BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH PHẠM THỊ THU HIỀN ĐIỀU TRA KHẢO SÁT TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH TRÊN TÔM SÚ PANAEUS MONODON FABRICIUS, 1798 TẠI HÀ TĨNH VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ KH
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH PHẠM THỊ THU HIỀN
ĐIỀU TRA KHẢO SÁT TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH TRÊN
TÔM SÚ (PANAEUS MONODON FABRICIUS, 1798) TẠI
HÀ TĨNH VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
VINH - 2009
Trang 2MỞ ĐẦU
Hà Tĩnh là một tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ, có vùng ven biển với chiều dài137km (từ Cửa Hội đến Đèo Ngang), có 4 cửa biển lớn phân bố khoảng cách tươngđối đều theo hướng Tây Bắc - Đông Nam: Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng, CửaKhẩu Đó chính là 4 hệ thống cửa sông lớn đổ ra biển: Sông Lam và các lạch phụXuân Thành, Xuân Yên, Đồng Kèn (Cửa Hội); sông Rào Cái, Đồng Môn, Cày, ĐòĐiệm và Nghèn (Cửa Sót); sông Quèn, Rác và Gia Hội (Cửa Nhượng); sông Trí,Quyền, khe Ông và kênh (cửa Khẩu) Sự giao lưu giữa hai dòng chảy mặn – ngọt
đã tạo nên vùng nước đệm mặn – lợ có tiềm năng nuôi trồng thuỷ sản lớn, hìnhthành nên những vùng sản xuất cho sản phẩm hàng hoá về thuỷ sản (cá, tôm, cua)
có giá trị xuất khẩu
Theo hướng Bắc – Nam và chảy dọc với đường bờ biển, tỉnh Hà Tĩnh có 5huyện ven biển: Nghi Xuân, Thạch Hà, Lộc Hà, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh; tổng diệntích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản: 1346 ha (năm 2003), được chia làm 5 vùng nuôitrồng thuỷ sản tương ứng với địa danh của từng huyện Đến nay diện tích nuôi tômcủa toàn tỉnh đạt trên 3.200 ha, trong đó tôm sú là đối tượng chính
Tuy nhiên, trong những năm gần đây do sự phát triển ồ ạt cả về diện tích lẫncông nghệ nuôi, đặc biệt một số vùng nuôi nhiều năm liên tục bị bệnh gây thiệt hại
về kinh tế và ảnh hưởng xấu đến tinh thần và tâm lý người dân nuôi tôm như: Xã
Kỳ Trinh, Kỳ Hà, Kỳ Hải, (Kỳ Anh); xã Hộ Độ (Thạch Hà), Thạch Hạ, ThạchTrung (thành phố Hà Tĩnh); xã Xuân Trường, Xuân Đán (Nghi Xuân)
Để nghề nuôi tôm sú phát triển một cách bền vững, mang lại hiệu quả kinh tế
và ít xảy ra dịch bệnh thì việc điều tra khảo sát và nghiên cứu một số giải phápphòng và trị bệnh cho tôm sú nuôi ở Hà Tĩnh là rất cần thiết và cấp bách nhằmgiảm rủi ro trong quá trình sản xuất cho bà con nông – ngư dân Hà Tĩnh
Trang 3Được sự giúp đỡ của Trung tâm Khuyến ngư và giống nuôi trồng thuỷ sản tỉnh
Hà Tĩnh cùng với sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Kim Đường, tôi đã lựa chọn
đề tài “Điều tra, khảo sát tình hình dịch bệnh trên tôm sú (Penaeus monodon
Fabricius,1798 ) tại Hà Tĩnh và một số biện pháp phòng trị”
* Mục tiêu của đề tài
- Mục tiêu tổng quát:
Điều tra khảo sát sự xuất hiện các bệnh của tôm sú trong ao nuôi, nguyên nhân,thời gian, mùa vụ xuất hiện bệnh, đưa ra giải pháp cho công tác phòng trị bệnh
- Mục tiêu cụ thể:
+ Phát hiện sớm các bệnh thường gặp ở tôm sú nuôi tại Hà Tĩnh
+ Tìm ra các nguyên nhân gây bệnh
+ Xác định được các mốc thời gian thường xuất hiện bệnh
+ Đưa ra một số biện pháp phòng và trị bệnh
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu bệnh thủy sản trên thế giới
So với y học và thú y, lĩnh vực bệnh học thủy sản là một ngành khoa học nontrẻ hơn rất nhiều, tuy vậy do tầm quan trọng của nó trong thực tiễn sản xuất, nên đãthu hút được sự đầu tư kinh phí và nhân lực cho nhiều nghiên cứu sâu về bệnhthủy sản và hàng loạt các thành tựu đã được công bố
