1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CÁC THỬ NGHIỆM GIẢN đơn về tư TƯỞNG TRỌNG NAM có THỰC sự hữu ÍCH ĐÁNH GIÁ dựa TRÊN dữ LIỆU từ VIỆT NAM

33 352 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Thử Nghiệm Giản đơn Về Tư Tưởng Trọng Nam Có Thực Sự Hữu Ích Đánh Giá Dựa Trên Dữ Liệu Từ Việt Nam
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Khoa học xã hội và nhân văn
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 1992-1993
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 263,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người ta có thể đo lườngmức độ trọng nam trong ngữ cảnh về mô hình cấp số cặp tương đồng hoặc những rủi ro về sự sinh sản, hoặc một mô hình hỗ trọ về việc sử dụng thuốc tránh thai.. Khó

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

1 Tóm lược ý tưởng nghiên cứu

Tư tưởng “trọng nam” hay sự ưa thích con trai hơn ngày càng lan rộng mặc dùkhông phổ biến Điều này có thể làm gia tăng tỷ lệ sinh sản Người ta có thể đo lườngmức độ trọng nam trong ngữ cảnh về mô hình cấp số cặp tương đồng hoặc những rủi ro

về sự sinh sản, hoặc một mô hình hỗ trọ về việc sử dụng thuốc tránh thai Những môhình như vậy yêu cầu một số lượng lớn dữ liệu nghiên cứu, đặc biệt là đo lường tínhđồng biến Liệu tư tưởng trọng nam có thể được nhận thức một cách chắc chắn bằngcách sử dụng những thử nghiệm dựa vào một lượng thông tin giới hạn không? Câu trảlời là Có, bằng cách sử dụng 8 thử nghiệm đơn giản từ Khảo sát điều kiện sống ở ViệtNam 1992-1993 và so sánh kết quả với những mô hình đầy đủ hơn Một vài trong số thửnghiệm đơn giản có thể đo lường chính xác sự ưa thích con trai, bao gồm dự đoánnhững rủi ro đơn giản hoặc mô hình cấp số tương đồng, thử nghiệm giới tính anh chị em(unisex sibship test) và thử nghiệm sự khác biệt tính ruột thịt (sibling differentials test)

2 Ngữ cảnh nghiên cứu

Tư tưởng trọng nam hay sự ưa thích con trai hơn, nghĩa là mong muốn của cácbậc cha mẹ có ít nhất 1 đứa con trai, đang ngày càng lan rộng nhưng không phải là hiệntượng phổ biến Theo lý thuyết, lý do quan trọng nhất để điều tra tư tưởng trọng nam cóthể liên quan đến việc sinh sản Nếu cha mẹ mong muốn có nhiều hơn 1 đứa con trai để

có một gia đình lớn hơn, đây có thể là một rào cản quan trọng của việc giảm tỷ lệ sinhsản ở nhiều quốc gia (Rahman and DaVanzo 1993, p.29) Quan điểm này gây nhiều bàncãi, bằng chứng là ở Malaysia, các bậc cha mẹ người Trung Quốc có tư tưởng trongnam mạnh mẽ hơn và có ít con hơn các bậc cha mẹ người Mã Lai (Pong 1984)

Có nhiều kỹ thuật để đo lường sự hiện diện và tác động của tư tưởng trọng nam.Đơn giản nhất là hỏi thẳng cha mẹ tại sao họ thích con trai hơn Khó khăn ở đây là quanđiểm của tư tưởng trọng nam không đảm bảo rằng khi có sự quan tâm thì hành vi sinhsản sẽ thay đổi (xem De Tray 1980), và Mannan (1988) có một bước tiến xa khi phátbiểu rằng “nhiều nghiên cứu bắt đầu đặt câu hỏi về giá trị của những tiên đoán liên quanđến sự sinh sản trong tương lai và liệu mà những câu trả lời như vậy có ý nghĩa gìkhông” Nên có một thử nghiệm tốt hơn để kiểm tra sự hiện diện của tư tưởng trọng

Trang 3

nam và nhận biết những tác động đến hành vi, điều mà Rahman và DaVanzo (1993) gọi

là “tư tưởng trọng nam hiển nhiên” Điều này không dễ, và có thể là không hợp lý(McClelland 1979), nhưng nỗ lực để nhận thức kết quả của hành vi có thể phản ánh tưtưởng trọng nam đang diễn ra

