1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra cây thuốc vườn nhà và vườn đồi ba xã nam trung, khánh sơn, nam kim thuộc huyện nam đàn, tỉnh nghệ an

40 514 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều tra cây thuốc vườn nhà và vườn đồi ba xã Nam Trung, Khánh Sơn, Nam Kim thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hoài
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Thực vật học
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm giúp bà con nông dân đẩy mạnh sản xuất, nâng cao sức khỏe và đời sống,Chính phủ ban hành các nghị định về giao đất, giao rừng, các quyết định về sử dụng đấttrống, đồi núi trọc, xây

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo

Trờng đại học vinh

Nguyễn thị thanh hoài

Điều tra cây thuốc vờn nhà và vờn đồi ở ba xã Nam Trung, Khánh Sơn, Nam Kim thuộc

Trang 2

3.1 Thành phần các taxon cây thuốc của người dân ở 3 xã thuộc huyện

3.2 Đánh giá tính đa dạng các cây làm thuốc của người dân ở khu

3.3 Điều tra các bài thuốc chữa bệnh của các thầy thuốc nam và bà

PHỤ LỤC 2 Một số bài thuốc thu thập được 66PHỤ LỤC 3 Một số hình ảnh về cây thuốc 73

danh môc c¸c b¶ng biÓu vµ h×nh vÏ

i – b¶ng biÓu:

B¶ng 1.1 KhÝ hËu thuû v¨n cña Nam §µn tõ n¨m 2002- 2010

Bảng 1.2 Tổng hợp về dân số, diện tích, mật độ dân số và tỷ lệ % gia

tăng dân số ở ba xã nghiên cứu

B¶ng 3.1 Danh lôc c©y thuèc ba x· Nam Trung, Kh¸nh S¬n, Nam

Kim huyÖn Nam §µn

B¶ng 3.2 §¸nh gi¸ vÞ trÝ taxon trong c¸c ngµnh

B¶ng 3.3 Sè lîng hä, chi, loµi ë hai líp trong ngµnh Ngäc lan

Trang 3

Bảng 3.4 Sự phân bố số lợng loài cây thuốc trong các họ

Bảng 3.5 Các họ có số lợng loài nhiều

Bảng 3.6 So sánh sự đa dạng các taxon cây thuốc của ba xã nghiên cứu với cây thuốc Việt Nam

Bảng 3.7 Dạng thân của các cây thuốc đợc ngời dân sử dụng

Bảng 3.8 Sự phân bố các loài cây thuốc theo môi trờng sống

Bảng 3.9 Sự đa dạng trong các bộ phận đợc sử dụng làm thuốc

Hỡnh 1.1 Bản đồ ba xó ở khu vực nghiờn cứu

Hình 3.1 Phân bố các họ chi loài trong các ngành thực vật

Hình 3.2 Sự phân bố họ chi, loài trong hai lớp của ngành Mộc lanHình 3.3 Tỷ lệ % các nhóm dạng thân của cây thuốc ở ba xã nghiên cứuHình 3 4 Phân bố các loài cây thuốc ở theo môi trờng sống

Hình 3.5 Tỷ lệ % các bộ phận đợc sử dụng làm thuốc

Hình 3.6 Tỷ lệ % cách bào chế thuốc của ngời dân ở Nam Đàn

quy ớc viết tắt trong luận văn

Trang 5

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Từ bao đời nay, Vờn nhà đợc xem là "cái nôi” duy trì cuộc sống của ngời dânViệt nam Đời sống của mỗi ngời dân đều gắn bó với từng mảnh vờn, nơi cung cấp lơngthực, thực phẩm và sản phẩm sử dụng để làm thuốc chữa bệnh, góp phần nâng cao sứckhỏe và đời sống của ngời dân Ngày nay, với thời kì công nghiệp hóa, hiên đại hóa đãgây ô nhiễm môi trờng làm cho dịch bệnh ngày càng gia tăng, ảnh hởng tới sức khỏecủa con ngời Hiện tại có nhiều bệnh mà y học trong nớc cũng nh ngoài nớc phải bótay khi điều trị bằng thuốc tây Trong khi đó một số bài thuốc y học cổ truyền lại tỏ

ra có hiệu quả và ít gây tác dụng phụ Chính vì thế việc sử dụng vờn nhà và vờn đồi đểtrồng các loài cây làm thuốc ngày càng đợc các thầy thuốc nam và bà con nhân dânquan tâm Tuy nhiên, những kinh nghiệm quý báu về cách sử dụng dùng cây cỏ tronglàm thuốc của các thầy thuốc nam và bà con nhân dân đang ngày càng bị mai một dầnbởi nhiều lí do khác nhau

Nhằm giúp bà con nông dân đẩy mạnh sản xuất, nâng cao sức khỏe và đời sống,Chính phủ ban hành các nghị định về giao đất, giao rừng, các quyết định về sử dụng đấttrống, đồi núi trọc, xây dựng vờn nhà, vờn đồi, đã tạo thêm một bớc phát triển mới cả vềquy mô cũng nh chất lợng vờn, làm đa dạng hơn về thành phần loài cây trồng, trong đó

có cây trồng để làm thuốc chữa bệnh

Tuy nhiên việc canh tác cây trồng trong vờn của nhân dân phần nhiều còn mangtính tự phát, theo kinh nghiệm lu truyền là chính, cha đợc đầu t khoa học một cách thích

đáng Vờn chuyên canh còn ít, các cây trồng có năng suất cha cao, đặc biệt là các loàicây đợc sử dụng làm thuốc Vờn tạp còn phổ biến, vì vậy việc nghiên cứu các cây trồng

để sử dụng làm thuốc trong vờn nhà và vờn đồi cần thiết đợc đặt ra, nhằm hệ thống lạicác loài cây làm thuốc trong vờn, tìm hiểu tác dụng chữa bệnh của các loài cây, các họ

có nhiều loài có giá trị cao trong chữa bệnh đang trồng trong đất vờn Do đó, chúng tôi

chọn đề tài: “Điều tra cây thuốc vờn nhà và vờn đồi ở ba xã Nam Trung, Khánh Sơn,

Nam Kim thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An”.