Từ cuối thế kỷ 19 người ta bắt đầu quan tâm tới bệnh ở cá, nhưng chủ yếu lànhững mô tả dấu hiệu bệnh lý, chưa có những nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhângây bệnh
Sang đầu thế kỷ 20, các nhà khoa học bắt đầu nghiên cứu và viết sách về bệnh
cá Cuốn sách “Tác nhân gây bệnh ở cá” (Father of Fish Pathology) của tác giả
người Đức - Bruno Hofer đã được xuất bản năm 1904
Năm 1929, Viện sỹ V.A Dogiel (1882-1955) thuộc viện hàn lâm Liên Xô cũ đã
đưa ra “Phương pháp nghiên cứu ký sinh trùng trên cá” mở ra một hướng phát
triển mới cho nghiên cứu về các khu hệ ký sinh trùng ký sinh trên cá và các loạibệnh ở cá do ký sinh trùng gây ra
Từ 1929 đến 1970, hàng loạt các công trình nghiên cứu về ký sinh trùng ký sinh
ở cá đã được công bố ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới, tiêu biểu nhất làcông trình nghiên cứu về khu hệ ký sinh trùng ký sinh ở các loài cá nước ngọt ởLiên Xô do Bychowsky biên tập từ kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau.Công trình này đã phát hiện và phân loại được khoảng 2.000 loại ký sinh trùngkhác nhau và công bố năm 1968
Từ 1970 đến những năm cuối thế kỷ 20, ngành nuôi trồng thuỷ sản của thế giới
đã phát triển mạnh, không phải chỉ nuôi cá nước ngọt, mà nhiều loài cá biển, giápxác, động vật thân mềm có giá trị kinh tế đã được đưa vào nuôi Hình thức nuôi
Trang 5công nghiệp (thâm canh và siêu thâm canh) đã thay thế cho hình thức nuôi quảngcanh truyền thống đã làm bệnh tật phát sinh nhiều, gây tác hại rất lớn Nên ở thời
kỳ này, ngoài các công trình nghiên cứu về ký sinh trùng, hàng loạt các công trìnhnghiên cứu về các bệnh truyền nhiễm do virus, vi khuẩn và nấm gây ra ở các đốitượng nuôi như cá, tôm, cua, động vật thân mềm, đã được tiến hành Mặt khác,các bệnh do yếu tố vô sinh (dinh dưỡng, môi trường) cũng được nhiều nhà khoahọc nghiên cứu Các phương pháp chẩn đoán và phòng trị bệnh cũng được pháttriển nhằm phục vụ chẩn đoán bệnh trong thực tế sản xuất Một số phương pháphiện đại cũng được sử dụng để chẩn đoán bệnh ở động vật thủy sản, như chẩn đoánbằng phương pháp miễn dịch học (Elisa, phản ứng ngưng kết huyết thanh), phươngpháp sinh học phân tử (Polymerase Chain Reaction-PCR) Đặc biệt ở giai đoạnnày, việc ứng dụng một số sản phẩm công nghệ sinh học như vaccine, chế phẩmsinh học, các kích thích miễn dịch, để phòng bệnh và quản lý môi trường, sứckhỏe động vật thủy sản đã phổ biến ở nhiều quốc gia có nghề nuôi trồng thuỷ sảnphát triển Các thành tựu nghiên cứu thu được đã được đánh dấu bằng các cuộc hộithảo khoa học quốc tế và khu vực về bệnh học thủy sản được tổ chức nhiều lần, ởnhiều quốc gia Tại đây các công trình khoa học được công bố và ứng dụng vào sảnxuất Có thể sơ lược một số kết quả nghiên cứu thế giới về lĩnh vực thủy sản nhưsau:
Người ta đã phát hiện ra khoảng 60 loại virus gây bệnh ở cá, 18 loại virus gâybệnh ở giáp xác và 12 loại gây bệnh ở thân mềm
Hàng trăm loài vi khuẩn khác nhau gây bệnh ở ĐVTS cũng đã được phát hiện
và nghiên cứu, trong đó tập trung chủ yếu ở một số giống như: Vibrio spp.,
Aaerromonas spp., Pseudomonas spp., Mycobacterium., Streptococcus spp.,
Nhiều loài nấm nước ký sinh ở ĐVTS cũng đã được phát hiện và nghiên cứu,
trong đó tập trung ở một số giống như: Saprolegnia spp., Achlya spp.,
Trang 6Aphanomyces spp., Lagenidium spp., Atkinsiella spp., Fusarium spp., Haliphthoros