Có nhiều lý thuyết tìm kiếm cách đo lường yếu tố quyết định sinh sản, và vai tròcủa tư tưởng trọng nam trong số đó Trong những năm gần đây phương pháp phổ biến làphân tích mô hình rủi ro Biến phụ thuộc là thời gian kể từ lần sinh trước, và bị giảm bớtbởi sự đa dạng của các biến địa lý và kinh tế - xã hội, thêm vào là những biến giả cho 1đứa con trai, 2 đứa con trai,…Lý thuyết hiện tại là những bậc cha mẹ yêu thích con trai

sẽ có khả năng sinh thêm con nếu họ không có con trai Một điểm mạnh của mô hình rủi

ro là có thể điều chỉnh số liệu Sự điều chỉnh là do người ta không biết được liệu mànhững gia đình đang điều tra hoàn chỉnh hay chưa, và do đó hầu hết các bộ dữ liệu bịtrộn lẫn với những hộ chưa hoàn chỉnh Sử dụng mô hình rủi ro có thể điều tra tư tưởngtrọng nam ở những nước như Trung Quốc (Li và Cooney; Tu 1991), Việt Nam(Haughton và Haughton 1995), Bangladesh (Rahman và DaVanzo 1993) và nhữngngười Mã Lai gốc Trung Quốc (Leung 1988; Pong 1994) Ngược lại không có bằngchứng về việc tư tưởng trọng nam hiện diện ở những mô hình tương tự áp dụng choThái Lan, Philippin, hay Indonesia (Trussell at al 1985)

Nếu có thể tách riêng hộ gia đình hoàn chỉnh và hộ gia đình chưa hoàn chỉnh, sau

đó sử dụng một phương pháp phổ biến để dự đoán mô hình cấp số tương đồng hỗ trợ Ởđây biến phụ thuộc là biến nhị phân, được quy ước tương đương 1 nếu hộ gia đình có ýđịnh có thêm 1 đứa con và là 0 nếu ngược lại Một bộ các biến độc lập cũng bao gồmtrong mô hình này

Một phương pháp khác là tập trung vào cách sử dụng thuốc tránh thai Vấn đề ởđây là những gia đình chưa có con trai dường như ít sử dụng thuốc tránh thai hơn nhữnggia đình đã có con trai Về lý thuyết, một mô hình hồi quy hỗ trợ được sử dụng gồm mộtloạt những biến môi trường, kinh tế, xã hội Dựa trên những nghiên cứu về sự phổ biếncủa thuốc tránh thai, tư tưởng trọng nam được quan sát tại Việt Nam ( Dang 1995,Haughton và Haughton 1995), Bangladesh (Mannan 1088, Rahman et al 1992), Ai Cập(Aly và Shields 1991) và những nơi khác

Trang 4

Khi dự đoán tất cả mô hình thụ thai này, vấn đề lớn nhất là họ sử dụng một lượnglớn dữ liệu, hầu hết là để đo lường những biến độc lập Thông tin này chủ yếu lấy từ cáckhảo sát hộ gia đình cụ thể Chắc chắn rằng số liệu khảo sát là có giới hạn Kháo sát tậptrung thu thập dữ liệu về sức khỏe, sinh sản, nhân khẩu học lại hiếm khi thu thập thôngtin về biến kinh tế, trong khi những khảo sát thu thập thông tin về điều kiện sống lạikhông thu thập thông tin về nhân khẩu học.

Vì thế câu hỏi được đặt ra là: tư tưởng trọng nam có thể được đo một cách chínhxác dựa trên càng nhiều thông tin giới hạn - ví dụ số lượng bé trai và bé gái trong các

hộ gia đình, hay ngày sinh và nhân khẩu học của tât cả trẻ em trong hộ gia đình? Tínhthực tế của những thử nghiệm như thế là mối quan tâm của bài viết này

Phương pháp của chúng tôi đầu tiên là xác định tư tưởng trọng nam có thực sự tồntại không, dựa trên đánh giá những mô hình sinh sản sử dụng dữ liệu ở Việt Nam Tiếptheo chúng tôi đặt ra câu hỏi liệu mà những thử nghiệm đơn giản – thử nghiệm ở đây làdựa trên thông tin hoàn toàn có giới hạn – có dẫn đến những kết luận tương tự không

