp trong cả nớc đến năm 1985 là 1.863 loài và dới loài, phân

bố trong 1.033 chi, 136 họ, 101 bộ, 17 lớp, 11 ngành đợc xếp theo hệ thống củanhà thực vật học Takhtajan [7,9, 45] và mỗi loài đều giới thiệu công dụng và cách

sử dụng chúng Đề cập tới cây thuốc trong hệ thực vật Việt Nam, Võ Văn Chi làngời từ lâu có nhiều tâm huyết Năm 1976, trong luận văn PTS khoa học của mình

Ông đã thống kê có 1.360 loài cây thuốc thuộc 192 họ trong ngành hạt kín ở MiềnBắc Đến năm 1991 trong một báo cáo tham gia hội thảo quốc gia về cây thuốc lầnthứ II tổ chức ở thành Phố Hồ Chí Minh, tác giả đã giới thiệu một danh sách cácloài cây thuốc Việt Nam có 2.280 loài cây thuốc bậc cao có mạch, thuộc 254 họtrong 8 ngành Có thể nói công bố này đã giới thiệu một số lợng cây thuốc lớnnhất Xét về thành phần các taxon cây thuốc đã biết hiện nay ở Việt Nam, theoViện Dợc liệu, phần lớn là cây thuốc đợc sử dụng theo kinh nghiệm dân gian Sốcòn lại khoảng dới 5% là ghi nhận theo tài liệu của nớc ngoài Trong tổng số trên2.000 loài và dới loài cây thuốc, có tới gần 90% cây mọc tự nhiên Chúng chủ yếutập trung chủ yếu trong các quần thể rừng với trữ lợng lớn, còn khoảng trên 10% làcây trồng, cây tròng đợc sử dụng làm thuốc bao gồm: cây thuốc nhập nội, câythuốc trồng vốn có ở Việt Nam hoặc các loại cây trồng khác có bộ phận đợc sửdụng làm thuốc Ngoài ra cũng có nhiều công trình về cây thuốc Việt Nam thuộccác địa phơng hoặc theo các phạm vi nhỏ cũng đã đựơc công bố

Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chơng và một số ngời khác đã cho ra cuốn “Sổ tay cây thuốc Việt Nam” (1980) và “Tài nguyên cây thuốc Việt Nam” (1993) với hàng

năm có khoảng 300 loài cây thuốc đợc khai thác và sử dụng ở các mức độ khác

nhau trong toàn quốc [9] Võ văn Chi “Cây thuốc An Giang” (1991) [23]

Trần Đình Lý (1995) và cộng sự cho xuất bản cuốn “1900 loài cây có ích”

[56] Trong số các loài cây thực vật bậc cao có mạch đã biết ở Việt Nam, có 76loài cho nhựa thơm, 160 loài có tinh dầu, 260 loài có dầu béo, 600 loài chứatanin, 50 loài cây gỗ có giá trị cao, 40 loài tre nứa, 40 loài song mây

Trang 12

Vơng Thừa Ân cho ra đời cuốn “Thuốc quý quanh ta” vào năm 1995 [1].

Cho đến chơng trình tạo nguồn nguyên liệu làm thuốc của Viện dợc liệu KV.02

cho ra đời quyển “Tài nguyên cây thuốc Việt Nam”…) [7]

Năm 1996 Võ Văn Chi ra đời quyển “Từ điển cây thuốc Việt Nam” đã mô

tả kỹ 3200 cây thuốc Việt Nam [24] Đây là một công trình có ý nghĩa khoa học

và thực tiễn rất lớn phục vụ cho ngành dợc và các nhà thực vật học Ngoài ra có rấtnhiều bài báo đăng trong tạp chí trung ơng, địa phơng đều giới thiệu về cây thuốc,bài thuốc và tác dụng làm thuốc của cây cỏ quanh ta, nh vậy nguồn cây cỏ đợc sửdụng làm thuốc rất phong phú Theo Đỗ Huy Bích, Nguyễn Tập, Lê Tùng Châu…).hàng năm nớc ta đã khai thác và sử dụng tới 300 loài cây thuốc ở các mức độ khácnhau [10] Thật khó mà thống kê đợc một cách đầy đủ khối lợng dợc liệu tự nhiên