- Quan tâm đến những loại thuốc chữa bệnh có nguồn gốc thảo dược nhằm tậndụng ưu thế của các loại thuốc này là an toàn đối với vật nuôi, môi trường và conngười
1.2 Tình hình nghiên cứu bệnh thủy sản ở Việt Nam
Trước năm 1960, lĩnh vực bệnh học thủy sản ở Việt Nam hầu như chưa đượcquan tâm Phòng nghiên cứu bệnh học thủy sản được hình thành đầu tiên tại trạmnghiên cứu cá nước ngọt Đình Bảng 1960, nay là Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thuỷsản I Hiện nay, do yêu cầu của thực tế sản xuất, các phòng nghiên cứu bệnh ởĐVTS được xây dựng nhiều nơi: Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản I (BắcNinh), Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản II (TP Hồ Chí Minh) và Viện Nghiêncứu Nuôi trồng thuỷ sản III (Nha Trang-Khánh Hòa) Tại các Trường Đại học cóđào tạo đại học ngành nuôi trồng thuỷ sản như trường Đại học Thủy Sản, trườngĐại học Cần Thơ, trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đều có các phòngnghiên cứu về bệnh học thủy sản Ngoài ra, tại các địa phương có ngành nuôi trồngthuỷ sản phát triển, đều có các trạm kiểm dịch giúp nông dân phát triển và phòngchống dịch bệnh trong nuôi trồng thuỷ sản
Trang 7Từ năm 1960 đến năm 1990 nhiều đã có các công trình nghiên cứu về bệnhĐVTS ở Việt Nam được thực hiện, nhưng cũng chủ yếu tập trung vào nghiên cứucác khu hệ ký sinh trùng và các bệnh do ký sinh trùng ký sinh gây ra ở cá Trongkhoảng 30 năm Việt Nam có một số công trình nghiên cứu như sau:
Công trình đầu tiên là “Nghiên cứu khu hệ ký sinh trùng và bệnh của cá nước
ngọt miền Bắc Việt Nam” của Hà Ký, nghiên cứu này thực hiện trong 15 năm
(1960-1975), đã mô tả được 120 loài ký sinh trung ký sinh trên cá nước ngọt ởmiền Bắc, trong đó co 42 loài ký sinh trùng mới, 1 giống và 1 họ phụ mới
Công trình nghiên cứu: “Khu hệ ký sinh trùng ký sinh trên 41 loài cá nước ngọt
đồng bằng sông Cửu Long” của Bùi Quang Tề và ctv (1984-1996) Công trình này
đã phát hiện được 157 loài ký sinh trùng và một số loài mới
Công trình nghiên cứu: “Khu hệ ký sinh trùng ký sinh ở 20 loài cá nước ngọt ở
miền Trung và Tây Nguyên” của Nguyễn Thị Bưởi và Đỗ Thị Hòa (1980-1985).
Công trình này đã phát hiện được 57 loài ký sinh trùng
Công trình nghiên cứu: “Thành phần ký sinh trùng ký sinh trên một số loài cá
biển có giá trị kinh tế tại Phú Khánh” của Nguyễn Thị Muội và Đỗ Thị Hòa
(1978-1980) Công trình này đã phát hiện được 80 loài ký sinh trên cá biển
Từ năm 1990 đến nay, nuôi trồng thuỷ sản ở Việt Nam đã có bước phát triển
mới, những đối tượng có giá trị kinh tế như: Tôm sú (P monodon), tôm hùm (Panulirus spp), cá Mú (Epinepherus spp), cua biển (Scylla spp), cá chẽm (lates
calcalifer), tôm càng xanh (Macrobranchium rosenbergii), đã được đưa vào
nuôi ở mức độ bán thâm canh và thâm canh ở nhiều địa phương trong cả nước vàdịch bệnh là trở ngại lớn nhất, ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế của nghề nuôi cácđối tượng này Do vậy, trong thời kỳ này, nghiên cứu về bệnh học thủy sản ở ViệtNam tiếp tục phát triển và đã đạt được nhiều thành tựu mới:
“Bước đầu tìm hiểu bệnh tôm sú ở Khánh Hòa và đề ra biện pháp phòng trị”
của Nguyễn Trọng Nho (1990 -1991)
Trang 8“Nghiên cứu một số bệnh trên tôm sú nuôi ở các tỉnh Nam TrungBộ” của Đỗ Thị Hòa (1992-1995), nghiên cứu này đã phát hiện một số bệnh do protozoa, vi
khuẩn và nấm gây ra trên tôm sú nuôi tại khu vực này
“Nghiên cứu các biện pháp phòng trị bệnh cho 13 bệnh khác nhau ở tôm nuôi
và cá nuôi tại Việt Nam” của Hà Ký và ctv (1994-1996) Nghiên cứu này đã đi sâu