Trang 6

Xác định thành phần loài thực vật làm thuốc và kinh nghiệm sử dụng chúng củanhân dân ở ba xã nghiên cứu để góp phần phát triển nguồn dợc liệu vốn quý báu này ởNghệ An nói riêng và ở Việt Nam nói chung Đồng thời góp phần bảo tồn các nguồngen cây thuốc và các bài thuốc đang có nguy cơ mất dần

Chơng 1Tổng quan tài liệu1.1 tổng quan nghiên cứu cây thuốc

Trang 7

1.1.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc một số nớc trên thế giới

Trong sự phát triển của loài ngời, mỗi dân tộc mỗi quốc gia đều có những nền Yhọc cổ truyền riêng, việc tìm nguồn thức ăn, nớc uống với cây thuốc chỉ là một Nhữngkinh nghiệm dân gian đợc nghiên cứu ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào sự pháttriển của mỗi quốc gia Vì thế Dân tộc, thực vật học đã đợc hình thành ngay từ khi xuấthiện con ngời

Vào đầu thập kỷ thứ II nhân dân Trung Quốc đã biết dùng các loài cây cỏ để chữabệnh nh: Nớc chè đặc; rễ cây cốt khí củ (Polygonum cuspidatum); vỏ rễ cây Táo tầu

(Zizyphus vulgaris)…để chữa vết thơng; dùng các loài nhân sâm (Panax) để phục hồi ngũ

quan, trấn tĩnh tinh thần, chế ngự cảm xúc, chặn đứng kích động, giải trừ lo âu, sáng mắt,khai sáng trí tuệ, gia tăng sự thông thái đợc sử dụng phổ biến từ lâu ở Trung Quốc [theo 38]

Nền y học Trung Quốc đợc xem là cái nôi của y học cổ truyền Các bài thuốc đợcxem nh hình thành sớm nhất từ đây Từ năm 3216 hoặc 3080 (TCN) Thần nông - mộtnhà dợc học tài năng đã chú ý tìm hiểu tác động của cây cỏ đến sức khỏe của con ngời

Ông đã thử nghiệm tác dụng các loài cây thuốc trên chính bản thân bằng uống, nếm rồighi chép tất cả những hiểu biết đó vào cuốn sách " Thần nông bản thảo" gồm 365 vị

thuốc rất có giá trị Vào đầu thế kỷ thứ II ngời Trung Quốc đã biết dùng các loại cây cỏ

để chữa bệnh nh: nớc chè đặc, cây Cốt khí củ (Polygonum cuspidatum); vỏ, rễ cây táo

tàu (Zizypus vulgaris) chữa vết thơng mau lành; Thơng lục (Phytolacca acinosa và P americana) là vị thuốc bổ cổ truyền, các loại Nhân sâm (Panax) có tác dụng giúp phục

hồi ngũ quan, trấn tĩnh tinh thần, chế ngự cảm xúc, ngăn ngừa kích động, giải trừ âu lo,sáng mắt, khai sáng trí tuệ, gia tăng sự thông thái [theo 24, 35]

Trơng Trọng Cảnh là vị thánh trong đông y vào thời Đông hán cách đây 1700 năm,

ông đã nghiên cứu và viết "Thơng hàn tập bệnh luận" chỉ các bệnh dịch và bệnh về thời tiếtnói chung và đề ra những cách chữa trị bằng thảo dợc [theo 16]

Trong cuốn "Cây thuốc Trung Quốc" (1985) đã liệt kê một danh lục các cây cỏ chữabệnh nh rễ cây Gấc (Momordica cochinchinensis) chữa nhọt độc và viêm tuyến hạch, hạt

trị sng tấy đau khớp, sốt rét, chữa vết thơng tụ máu; Cải soong giải nhiệt, chữa lở mồm,

Trang 8

chảy máu chân răng, bớu cổ cây Chè (Camellia sinensis) làm hng phấn thần kinh, giảm

mệt mỏi, kháng lị trực khuẩn [theo 38]

Y học dân tộc Bungari “ đất nớc của hoa hồng” đã sử dụng cây u thế của mình nhmột thần dợc vì nó là vị thuốc chữa trị đợc nhiều bệnh, ngời ta dùng cả hoa, lá, rễ, để làmthuốc tan huyết ứ và phù thũng Ngày nay khoa học đã xác định trong cánh hoa hồng cóchứa một lợng tanin, glucosit, tinh dầu đáng kể [28]

Theo hai nhà nghiên cứu Y Cao và R Cao (Thụy Điển) cùng các nhà khoa học ởViện hàn lâm Hoàng Gia Anh thì Chè xanh có khả năng ngăn chặn sự phát triển các loạiung th gan, dạ dày nhờ một hoạt chất của phenol có tên là gallat epigllocatechol (GEGC)[theo 38]

ở quốc đảo Cu Ba ngời ta đã dùng bột papain lấy từ cây Đu Đủ (Carica papaya)

để làm rụng hoại tử, kích thích tổ chức hạt ở vết thơng phát triển [24]

Từ những kinh nghiệm dân gian đó ngời ta đã nghiên cứu thành phần hóa học vàtìm ra các hợp chất hóa học từ cây cỏ để chữa bệnh ở đời Hán (năm 168 TCN) trongcuốn sách "Thủ hậu bị cấp phơng" đã kê 52 đơn thuốc chữa bệnh từ cây cỏ Vào thế kỷXVI Lý thời Trần đã thống kê đợc 12.000 vị thuốc trong tập "Bản thảo cơng mục" xuất