Để làm điều này trước tiên chúng tôi cần một định nghĩa chính xác hơn về tư tưởngtrọng nam

3 Định nghĩa về tư tưởng trọng nam

Có hai định nghĩa riêng biệt

3.1 Lexicographic preferences (tạm dịch: Sự ưa thích cố hữu)

Liên quan đến ngưỡng dưới, hay mục tiêu của tư tưởng trọng nam, nghiên cứu nàycho rằng hộ gia đình thứ i mong muốn Mi con trai, bất kể số lượng con gái Việc đạtmục tiêu này là khác nhau giữa các hộ gia đình, và có thể trong nội bộ gia đình cũngkhác nhau tùy thời điểm; nói cách khác đây là một số lượng không thể quan sát được.Đối với sự ưa thích con trai chúng tôi cho Mi > 0 đối với ít nhất là vài hộ gia đình Điềunày xác định một nhóm mà Yamaguchi (1989) gọi là “những quy luật kết thúc sự ưathích con trai” Bên cạnh quan điểm này là ý kiến cho rằng khi các hộ gia đình lên kếhoạch sinh con thì họ sẽ cố gắng thực hiện Đối với trường hợp này thì sự ưa thích contrai chỉ có thể thấy ở những gia đình đã hoàn thành việc sinh con

Trang 5

Một hệ quả quan trọng là sự ưa thích con trai (hay con gái) cố hữu chỉ có thể làmgia tăng sinh sản, khi các gia đình tiếp tục tăng số lượng con để có được số con trai hoặccon gái mà họ mong muốn Coombs et al (1985) tìm thấy rất ít ủng hộ cho quan điểmnày, dựa trên quan sát từ những gia đình ở Mỹ; Cain (1984) lại ủng hộ mô hình ngưỡngdưới trong bối cảnh ở các nước đang phát triển; theo như những phân tích về sự ưa thíchcon trai ở Việt Nam (e.g.Loi 1991)

3.2 Sequential preferences (Tạm dịch: Sư ưa thích tuần tự)

Sự ưa thích con trai tuần tự xảy ra khi, đối với bất kỳ số lượng con trai hoặc congái, cha mẹ thích có thêm con trai hơn là có thêm con gái V(S,D) là lợi ích mà cha mẹ

có từ việc có S con trai và D con gái, thì sự ưa thích con trai theo dãy được cho là:V(S + 1,D*) – V(S,D*) > V(S*, D + 1) – V(S*,D) (1)

Trong trường hợp có sự ưa thích con trai tuần tự bắt buộc, Eq (1) chứa tất cả giátrị của S*, D*, S và D Ở đây người ta cho rằng các bậc cha mẹ có một loạt quyết định

về việc sinh con, và ít nhất là vài lần họ đã quyết định là phải có con trai

McClelland (1983) lại tách lợi ích từ việc có con thành 2 thành phần:

V(S,D) = U(S + D) + W(S – D) (2)

Trong đó U(S + D) là sự ưa thích có một số con nhất định, và W(S – D) là sự ưathích về giới tính của con Đối với cha mẹ không quan tâm đến giới tính của con thìW( S –D) = 0 cho tất cả S, D Trong trường hợp này không có rủi ro liên quan đến quyếtđịnh sinh con, và người ta quan tâm đến số lượng con hơn Tuy nhiên nếu W (.) > 0 thìcha mẹ phải cân nhắc số lượng con trong gia đình với giới tính trẻ họ mong muốn Họ

sẽ lên kế hoạch có 1 đứa nữa nếu:

pS.V(S + 1,D) + pD.V(S,D + 1) > V(S,D)

Trong đó pS và pD là khả năng có con trai hoặc con gái

Chú ý rằng chúng ta không thể suy ra sự ưa thích cá nhân chỉ bằng cách quan sáthành vi cá nhân, bởi vì không có phương pháp độc lập để đo rủi ro Thay vào đó, nếumột gia đình dừng ở 2 con, liệu có phải là họ đã đạt được kích cỡ một gia đình lý tưởng

Trang 6

và không muốn có thêm con, hay bởi vì tư tưởng trọng nam nhưng lại sợ sinh thêm congái?