vào biện pháp phòng trị của một số bệnh quan trọng như: Bệnh đốm đỏ ở cá trắm
cỏ, bệnh phát sáng ở ấu trùng tôm sú, bệnh ăn mòn vỏ kitin ở tôm sú, bệnh xuấthuyết ở cá basa nuôi bè, bệnh hoại tử do vi khuẩn ở cá trê, bệnh hoại tử đốm nâu ởtôm càng xanh, bệnh viêm sau khi cấy trai ngọc,
“Tìm hiểu nguyên nhân gây chết tôm nuôi ở Đồng Bằng Sông Cửu Long” của
Nguyễn Viết Thắng và ctv (1994-1996) Nghiên cứu này đã thu hút sự tham giacủa nhiều Viện Nghiên cứu và trường Đại học, nhằm tìm ra nguyên nhân và giảipháp khắc phục tình trạng tôm chết dữ dội ở các tỉnh Nam Bộ Đây là dấu hiệu thểhiện sự quan tâm của Nhà nước, Bộ Thủy sản và các nhà khoa học về vấn đề dịchbệnh tôm ở Việt Nam
“Nghiên cứu bênh xuất huyết trên cá trắm cỏ” tập trung chủ yếu ở phòng bệnh
của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản I
“Nghiên cứu bệnh xuất huyết trên cá basa ở đòng bằng Sông Cửu Long” tập
trung chủ yếu ở viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản II
“Nghiên cứu bệnh Monodon Type Baculovirus (MBV) trên tôm sú nuôi tại
Khánh Hòa” của Đỗ Thị Hòa và ctv (1997-2000)” cho thấy sự cảm nhiễm phổ biến
của virus này trên tôm sú (P monodon) ở Khánh Hòa và miền Trung Việt Nam và
cảnh báo sự suy giảm của chất lượng tôm giống sản xuất tại địa phương do tác hạicủa virus này
“Nghiên cứu bệnh virus đốm trắng (WSSV)” ở tôm sú nuôi (P monodon) và đề
xuất biện pháp phòng trị tại Khánh Hòa” của Đỗ Thị Hòa và ctv (2000-2002) đã
cho thấy tác hại, đặc điểm dịch tể học và mức độ cảm nhiễm của virus WSSV trên
Trang 9tôm sú tại Khánh Hòa Đặc biệt tác giả cũng thông báo về sự nhạy cảm của bệnhnày dưới những tác động của các nhân tố gây strees từ môi trường như: độ mặn,
pH, nồng độ của amoniac trong nước ao
“Nghiên cứu một số bệnh nguy hiểm ở tôm sú và tìm hiểu các yếu tố nguy cơ để
đưa ra các phương pháp chẩn đoán, phòng trị bệnh” của Nguyễn Văn Hảo và ctv
(2000-2003) chủ yếu thực hiện trên địa bàn các tỉnh Đồng Bằng sông Cửu Long.Nghiên cứu này nhằm tìm ra được biện pháp phòng bệnh từ các giải pháp môitrường, xác định mùa vụ và tăng cường sức khỏe vật nuôi
“Điều tra về công tác quản lý sức khỏe cá nước ngọt ở Đồng Bằng Sông Cửu
Long” của Từ Thanh Dung (1999), trường ĐH Cần Thơ đã đề cập đến một số bệnh
thường gặp trên các loài cá nước ngọt nuôi tại các tỉnh Nam Bộ và hiện trạng quản
lý sức khỏe ĐVTS tại khu vực này
“Nghiên cứu bệnh đốm trắng (bệnh hoại tử nội tạng) của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi công nghiệp” của Trần Thị Minh Tâm và ctv (2003) đã phát hiện được tác nhân gây bệnh là một loài vi khuẩn mới: Hafnia
alvei Đặc biệt trong nghiên cứu này, tác giả lần đầu tiên ở Việt Nam đã áp dụng
phương pháp ngưng kết huyết thanh để chẩn đoán bệnh ở ĐVTS
Đặc biệt, đến năm 2001, chúng ta đã phân lập được một số virus gây bệnh ởtôm sú nuôi như bệnh đốm trắng (WSSV), bệnh đầu vàng (YHD) (Văn Thị Hạnh,2001)
1.3 Tình hình nghiên cứu bệnh thủy sản ở Hà Tĩnh
Ngành nuôi trồng thuỷ sản ở Hà Tĩnh đã phát triển từ khá lâu, cùng nhịp vớingành trong cả nước, nhưng đến năm 1980 mới bắt đầu nuôi tôm mà chủ yếu là
tôm sú (P monodon) với hình thức nuôi chủ yếu là quảng canh, quảng canh cải tiến
với mật độ nuôi 3-5 con/m2
Trong quá trình nuôi tôm từ 1980 đến 1995 do môi trường nuôi tốt, mật độnuôi chưa cao, không thấy xuất hiện dịch bệnh nên ngành đã mang lại thu nhập
Trang 10đáng kể cho người dân, nhưng trong lĩnh vực bệnh thủy sản thì vẫn chưa có một sựquan tâm, đầu tư nghiên cứu nào.