đợc khai thác bởi lẽ hàng năm ngoài cơ sở của t nhân của những ông lang, bà mế

và ngời dân từng địa phơng tự thu hái về chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian.Theo Nguyễn Khang và Vũ Văn Chơng [49] thì trong vài chục năm gần đây nớc ta

đã xuất khẩu một lợng dợc liệu khá lớn khoảng 20 triệu USD và lợng tinh dầu là

20 – 30 triệu USD cha kể giá trị xuất khẩu tiểu ngạch và buôn lậu qua biên giớicủa t thơng [51]

Đặc biệt, năm 1994, trong công trình nghiên cứu cây thuốc Lâm Sơn – LơngSơn- Hà Sơn Bình, Nguyễn Nghĩa Thìn đã giới thiệu 112 loài thuộc 50 họ, năm 1990– 1995 Trong Hội thảo quốc tế lần thứ hai về dân tộc sinh học tại Côn Minh –Trung Quốc, tác giả cũng đã giới thiệu lịch sử nghiên cứu vấn đề dân tộc dợc học,giới thiệu 2.300 bài thuốc 1.136 chi, 234 hộ thuộc 6 ngành thực vật có mạch bậc cao

ở Việt Nam đợc sử dụng làm thuốc và giới thiệu hơn 1.000 bài thuốc mà đợc thu thập

ở Việt Nam cũng nh một số loài đợc sử dụng

Bên cạnh ý nghĩa sử dụng cây thuốc trong Y học dân tộc, theo kết quảnghiên cứu của: Nguyễn Văn Đàn, Nguyễn Việt Tựu (1986) Trịnh Gia Ân, Phạm

Đình Sửu (1971, 1979) Lê Tùng Châu(1991)…) nguồn cây thuốc ở Việt Nam đã và

có nhiều triển vọng là nguyên liệu cho công nghiệp dợc, chiết xuất các hợp chất tựnhiên để làm thuốc Chỉ tính trong vòng hơn một năm lại đây đã có 701 loài câythuốc đợc điều tra tính kháng khuẩn và một số loài cây thuốc chính thức đợc đa

vào sản xuất thuốc đại trà nh: Thanh cao (Artemisia annua L.) Vằng đắng (Coscinium fenestratum (Gaertn.) Colebr) Sừng dê (Strophanthus divergens A.

Trang 13

Graham) ba gạc (Rauvolfia verticillata (Lour.) Baill)… Ngoài ra vấn đề tìm kiếm

các thuốc mới từ nguồn gốc cây cỏ ở Việt Nam cũng đầy triển vọng Theo công bốcủa Trần Ngọc Ninh (1994) Lê Trần Đức (1995) các nhà khoa học Việt Nam bớc

đầu đã biết đợc hợp chất Taxol từ các loài thông đỏ (Taxus spp.) có tác dụng

chống ung th Việc ứng dụng những kinh nghiệm dân gian và nghiên cứu giá trịthực vật học ở Việt Nam nói chung và đối với các dân tộc ít ngời nói riêng là rấtcần thiết để góp phần phát triển nền kinh tế của đồng bào dân tộc, để phát huytruyền thống văn hoá tốt đẹp cũng nh góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồnnguồn gen, bảo tồn những kinh nghiệm sử dụng cây thuốc chữa bệnh phong phúbằng y học cổ truyền, bảo vệ nguồn tài nguyên cây thuốc của đất nớc ta