Cùng với phơng thức chữa bệnh theo Y học cổ truyền, các nhà khoa học trên thếgiới còn đi sâu nghiên cứu cơ chế của các hợp chất hóa học trong cây cỏ có tác dụngchữa bệnh Tokin, Klein, Penneys đã công nhận rằng hầu hết cây cỏ đều có tính khángkhuẩn Tính kháng khuẩn này là do có các hợp chất nh Phenolic, antoxyan, các dẫn xuấtquinin, alkaloid, heterozit, saponin tạo nên [39] Theo Anon (1982) trong vòng gần

200 năm trở lại đây có ít nhất 121 hợp chất hóa học tự nhiên con ngời đã biết đợc cấu

Trang 9

trúc có trong cây cỏ có thể dùng làm thuốc Ví dụ nh cây Lô Hội (Aloe barbadensis)

theo Gotthall (1950) đã phân lập đợc chất Gucosit barbaloin có tác dụng với vi khuẩnLao ở Ngời và có tác dụng với Bacilus subtilic [theo 38] Lucas và Lewis (1944) đã

chiết từ cây Kim ngân (Lonicera tatarica) một hoạt chất có tác dụng với các loại vi

khuẩn gây bệnh tả lị mụn nhọt Gilliver (1946) đã chiết đợc Berberin từ cây Hoàng Liên(Coptis tecta) có tác dụng chữa bệnh đờng ruột ở ngời và kiềm chế một số giống vi

khuẩn làm hại cây cối Schlederre (1962) cho rằng chất đó có thể chữa khỏi bệnhBontond orient [theo 31] Lebedev nhận xét rằng Berberin có tác dụng đối với tụ cầu,liên cầu, trực khuẩn, ho gà, trực khuẩn lị, thơng hàn và trực khuẩn lao [theo 30]

Theo thống kê của tổ chức y học thế giới (WHO) thì năm 1985 đã có gần 20.000loài thực vật (trong tổng số 250.000 loài đã biết) đợc sử dụng làm thuốc hoặc cung cấpcác chế phẩm để chế biến thuốc Trong đó ấn Độ có khoảng 6000 loài, Trung Quốc

5000 loài, vùng nhiệt đới Châu Mỹ hơn 1900 loài thực vật có hoa dùng làm thuốc [theo38] Theo WHO mức độ sử dụng nguồn dợc liệu ngày càng nhiều: Trung Quốc hàngnăm tiêu thụ hết 700.000 tấn/ năm, sản phẩm thuốc y học dân tộc đạt giá trị khoảng 1,7

tỉ USD trong năm 1986 Tổng giá trị về thuốc có nguồn gốc từ thực vật trên thị trờngChâu Âu -Châu Mỹ và Nhật Bản 1985 đạt hơn 43 tỉ USD Tại các nớc có nền kinh tếphát triển tăng từ 335 triệu (năm 1976) lên 551 triệu USD (năm 1980) Còn Nhật bảnnhập khẩu thảo dợc tăng từ 21.000 tấn (1979) lên 22.640 tấn dợc liệu (1980) tơng đơng

50 triệu USD ở Mỹ 4,5 % tổng giá trị GDP (tơng đơng 75 triệu USD) thu đợc từ câyhoang dại làm thuốc [27] Điều này chứng tỏ rằng ở các nớc công nghiệp phát triển câythuốc phục vụ cho nền y học cổ truyền cũng phát triển mạnh Cây thuốc là loại cây kinh

tế, cung cấp nhiều loài thuốc dân tộc và hiện đại trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏecho con ngời (Theo Chieng Mai Declaration,1988) Nh vậy, dù bất cứ quốc gia nào thìcây thuốc và Y học cổ truyền luôn có ý nghĩa thiết thực trong việc chăm sóc, bảo vệ sứckhỏe cho ngời dân [theo 38]

Thế giới thực vật đa dạng và phong phú, đem lại nhiều lợi ích cho con ngời trong

đó có lợi trong việc chữa bệnh cho ngời và động vật Do đó đã bị khai thác một cáchkhông hợp lý, khai thác không đi đôi với việc bảo vệ nên nhiều loài trở nên khan hiếm,

có nguy cơ bị tuyệt chủng hoặc đã tuyệt chủng Sự mất mát các loài đang xảy ra nhanh

Trang 10

khoảng 5-10% số lợng các loài sẽ biến mất và số loài bị tiêu diệt sẽ tăng lên là 25% vàokhoảng năm 2050 [26, 45].

Trong số các loài thực vật bị mất hoặc bị tuyệt chủng có rất nhiều loài làm thuốc Bagạc là một trong nhiều loài đang trong tình trạng bị khai thác quá mức ở ấn độ, Srilanca,Bănglađet, Thái lan với khối lợng 400 - 500 có khi đến hàng nghìn tấn vỏ rễ mỗi năm đểxuất sang thị trờng Âu - Mỹ Với tốc độ khai thác nh vậy đã dẫn đến sự khan hiếm có nguycơ tuyệt chủng Một loài cây thuốc quý của ấn Độ là Coptis teeta, trớc kia thu hái quá mức

để bán sang các nớc Đông á nên hiện nay đã lâm vào tình trạng nguy hiểm [8]

Để phục vụ cho mục đích chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho con ngời, cho sự pháttriển của xã hội và để chống lại các bệnh nan y, thì sự kết hợp giữa Đông - Tây y, giữa yhọc hiện đại với y học cổ truyền của các dân tộc là điều cần thiết Chính từ những kinhnghiệm của y học cổ truyền đã giúp cho nhân loại khám phá ra những loài thuốc có íchtrong tơng lai Vì vậy, việc khai thác kết hợp với bảo tồn các loài cây thuốc là điều hếtsức quan trọng Các nớc trên thế giới đang hớng về thực hiện chơng trình quốc gia kếthợp sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vững cây thuốc

Tóm lại kinh nghiệm dùng các loài cây cỏ để chữa bệnh của đồng bào ta là phongphú, đa dạng Đây là kết quả của một quá trình lâu dài từ thế kỷ này sang thế kỷ kháccủa cả dân tộc, thậm chí họ phải đổ cả máu để đúc kết thành những kinh nghiệm truyềnthống