Từ năm 1995 trở đi do nguồn lợi kinh tế của ngành mang lại là khá lớn đã làmcho người dân đổ xô đi nuôi trồng thuỷ sản, hình thức nuôi cũng dần cải tiến sangquảng canh cải tiến, bán thâm canh Thực trạng này đã dẫn đến tình trạng ô nhiễmmôi trường, bên cạnh đó kỹ thuật nuôi của người dân chưa có, trình độ quản lýkém, chất lượng giống không đảm bảo Tất cả những yếu tố đó đã làm cho dịchbệnh bắt đầu xuất hiện Ban đầu là những bệnh như: Đóng rong, mòn râu cụt đuôi,MBV Lúc này các cơ quan chức năng mới bắt đầu vào cuộc Ban đầu thuốc được
sử dụng để dập dịch là sunfat đồng và BKC Phải mất vài năm thì dịch bệnh mới ổnđịnh, cũng từ đó các cơ quan chức năng như Sở Thủy sản, Trung tâm Khuyến ngư,Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản mới thực sự quan tâm đến ngành, định kỳ lấymẫu và phân tích mẫu môi trường, phân tích mẫu bệnh phẩm
Từ năm 2000 ở vùng nuôi Kỳ Hải (Kỳ Anh) bắt đầu phát triển mô hình nuôibán thâm canh nhiều, bên cạnh đó nguồn giống lại được lấy từ phía Nam, vùng màvừa bị xuất hiện nhiều đợt lũ dẫn đến xuất hiện các loại bệnh nghiêm trọng: Đốmtrắng, đầu vàng Một số lấy giống tự do trôi nổi trên thị trường đã gây nên thiệt hạirất lớn
Phải sau 3-4 năm, khi mà người dân đã biết cải tạo môi trường theo đúng quytrình của ngành và có kỹ sư kiểm soát thì dịch bệnh mới ổn định được Sở Thuỷsản Hà Tĩnh đã tổ chức cho cán bộ đi tham quan các trại nuôi, các cơ sở sản xuấtgiống tìm ra một số địa chỉ đáng tin cậy chủ động được nguồn giống và chất lượnggiống tốt, trong quá trình tập huấn giới thiệu và khuyến khích người dân lấy giốngtại các cơ sơ đó Khi có dịch bệnh xẩy ra thì khuyến khích người dân báo cáo lên
để kịp thời khoanh vùng dập dịch không để cho dịch bệnh lây lan giữa các vùngnuôi hay lan tràn ra môi trường Đồng thời cũng khuyến cáo người dân không đượcdùng các loại hoá chất cấm sử dụng của ngành
Trang 11Từ năm 2005 Sở Thuỷ sản Hà Tĩnh đã có các loại máy móc trang thiết bị hiệnđại để kiểm tra dịch bệnh như máy PCR
Năm 2006, tại công ty nuôi tôm Việt Anh – Kỳ Nam, tôm bệnh khi kiểm tramàu sắc thấy vẫn bình thường nhưng khi giải phẩu thì khối gan tụy có hiện tượngdập nát hoặc có một số ao thì khối gan tụy của tôm teo khô, cứng, mức độ cảmnhiễm cao và chết rất nhanh chỉ sau vài ngày mắc bệnh là tôm chết Khi luộc lênthịt tôm nhão, không ngon Công ty đã gửi mẫu bệnh phẩm đi xét nghiệm tại cácviện nghiên cứu hàng đầu trên thế giới nhưng cho đến nay vẫn không có kết quảchính xác
Trang 12Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Dịch bệnh trên tôm sú nuôi tại Hà Tĩnh
Tôm sú (Tên tiếng Anh: Giant/Black Tiger Prawn) được định loại là:
Hình 1: Cấu tạo ngoài của tôm sú
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Điều tra, đánh giá thực trạng bệnh tôm trên địa bàn Hà Tĩnh trong thời gianqua (2001–2008)
- Phân các nhóm bệnh chính, xác định thời gian xuất hiện và mức độ cảmnhiễm các loại bệnh trên tôm nuôi
- Phân tích một số mẫu về bệnh phẩm và môi trường vụ nuôi 2008 để xácđịnh bệnh
Trang 13- Giải pháp cho công tác phòng trị bệnh.