Và chúng ta cũng không thể suy ra sự ưa thích cá nhân chỉ bằng cách quan sát hành

vi nhóm Lý do là sự ưa thích có thể không đông nhất, vì thế Wi(.) ≠ Wj (.) đối với hộgia đinh i,j Nếu một nửa số gia đình thích con trai, một nửa thích con gái thì không thểtìm thấy bằng chứng về sự ưa thích giới tính của trẻ Khi mục đích là đo lường sự ưathích giới tính thì những vấn đề này trở nên quan trọng, mặc dù có ít tính thuyết phụctrong thực tiễn hơn là về nguyên tắc

4 Phương pháp nghiên cứu

Các phép phân tích dưới đây được dựa trên số liê ̣u từ cuô ̣c điều tra về đời sốngcủa người dân ở Viê ̣t Nam Nhờ nguồn dữ liê ̣u dồi dào, chúng tôi có thể xây dựng đượcviê ̣c có tồn ta ̣i hay không tư tưởng tro ̣ng nam, thông qua viê ̣c áp du ̣ng mô hình chuyênbiê ̣t đầy đủ về sự thu ̣ thai Các phép phân tích đơn giản có thể được áp du ̣ng trong cùngnguồn dữ liê ̣u, và tính tương xứng sẽ giúp cho mô hình có được kết quả hoàn thiê ̣n hơn.Cuô ̣c điều tra về đời sống của người dân ở Viê ̣t Nam đã lấy 4800 mẫu nghiêncứu, bằng cách lựa cho ̣n những nhóm ngẫu nhiên trong cả nước, trong thời gian từ tháng10/1992 - 10/1993 Hê ̣ thống câu hỏi được sử du ̣ng giống như trong cuô ̣c điều tra về đolường mức sống tiêu chuẩn được Ngân hàng thế giới hỗ trợ ở các nước khác và đượcđiều chỉnh la ̣i cho phù hợp với điều kiê ̣n ở Viê ̣t Nam Điều tra này được nhóm chuyêngia từ Ủy ban Kế hoa ̣ch của Ban điều hành, hợp tác với Văn phòng Thống kê Chínhphủ, và các hỗ trợ kỹ thuâ ̣t từ Ngân hàng Thế giới, các hỗ trợ tài chính từ UNDP và Cu ̣cPhát triển Quốc tế Thu ̣y Điển Do các phương pháp sử du ̣ng cần phải được mô tả mô ̣tcác đầy đủ hơn, và mô ̣t hê ̣ thống các bảng biểu trình bày mô ̣t cách đầy đủ các số liê ̣u ởViê ̣t Nam (1994)

Đối tươ ̣ng cơ bản của điều tra này chính là hô ̣ gia đình, và mỗi hô ̣ gia đình đượcphỏng vấn 2 lần, mô ̣t cách dễ hiểu nhất do có rất nhiều câu hỏi (khoảng 1200 câu hỏiđươ ̣c trình bày trong khoảng 100 trang) Dữ liê ̣u nhân khẩu ho ̣c cơ bản được thu thâ ̣p từmỗi thành viên trong mô ̣t hô ̣ gia đình Thêm vào đó mô ̣t người phu ̣ nữ trong gia đìnhcũng được hỏi mô ̣t cách rất chi tiết về quá khứ sinh nở của ho ̣, người phỏng vấn cầnphải sử du ̣ng mô ̣t con số ngẫu nhiên để thể hiê ̣n số lượng người phu ̣ nữ trong mô ̣t giađình ở đô ̣ tuổi từ 15 – 49 tuổi Chúng tôi chỉ tâ ̣p trung vào nhóm phu ̣ nữ đã lâ ̣p gia đình

Trang 7

và có ít nhất mô ̣t con, đây chỉ là những mẫu phu ̣ chúng tôi sử du ̣ng cho các phép phântích được trình bày trong báo cáo này

Để hỗ trơ ̣ cho viê ̣c lý giải ý tưởng này, mô ̣t số dữ liê ̣u cơ bản nền tảng về nhữngngười phu ̣ nữ đã lâ ̣p gia đình (có mô ̣t hoă ̣c hai con) đã được điều tra và được trình bàytrong Bảng 1, bảng này trình bày cả số liê ̣u tổng thể và số liê ̣u cho tất cả hô ̣ gia đình.Các thông tin trực tiếp về mô ̣t gia đình đã được hoàn thiê ̣n hoă ̣c chưa hoàn thiê ̣n thườngkhông có sẵn, do đó chúng tôi cũng tự ý đi ̣nh nghĩa về mô ̣t gia đình hoàn thiê ̣n chính là

mô ̣t gia đình có thể đáp ứng được mô ̣t trong các tiêu chí sau:

1. Người me ̣ chỉ có mô ̣t con người con còn sống, và người con này ít nhất đã 10tuổi ta ̣i thời điểm phỏng vấn

2. Người me ̣ có hơn hai người con còn sống, và người con nhỏ nhất phải hơn 7 tuổi

ta ̣i thời điểm phỏng vấn

3. Người me ̣ phải ít nhất 37,417 tuổi

Bảng 1: Các thông tin cơ bản về người phu ̣ nữ đã được điều tra

Ghi chú: Nhóm gia đình hoàn thiê ̣n là nhóm gia đình thỏa mãn các tiêu chí sau:

a) Mô ̣t con, trên 10 tuổi

b) Hai hoă ̣c nhiều con hơn, có đứa con nhỏ nhất phải trên 7 tuổi

c) Người me ̣ tuổi trung bình 37,417 hoă ̣c hơn

Những mẫu này chính là những mẫu lớn nhất có thể và những mẫu này cho phép mô ̣tmẫu có thể tính toán được tất cả các phép tính được trình bày trong bảng, mẫu này vì

vâ ̣y sẽ khác những mẫu được sử du ̣ng trong hồi qui cấp số tương đồng, và khác vớitrong nguyên bản

Nguồn: Điều tra tiêu chuẩn sống ở Viê ̣t Nam năm 1992 – 1993

Trang 8

Tuổi người me ̣ trong mu ̣c 3 được sử du ̣ng là tiêu chí bởi vì có 95% người phu ̣ nữsinh con trước đô ̣ tuổi này Những đô ̣ tuổi thấp hơn có thể giúp gia tăng số lượng quansát, nhưng những mẫu này có thể bi ̣ trô ̣n lẫn với nhóm không phải hô ̣ gia đình hoànthiê ̣n Từ số liê ̣u thực tế, các kết quả của phép phân tích thường không thay đổi nhiềukhi các tiêu chí phù hợp khác về mô ̣t gia đình hoàn thiê ̣n được áp du ̣ng Trong số 2.781người phu ̣ nữ không sinh nở được phỏng vấn chi tiết, thì 1.016 (36,5%) người đã đápứng được tiêu chí trên do đó nằm trong nhóm gia đình hoàn thiê ̣n Những người phu ̣ nữ

Tất cả nhữngngười me ̣ đã lâ ̣pgia đình

Những người

me ̣ đã lâ ̣p giađình trong nhómgia đình hoànthiê ̣n

Số lươ ̣ng người phu ̣ nữ đã lâ ̣p gia đình, ở đô ̣ tuổi

15 – 49

Đô ̣ tuổi làm me ̣ ta ̣i thời điểm điều tra (năm) 32,4 39,6

Tỷ lê ̣ người đàn ông nắm quyền trong gia đình 85,2 84,0

Tỷ lê ̣ các hô ̣ gia đình sống ở thành thi ̣ 18,7 22,9

Số năm hoàn thành viê ̣c ho ̣c mô ̣t các chính thức

(năm): đối với vợ

Số năm hoàn thành viê ̣c ho ̣c mô ̣t các chính thức

(năm): đối với chồng

Trang 9

này cũng có mô ̣t mối liên hê ̣ với tổng số 3.753 trẻ em đang còn sống Đô ̣ tuổi trungbình của trẻ em trong nhóm gia đình hoàn thiê ̣n là 3,67 Còn đô ̣ tuổi trung bình của trẻ