1.1.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt nam

Theo dòng chảy lịch sử, nền Y học cổ truyền Việt nam đợc hình thành và pháttriển Qua mỗi thời kì lịch sử, mỗi giai đoạn phát triễn xã hội có những công trình ghichép vốn hiểu biết của nhân dân về những kinh nghiệm dân gian quý báu trong sử dụngthảo dợc vào trị bệnh Ngay từ thời vua Hùng dựng nớc (2900 năm TCN) qua các văn tựHán Nôm còn sót lại (Đại Việt sử ký ngoại ký, Lĩnh nam chích quái liệt truyện, Long

uy bí th ) và qua các truyền thuyết, tổ tiên ta đã biết sử dụng cây cỏ làm gia vị kíchthích làm ngon miệng và thuốc chữa bệnh [theo 18-21] Theo Long úy chép lại, vào đầuthế kỷ II (TCN) có hàng trăm vị thuốc từ đất Giao chỉ nh: ý dĩ, Hoắc hơng (Pogostemon cablin (Blanco) Benth.), đợc ngời Tàu đa về nớc để giới thiệu sử dụng [theo 21].

Trang 11

Đời nhà Trần (1225-1399), Phạm Ngũ Lão thừa lệnh Hng Đạo Vơng-Trần QuốcTuấn xây dựng một vờn thuốc lớn để chữa bệnh cho quân sỹ, tên núi đó gọi là "Sơn Dợc"nay còn là di tích tại một quả đồi thuộc xã Hng Đạo (Chí Linh-Hải Hng) Chu Tiên biênsoạn cuốn sách" Bản thảo cơng mục toàn yếu" đây là cuốn sách thuốc đầu tiên xuất bảnnăm 1429 [theo 21].

Tuệ Tĩnh - ngời thầy thuốc nổi tiếng tên thực là Nguyễn Bá Tĩnh (thế kỷ XIV),biên soạn bộ "Nam dợc thần hiệu" gồm 11 quyển với 496 vị thuốc nam trong đó có 241 vịthuốc có nguồn gốc thực vật và 3932 phơng thuốc để trị 184 chứng bệnh của 10 khoa lâmsàng Ông còn viết cuốn "Hồng Nghĩa Giác t Y th" tóm tắt công dụng của 130 loài câythuốc cùng 13 phơng gia giảm và cách trị cho 37 chứng sốt Trong "Nam dợc thần hiệu"

có ghi: Tô mộc (Caesalpinia sappan) vị mặn, tính bình không độc, trừ huyết xấu, trị đau

bụng, thơng phong, sng lở; Thanh hao (Artemisia apiacea) chữa chứng sốt lị [theo 38].

Sử quân tử (Quisqualis indica) có vị ngọt, tính ôn không độc và hai kinh tỳ và vị, chữa 5

chứng cảm trẻ em, tiểu tiện, sát khuẩn, chữa tả lị, còn làm thuốc mạnh tì vị, chữa hết thảycác chứng lở ngứa của trẻ em Sầu đâu rừng (Brucea javanica) vị đắng, tính hàn, có độc,

sát trùng, trị đau ruột non, nhiệt trong bàng quang, điên cuồng, ghẻ lở Cây lá móng(Lawsonia inermis) chữa hắc lào, lở loét ngoài da, tê mỏi, viêm đờng hô hấp, gan Bạc

hà (Mentha arvensis) chữa sốt nhức đầu [theo 40] Tuệ Tĩnh đợc coi là danh y kỳ tài

trong lịch sử y học nớc ta, là "Vị thánh thuốc nam" Ông chủ trơng lấy "Nam dợc trị namnhân" Trong bộ sách quý của ông về sau bị quân Minh thu hết chỉ còn lại: "Nam dợcthần hiệu", "Tuệ Tĩnh y th", "Thập tam phơng gia giảm", "Thơng hàn tam thập thất trùngphát"( theo [21, 40])

Sau Tuệ Tỹnh, thời Lê Dụ Tông mới xuất hiện Hải Thợng Lãn Ông - tên thật là LêHữu Trác (1721-1792) Ông là ngời am hiểu về y học, sinh lý học, đọc nhiều sách thuốc.Trong 10 năm khổ công tìm tòi nghiên cứu, ông viết bộ "Lãn ông tâm lĩnh", hay "Y tôntâm lĩnh" gồm 66 quyển đề cập đến nhiều vấn đề y dợc Nh "Y huấn cách ngôn", "Y lýthân nhân", "Lý ngôn phụ chinh", "Y nghiệp thần chơng" xuất bản năm 1772 Trong bộsách này ngoài thừa kế "Nam dợc thần hiệu" của Tuệ Tĩnh ông còn công bố thêm 329 vịthuốc mới Trong quyển "Lĩnh nam bản thảo" ông đã tổng hợp đợc 2854 bài thuốc chữabệnh bằng kinh nghiệm dân gian Mặt khác ông còn mở trờng đào tạo y sinh, truyền bá t t-

Trang 12

ởng, hiểu biết của mình về y học Do vậy, Hải Thợng Lãn Ông đợc mệnh danh là "Ông tổ"sáng lập ra nghề thuốc Việt Nam [18, 34].

Dới thời Pháp thuộc, việc nghiên cứu cây thuốc gặp nhiều khó khăn Một số tácgiả ngời Pháp nh: Charles Crévost, Alfred Petelot, Charles Lemarié, Perrol Hurrier đãxuất bản bộ ''Catalogue des produits de l'Indochine" (1928-1935) trong đó tập V(Produits medicanaux, 1928) đã mô tả 368 cây thuốc và vị thuốc các loài thực vật cóhoa [14, 38, 45]

Đến năm 1951 Petelo bổ sung và xây dựng thành bộ "Les plantes medicinales duCambodge, Laos et du Viet nam" gồm 4 tập đã thông kê đợc 1482 vị thuốc thảo mộc cómặt ở ba nớc Đông Dơng (theo[45]).

