1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra các loài cây thuốc chữa các nhóm bệnh ngoài da, tiêu hóa, thời tiết ớ các xã phía bắc huyện quỳ châu, tỉnh nghệ an luận văn thạc sĩ sinh học

34 686 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều Tra Các Loài Cây Thuốc Chữa Các Nhóm Bệnh Ngoài Da, Tiêu Hóa, Thời Tiết Ở Các Xã Phía Bắc Huyện Quỳ Châu, Tỉnh Nghệ An
Tác giả Nguyễn Hữu Đàn
Người hướng dẫn PGS. TS. Phạm Hồng Ban
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Sinh học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 394,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ xa xưa ngoài việc tìm kiếm thức ăn thì họ còn biết sử dụng các loại cây cỏ làm thuốc chữa bệnh.. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên thế giới Trong quá trình phát sinh, phá

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN HỮU ĐÀN

ĐIỀU TRA CÁC LOÀI CÂY THUỐC CHỮA CÁC NHÓM BỆNH NGOÀI DA,

TIÊU HOÁ, THỜI TIẾT Ở CÁC XÃ PHÍA BẮC HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

CHUYÊN NGÀNH: THỰC VẬT

MÃ SỐ: 60 42 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học : PGS TS Phạm Hồng Ban

Vinh – 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN HỮU ĐÀN

ĐIỀU TRA CÁC LOÀI CÂY THUỐC CHỮA CÁC NHÓM BỆNH NGOÀI DA, TIÊU HOÁ, THỜI TIẾT Ở CÁC XÃ PHÍA BẮC HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH

NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Vinh – 2011

LỜI CẢM ƠN

Trang 3

Để hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ vàchỉ đạo tận tình của thầy giáo PGS.TS Phạm Hồng Ban Tôi xin bày tỏ lòngbiết ơn sâu sắc đến Thầy.

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa, Các thầy cô giáo, cán

bộ, nhân viên Khoa Sinh học, Khoa Sau Đại Học – Trường Đại Học Vinh đãtận tình giúp đỡ tôi trong học tập

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, cán bộ giáo viên, công nhânviên cùng các anh em bạn bè đồng nghiệp Trường THPT – DTNT Quỳ Châu -Huyện Quỳ Châu - Tỉnh Nghệ An Cùng các cấp lãnh đạo, nhân dân, Ônglang, Bà mế của các Xã Châu Thắng, Châu Tiến, Châu Bính, Châu Thuận -Huyện Quỳ Châu đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc tìm hiểu

và thu thập các thông tin về cây thuốc

Tuy nhiên do eo hẹp về thời gian, hạn chế về kiến thức, kinh nghiệmcũng như nguồn kinh phí nên đề tài khoa học này không thể tránh được nhữngthiếu sót Tôi mong nhận được nhiều ý kiến góp ý quý báu của các thầy côgiáo, các nhà khoa học cũng như các đồng nghiệp

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

MỤC LỤC

Trang

Trang 4

Mở đầu 1

Chương 1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu cây thuốc 3

1 Tổng quan về cây thuốc 3

1.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên Thế giới 3

1.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam 8

1.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Nghệ An 14

2 Điều kiện tự nhiên – xã hội tại điểm nghiên cứu 16

2.1 Vị trí địa lý 16

2.2 Địa hình địa mạo 17

2.3 Điều kiện đất đai 17

2.3.1 Phân chia đất theo tính chất của đất 17

2.3.2 Phân chia theo mục đích sử dụng 18

2.4 Khí hậu, thời tiết 19

2.5 Điều kiện xã hội 21

2.5.1 Dân số 21

2.5.2 Điều kiện xã hội của dân tộc Thái 21

Chương 2 Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 2.1 Mục tiêu của đề tài 24