em trong nhóm gia đình không hoàn thiê ̣n là 2,60

Bảng 1 cũng chỉ ra đô ̣ tuổi trung bình lâ ̣p gia đình thường cao, 21 tuổi, mă ̣c dùđường biểu diễn này cũng được dựa trên kinh nghiê ̣m thực tế ở các nước Đông Nam Á(Viê ̣t Nam 1995, trang 4) Khoảng 1/5 hô ̣ gia đình sống ở nô ̣i thành và 85% trong tổngsố gia đình thì người đàn ông là người nắm quyền Người phu ̣ nữ sẽ chỉ được ho ̣c đếnnăm 7 tuổi (cao hơn khoảng 1,5 tuổi đối với số liê ̣u điều tra ở nông thôn Bangladesh) vàngười con trai thì đô ̣ tuổi trung bình này là ở năm 8 tuổi Những gia đình hoàn thiê ̣n cókhoảng 3,9 đứa trẻ còn sống, và 7% gia đình này là không có con trai, và 19% không cócon gái Mức chi tiêu còn rất thấp, rất ít gia đình chi tiêu trên 100USD trên mô ̣t đầungười mỗi năm Viê ̣c sử du ̣ng phương pháp tránh thai thì rất cao, do đó còn mối nghingờ to lớn về mức đô ̣ của tỉ lê ̣ thu ̣ tinh hiê ̣n ta ̣i (Haughton 1997)

5 Phân tích tư tưởng ưa thích con trai hơn trong mô ̣t gia đình hoàn thiê ̣n

Trong phần này, đầu tiên chúng tôi ước lượng tỉ lê ̣ thu ̣ tinh bằng mô ̣t mô hình cấpsố tương đồng Viê ̣c này sẽ giúp xây dựng mô ̣t tiêu chuẩn để có thể đánh giá mức đô ̣phù hợp của bảy công cu ̣ phân tích sau này Dấu hiê ̣u để phân biê ̣t trong tất cả các phépphân tích là nó cần phải được áp du ̣ng vào hô ̣ gia đình hoàn thiê ̣n có nuôi da ̣y con cái

5.1 Tiêu chuẩn phân tích cấp số tương đồng

Tỷ lệ cấp số tương đồng đươ ̣c đi ̣nh nghĩa là tỷ lê ̣ người phu ̣ nữ, trong bất kỳ că ̣ptương đồng cho trước, có nuôi da ̣y ít nhất mô ̣t người con Viê ̣c phân tích cấp số tươngđồng đã không còn được quan tâm nhiều trong những năm gần đây, và có mô ̣t vài lý docho viê ̣c này Trong phần này thì chính là do viê ̣c có nhiều nghi ngờ nhắm vào viê ̣c sử

du ̣ng bất kỳ phương pháp đo lường hành vi để phỏng đoán ra mức đô ̣ ưa thích về giớitính (Mc Clelland 1979) Nhưng ngay cả nếu mô ̣t người tin rằng các nghi ngờ này là rõràng hơn trong thực tế, thì vẫn còn vấn đề còn lại là tỷ lệ cấp số tương đồng nên chỉđươ ̣c phân tích trong những gia đình hoàn chỉnh mà thôi Mă ̣t khác, mẫu sẽ phải đượckiểm duyê ̣t do mô ̣t số cha me ̣ chưa có các kế hoa ̣ch về viê ̣c nuôi con, chúng tôi sẽ khôngquan sát cấp số của ho ̣ từ mô ̣t tương đồng đến lần tiếp theo, thâ ̣m chí chúng tôi cũng cóthể sẽ phải đợi thêm mô ̣t hoă ̣c hai năm Hê ̣ quả tất yếu là hê ̣ số đo lường hành vi thu ̣ thaitrong quá khứ sẽ tốt hơn trong hiê ̣n ta ̣i, và do đó thông thường sẽ làm giảm mức đô ̣ hài

Trang 10

lòng Mă ̣t khác, đây cũng chính là cùng mô ̣t vấn đề mà phép phân tích đơn giản hơn cầnphải đối mă ̣t và được trình bày trong bảng bên dưới, và nó cũng thể hiê ̣n lý do ta ̣i sao

mô hình cấp số tương đồng la ̣i phù hợp và được xem như là tiêu chuẩn bất kể còn nhiềutranh cãi xung quanh viê ̣c này

Chúng tôi ước lượng 4 mô hình cấp số tương đồng, nhằm giải thích cấp số tươngđồng cho hô ̣ gia đình có hai, ba, bốn và năm người con Biến phu ̣ thuô ̣c trong mỗitrường hợp được thể hiê ̣n ở hai da ̣ng, bằng với 1 nếu gia đình có thêm mô ̣t người connữa, nếu không thì bằng 0 Có rất nhiều các nhân tố khác ảnh hưởng đến tỉ lê ̣ thu ̣ tinhhơn là nhân tố số lượng con trong gia đình, và do đó các nhân tố này cần phải đượckiểm soát nếu chỉ mô ̣t trong số chúng có khả năng ha ̣n chế tác đô ̣ng của tư tưởng tro ̣ngnam Thuâ ̣n tiê ̣n hơn nếu chúng ta nhóm chúng la ̣i trong cùng mô ̣t biến liên quan đếnngười me ̣, biến hô ̣ gia đình và các tác đô ̣ng về mă ̣t đi ̣a lý