Năm 1963, Phó Đức Thành và cộng sự cho xuất bản cuốn "450 cây thuốc nam cótên trong bảng dợc thảo Trung Quốc" Dợc sỹ Vũ Văn Chuyên (1966) cho ra đời cuốn

"Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc" và đã in lần thứ 2 năm 1976 cuốn sách đã mô tả đặc

điểm cơ bản các họ cây thuốc phục vụ cho công tác điều tra [15]

Từ ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc và sau ngày giải phóng Miền Nam - đấtnớc thống nhất, Đảng và Nhà nớc ta đã quân tâm đến dợc liệu, khuyến khích côngtác điều tra nghiên cứu nguồn cây thuốc nớc nhà Trong th gửi Hội nghị ngành Y tế(17/2/1955), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đờng lối xây dựng nền y học Việt Namkhoa học, dân tộc và đại chúng, dựa trên sự kết hợp giữa Y học cổ truyền với Y học hiện

đại Bộ Y tế cũng đã tạo điều kiện cho Đông Y phát triển, nên việc nghiên cứu thuốcnam phát triển mạnh mẽ Mạng lới Y học từ Trung ơng đến địa phơng đợc củng cố,thành lập Viện Y học dân tộc để đào tạo y, bác sỹ Đông y, thành lập các bệnh viện yhọc dân tộc, hội Đông y, su tầm các nguồn dợc tài liệu về thuốc nam, tổ chức điều tra,phân loại, tìm hiểu dợc tính, thành phần hóa học, lập bản đồ dợc liệu trong và sản xuấtcác loại thuốc từ nguồn cây cỏ trong Vấn đề này đợc GS - TS Đỗ Tất Lợi dày côngnghiên cứu trong nhiều năm và đã đợc xuất bản 120 công trình nghiên cứu về cây thuốc

Đáng chú ý là bộ"Dợc liệu học và các vị thuốc Việt Nam"(1957) (năm 1961 tái bản),trong đó tác giả mô tả và nêu công dụng hơn 100 cây thuốc nam [28] Từ 1962-1965 ĐỗTất Lợi lại cho xuất bản bộ "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" gồm 6 tập, đến năm

1969 tái bản thành hai tập, giới thiệu trên 500 vị thuốc có nguồn gốc từ thảo mộc, độngvật và khoáng vật Ông tiếp tục nghiên cứu và bổ sung về cây thuốc liên tục trong các lần

Trang 13

tái bản về sau Lần tái bản lần thứ 11 (2003) ông mô tả tỉ mỉ tên khoa học, phân bố, côngdụng, thành phần hóa học 792 loài cây thuốc, chia tất cả các cây thuốc theo nhóm bệnhkhác nhau [28] Đây là bộ sách có giá trị lớn về khoa học và thực tiễn.

Thực hiện chủ trơng phát triển của y học dân tộc nhiều tác giả đã đi sâu nghiêncứu và ra đời nhiều tài liệu quý nh "Sổ tay cây thuốc Việt Nam" (1980) của Đỗ HuyBích, Bùi Xuân Chơng đã giới thiệu 519 loài cây thuốc trong đó có 150 loài mới pháthiện [4] Cũng trong thời gian này Viện dợc liệu xuất bản cuốn "Dợc điển Việt Nam" (2tập), các nhà khoa học đã tổng hợp các công trình trong những năm vừa qua Viện dợcliệu cùng với hệ thống trạm nghiên cứu trong cả nớc đã điều tra ở 2795 xã, thuộc 351huyện, thị xã của 47 tỉnh thành trong cả nớc đã có những đóng góp đáng kể trong côngtác điều tra su tầm nguồn tài nguyên cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc trong yhọc cổ truyền dân gian Kết quả nghiên cứu trên đợc đúc kết từ 1961 - 1972 trong "Danhlục cây thuốc miền Bắc Việt Nam", "Danh lục cây thuốc Miền nam Việt Nam", tập "Atlascây thuốc" đã công bố về danh sách cây thuốc ở miền Bắc là 1114 loài, miền Nam là

1119 loài Tổng hợp trong cả nớc đến năm 1985 là 1863 loài và dới loài, phân bố trong

1033 chi, 236 họ, 101 bộ, 17 lớp, 11 ngành [4, 5] và mỗi loài đều giới thiệu công dụng vàcách sử dụng Năm 1997 trong " Từ điển cây thuốc Việt Nam" Võ văn Chi giới thiệu

3200 cây thuốc, mỗi cây đợc mô tả về hình thái, các bộ phận sử dụng, cách bào chế, cácbài thuốc đi kèm cùng với số lợng ảnh màu lớn 768 ảnh [12] Võ Văn Chi còn công bốdanh sách cây thuốc và bài thuốc cho nhiều địa phơng nh "Hệ cây thuốc của tỉnh Lâm

Đồng", (1982), "Danh lục cây thuốc vùng núi huyện Ninh Sơn và vùng biển huyện TuyPhong, tỉnh Thuận Hải" (1984), "Hệ cây thuốc Tây Nguyên" (1985) [theo 14], "Cây thuốc

An giang" (1991) [11], "Cây thuốc Đông Tháp Mời" (1986) [theo 13]

Vơng Thừa Ân cho ra đời cuốn "Thuốc quý quanh ta" vào năm 1995 [1] Cho đếnchơng trình tạo nguồn dợc liệu của Viện dợc liệu KV02 cho ra quyển "Tài nguyên câythuốc Việt Nam" [41] Tác giả Trần Đình Lý và cộng sự cho xuất bản cuốn "1900 loàicây có ích ở Việt Nam" [29], Nguyễn Tập (1996) đã nghiên cứu và bảo tồn các loài câythuốc quý hiếm ở Việt Nam [36], Sách đỏ Việt Nam (2007) đã thống kê đánh giá cácloài thực vật có nguy c bị tuyệt chủng, trong đó đã thống kê dợc hơn 100 loài cây thuốc[7]