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24

2.3 Thời gian nghiên cứu 24

2.4 Nội dung ngiên cứu 24

2.5 Phương pháp nghiên cứu 24

2.5.1 Phương pháp kế thừa 25

2.5.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn 25

2.5.3 Phương pháp thu hái, xử lý bảo quản mẫu vật 25

2.5.4 Phương pháp giám định nhanh họ và chi ngoài thiên nhiên 26 2.5.5 Phương pháp xác địnhh tên khoa học 26

2.5.6 Phương pháp chỉnh lý tên khoa học 26

2.5.7 Phương pháp xây dựng danh lục 26

Trang 5

2.5.8 Phương pháp đánh giá đa dạng thực vật về phân loại 27

2.5.9 Đánh giá về các loài nguy cấp 27

Chương 3 Kết quả nghiên cứu 3.1 Các loài cây thuốc của đồng bào Thái 28

3.2 Đánh giá tính đa dạng thành phần loài cây thuốc 40

3.2.1 Đánh giá về các bậc phân loại của các nghành 40

3.2.2 Sự đa dạng các loài trong các nhóm họ 42

3.2.3 Sự đa dạng ở bậc chi 43

3.3 Sự đa dạng chi, họ, loài trong ba nhóm bệnh 44

3.4 Đa dạng về dạng thân của cây làm thuốc 45

3.5 Đa dạng bộ phận sử dụng 46

3.5.1 Số lượng bộ phận sử dụng của cây thuốc 46

3.5.2 Sự đa dạng trong các bộ phận sử dụng 47

3.6 Sự phân bố của cây thuốc theo môi trường sống 48

3.7 Đa dạng về phương pháp bào chế 49

3.8 Đánh giá mức độ nguy cấp 49

3.9 Bổ sung các loài cây thuốc cho danh lục cây thuốc việt nam 50

3.10 Các bài thuốc 52

Kết luận và đề nghị 1 Kết luận 56

2 Đề nghị 56

Tài liệu tham khảo 57

Phụ lục ảnh 61

MỞ ĐẦU

Trang 6

Rừng rất gần gũi và vô cùng quý giá với con người Đặc biệt là đối vớinhững người dân tộc thiểu số Trong suốt quá trình di cư khai sơn lập địa thìngười dân tộc thiểu số quan niệm rằng chỉ cần có nước và gần rừng là họ sẽ sống

và tồn tại Vì rừng sẽ cung cấp cho họ lương thực, thực phẩm

Từ xa xưa ngoài việc tìm kiếm thức ăn thì họ còn biết sử dụng các loại cây

cỏ làm thuốc chữa bệnh Các bài thuốc hay chỉ được tích lũy, lưu truyền từ thế hệnày sang thế hệ khác chủ yếu bằng cách truyền miệng, tập trung chủ yếu ở cácông lang, bà mế, hay các già làng, trưởng bản không được ghi chép lại

Ngày nay khoa học ngày càng phát triển, diện tích Rừng ngày càng bị thuhẹp lại, ô nhiễm môi trường ngày một gia tăng đã gây ra nhiều bệnh tật cho conngười Việc sử dụng thuốc tây để chữa trị bệnh ngoài tính ưu việt, tính hiệu quảthì còn kèm theo nhiều tác dụng phụ Nên hiện nay con người có xu hướng quaytrở lại sử dụng các loại cây cỏ làm thuốc Vì có những bài thuốc cỏ không chỉchữa được các bệnh thông thường mà còn có thể chữa được các bệnh nan y màthuốc tây không chữa được Bên cạnh đó thì tác dụng phụ rất ít hoặc một số không

hề có tác dụng phụ, Tuy nhiên những bài thuốc hay, những phương thuốc quýngày một mai một đi theo thời gian Đây là một tổn thất vô cùng to lớn cho nhândân ta

Quỳ Châu là huyện có diện tích rừng lớn ở Nghệ An, chiếm gần 60% diệntích đất tự nhiên, đứng thứ tư sau huyện Tương Dương, Con Cuông và QuếPhong Rừng Quỳ Châu mang đặc tính của rừng nhiệt đới có độ đa dạng cao, đượcphân bổ trên triền dốc lớn, núi cao với nhiều loài thực vật quý như: Sến, Táu, Lim,Lát hoa, Hoàn linh, Săng lẻ và nhiều loài cây dược liệu quý như: Hoài sơn, Bảy

lá một hoa, lá Khôi, Cốt bổ toái, Thiên niên kiện, Sa nhân, Sâm béo… Trong đóphải kể đến cây Quế, được xem như đặc sản của Huyện

Việc Bảo tồn và phát triển nguồn gen, giống cây làm thuốc là một việc làmcần thiết góp phần tăng nguồn lực chăm sóc sức khỏe nhân dân Với sự thống kêkhá chính xác của các nhà khoa học đã phát hiện ở nước ta có một hệ thống câythuốc quý từ dạng thân thảo cho đến các cây thân gỗ có đến hơn 3 nghìn loài

Trang 7

Ðiều này làm cho kho tàng nguồn gen cây thuốc ở Việt Nam vô cùng đa dạng vàphong phú, từ cấp hệ sinh thái đến cấp loài và phân tử.

Việc sử dụng cây cỏ làm thuốc của đồng bào Thái Huyện Quỳ Châu đã có

từ lâu đời Họ đã đúc kết thành kinh nghiệm dân gian không chỉ về vật chất màcòn là nền văn minh và trở thành tài sản riêng của dân tộc họ Có giá trị về văn hoá

và giá trị sử dụng cao, điều này đã được chứng minh qua các bài thuốc Thế nhưng

do nhận thức của người dân, nạn phá rừng, khai thác tài nguyên cây thuốc tràn lan,không đi đôi với bảo tồn và phát triên nên tài sản vô giá đó đang dần dần mất đi,nhiều loài cây thuốc quý hiếm đang có nguy cơ bị tuyệt chủng

Đã có nhiều đề tài khoa học nghiên cứu về cây thuốc đặc biệt là các đề tàicủa các cán bộ giảng dạy khoa Sinh học, Trường Đại Học Vinh nghiên cứu, điềutra góp phần đánh giá đa dạng tài nguyên cây thuốc của đồng bào dân tộc, tuynhiên các đề tài này mới chỉ tiến hành ở một số xã với địa bàn hẹp như xã ChâuHạnh, Châu Phong, Châu hoàn và Diên Lãm

Vì vậy để góp phần, thống kê, đánh giá, bảo tồn và phát triển những câythuốc chữa bệnh theo kinh nghiệm quý báu của đồng bào dân tộc Thái ở các xãChâu Thắng, Châu Tiến, Châu Bính, Châu Thuận, Huyện Quỳ Châu Nên tôi

chọn đề tài nghiên cứu: “Điều tra các loài cây làm thuốc chữa các nhóm bệnh ngoài da, tiêu hoá, thời tiết ở các xã phía Bắc huyện Quỳ Châu - Nghệ An”.