Biến số về người me ̣ Hầu như mỗi nghiên cứu đều tìm kiếm viê ̣c người me ̣ có

ho ̣c vấn thường ít thích có mô ̣t gia đình lớn, mă ̣c dù những lý do cơ bản cho viê ̣c nàythường không rõ ràng Chúng tôi đo lường các tác đô ̣ng này bằng 2 cách: thứ nhất làcách sử du ̣ng biến giả để chúng nhâ ̣n giá tri ̣ 1 nếu người me ̣ có khả năng viết và đo ̣c, vàthứ hai là viê ̣c đo lường mức đô ̣ ho ̣c vấn đa ̣t được

Tỷ lê ̣ 85% người phu ̣ nữ đã lâ ̣p gia đình có đô ̣ tuổi từ 15 – 49 đã và đang làm viê ̣c.Những điều chúng tôi mong đợi chính là viê ̣c những người phu ̣ nữ có viê ̣c làm thìthường ít mong muốn có nhiều con, mă ̣c dù Aly và Shields 1991 đã chứng minh điềungươ ̣c la ̣i ở Ai Câ ̣p Chúng tôi phải dùng cả biến giả để đo lường tác đô ̣ng này Và cảbiến đo lường đô ̣ tuổi kết hôn Rất nhiều gia đình lên kế hoa ̣ch, bao gồm cả ở Viê ̣t Nam,nhằm thúc giu ̣c người phu ̣ nữ lâ ̣p gia đình trễ, nhằm làm giảm thời gian người phu ̣ nữ cóthể sinh con cái Mă ̣t khác, chính sách này sẽ có ít tác du ̣ng nếu viê ̣c cưới trễ sẽ bi ̣ bù la ̣icho viê ̣c sinh con mô ̣t cách nhanh chóng hơn

Biến hộ gia đình Những viê ̣c khác cần phải được cân đối, trong hầu hết các

nghiên cứu đã chỉ ra cha me ̣ có thu nhâ ̣p trên đầu người cao sẽ có ít con Điều nàythường không đúng vì con cái không phải là hàng hóa cấp thấp, do vâ ̣y viê ̣c giải thíchcần phải gắn với mức đô ̣ giàu có, khi đó cha me ̣ sẽ mong muốn có ít con hơn nhữngngười con này sẽ có được cuô ̣c sống có chất lượng cao hơn, như sẽ có được nguồn dinhdưỡng và nền tảng giáo du ̣c tốt hơn (Behrman và Deolalikar, 1988) Chúng tôi đo lường

đô ̣ giàu có với chi tiêu trên đầu người, để điều chỉnh những khác biê ̣t giữa giá trong mỗi

Trang 11

khu vực và giữa khu vực thành thi ̣ với nông thôn Viê ̣c này cũng cần phải có thêmnhững hướng dẫn có đô ̣ tin câ ̣y về mức đô ̣ thu nhâ ̣p cố đi ̣nh và thu nhâ ̣p hiê ̣n ta ̣i của hô ̣gia đình.

Chúng tôi cũng sử du ̣ng mô ̣t công cu ̣ đo lường trình đô ̣ ho ̣c vấn của người cha, trong khiđó chúng tôi cũng nhâ ̣n ra mô ̣t số tương quan với trình đô ̣ ho ̣c vấn của người me ̣ Biến

hô ̣ gia đình khác là mô ̣t biến giả có giá tri ̣ bằng 1 nếu người chủ gia đình là người đànông Nếu mô ̣t gia đình có tư tưởng gia trưởng, và nếu người cha la ̣i rất mong muốn cócon trai, thì gia đình như thế này sẽ có khuynh hướng mong muốn có con trai là rất cao