Trang 14

Nguồn tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam đa dạng, phong phú và là nguyên liệucho công nghiệp dợc, công tác chiết xuất hoạt chất tự nhiên đợc đẩy mạnh Chỉ tínhtrong vòng hơn chục năm lại đây có 701 loài cây thuốc đợc điều tra tính kháng khuẩn vàmột số loài cây thuốc chính thức đợc đa vào sản xuất thuốc đại trà nh: Thanh hao(Artemisia annua L), Vằng đắng (Coscinium fenestratum (Gaertn) Colebr), Sừng dê

(Strophanthus divergens A.Graham), Ba gạc (Rauvolfia verticilata (Luor) Baill) [28,

39, 42] Theo công bố của Trần Ngọc Ninh (1994), Lê Trần Đức (1995), các nhà khoahọc Việt Nam bớc đầu chiết đợc hợp chất Taxol từ các loài Thông đỏ (Taxus spp.) cótác dụng chống ung th Hiện nay, ở nớc ta cây cỏ dùng làm thuốc đã vợt quá 3.800 loài,khoảng 1.200 chi và trên 300 họ, trong đó phần lớn là thực vật có hoa với hơn 2.500 loàithuộc 1.050 chi [12] Mới đây nhất bộ "Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam"(2003) gồm 2 tập, của tập thể tác giả Viện dợc liệu đã giới thiệu 920 loài cây thuốc, 80loài động vật làm thuốc và giới thiệu gần 1.000 bài thuốc chữa các bệnh thờng gặp [6].Chính vì lợi ích đem lại nh vậy nên cây thuốc bị khai thác quá mức Thật khó thống kêmột cách đầy đủ khối lợng dợc liệu tự nhiên đợc khai thác bởi lẽ hàng năm ngoài cơ sởsản xuất thuốc của nhà nớc còn có các cơ sủân xuất t nhân Theo Nguyễn Khang và VũQuang Chơng, trong vòng vài chục năm gần đây nớc ta đã xuất khẩu một lợng dợc liệukhá lớn khoảng 20 triệu USD và lợng tinh dầu là 20-30 triệu USD cha kể giá trị xuấtkhẩu tiểu ngạch và buôn lậu qua biên giới của t thơng [27]

Việt Nam cũng nh các nớc trên thế giới đã nhận ra sự cần thiết trong việc sử dụng

y học cổ truyền trong chữa bệnh và phòng bệnh Vì vậy chúng ta cần có một kế hoạchlâu dài trong việc sử dụng và khai thác hợp lý nguồn dợc liệu tự nhiên

1.1.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Nghệ An

Nhìn chung từ trớc tới nay ở Nghệ An các công trình nghiên cứu một cách toàndiện về cây thuốc còn cha nhiều Đã có một số công trình công bố rải rác về cây thuốc vàbài thuốc của Nghệ An trong các tài liệu của Đỗ Tất Lợi, Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chơng,Viện Dợc liệu- bộ Y tế, Võ Văn Chi, và một số nhà đông y địa phơng Hội Đông yNghệ An đã có những đóng góp trong việc giữ gìn phát huy những di sản của nền y họcdân tộc tỉnh nhà bằng kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc

Trang 15

Một số tài liệu viết về cây thuốc và các bài thuốc nh “Kinh nghiệm chữa bệnh của

Đông y Nghệ Tĩnh” (1978), của tỉnh hội Đông y Nghệ Tĩnh, “Sổ tay dùng thuốc gia

đình” (1981) của Nguyễn Văn Nhung, Đinh Sĩ Hoàn đợc nhân dân ứng dụng nhiềutrong đời sống hàng ngày Nhiều luận văn, luận án khoa học về điều tra cây thuốc, bàithuốc của thầy trò khoa Sinh Đại học Vinh cũng đợc triển khai trên nhiều địa phơng nh:

“Điều tra cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng chúng của đồng bào dân tộc Thái xã YênKhê - Con Cuông - Nghệ An” (Luận văn thạc sỹ sinh học, năm 1996) của Tô Vơng Phúc

đã thống kê đợc 223 loài cây thuốc thuộc 81 họ và 113 bài thuốc chữa 29 nhóm bệnh.Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thị Hạnh, Ngô Trực Nhã với cuốn “Thực vật học dân tộc -cây thuốc của đồng bào Thái Con Cuông Nghệ An” nhà xuất bản nông nghiệp 2001 công

bố 551 loài cây thuốc thuộc 361 chi, 120 họ [38] Nghiên cứu tính kháng khuẩn của 50loài cây thuốc và giá trị chữa bệnh phổ biến của các cây thuốc nghiên cứu và thống kê đ-

ợc nhiều bài thuốc của đồng bào Thái-Con Cuông-Nghệ An đã và đang sử dụng

Còn riêng ở vùng Tây Bắc Nghệ An, Đặng Quang Châu và cộng sự (2001) thựchiện đề tài thuộc chơng trình nghiên cứu cơ bản cấp nhà nớc “Đa dạng cây thuốc dântộc Thái các huyện Tây Bắc tỉnh Nghệ An” Từ 2001-2003 công trình đã thống kê đợc

177 loài thuộc 149 chi, 71 họ Nguyễn Thị Kim Chi (2002) với luận văn thạc sỹ “Điềutra cây thuốc của dân tộc Thổ ở 3 xã Nghĩa Hồng, Nghĩa Yên, Nghĩa Lâm thuộc huyệnNghĩa Đàn - Tỉnh Nghệ An”, đã công bố 244 loài thuộc 205 chi, 88 họ của 3 ngành thựcvật bậc cao [10] Bùi Hông Hải (2004) “Điều tra cây thuốc đồng bào dân tộc ở 3 xãChâu Lộc, Thọ Hợp và Văn Lợi thuộc huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An” [9] Lơng HoàiNam với công trình nghiên cứu cây thuốc ở 3 xã Mờng Nọc, Hạnh Dịch, Tiền Phonghuyện Quế Phong [32], Lê Thị Hơng và cộng sự (2009) đã nghiên cứu và điều tra câythuốc dân tộc Thái ở xã Châu Cờng với 71 họ, 153 chi, 191 loài [25] Trần Thị Mai Hoavới công trình “Đa dạng cây thuốc của đồng bào dân tộc Thái ở Châu Thôn, Quế Phong”