Trang 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÂY THUỐC

1 Tổng quan về cây thuốc

1.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên thế giới

Trong quá trình phát sinh, phát triển của loài Người từ xa xưa cho đếnngày nay cây cỏ vai trò vô cùng to lớn trong việc chữa bệnh, giá trị chân thực

đó không chỉ cho hôm nay mà còn cho đến mãi mãi mai sau nó vẫn còn giữnguyên vì: Cây cỏ được biết đến không chỉ là nguồn lương thực, thực phẩm

mà còn là nguồn thuốc quý cho con người và nhiều loài sinh vật khác

Khi loài người mới phát sinh thì chỉ mới biết sử dụng các loại hoa, quả,hạt, củ, lá, rễ … của nhiều loại cây cỏ khác nhau để làm nguồn thức ăn hàngngày duy trì tồn tại và phát triển, qua quá trình sử dụng cây cỏ được conngười sử dụng để bồi bổ sức khoẻ và chữa bệnh với nhiều loài cây có ích, bổdưỡng cho con người, đem lại sự thăng bằng cho cơ thể Tuy nhiên có một sốcây khi sử dụng có chất độc phát sinh một số hội chứng rối loạn tiêu hoá, rốiloạn thần kinh dẫn đến hôn mê bất tỉnh và có những trường hợp gây chết Từnhững thực tế đó con người đã rút ra những kinh nghiệm quý báu, cây nào cóthể sử dụng để bồi bổ sức khoẻ cho con Người, cây nào sử dụng có tác dụngchữa bệnh, cây nào khi sử dụng thì gây độc, gây chết cho con Người…[ 11]

Kinh nghiệm đó dần dần được đúc kết trở thành những bài thuốc quýlưu truyền từ đời này qua đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác Dưới bàntay khéo léo và trí óc thông minh của con người mà mỗi một bài thuốc trởthành một nét độc đáo riêng mang đậm bản sắc văn hoá cho từng quốc gia,cho mỗi lãnh thổ và cho từng dân tộc, với giá trị đích thực của nó là bồi bổsức khoẻ và chữa bệnh cho con người

Ngày nay các bài thuốc bằng thảo dược ngày càng được sử dụng rộngrãi, hàng trăm loài cây cỏ có nguồn gốc từ Châu Âu và các Châu Lục khácnhau trên Thế giới Trong Y học cổ truyền của người Ấn Độ (Y họcAyurveda) có khoảng 2.000 loài cây cỏ có công dụng làm thuốc[1] Và trong

Trang 9

danh mục dược phẩm của Người Trung Quốc có hơn 5.700 loài cây thuốc cổtruyền, hầu hết đều có nguồn gốc từ cây cỏ [1]

Từ nhiều thế kỷ trước công nguyên người Hy Lạp đã biết trồng cây làm

thuốc Thời Ai Cập cổ đại người ta đã sử dụng cây Lô hội (Aloe barbadensis)

để chữa trị vết thương cho các chiến binh [24] Hay người Ai Cập cổ và người

La Mã thường sử dụng loài Cúc (Chamomile recutita) đắp lên vết thương cho mau lành sẹo Việc dùng Tỏi (Allium sativan) làm thuốc cũng đã có hàng

ngàn năm trước đây, khi xây dựng các kim tự tháp người Ai Cập ăn rất nhiềuTỏi để tăng cường sức lực chống lại bệnh tật, các binh sĩ ăn nhiều Tỏi để lấydũng khí trước khi ra trận [theo12] [theo15] [theo33]

Người Ấn Độ dùng lá cây Me rừng (Phyllanthus emblica L.) làm thuốc

mát lợi tiểu, nhuận tràng, ngoài ra người ta còn dùng quả Me rừng khô để trịsốt xuất huyết, tiêu chảy, lỵ, nước lên men của quả Me rừng dùng để trị bệnhvàng da, trị ho và ở Thái Lan quả Me rừng cũng được chế biến thành thuốc

chữa long đờm, hạ nhiệt, lợi tiểu [13] [14] [32] Ở Ấn Độ lá cây Đay (Hibicus

Cannabinus) được dùng làm thuốc bổ pha với nước để uống, hoặc ở Malayxia

người ta cũng sắc uống trị kiết lỵ, người ta đã chiết xuất được từ lá Đay mộtloại Glucosid gọi là Capsulin [13] [15] [43] có giá trị sử dụng cao