1.3 Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở Nghệ An

Nghệ An là một tỉnh với diện tích lớn gần nhất nớc, dân số đông, chủ yếu

là dân tộc kinh và có hơn 5 dân tộc anh em khác cùng chung sống Việc chữabệnh cho dân ở vùng núi xa nay chủ yếu do các ông lang, bà mế Kinh nghiệm sửdụng thuốc và các bài thuốc dân gian của dân tộc bị mai một dần Cho tới nay ch-

a có một công trình nghiên cứu toàn diện về cây thuốc và bài thuốc Nghệ An.Một số công trình công bố rải rác công bố trên các tài liệu, tạp chí nh sách củacác tác giả Đỗ Tất Lợi, Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chơng,Vũ Văn Chuyên, và ViệnDợc Liệu – Bộ Y Tế, và trên các tài liệu, tập san của hội đồng y địa phơng nh:

“Kinh nghiệm chữa bệnh Đông Y Nghệ Tĩnh” (1978) “Những phơng thuốc hay– rau cỏ trị bệnh” của Tạ Duy Chân (1988) giới thiệu 48 loài thực vật làm raulàm thuốc [7,17]

Nguyễn Văn Nhung - Đinh Sỹ Hoàn (1981) với cuốn “Sổ tay dùng thuốcgia đình” đã giới thiệu 36 cây thuốc chữa 18 chứng bệnh với các phơng thuốctruyền thống Những năm gần đây có một số công trình (chủ yếu là luận văn thạc

sỹ và luận án tiến sỹ) đợc xuất hiện nh; “Điều tra cây thuốc và kinh nghiệm sửdụng chúng của đồng bào dân tộc Thái xã Yên Khê - huyện Con Cuông – NghệAn” của Tô Vơng Phúc (1996) thống kê đợc 223 loài cây thuộc 81 họ với 113 bàithuốc chữ 29 nhóm bệnh [65]

Đặng Quang Châu và cộng sự (2001 - 2003) đã thực hiện đề tài thuộc chơngtrình nghiên cứu cơ bản cấp Nhà nớc “Đa dạng cây thuốc dân tộc các huyện TâyBắc tỉnh Nghệ An ” điều tra thành phần cây thuốc, các bài thuốc và tình hình khai

Trang 14

thác chúng của đồng bào các dân tộc thuộc 4 huyện miền núi vùng Tây Bắc NghệAn.

Đặng Quang Châu và Bùi Hồng Hải năm 2003 với công trình “điều tra câythuốc của đồng bào dân tộc Thái xã Châu hạnh huyện Quỳ Châu – tỉnh Nghệ An”

đã thống kê đợc 93 loài cây thuốc thuộc 79 chi, 42 họ đợc bà, con dân tộc sử dụnglàm thuốc [21] Năm 2004 với một số dẫn liễu về cây thuốc dân tộc Thổ xã thọ Hợp– Huyện Quỳ Hợp – tỉnh Nghệ An” đã công bố 82 cây thuốc thuộc 79 chi 48 họ

đợc đồng bào thổ xã thọ Hợp chữa 15 nhóm bệnh [22]

Tóm lại điều tra cây thuốc ở Nghệ An đã có những công trình nghiên cứu

đáng để ý nhng còn lẻ tẻ không có hệ thống cần phải tập hợp một cách đầy đủtrên quy mô toàn tỉnh và tiến hành điều tra, nghiên cứu tiếp để thu thập câythuốc và các bài thuốc một cách có hệ thống hơn, không để mai một

Chơng 2 Mục tiêu, đối tợng, nội dung và phơng pháp nghiên cứu 2.1 Mục tiêu của đề tài

- Phải thu thập đợc các loài cây làm thuốc cầm máu và biết đợc giá trị sửdụng của chúng trên địa bàn một số huyện trung du và đồng bằng tỉnhNghệ An

- Phải xây dựng đợc danh lục các loài cây thuốc cầm máu và đánh giá đợctính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc tại địa bàn nghiên cứu

2.2 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tợng nghiên cứu: toàn bộ cây cỏ đợc sử dụng làm cây thuốc có tácdụng cầm máu tại một số huyện trung du và đồng bằng ở Nghệ An