đã xác định đợc 169 loài, 139 chi và 68 họ thực vật bậc cao [23] Lữ Thị Ngân, NguyễnNghĩa Thìn với công trình nghiên cứu cây thuốc của đồng bào Thái ở Thạch Giám, T-

ơng Dơng đã công bố 231 loài cây thuốc đợc ngời dân sử dụng [33] Phạm Hồng Ban(2010) đã công bố 238 loài cây thuốc ở Châu Lý, Quỳ Hợp [2]

1.2 điều kiện tự nhiên và xã hội khu vực nghiên cứu.

Trang 16

1.2.1 Điều kiện tự nhiên.

1.2.1.1 Địa lí

Nam Đàn nằm ở hạ lu sông Lam, có toạ độ kéo dài từ 18 độ 34’ đến 18 độ 47’

vĩ độ Bắc Từ 105độ 25’ đến 105 độ 31’ kinh độ kinh độ đông Gồm 23 xã và 1 thịtrấn, phía Đông giáp huyện Hng Nguyên và Nghi Lộc, phía Tây giáp huyện ThanhChơng, phía Bắc giáp huyện Đô Lơng, phía Nam giáp huyện Hơng Sơn và Đức Thọtỉnh Hà Tĩnh

1.2.1.2 Địa chất, địa hình.

Nam Đàn có 3 dãy núi lớn là núi Đại Huệ (Rú Nậy), núi Hùng Sơn hay Độn Sơn(Rú Đụn) nằm toàn bộ trong phạm vi huyện và núi Thiên Nhẫn (Rú Trăm) nằm mộtphần trong huyện Ngoài ra còn có hàng chục ngọn núi lớn nhỏ khác nằm rải rác, xenlẫn với đồng ruộng khắp toàn huyện Độ cao trung bình các ngọn núi vào khoảng 300-500m Dòng sông Lam chảy dọc theo chiều dài của huyện trên 16 km chia cắt địa bànhuyện thành 2 vùng tả ngạn và hữu ngạn Dọc theo bờ sông là những bãi bồi thuận lợicho việc trồng trọt và thâm canh

Nam Đàn với tổng diện diện tích đất tự nhiên là: 29.522,36 ha, trong đó đất nông nghiệp là 10.365,85 ha, chiếm 35,21%, đất lâm nghiệp là 4.238 ha, diện tích đất vờn 1.567 ha, đất thổ c và đất ao hồ 2626,4 ha còn lại là diện tích chasử dụng, chủ yếu là đấttrống, đồi trọc ít có khả năng sản xuất Đất ở Nam Đàncó thể chia 4 loại

- Đất Feralit nâu đỏ: Tập trung ở vùng trung du Hng - Thái- Nghĩa nơi đây có

2 dãy núi lớn: Núi Đại Huệ (Rú Nậy) có độ cao trung bình 350-500m và núi ThiênNhẫn Đất ở đây tỉ lệ mùn thấp (<2%)

- Đất phù sa cổ: Đợc hình thành từ rất lâu, tập trung ở các xã vùng đồng chiêm

trũng: Xuân Lâm, Nam Cát chủ yếu ở vùng này là đất sét pha thịt Loại đất này nhìnchung nghèo đạm, nghèo lân, kali trung bình

- Đất phù sa đợc bồi hàng năm: Tập trung ở vùng soi bãi nằm 2 bên bờ sông

Lam, chiếm diện tích ít nhất, đất chủ yếu là cát pha, đất ở đây bị rửa trôi mạnh, nhnghàng năm đợc bồi đắp phù sa vào mùa lũ

- Đất đá ong: ở vùng Kim Liên, Nam Kim

1.2.1.3 Khí hậu thuỷ văn.

Trang 17

Mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hởng của gió Lào TâyNam khô nóng, thời tiết, khí hậu của huyện Nam Đàn khá khắc nghiệt.

Theo số liệu của trạm khí tợng thuỷ văn Bắc Trung Bộ đặc điểm khí hậu củaNam Đàn nh sau:

- Muà ma: kéo dài từ tháng 9 đến tháng 1, mùa này chịu ảnh hởng của gió mùa

Số giờ nắng Lợng ma

(mm)

Độ ẩm không khí %

Qua bảng : Số giờ nắng trung bình khoảng 1000 - 1250 giờ/năm

Nhiệt độ bình quân hàng năm là 24,10C, cao nhất tuyệt đối là 40,50C, thấp nhất tuyệt

đối là 5,70C Tháng nóng nhất trong năm là tháng 5- 6 có lúc lên tới 40,40C, tháng lạnhnhất là tháng 12 - 1 Nhiệt độ ở các tháng có sự chênh lệch nhau, nhiệt độ trung bìnhcủa tháng thấp nhất là 18,20C (Tháng 1), nhiệt độ trung bình của tháng cao nhất là39,20C (Tháng 6) (Đợc thể hiện ở bảng 1)

Trang 18

Lợng ma bình quân hàng năm là 1.428 mm, năm có lợng ma lớn nhất là 2.600

mm, năm có lợng ma thấp nhất là 1.000 mm Mùa ma bão thờng xảy ra từ tháng 9 đếntháng 11 dơng lịch, có khi gây lụt úng trên diện rộng và kéo dài Do ảnh hởng của gióTây Nam (gió Lào) khô và nóng vào tháng 5 và tháng 6 nên lợng ma hơi giảm vào tháng