Từ năm 400 TCN, người Hi Lạp và La Mã cổ đại đã biết dùng Gừng

(Zingiber offcinale) để chữa bệnh cúm, cảm lạnh, kém ăn, viêm khớp [46],

dùng lá cây Lô hội (Aloe barbadensis) làm thuốc tẩy xổ dùng rau Mùi tây (Coriandrum offcinale) để đắp vết thương cho mau lành Theo kinh nghiệm của họ thì có thể dùng quả Óc chó (Juglans regia) để chữa vết loét, vết

thương lâu ngày không lành [42] Hay họ đã dùng lá cây Ba chẽn

(Desmodium triangulare) sao vàng sắc để uống chữa kiết lỵ và tiêu chảy rất

hiệu nghiệm [32]

Từ rất lâu Người Hai Ti (Dominíc – Trung mỹ) đã dùng cây cỏ Lào

(Eupatorium chromolaena) làm thuốc đắp và chữa trị các vết thương bị nhiễm

Trang 10

khuẩn, hoặc dùng để cầm máu, chữa đau nhức răng, làm lành các vết loét lâungày không lành… [38].

Nền y học Trung Quốc được xem như là cái nôi của y học cổ truyền.Các bài thuốc được xem như hình thành sớm nhất ở đây Từ năm 3216 hoặc

3080 (TCN) Thần nông - một nhà dược học tài năng đã chú ý tìm hiểu tácđộng của cây cỏ đến sức khoẻ của con người Ông đã tiến hành thử nghiệmtác dụng các loài cây thuốc trên chính bản thân bằng uống, nếm rồi ghi chép

tất cả những hiểu biết đó vào cuốn sách “Thần nông bản thảo” gồm 365 vị

thuốc rất có giá trị và cuốn sách thảo dược đầu tiên tại Trung Quốc được đặt

tên “Thần Nông bản thảo kinh”.

Vào đầu thập kỷ thứ II người Trung Quốc đã biết dùng các loài cây cỏ

để chữa bệnh ung thư Nước chè đặc, rễ cây cốt khí củ (Polygonum

cuspidatum), vỏ rễ cây Táo tàu (Zizyphuz vulgaris) … để chữa vết thương.

Dùng các loại Nhân Sâm (Panax ginseng) để phục hồi ngũ quan, trẫn tĩnh tinh

thần, chế ngự cảm xúc, chặn đứng kích động, giải trừ lo âu, sắng mắt, khaisáng trí tuệ, gia tăng sự thông thái…[45]

Theo Y học Trung Quốc cây Lấu (Psychotria rubra Lour) dùng toàn

thân giã nhỏ chữa gãy xương, chữa tiêu sưng, mụt nhọt [32] Trong cuốn sách

“Cây thuốc Trung Quốc” xuất bản năm 1985 đã liệt kê một loạt các cây cỏ làm thuốc chữa bệnh như rễ cây Gấc (Momordica cochinesis) để chữa nhọt

độc, viêm tuyến hạch, hạt Gấc trị sưng tấy đau khớp, chữa vết thương tụ máu[theo 13] [theo 44] Các nhà khoa học công nhận rằng tất cả các loài cây đều

có tính kháng khuẩn, tác dụng kháng khuẩn của các hợp chất tự nhiên thườnggặp trong cây cỏ là Phelnolic, Antoxian, các dẫn xuất của Quinon, Ancaloid,Heterosid [36] Trong quá trình nghiên cứu các hoạt chất hoá học thực vậtngười ta đã biết được trong cây thuốc có các thành phần vô cơ như các muốiKali, Canxi, các chất hữu cơ có Acid silixic, các Acid hữu cơ có Glucosit,Tamin, và các tinh dầu chúng có vai trò lớn trong việc chữa bệnh [theo12][theo15] Nhân dân Trung Quốc dùng Tỏi để chữa bệnh đau màng óc và xơ

Trang 11

vữa động mạch, chữa huyết áp cao và viêm nhiễm đường ruột [2][theo12] Ở

Trung Quốc, Nhân Sâm (Panax ginseng) từ 3000 năm trước công nguyên, đã

được nói đến như một thần dược để tăng cường sinh lực cơ thể, kéo dài tuổithọ [theo28] Trương Trọng Cảnh là vị thánh trong Đông y vào thời Đông

Hán cách đây 1700 năm, ông đã nghiên cứu và viết “Thương hàn tập bệnh”

chỉ các bệnh dịch và bệnh về thời tiết nói chung đã đề ra những cách chữa trịbằng thảo dược [18]

Từ những kinh nghiệm dân gian đó người ta đã tiến hành nghiên cứuthành phần hoá học từ cây cỏ để chữa trị bệnh ở đời nhà Hán (Năm 168

TCN) trong cuốn sách “Thủ hậu bị cấp phương” đã kê 52 đơn thuốc chữa

bệnh từ cây cỏ Vào thế kỷ XVI thời Nhà Lý, thời Trần đã thống kê được

12.000 vị thuốc trong tập “Bản thảo cương mục” xuất bản năm 1595 [21]