- Phạm vi nghiên cứu: thực vật bậc cao có mạch có tác dụng cầm máu ở cáchuyện trung du là: Đô Lơng, Nam Đàn, Quỳnh Lu và vùng đồng bằng là:Yên Thành, Nghi Lộc, Hng Nguyên

2.3 Thời gian nghiên cứu

Đề tài đợc tiến hành từ tháng 9/2008 đến tháng 12/2009 cụ thể là:

- Từ 9/2008 đến 12/2008: su tầm tài liệu

Trang 15

- Từ 12/2008 đến 4/2009: viết đề cơng nghiên cứu và bảo vệ đề cơng

- Từ 4/2009 đến 7/2009: đi lấy mẫu và phân tích số liệu

- Từ 7/2009 đến 10/2009: lấy mẫu bổ sung, lập bảng số liệu

- Từ 10/2009 đến 12/2009: hoàn thành luận văn, chuẩn bị bảo vệ

2.4 Nội dung nghiên cứu

- Lập danh lục thành phần các loài cây đợc nhân dân ta sử dụng làm thuốc

2.5.1 Phơng pháp phỏng vấn, điều tra

Điều tra rộng rãi, phỏng vấn bà con tại địa bàn nghiên cứu để su tầm các bài thuốc và cây thuốc sử dụng theo kinh nghiệm dân gian

2.5.2 Phơng pháp thu hái, xử lí và bảo quản mẫu vật.

Mẫu vật đợc thu hái và xử lí theo phơng pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn,

1997 [66]

- Mẫu cây đợc đánh số hiệu và đặt trong một tờ báo cho vào túi nilon lớn khoảng 20-30 mẫu sau đó đổ cồn vào để bảo quản (xử lí sơ bộ tại địa bàn thu mẫu) Khi đa về ta xử lí lại và cho vào cặp mắt cáo để phơi khô dới nắng hoặc dới

ánh điện

2.5.3 Phơng pháp xác định tên khoa học

Chúng tôi sử dụng phơng pháp hình thái so sánh, đợc tiến hành theo cácbuớc sau:

- Phân chia mẫu theo họ và chi:

Sau khi thu mẫu, phân loại sơ bộ ngay tại hiện trờng dựa vào các bảng chỉ

dẫn nhận nhanh các họ trong Cẩm nang nghiên cứu đa dạng thực vật“ ” của

Trang 16

Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [66] và Cẩm nang tra cứu và nhận nhanh các họ

thực vật hạt kín ở Việt Nam ” của Nguyễn Tiến Bân (1997) [3]

- Xác định tên khoa học dựa vào khoá định loại của: Phạm Hoàng Hộ,

(1999 - 2000) [45]

2.5.4 Phơng pháp chỉnh lý tên khoa học

Sau khi định loại, chúng tôi tiến hành kiểm tra và chỉnh lý tên khoa học

theo tài liệu "Từ điển cây thuốc" (1997) [13] của Võ Văn Chi, "Cây thuốc và

động vật làm thuốc" (2004) [10] của Đỗ Huy Bích.

2.5.5 Phơng pháp xây dựng danh lục

Xây dựng danh lục các taxon đợc sắp xếp theo cách sắp xếp của R K Brummitt (1992) [74]

3.5.6 Phơng pháp đánh giá đa dạng thực vật về phân loại

3.5.6.1 Đánh giá đa dạng các taxon trong ngành

Thống kê số loài, chi và họ theo từng ngành thực vật từ thấp đến cao, trên cơ

sở dựa vào bảng danh lục thực vật đã xây dựng, tính tỷ lệ % của các taxon để từ

đó thấy đợc mức độ đa dạng của nó

3.5.6.2 Đánh giá đa dạng loài của các họ, chi, loài

Theo phơng pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn 1997 [66]

2.5.6.4 Đánh giá sự đa dạng về bộ phận của cây thuốc đợc sử dụng

Dựa vào kinh nghiệm của nhân dân địa phơng tại địa bàn nghiên cứu

2.5.6.5 Đánh giá sự đa dạng về nơi sống của cây thuốc

Dựa vào sự phân bố môi trờng sống của các loài thực vật khi thu mẫu

2.5.6.6 Đánh giá sự phân bố của cây thuốc cầm máu tại điạ bàn nghiên cứu

Dựa vào điều tra thực tiễn

2.5.6.7 Đánh giá sự phân bố các loài cây thuốc cầm máu theo cách sử dụng.