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Điều tra thu thập tình hình dịch bệnh ở tôm sú nuôi tại Hà Tĩnh theo phươngpháp PRA (làm việc trực tiếp với chủ hộ, nhóm hộ ở một số vùng nuôi tập trungtrên địa bàn để phỏng vấn, thu thập thông tin tài liệu và số liệu về dịch bệnh)
- Lấy mẫu phân tích của các chỉ số môi trường tại các vùng nuôi thường xuyên
bị dịch bệnh xảy ra như: pH, NH3, Fe, H2S, NO3, NH4, SO4, nhiệt độ, độ mặn, pHđất
- Thu mẫu ngẫu nhiên trong ao nuôi có hiện tượng tôm yếu tại các vùng nuôi
để phân tích, chẩn đoán (tại chỗ, tại phòng thí nghiệm) bằng phương pháp cảmquan, máy PCR,
+ Tần suất thu mẫu bệnh phẩm: Tiến hành thu mẫu định kỳ theo địa điểm trongthời gian nghiên cứu với tần suất 1 tuần/1 đợt vào những thời điểm tôm có dấu hiệu
bị bệnh
+ Tần suất thu mẫu môi trường: Lựa chọn những vùng nuôi thường xuyên códịch bệnh xảy ra và lấy vào thời điểm tôm thường hay phát bệnh (tuỳ vào điều kiện
1 tuần/1 lần hoặc nhiều hơn)
Các mẫu bệnh phẩm được phân tích tại chi cục bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản HàTỉnh
2.4 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Thời gian: Từ 05 tháng 05 đến 05 tháng 10 năm 2008
- Địa điểm: Trung tâm Khuyến Ngư và Giống nuôi trồng thuỷ sản Hà Tĩnh
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Trang 143.1 ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG BỆNH TÔM TRÊN ĐỊA BÀN HÀ TĨNH TRONG THỜI GIAN 2001 - 2008
Qua điều tra chúng tôi đã thu được những kết quả sau:
3.1.1 Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản và nuôi tôm
Bảng 1: Tổng diện tích NTTS và nuôi tôm
ĐVT: haNăm DT nuôi TS DT nuôi tôm Năm DT nuôi TS DT nuôi tôm
2001 1.200 1.000 2005 2.900 2.600
2002 1.250 1.120 2006 3.000 2.650
2003 1.346 1.250 2007 3.100 2.700
2004 2.800 2.600 2008 3.200 2.750
(Nguồn: Trung tâm Khuyến Ngư tỉnh Hà Tĩnh)
Qua bảng 1 ta thấy: Diện tích hàng năm đều mở rộng, năm 2001 tổng diệntích nuôi trồng thuỷ sản toàn tỉnh mới chỉ đạt 1.200 ha trong đó diện tích nuôitôm là 1.000 ha mà đến năm 2008 tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản mặn lợ đạt
3200 ha trong đó nuôi tôm là 2.750 ha Đặc biệt năm 2004 có sự tăng vọt do sựthành công của những năm trước đã thu hút người dân ồ ạt đi nuôi tôm
3.1.2 Đối tượng nuôi
Chủ yếu là các đối tượng nuôi truyền thống bao gồm: Cua biển, tôm rảo,ngao Các giống này được khai thác bằng các loại nghề trên sông trong Tỉnh Một
số ít giống ngao được mua từ các tỉnh khác về
Giống tôm sú mua vận chuyển từ các tỉnh phía Nam: Đà Nẵng, Phú Yên,Khán Hoà, v.v
Bảng 2: Số lượng tôm sú giống của các năm
Trang 15ĐVT: Triệu conNăm Số lượng giống Năm Số lượng giống
(Nguồn: Trung tâm Khuyến Ngư tỉnh Hà Tĩnh)
Qua bảng 2 ta thấy: Số lượng tôm giống hàng năm đều tăng lên, đặc biệt năm 2004
số lượng tôm giống tăng lên rõ rệt cùng với sự tăng lên của diện tích nuôi
3.1.3 Mùa vụ nuôi trồng thủy sản
Vụ Đông xuân từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau: chủ yếu thả cua, tôm rảo
Vụ hè thu từ tháng 3 đến tháng 8: nuôi tôm sú, tôm he, thả bổ sung cá rô phiđơn tính
Nuôi ngao: thả giống từ tháng 2, 3 và thu hoạch vào tháng 12, 1 năm sau
Nhưng có một số hộ nuôi đã không tuân thủ nuôi đúng mùa vụ: mùa lạnh vẫnthả tôm sú, mùa hè nóng nực vẫn thả cua, thậm chí cua và tôm thả lẫn trong một aonên hiệu quả nuôi rất thấp
3.1.4 Hình thức và công nghệ nuôi thủy sản
Hình thức nuôi chủ yếu là quảng canh, quảng canh cải tiến và một số vùng nuôibán thâm canh, thâm canh
Trong những năm gần đây, người dân đã có chú trọng đầu tư vốn để tu sửa aođầm, mua giống thả, thức ăn và đặc biệt có quan tâm đến một số yếu tố môi trường
ao nuôi Hình thức nuôi cũng dần thay đổi, cho đến nay hình thức nuôi thâm canh
và bán thâm canh chiếm khoảng 20- 30
3.1.5 Năng suất, sản lượng thủy sản nuôi
Năng suất nuôi tôm sú bán thâm canh mới đạt giới hạn thấp của năng suất nuôitôm sú trong cả nước, tôm sú nuôi quảng canh cải tiến đạt 0,3-0,4 tấn/ha/vụ Diện
Trang 16tích nuôi bán thâm canh chỉ mới dừng lại ở các mô hình có sự hỗ trợ của Trung tâmKhuyến ngư, bà con ngư dân chưa có đủ nguồn vốn để nuôi tôm sú bán thâm canh Năm 2008 sản lượng nuôi tôm trong toàn tỉnh đạt 3.000 tấn.