[22]

Ở Châu Âu, người ta đã dùng nước sắc của quả Bạch Dương (Betula

platyphylla) để bảo vệ sức khoẻ cho công nhân [26] Người Nhật sử dụng quả

Anh Đào (Polypodium fortunei Kze) để trị đau nhức do phong thấp, tổn thương do lạnh [29] Đất nước Bungari sử dụng cây Hoa Hồng (Rosa

chinensis Jacq.) để chữa trị nhiều bệnh, dùng hoa, lá, rễ làm thuốc tan huyết,

chống sưng phù, ngày nay khoa học đã xác định trong cánh Hoa Hồng cóchứa hoạt chất Tamin, Glucosid và lượng tinh dầu đáng kể [32] Theo hai ôngY.Cao và R.Cao (Thuỷ Điển) Các nhà khoa học ở Viện hàn lâm Hoàng GiaAnh thì Chè xanh có khả năng ngăn chặn sự phát triển của các loại ung thưgan, ung thư dạ dày nhờ một hoạt chất của Phenol có tên là Gallatepigllocatechol (GEGC) [45]

Theo Anon (1982) trong vòng 200 năm trở lại đây có ít nhất 121 hợpchất hoá học tự nhiên được con người biết đến có trong cây cỏ có thể dùng

làm thuốc như cây Lô Hội (Aloe barbadensis) có tác dụng với Vi khuẩn Lao ở người và có tác dụng với Bacilus subtilic [45] hoặc như cây Chè xanh có chứa

Cafein kích thích thần kinh trung ương và có các Flavonol, các khoáng chất

Trang 12

và Acid hữu cơ [theo13] [6] Lucas và Lewis (1944) đã chiết xuất thành côngmột hoạt chất có tác dụng với các Vi Khuẩn tả, mụn nhọt từ cây Kim Ngân

(Lonicera japonica Thunb) [26] Gotthall (1950) đã phân lập được các chất

chứa Glucosid, Barbaloin có tác dụng với Vi Khuẩn lao và tác dụng vớiBaccilus subtilic [31] Gilliver (1946) đã chiết suất được Berberin từ cây

Hoàng Liên (Lonicera japonica Thunb) có tác dụng chữa bệnh đường ruột và

kiềm chế một số vi khuẩn làm hại cây cối, Schlederre (1962) cho rằng chất đó

có thể chữa khỏi bệnh Bontond orient [31] [24]

Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO) (1985) thì hiện đã có khoảng20.000 loài (trong số 250.000 loài thực vật bậc cao và bậc thấp đã biết) đượctrực tiếp sử dụng làm thuốc hoặc có xuất xứ cung cấp các hoạt chất tự nhiên

để làm thuốc Trong đó ở Ấn Độ có trên 6.000 loài, Trung Quốc 5.136 loài.[45] Hầu hết các loài cây thuốc có giá trị sử dụng và giá trị kinh tế cao như:

Đẳng Sâm (Codonopsis javanica Blume), Hà thủ ô đỏ (Fallopia multiflorum (Thunb.) Haraldson.), Ngũ gia bì gai (Acanthopanax trifoliatus (L.) Merr.), Vằng đắng (Coscinium fenestratum (Gaertn.) Colebr.)… do khai thác quá

mức và ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác mà các cây thuốc đã trở nên cạnkiệt Nghiêm trọng hơn là đối với những cây thuốc quý hiếm, như Sâm Ngọc

Linh (Panax vietnamense Ha et Grushv.), Sâm vũ diệp (P bipinnatifidus Seem.), một số loài Hoàng liên (thuộc chi Coptis, Berberis, Thalictrum), Hoàng tinh (chi Polygonatum và Disporopsis)… cũng ngày cảng trở nên

hiếm hơn [23] [24] [31]

Cũng theo tổ chức WHO thì xu hướng sử dụng nguồn dược liệu trênthế giới ngày càng nhiều như: Trung Quốc hàng năm tiêu thụ hết 700.000 tấnsản phẩm thuốc (đạt 1,7 tỷ USD trong năm 1986), Ở Hàn Quốc trong năm

2009 nhập khẩu tới 19.650 tấn cây thuốc, chiếm 78 % lượng cây thuốc nhậpkhẩu Tổng giá trị thuốc từ thực vật trên thị trường Châu Âu - Châu Mỹ vàNhật Bản đạt 43 tỷ USD năm 1985, ở các nước có nền kinh tế phát triển tăng

từ 335 triệu USD năm 1976 lên 551 triệu USD năm 1980, Nhật Bản nhập

Trang 13

khẩu thảo dược tăng từ 21.000 tấn (năm 1979) lên 22.640 tấn (năm 1980)tương đương 50 triệu USD, ở Mỹ đạt 4,5% tổng giá trị GDP (tương đương 75triệu USD) thu được từ cây hoang dại làm thuốc, Theo Alan Hamilton (mộtchuyên gia thực vật) cho biết thị trường thuốc thảo dược ở Bắc Mỹ và Châu