Trang 17

Theo tài liệu "Từ điển cây thuốc" (1997) [13] của Võ Văn Chi, "Cây thuốc

và động vật làm thuốc" (2004) [10] của Đỗ Huy Bích.

Chơng 3

Điều kiện tự nhiên và xã hội tại địa bàn nghiên cứu 3.1 Điều kiện tự nhiên

Nghệ An là tỉnh nằm ở khu vực Bắc Miền Trung của nớc ta Có toạ độ địa

lí từ 18o33’zndochine10” đến 19024’zndochine43” Vĩ tuyến Bắc và từ 103052’zndochine53” đến 105045’zndochine50”kinh độ đông Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá; phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh; phía

Đông giáp Biển Đông; phía Tây giáp nớc Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào.Tổngdiện tích cả tỉnh là 1.649.853 ha

Về địa hình, Nghệ An là một tỉnh vừa có đồi núi, vừa có đồng bằng, lại vừa

có biển; trong đó phần đồi và núi chiếm gần 3/4 diện tích toàn tỉnh Là một phầnquan trọng của vùng Bắc dãy Trờng Sơn, hầu hết các huyện về phía tây và tâynam trong tỉnh là vùng núi rừng khá cao, dẫn đến sự chia cắt mạnh, độ dốc trungbình đều vợt trên 250 Có thể kể ra một số ngọn núi cao nh Pu Xa Lai Leng:2.711m, Pù Mát: 1.841 m

Chuyển tiếp từ vùng núi trên là một vùng đồi và núi thấp trung du rộnglớn, ở Đô Lơng, Nghĩa Đàn, Thanh Chơng, Yên Thành và lan xuống cả ở Quỳnh

Lu và Nam Đàn Vùng đồng bằng ven biển và xen kẽ về cơ bản là thuộc lu vựccủa các con sông lớn trong tỉnh

Nh vậy, có thể nói bề mặt địa hình của tỉnh Nghệ An là cao ở phía tâynam, thấp dần xuống phía đông và đông nam

Xen kẽ với bề mặt địa hình bị chia cắt mạnh trên là một hệ thống các sôngsuối chằng chịt, mật độ lới sông trung bình khoảng 0,9km/km2 Toàn tỉnh có 7con sông trực tiếp đổ ra Biển Đông Từ sông Cả, các con sông còn lịa có lu vựcnhỏ khoảng 2000 – 3000 km2 với chiều dài trung bình khoảng 60 – 70 km

Sông Cả bắt nguồn từ thợng Lào, chảy qua Nghệ An dài 375 km, với 117thác lớn nhỏ, trong đó có một số thác có tiềm năng xây dựng thuỷ điện Chinhánh của sông Cả gồm: Sông Nậm Mộ, sông Nậm Nơn, sông Hiếu đa số cácnhánh sông này đều nằm trong vùng miền núi với đặc điểm độ dốc lớn, lòng hẹp,

ít bãi bồi Các sông khác đều ngắn, trữ lợng nớc không lớn, lòng sông hẹp, nớc

Trang 18

chảy chậm và phần lớn là sông nớc mặn nh: Sông Hoàng Mai, sông Dâu, sôngThơi, sông Bùng

Về khí hậu Nghệ An, nhìn chung mang đầy đủ đặc trng của nền khí hậunhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm Trong một năm thời tiết ở đây thể hiện khá rõ nét