3.1.6 Thức ăn sử dụng để nuôi tôm
Hiện nay người dân đang dùng thức ăn tự chế biến
Thức ăn công nghiệp mới thực sự đến với người nuôi tôm Hà Tĩnh trong vàinăm gần đây, mức độ sử dụng thức ăn công nghiệp đang thấp Nuôi bán thâm canh,
sử dụng thức ăn công nghiệp cũng chỉ mới ở mức 50-60%, nuôi quảng canh cảitiến: 10-20% Chủng loại thức ăn chủ yếu KP90-Đà Nẵng (Hải Vân - Đà Nẵng).Các loại thức ăn của hãng CP (Thái Lan), Con Cò, còn ít được sử dụng vì giácao Hiện tại Hà Tĩnh chưa có cơ sở sản xuất thức ăn cho tôm cá, mà chủ yếuchúng được vận chuyển từ các tỉnh phía Nam ra
3.1.7 Tình hình bệnh dịch
Giai đoạn 2001-2008 nghề nuôi trồng thuỷ sản nước lợ Hà Tĩnh dịch bệnhthường xuyên xẩy ra và đã gây thiệt hại lớn cho bà con nuôi
Năng lực phòng và trị bệnh cho đối tượng nuôi hiện nay đang còn yếu kém: cơ
sở vật chất, máy móc, dụng cụ và các hoá chất phục vụ cho công tác theo dõi pháthiện bệnh còn hạn chế, cán bộ kiểm dịch thuỷ sản còn mỏng, chưa có cán bộ đượcđào tạo chuyên sâu về bệnh thủy sản Vì vậy, vấn đề phát hiện và ngăn ngừa dịchbệnh cho tôm nuôi đang còn nhiều lúng túng, thiếu kinh nghiệm về phòng trị bệnhcho đối tượng nuôi
3.2 CÁC NHÓM BỆNH CHÍNH TRÊN TÔM NUÔI, THỜI GIAN XUẤT HIỆN VÀ MỨC ĐỘ CẢM NHIỄM
3.2.1 Các nhóm bệnh chính
Trang 173.2.1.1 Bệnh MBV (Monodon Baculovirus) ở tôm sú
a Tác nhân gây bệnh: Virus typ A (Baculovirus Monodon), cấu trúc nhân
(acid nucleoic) là ds ADN có lớp vỏ bao bọc hình que Theo J Mari và CTV(1993) thì chủng MBV của tôm sú từ vùng Thái Bình Dương, có kích thước nhân
42 ± 3 nm x 246, 15 nm, kích thước vỏ bao 75 ± 4 nm x 324 ± 33 nm Chủng PMV
của tôm (P plebejus, P monodon, P merguiensis) từ Úc có kích thước nhân 42 –
52 nm x 260 – 300 nm, kích thước vỏ bao 60 x 420 nm Virus ký sinh ở tế bào biểu
mô hình ống gan tụy (Hepatopancreas) và tế bào biểu bì phía trước ruột giữa, virus
tái sản xuất bên trong tế bào vật chủ
Trang 18
Hình 2: Tôm bị nhiễm virus MBV
- Các phần phụ của vỏ kitin có hiện tượng hoại tử, có nhiều sinh vật bám (kýsinh trùng đơn bào, tảo bám và vi khuẩn dạng sợi )
- Gan tụy teo có màu trắng hơi vàng, thối rất nhanh
- Tôm chết dần, dạt vào bờ, bơi tầng mặt, chết rãi rác trong vòng 3–7 ngày, tỷ
lệ chết dồn tích cao tới 70% hoặc tôm chết hầu hết trong ao
3.2.1.2 Hội chứng bệnh đốm trắng Baculovius (White spot syndrome Baculovius
Complex - WSBV)
a Tác nhân gây bệnh:
Trước đây người ta cho rằng, tác nhân gây bệnh đốm trắng trên tôm he chính
là virus thuộc giống Baculovirus, thuộc nhóm không có thể ẩn (Non OcclusionBody), có dạng hình que và acide nucleic là DNA, kích thước khác nhau phụ thuộc c khác nhau ph thu c ụ thuộc ộc
v o nghiên c u khác nhau: ào nghiên cứu khác nhau: ứu khác nhau:
Trang 19
Hình 3: Tôm bị bệnh đốm trắng
Hình 4: Tôm bị bệnh đốm trắng
Trang 20- Tôm bệnh có thể bị chuyển sang màu hồng đỏ.