6 và lại tăng nhanh vào tháng 7,8,9

Lợng ma tập trung không đều hình thành 2 mùa rõ rệt đó là mùa khô từ tháng 11 đếntháng 3 năm sau, mùa ma từ tháng 4 đến tháng 11 Khả năng bốc hơi nớc tơng đối thấp chỉ

đạt 723 mm/năm, độ ẩm không khí khá cao 80,2%/năm

1.2.2 Đặc điểm địa lý, KT-XH huyện Nam Đàn

1.2.2.1 Khái quát chung về vùng đất, con ngời

Nam Đàn nằm ở hạ lu sông Lam, mang trong mình truyền thống văn hoá lâu đời,phong phú, đẹp đẽ của dân tộc, đồng thời mang đậm sắc thái riêng của Nghệ An.Truyền thống và sắc thái riêng đó đợc lu truyền qua bao thế hệ Nam Đàn cũng đã đembàn tay, khối óc của mình góp phần nhất định vào việc làm nên gia tài văn hoá chungcủa đất nớc Là vùng đất có vị trí quan trọng về chính trị, KT-XH và QP-AN của tỉnhNghệ An, là một vùng đất có truyền thống lịch sử, văn hoá lâu đời, giàu truyền thốngcách mạng, là quê hơng của Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu Con ngời Nam

Đàn cần cù, siêng năng, bất khuất, kiên cờng, không ngừng vơn lên vợt khó

Mật độ dân số(ngời/ km2)

Tỷ lệ tăng dân sốbình quân (%)

Trang 19

lúa chiếm u thế so với các cây lơng thực khác và phân bổ cả 24 xã, thị của huyện Kinh

tế của huyện tăng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hớng, kết cấu hạ tầng đợc tăngcờng, nhiều chỉ tiêu Đại Hội Đảng bộ huyện khoá XXIII đề ra đạt và vợt Tốc độ tăngtrởng bình quân hàng năm là 12,2% (chỉ tiêu Đại hội 10 - 11%) Tỷ trọng nông - lâm-thuỷ sản giảm từ 70,6% (năm 2000) xuống 60,09% (năm2009); công nghiệp - xây dựngtăng từ 12,96%(2000) lên 21,03% (2009); thơng mại - dịch vụ từ 16,44% (2000) lên16,87% (2009) Thu nhập bình quân đầu ngời từ 2,84 triệu đồng (2000) lên 7,8 triệu

đồng (2009) tăng hơn 2 lần

- Sản xuất nông - lâm - thuỷ sản: có bớc phát triển đồng đều, một số mặt tăng

tr-ởng khá Giá trị sản xuất ngành nông - lâm- thuỷ sản tăng bình quân 9,3%(chỉ tiêu ĐH6,5%) Quỹ đất đợc khai thác có hiệu quả, đạt hệ số sử dụng đất gần 2,7 lần

Lâm nghiệp và kinh tế vờn phát triển khá Hàng năm khai thác nhựa thông từ 120

-140 tấn Toàn huyện có 1500 ha vờn, trong đó có 1200 ha vờn cây ăn quả và cây thuốc

Sản xuất CN - TTCN: Đã tập trung sản xuất và khai thác những sản phẩm có

lợi thế nh: cát, sạn, đá xây dựng, gạch ngói, chế biến nông sản, làm tơng Đồng thời,phát triển thêm một số ngành nghề nh: chế biến phôi thép, làm đồ mộc, mây tre đan,thêu ren

Xây dựng và kết cấu hạ tầng: Thực hiện phơng châm phát huy mạnh mẽ nội

lực và tích cực tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, kết cấu hạ tầng đợc phát triển nhanh.Tổng vốn đầu t xã hội trong 5 năm đạt hơn 404 tỷ đồng (nhân dân đóng góp 60%) Đãxây dựng 443 km đờng cứng(trong đó133,5 km đờng nhựa), nâng tổng số đờng giaothông nông thôn đợc cứng hoá là 530,4 km (đờng nhựa là 223km) đạt 54% tổng số đờnggiao thông nông thôn, xây dựng 282 km kênh mơng, đờng điện 0,4 KVA đợc nâng cấp,xây dựng 38 trạm biến áp, cải tạo 132 đờng dây hạ thế, xây dựng 276 phòng học, trong

đó có 142 phòng học cao tầng, 56 cụm mầm non, 5 nhà văn hoá xã, 225 nhà văn hoáxóm, 7 sân vận động, 10 cụm thông tin - cổ động, 6 nhà bia tởng niệm các xã

- Giáo dục - đào tạo: Có nhiều tiến bộ đáng kể, chất lợng giáo dục đợc nâng lên.

tỷ lệ học sinh giỏi huyện, tỉnh năm sau cao hơn năm trớc, số giáo viên giỏi tỉnh tăng,trong đó có giáo viên giỏi cấp quốc gia Số học sinh đậu vào các trờng đại học, cao đẳngtăng nhanh Cơ sở vật chất của nhiều trờng học đợc tăng cờng

Cộng đồng làng xã Nam Đàn là nơi có truyền thống văn hóa lâu đời với di tíchlịch sử, di tích lịch sử văn hóa đợc xếp hạng, nhiều ngày lễ hội văn hóa dân gian với các

Trang 20

hoạt động văn hóa trong năm phong phú, là quê hơng Chủ tịch Hồ Chí Minh anh hùnggiải phóng dân tộc-danh nhân văn hoá thế giới.

Ngày đăng: 26/12/2013, 11:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Danh lục cây thuốc ba xã Nam Trung, Khánh Sơn, Nam Kim huyện Nam Đàn - Điều tra cây thuốc vườn nhà và vườn đồi ba xã nam trung, khánh sơn, nam kim thuộc huyện nam đàn, tỉnh nghệ an
Bảng 2. Danh lục cây thuốc ba xã Nam Trung, Khánh Sơn, Nam Kim huyện Nam Đàn (Trang 25)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w