4 mùa: xuân, hạ, thu, đông Mùa đông và mùa xuân nhiệt độ thấp, thời tiết ẩm vàlạnh Mùa hè và mùa thu nắng nóng Mùa hè tỉnh Nghệ An còn bị ảnh hởng bởigió mùa tây nam khô nóng từ Lào thổi sang (gió Lào)

Nhiệt độ trung bình năm ở Nghệ An là 24,20C , nhiệt độ tối thấp trung bìnhkhoảng 16 – 170C và tối cao trung bình khoảng 36 – 380C; tối thấp tuyệt đối là

120C và tối cao tuyệt đối là 42,70C Tuy nhiên độ ẩm trung bình năm có khi chỉ42% Tổng lợng ma hành năm là 1.610,9 mm ở các vùng cao nh huyện QuỳChâu, Quế Phong có thể ma nhiều hơn Lợng ma ở Nghệ An thờng tập trung từtháng 8 đến tháng 10 Do địa hình dốc, về mùa ma ở Nghệ An thờng xuyên bị

ảnh hởng bởi lũ lụt, nhất là lũ quét ở miền núi, bão ở vùng biển và trung du

Với đặc điểm về vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên khá đặc biệt trên đây đãgóp phần tạo nên ở tỉnh Nghệ An cò nguồn tài nguyên thực vật khá đa dạng vàphong phú; trong đó trớc hết phải kể đến nguồn tài nguyên cây rừng Theo thống

kê mới nhất của ngành Lâm nghiệp Nghệ An cho biết, tổng diện tích rừng chephủ trong toàn tỉnh hiên nay là 911.808 ha (chiếm khoảng 52%) Bao gồm336.478 ha là rừng sản xuất và 575.329 ha là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng.Hiện tại chua có con số thống kê đầy đủ về thực vật học, con số này có thể tới

3000 hoặc 4000 loài thực vật bậc cao có mạch Chỉ tính riêng ở vờn Quốc gia PùMát, qua điều tra đã thống kê đợc 2.494 loài thực vật bậc cao có mạch

3.2 Điều kiện kinh tế xã hội

Toàn tỉnh Nghệ An đợc chia thành 20 đơn vị cấp thành phố, huyện và thịxã Bao gồm thành phố Vinh, 2 thị xã là thị xã Cửa Lò và thị xã Thái Hoà Trong

số 17 huyện lại chia ra 10 huyện miền núi bao gồm Kỳ sơn, Thanh Chơng, TơngDơng, Con Cuông, Anh Sơn, Tân kỳ, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp và Nghĩa

Đàn 7 huyện đồng bằng và trung du là Đô Lơng, Quỳnh Lu, Nam Đàn, HngNguyên, Nghi Lộc, Diễn Châu và Yên Thành

Trang 19

Dân số của cả tỉnh Nghệ An tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009 có2.913.055 ngời, phân bố với mật độ trung bình 173 ngời/ km2 Cả tỉnh hiện cógần 20 dân tộc anh em cùng sinh sống Trong đó đông nhất là ngời Kinh, sau đếnngời Thái, ngời Mờng, H’zndochineMông, Khơ Mú,…).Ngời Kinh sống tập trung ở cácthành phố, thị xã, thị trấn và các huyện ở vùng thấp Các dân tộc khác chủ yếusống ở các huyện miền núi ở phía tây bắc và tây nam của tỉnh.

Với diện tích đất nông nghiệp 1.170,716 ha trên tổng số diện tích tự nhiên

là 1.649.853 ha, Nghệ An từ xa đến nay có nền kinh tế nông – lâm nghiệp làchủ yếu Sản phẩm nông nghiệp của ngời dân về cơ bản vẫn là trồng lúa, ngô,khoai, sắn và đậu đỗ Diện tích cây công nghiệp ( ở Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa

Đàn…)) nhìn chung cha lớn Riêng các huyện miền núi có thêm kinh tế lâmnghiệp, hiện nay chủ yếu cũng chỉ là trồng rừng nguyên liệu giấy