Âu trong thập kỷ qua tăng 10% [23] Điều này chứng tỏ ở các nước côngngiệp phát triển, cây thuốc phục vụ cho Y học cổ truyền phát triển nhanh, câythuốc là loài cây cung cấp nhiều hoạt chất có giá trị chữa bệnh, bảo vệ sứckhoẻ cho con người (Theo Chieng – Mai Declararation, 1998) Thế giới thựcvật vô cùng phong phú và đa dạng đem lại nhiều nguồn lợi cho con ngườinhất là trong việc chữa bệnh, nhưng đã bị khai thác một cách không hợp lý,không chú ý bảo tồn và phát triển nên nhiều loài cây thuốc trở nên khan hiếm

và có nguy cơ bị tuyệt chủng, ước tính đến năm 2020 có khoảng 5 – 10% sốloài sẽ biến mất và số loài bị tuyệt chủng lên là 25% vào khoảng năm 2025[24] Vì vậy việc khai thác kết hợp với bảo tồn và phát triển các loài câythuốc là điều hết sức quan trọng Hiện nay các nước trên thế giới đang hướng

về chương trình quốc gia kết hợp sử dụng và phát triển bền vững nguồn tàinguyên cây thuốc [24]

1.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam

Việt Nam một trong những nước đi lên từ nên nông nghiệp thuần tuýnên việc sử dụng cây cỏ để bồi bổ sức khoẻ hay chữa bệnh cho con người làmột điều tất yếu Từ xa xưa các ”Thầy phù thuỷ” chữa bệnh bằng các phépthuật, bùa ngải và cho uống ”Nước thần, nước thánh” Vừa trấn an người dânvừa lấy uy cho các vị thầy vừa chữa được bệnh thì trong thứ nước mà gọi lànước ”Thần” đó đã ít nhiều có vị thuốc lấy từ cây cỏ Cho đến ngay nay vớimột nền khoa học tiên tiến hiện đại thì việc nghiên cứu và sản xuất các loạithuốc từ cây cỏ đã đạt đến một đỉnh cao với hàng ngàn vị thuốc khác nhau lấy

từ nhiều loài cây cỏ trong nước và trên thế giới Theo dòng lịch sử của nền yhọc cổ truyền Việt Nam chúng ta đã có những lương y nổi tiếng được sử sáchchép lại như: Tuệ Tĩnh; Hải Thượng Lãn Ông Nhiều bài thuốc đã được

Trang 14

biên soạn thành những cuốn sách quý nói về tác dụng và cách sử dụng cây cỏlàm thuốc Đó là những tinh hoa quý giá của cả một dân tộc đã được nhiều thế

hệ dày công nghiên cứu đúc rút kinh nghiệm lưu truyền cho thế hệ sau

Như chúng ta biết Ngay từ thời Vua Hùng Vương dựng nước (2900năm TCN) qua các văn tự Hán nôm còn để lại (Đại Việt sử ký ngoại ký Lĩnhnam chích quái liệt truyện Long uy bí thư ) Và qua các truyền thuyết, tổ tiên

ta đã biết sử dụng cây cỏ làm gia vị kích thích ngon miệng, kích thích tiêu hoá

và là thuốc chữa bệnh [theo19,20,21]

Theo Long uý chép lại, vào đầu thế kỷ thứ II (TCN) có hàng trăm vị

thuốc từ đất Giao chỉ như: Y dĩ (coxlachryma-jobi), Hoắc hương (Pogostemon cablin) được người Tàu đưa sang nước ta để giới thiệu và sử

dụng [19]

Tiếp đến thời Nhà Lý (1010-1224) có tổ chức Ty Thái Y chăm lo sứckhỏe cho Vua, Quan trong triều, nhiều lương y chuyên lo việc chữa bệnh chodân chúng Để có nguồn dược liệu phục vụ chữa bệnh ngoài việc thu hái trong

tự nhiên thì đã tổ chức trồng cây thuốc dùng cho dân và quân đội, trong số đó

có Phạm Ngũ Lão thừa lệnh Hưng Đạo Vương xây dựng một vườn thuốc lớn

gọi là “Sơn Dược” tại xã Hưng Đạo (Chí Linh, Hải Hưng) Hai danh y nổi

tiếng lúc bấy giờ là Phạm Công Bân (Thế kỷ XIII) và Nguyễn Bá Tĩnh (Thế

kỷ XIV) Tuệ Tĩnh, đã viết nhiều sách thuốc và các phương pháp chữa bệnh

như “Nam dược thần hiệu” có 11 quyển với 496 vị thuốc trong đó có 241 vị

có nguồn gốc thực vật và “Hồng Nghĩa Giác tư Y thư” nêu công dụng của

130 loài cây thuốc chữa nhiều chứng bệnh khác nhau [47]