- Thể virus ký sinh trong tổ chức của biểu bì và trung bì, tế bào biểu bì ruột, dạdày
Trang 21- Những dấu hiệu khác: Đầu tiên thấy tôm nổi lên ở tầng nước mặt và dạt vào
bờ, bỏ ăn, hoạt động kém, các phần phụ bị tổn thương, nắp mang phồng lên và vỏ
có nhiều sinh vật bám
- Các đốm trắng xuất hiện ngay khi có dấu hiệu đầu tiên về sức khỏe tôm yếu
và trong vòng 3–10 ngày có thể 100% tôm đã bị bệnh
Trong những năm gần đây bệnh đốm trắng thường xuất hiện trong các khuvực nuôi tôm ven biển Việt nam, hầu hết các tỉnh bị nhiễm bệnh đốm trắng và đãlàm tôm chết hàng loạt, gây thiệt hại lớn cho nghề nuôi tôm
Mùa xuất hiện bệnh thường là vào mùa xuân hoặc đầu hè Bệnh đốm trắngthường gây chết tôm rảo, tôm nương, cua, ghẹ sau đó là tôm sú sau 1–2 thángnuôi Tháng 05/2001 Bùi Quang Tề và cộng sự đã điều tra 8 tỉnh ở phía Bắc (HàTĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá, Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Hải phòng vàQuảng Ninh) gồm 320 hộ nuôi tôm sú thì có 204 hộ (63,75%) có tôm nhiễm mầmbệnh đốm trắng, trong đó có 126 hộ (39,38%) bệnh dốm trắng đã làm cho tôm chết
Ví dụ nuôi tôm ở đồng Ngọc Trâm 1 (33 ha) xã Quảng Trung - Quảng Xương(Thanh Hoá) tôm nuôi bị chết sau 1–2,5 tháng, bệnh đốm trắng đã lây lan cả khuđồng làm tôm chết hết
3.2.1.3 Bệnh đầu vàng ở tôm sú (Yellow Head Diseaase-YHD)
a Tác nhân gây bệnh
Tác nhân gây bệnh đầu vàng ở tôm sú là virus hình que kích thước 44 ± 6
nm x 173 ± 13nm Nhân của virus có kích thước gần bằng 15 nm, chiều dài có thể
tới 800 nm Cấu trúc acid nhân là ARN có đặc điểm giống họ Rhadoviridae hoặc nhóm virus dạng sợi họ Paramyxovinidae Một nghiên cứu gần đây đã cho virius bệnh đầu vàng gần giống họ Coronavinidae (theo V.Alday de Graindorge & T W.
Flegel, 1999)
Trang 22- Kiểm tra tiêu bản thấy máu có dấu hiệu bất thường Nhân tế bào hồng cầuthoái hoá kết đặc lại hoặc bị phá hủy, phân mảnh.
- Kiểm tra mô bệnh học thấy có hiện tượng hoại tử ở nhiều cơ quan và xuấthiện các thể vùi trong tế bào chất, nhân thoái hoá kết đặc phân mãnh của nhiều tếbào khác nhau: Tế bào huyết (Lymphoid), tế bào nang, tế bào biểu bì ruột
Trang 23Tôm bị đen mang thường gặp vào tháng nuôi thứ 3 và thứ 4, cần kiểm tra kịpthời, khi thấy có hiện tượng đen mang, bắt vài con cho vào chậu nước sạch, sau 10phút mang tôm sạch trở lại, đây là hiện tượng đáy ao bị dơ ít Nếu mang khôngsạch mà vẫn bị đen, lý do đáy ao bị dơ nhiều, cặn bã tồn đọng nhiều, thuận lợi cho
vi khuẩn và nguyên sinh động vật có hại phát triển nhiều bám vào mang, gây hạicho mang tôm
3.2.1.6 Bệnh cụt râu mòn đuôi:
Khi có hiện tượng tôm nuôi bị cụt râu hay đuôi bị ăn mòn, do đáy ao dơ nhiềucặn bã, làm cho vi khuẩn có hại và ký sinh trùng phát triển qúa nhiều, gây bệnh chotôm
- Tôm yếu, hoạt động khó khăn
- Trên vỏ, phần phụ, mang sinh vật bám đầy
- Sinh vật bám làm cản trở sự hoạt động và làm mất chức năng hô hấp củatôm, đặc biệt gây tác hại lớn ở ấu trùng tôm và tôm nhiễm bệnh virus
3.2.1.8 Bệnh dinh dưỡng và môi trường ở tôm
* Bệnh thiếu vitamin C, hội chứng chết đen.