Về công nghiệp ở Nghệ An, bên cạnh một số nhà máy xi măng, hiện tạicòn một số nhà máy thuộc diện công nghiệp chế biến ( đờng, gỗ, thức ăn gia súc)hoặc gia công (may mặc) Tuy nhiên, xét một cách toàn diện, kinh tế côngnghiệp ở Nghệ An cha phát triển Những năm gần đây, ở các thành phố, thị xã vàthị trấn bắt đầu hình thành kinh tế dịch vụ và du lịch, với tổng dân số ngót 3 triệungời với tiềm năng rừng và biển rộng lớn, trong tơng lai đây cũng là một mũinhọn quan trọng trong cơ cấu kinh tế của địa phơng

Nguồn tài nguyên thực vật ở Nghệ An vô cùng phong phú, có nhiều loài

ợc dùng làm thuốc Theo kết quả điều tra trớc đây (1967 – 1975) đã ghi nhận

đ-ợc ở trong tỉnh Nghệ An có tới 667 loài cây thuốc Với con số này, vào thời gian

đó Nghệ An nằm trong nhóm những tỉnh có nguồn cây thuốc nhất Miền Bắc nớc

ta (cùng với các tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Thanh Hoá…)) Qua công tác

điều tra cơ bản, tổ chức khai thác thu mua dợc liệu Nghệ An cũng là đơn vị dẫn

đầu ở Miền Bắc

Bên cạnh nguồn cây thuốc mọc tự nhiên, Nghệ An cũng từng là tỉnh cóphong trào phát triển trồng cây thuốc rộng rãi, một số cây thuốc đợc trồng trêndiện tích lớn nh Bạc hà, Sắn dây, ích mẫu, Hoè, …)

Cây thuốc có tác dụng cầm máu có ở Nghệ An rất đa dạng và phong phú.trong nớc đã có nhiều công trình điều tra, nghiên cứu về những loài cây thuốc này ởNghệ An, nhng cha có một công trình nghiên cứu về cây cầm máu ở tỉnh Nghệ An

Trang 20

Trong giới hạn cho phép chúng tôi chọn đề tài điều tra chỉ có thể nghiên cứu câycầm máu tại một số huyện trung du là: Đô Lơng, Nam Đàn, Quỳnh Lu và một sốhuyện đồng bằng là: Yên Thành, Nghi Lộc, Hng Nguyên.

Trang 21

Bản đồ 1 Sơ lợc 6 huyện nghiên cứu cây cầm máu ở Nghệ An

Trang 22

Chơng 4Kết quả nghiên cứu4.1 Thống kê các loài cây thuốc cầm máu ở Nghệ An

Qua quá trình điều tra, thu thập mẫu và số liệu chúng tôi đã xây dựng đợcbảng danh lục các loài cây có tác dụng cầm máu Kết quả đợc trình bày ở bảng 1.Trong bảng danh lục các loài đợc sắp xếp theo cách sắp xếp của R K Brummit(1992)

Ghi chú: Những ký hiệu đợc sử dụng trong bảng 1

Bảng 2 Sự phân bố các taxon ngành của cây thuốc cầm máu ở Nghệ An

Số họ Tỷ lệ (%) Số chi Tỷ lệ (%) Số loài Tỷ lệ (%)

Trang 23

Biểu đồ 1 Tỉ lệ % số loài cây thuốc cầm máu trong các ngành

Qua bảng 2 và biểu đồ 1, cho thấy: ngành Mộc lan (Magnoliophyta) có tỷtrọng lớn hơn cả, đa số các taxon tập trung vào ngành này: chiếm tới 95,00% về

số họ; 94,79% về số chi và 91,23% về số loài; tiếp theo là ngành Dơng xỉ Polypodiophyta với 3 họ (chiếm 5,26%), 3 chi (chiếm 3,13%) 3 loài (chiếm3,00%), ngành Thông (Pinophyta) và ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta) chiếm