Trong ”Nam dược thần hiệu” có ghi: Tô mộc (Caesalpinia sappan) vị

mặn, tính bình không độc, trừ huyết xấu, trị đau bụng, thương phong, sưng lở

Thanh hao (Artemisia apiacea) chữa chứng sốt lị [46] Sử quân tử

(Quisqualis indica) có vị ngọt, tính ôn không độc và hai kinh tì và vị, chữa

năm chứng cảm trẻ em, tiểu tiện, sát khuẩn, chữa tả lị, còn làm thuốc mạnh tì

vị, chữa hết thảy các chứng lở ngứa ở trẻ em Sầu đâu rừng (Brucea javanica)

Trang 15

vị đắng, tính hàn, có độc, sát trùng, trị đau ruột non, nhiệt trong bàng quang,

điên cuồng, ghẻ lở Cây lá móng (Lawsonia inermis) chữa hắc lào, lở loét ngoài da, tê mỏi, viêm đường hô hấp, gan Bạc hà (Mentha arvensis) Chữa

sốt nhức đầu [46]

Tuệ Tĩnh được coi là danh y kỳ tài trong lịch sử y học nước ta, là ”Vị

thánh thuốc nam” Ông chủ trương lấy ”nam dược trị nam nhân” Trong bộ

sách quý của ông về sau bị quân minh thu hết chỉ còn lại ”Nam dược thần

hiệu”, ”Tuệ Tĩnh y thư”, ”Thập tam phương gia giảm”, ”Thương hàn tam thập thất trùng phát” [34,35,40,46].

Đến thời Lê Dụ Tông xuất hiện Hải Thượng Lãn Ông – tên thật là LêHữu Trác (1721 – 1792) Ông là người am hiểu về y học, sinh lý học, đọc

nhiều sách thuốc, trong 10 năm khổ công tìm tòi nghiên cứu ông viết bộ ”Lãn

ông tâm lính” hay ” Y tôn tâm lĩnh” gồm 66 quyển đề cập đến nhiều y dược.

Như ”Y huấn cách ngôn”, ”Y lý thân nhân ”, ” Lý ngôn phụ chinh”, ”Y

nghiệp thần chương” xuất bản năm 1772 Trong bộ sách này ngoài thừa kế

”Nam dược thần hiệu” của Tuệ Tĩnh ông còn công bố thêm 329 vị thuốc mới

[45] Trong quyển ”Lĩnh nam bản thảo” ông đã tổng hợp được 2854 bài

thuốc chữa bệnh bằng kinh nghiệm dân gian, Mặt khác ông còn mở trườngđào tạo y sinh, truyền ba tư tưởng, hiểu biết của mình về y học, Do vậy HảiThượng Lãn Ông được mệnh danh là ”Ông tổ” sáng lập ra ghề thuốc ViệtNam [19,20,46] Thời gian này còn có Nguyễn Văn Nho và Ngô Văn Tĩnh

biên soạn bộ sách thuốc “Vạn phương tập nghiệm” gồm 8 quyền xuất bản

năm 1763 [19] [24]

Thời Tây Sơn (1788-1802), dưới triều vua Quang Trung và triều

Nguyễn cũng đã xuất hiện nhiều công trình về cây thuốc như “Nam dược” và

“Nam dược chỉ danh truyền” của Nguyễn Quang Tuân đã ghi chép tỉ mỉ về

500 vị thuốc Nam theo kinh nghiệm dân gian, hoặc cuốn “Nam dược tập

nghiệm quốc âm” của Nguyễn Quang Lượng, ghi các bài thuốc đơn giản

Trang 16

thường dùng [21], hay “Nam thiên đức bảo toàn thư” của Lưu Ðức Huệ, nêu

511 vị thuốc Nam và phương pháp chữa bệnh [19] [23]

Dưới thời Pháp thuộc (1884-1945), việc nghiên cứu cây thuôc gặpnhiều khó khăn, chỉ có một số tác giả người Pháp (Charlet Crévost, Alfret

Petelot, Charles Lemarié, Perrol Hurrier) đã xuất bản bộ “Catalogue des

produits de l’Indochine” (1928 – 1935) trong đó tập V (produits medicanaux,

1928) đã mô tả 368 cây thuốc và vị thuốc của các loài thực vật có hoa [24]

[22] Đến năm 1951 Petelo bổ sung thêm và xây dựng thành bộ “Les plantes

medicinale du Cambodge, du Laos et du Viet Nam” gồm 4 tập thống kê 1482

vị thuốc thảo mộc có mặt ở 3 nước Đông Dương

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với phương châm củaĐảng đề ra là tự lực cánh sinh, tự cung tự cấp thuốc chữa bệnh, việc sử dụng

cây thuốc đã được chú ý nhiều, trong thời gian này đáng kể có cuốn “Toa căn

bản” nêu các phương pháp chữ bệnh bằng 10 vị thuốc thông thường [51] Với

chủ trương kết hợp y học hiện đại và y học cổ truyền, khai thác tri thức bảnđịa của các cộng đồng người dân tộc sử dụng cây cỏ làm thuốc

Thống kê kết quả điều tra ban đầu trên phạm vi toàn quốc từ

1961-1985, Viện dược liệu đã ghi nhận được ở nước ta có 1.836 loài cây cỏ thuộc

263 họ sử dụng làm thuốc, theo Võ Văn Chi (2000), con số này đã lên tới gần3.200 loài thuộc 1.200 chi trên 300 họ, nghĩa là hầu hết các họ trong hệ thựcvật Việt Nam, ít hoặc nhiều đều có một số loài có thể sử dụng làm thuốc

Từ năm 1960 đến nay, hàng năm có tới hơn 200 loài cây thuốc đượcđược khai thác với khối lượng lên tới 100.000 tấn/năm Một số địa phươngMiền Bắc như Phú Thọ, Vĩnh Phúc, thường xuyên có cửa hàng thu mua nhiềuloại dược liệu như: Ba kích, Sa nhân, Thiên niên kiện, Ngũ gia bì, Chân chim,Lạc tiên, Thổ phục linh, Dạ cẩm, Thảo quyết minh, Ích mẫu, Nhân trần, Bồ

bồ Không chỉ phục vụ nhu cầu các địa phương trong nước mà còn xuất khẩuqua nhiều nước trên thế giới trong đó Trung Quốc là một trong những nướcnhập khẩu nhiều nhất về thảo dược [2] [5]

Trang 17

Sau ngày giải phóng Miền Nam hoà bình lập lại, nhà nước ta đã quantâm đến dược liệu, khuyến khích công tác điều tra và nghiên cứu nguồn câythuốc Trong thư gửi hội nghị ngành Y tế (17/2/1955), Chủ tịch Hồ Chí Minh

đề ra đường lối xây dựng nền Y học Việt Nam khoa học, “Dân tộc và đại

chúng”, dựa trên sự kết hợp giữa Y học cổ truyền và Y học hiện đại, việc

nghiên cứu cây thuốc phát triển mạnh mẽ Tác giả GS- TS Đỗ Tất Lợi xuất

bản 120 công trình nghiên cứu về cây thuốc, đáng chú ý là bộ “ Dược liệu

học và các vị thuốc Việt Nam” (1957), từ năm 1962 đến 1965 Đỗ Tất Lợi cho

xuất bản bộ “ Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, giới thiệu 500 vị thuốc

có nguồn gốc từ thảo dược, động vật và khoáng vật, năm (2003) Ông mô tả

792 loài cây thuốc theo các nhóm bệnh khác nhau [34] Phó Đức Thành và

cộng sự (1963) cho xuất bản cuốn “450 cây thuốc nam” [43] Vũ Văn Chuyên (1966) xuất bản cuốn “ Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc” [16], như

“ Sổ tay Y học” (1979) của Vũ Văn Kính gồm 500 bài thuốc gia truyền [29]

“Sổ tay cây thuôc Việt Nam” (1980) của Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương đãgiới thiệu 519 loài cây thuốc trong đó có 150 loài mới phát hiện [4] ViệnDược liệu đã điều tra ở 2795 xã thuộc 351 huyện thị xã của 47 tỉnh thànhtrong cả nước, kết quả nghiên cứu được đúc kết từ năm 1961 đến năm 1972

trong “Danh lục cây thuốc miền Bắc Việt Nam”, “Danh lục cây thuốc miền

Nam Việt Nam”, đã công bố Miền Bắc có 1114 loài cây thuốc, Miền Nam có

1119 loài Tồng hợp kết quả điều tra trong cả nước đến năm 1985 là 1863 loài

và dưới loài, phân bố trong 1033 chi, 236 họ, 101 bộ [3] [4]

Năm 2000 trong “Từ điển cây thuốc Việt Nam” Võ Văn Chi đã giới

thiệu 3200 cây thuốc, có sự mô tả hình thái, nêu các bộ phận sử dụng, cáchbảo chế, và có các bài thuốc đi kèm [14], ngoài ra Ông còn nghiên cứu cây

thuốc cho nhiều địa phương khác trong cả nước như “Hệ cây thuốc Lâm

Đồng” (1982), “Hệ cây thuốc Tây Nguyên” (1985) [14] [15] vv

Tác giả Vương Thừa Ân (1995) xuất bản cuốn “ Cây thuốc quanh ta” [2];

“Cây thuốc trong trường học” của Ngô Trực Nhã (1985) Viện Dược liệu với

Ngày đăng: 26/12/2013, 11:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Diện tích đất 4 xã Châu thắng, Châu Tiến, Châu Bính, Châu Thuận - Điều tra các loài cây thuốc chữa các nhóm bệnh ngoài da, tiêu hóa, thời tiết ớ các xã phía bắc huyện quỳ châu, tỉnh nghệ an luận văn thạc sĩ sinh học
Bảng 1.1. Diện tích đất 4 xã Châu thắng, Châu Tiến, Châu Bính, Châu Thuận (Trang 24)
Bảng 1.3.  Diện tích, dân số, mật độ dân số năm 2011 - Điều tra các loài cây thuốc chữa các nhóm bệnh ngoài da, tiêu hóa, thời tiết ớ các xã phía bắc huyện quỳ châu, tỉnh nghệ an luận văn thạc sĩ sinh học
Bảng 1.3. Diện tích, dân số, mật độ dân số năm 2011 (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w