-tỷ lệ rất nhỏ Điều này cho thấy ngành Magnoliophyta đóng vai trò chủ đạo trong

hệ thực vật nói chung và cây thuốc cầm máu ở Nghệ An nói riêng

4.2.2 Đa dạng các taxon bậc lớp trong ngành Ngọc lan

Khi phân tích 1 hệ thực vật, ngời ta thờng phân tích 2 lớp của ngành Ngọclan, kết quả đợc trình bày nh bảng sau:

Bảng 3 Sự phân bố các taxon trong ngành Ngọc lan

Lớp Số lợngHọTỉ lệ % Số lợngChiTỉ lệ % Số lợngLoàiTỉ lệ %Magnoliopsida

Ngày đăng: 26/12/2013, 11:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Sự phân bố các taxon ngành của cây thuốc cầm máu ở Nghệ An - Điều tra thành phần loài cây có giá trị cầm máu tại một số địa bàn trong tỉnh nghệ an
Bảng 2. Sự phân bố các taxon ngành của cây thuốc cầm máu ở Nghệ An (Trang 27)
Bảng 3. Sự phân bố các taxon trong ngành Ngọc lan - Điều tra thành phần loài cây có giá trị cầm máu tại một số địa bàn trong tỉnh nghệ an
Bảng 3. Sự phân bố các taxon trong ngành Ngọc lan (Trang 28)
Bảng 4. Sự phân bố họ, chi loài của cây thuốc cầm máu - Điều tra thành phần loài cây có giá trị cầm máu tại một số địa bàn trong tỉnh nghệ an
Bảng 4. Sự phân bố họ, chi loài của cây thuốc cầm máu (Trang 29)
Bảng 5. So sánh sự đa dạng các taxon cây thuốc cầm máu ở Nghệ An với Việt  Nam - Điều tra thành phần loài cây có giá trị cầm máu tại một số địa bàn trong tỉnh nghệ an
Bảng 5. So sánh sự đa dạng các taxon cây thuốc cầm máu ở Nghệ An với Việt Nam (Trang 32)
Bảng 6. Dạng thân của các cây thuốc đợc ngời dân sử dụng - Điều tra thành phần loài cây có giá trị cầm máu tại một số địa bàn trong tỉnh nghệ an
Bảng 6. Dạng thân của các cây thuốc đợc ngời dân sử dụng (Trang 32)
Bảng 7. Số lợng bộ phận cây thuốc đợc sử dụng  để cầm máu - Điều tra thành phần loài cây có giá trị cầm máu tại một số địa bàn trong tỉnh nghệ an
Bảng 7. Số lợng bộ phận cây thuốc đợc sử dụng để cầm máu (Trang 34)
Bảng 8. Sự đa dạng trong các bộ phận đợc sử dụng làm thuốc - Điều tra thành phần loài cây có giá trị cầm máu tại một số địa bàn trong tỉnh nghệ an
Bảng 8. Sự đa dạng trong các bộ phận đợc sử dụng làm thuốc (Trang 35)
Sơ đồ 5. Phân bố số lợng các bộ phận sử dụng của cây thuốc Nghệ An - Điều tra thành phần loài cây có giá trị cầm máu tại một số địa bàn trong tỉnh nghệ an
Sơ đồ 5. Phân bố số lợng các bộ phận sử dụng của cây thuốc Nghệ An (Trang 36)
Bảng 11.  So sánh sự phân bố các taxon (họ, chi, loài) ở hai khu vực  nghiên  cứu - Điều tra thành phần loài cây có giá trị cầm máu tại một số địa bàn trong tỉnh nghệ an
Bảng 11. So sánh sự phân bố các taxon (họ, chi, loài) ở hai khu vực nghiên cứu (Trang 37)
Bảng 12. Sự phân bố các loài cây thuốc cầm máu theo cách sử dụng - Điều tra thành phần loài cây có giá trị cầm máu tại một số địa bàn trong tỉnh nghệ an
Bảng 12. Sự phân bố các loài cây thuốc cầm máu theo cách sử dụng (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w