Tác động của yếu tố đi ̣a lý Mô hình ước lượng cấp số tương đồng cũng bao gồm

mô ̣t biến giả cho khu vực thành thi ̣, nhằm đánh giá được tình tra ̣ng thu ̣ thai thấp ở khuvực này Chúng tôi cũng dùng biến giả cho 7 khu vực, dùng khu vực 2 (khu vực Đồngbằng Sông Hồng) như là khu vực đối chiếu Trong khi có những khác biê ̣t quan tro ̣ng vàxác đáng trong hành vi đã được lên kế hoa ̣ch của hô ̣ gia đình ở các khu vực, biến khuvực giả cũng cần phải được xem xét đến các tác đô ̣ng không quan sát được trong mỗikhu vực đi ̣a lý khác nhau

Chúng tôi đo lường sự ưa tiên về giới tính thông qua mô ̣t loa ̣t các biến giả về số lượngcon trai (vì D1 = 1 nếu có ít nhất 1 con trai, D2 = 1 nếu có ít nhất hai con, và nhiều hơnnữa) Cơ sở của tất cả các ứng du ̣ng là tồn ta ̣i viê ̣c duy trì mô ̣t giả thuyết về giá tri ̣ củabiến đô ̣c lâ ̣p là mô ̣t hướng dẫn đầy đủ về tình huống hô ̣ gia đình ta ̣i thời điểm ra quyết

đi ̣nh của ho ̣ về viê ̣c có hay không viê ̣c tiến hành mô ̣t tương đồng cho đến những tươngđồng kế tiếp Vì vâ ̣y ví du ̣ chúng tôi thừa nhâ ̣n những gia đình sống trong khu vực thànhthi ̣ thì bây giờ cũng sống trong khu vực thành thi ̣ khi họ xây dựng gia đình của mình.Viê ̣c không gô ̣p tuổi của người chồng và thời gian kết hôn sẽ được coi như là mô ̣t biến

đô ̣c lâ ̣p, bởi vì nó là những biến phu ̣ thuô ̣c thời gian Thiếu thông tin dữ liê ̣u chi tiếtnhằm có được sự thừa nhâ ̣n này là không thể tránh được, do vâ ̣y viê ̣c này sẽ làm kết quảsẽ kém chính xác

Kỹ thuâ ̣t của chúng tôi ngay từ ban đầu là bao gồm tất cả các biến Vì vâ ̣y, chúngtôi giảm bớt tất cả các biến có giá tri ̣ P vượt quá 0,5, và những biến khác có liên quanđến tư tưởng tro ̣ng nam, trước khi đánh giá la ̣i Mô hình cấp số tương đồng cho hô ̣ giađình có 5 người con, chúng tôi thể hiê ̣n thành hai bô ̣ đánh giá; bô ̣ A chỉ giữ la ̣i nhữngtương đồng có ý nghĩa thống kê (ta ̣i giá tri ̣ 0,5), trong khi bô ̣ B sẽ bao gồm tất cả biến về

tư tưởng tro ̣ng nam Trong phần A của bảng 2, chúng tôi đã trình bày tất cả các tương

Trang 12

đồng có ý nghĩa Theo trực giác các ấn tượng về đô ̣ ma ̣nh của những ảnh hưởng của cácbiến đô ̣c lâ ̣p trên cấp số tương đồng có thể tìm ở bảng 3, nhằm đo lường tác đô ̣ng trênnhững cấp số có khả năng từ mô ̣t că ̣p tương đồng cho đến các că ̣p tương đồng kế tiếp đểthay đổi biến đô ̣c lâ ̣p liên quan đến giới tính.

Tư tưởng tro ̣ng nam càng được thể hiê ̣n rõ ràng hơn Gia đình có hai con có íthơn khoảng 15% về viê ̣c mong muốn có con thứ ba nếu ho ̣ đã có con trai rồi Gia đìnhcó ba con sẽ ít mong muốn có con thứ tư hơn 12% nếu ho ̣ đã có mô ̣t con trai và mô ̣t congái rồi Trường hợp này rất thú vi ̣ do chỉ có mô ̣t bằng chứng đối với mong đợi về viê ̣ccó cả con trai và con gái Giống như gia đình có bốn con và năm con thường rất ít mongmuốn có thêm con nếu ho ̣ đã có con trai rồi Bằng chứng vì thế sẽ rất vững chắc với ýtưởng về viê ̣c các gia đình ngay từ ban đầu rất mong muốn có con trai, nhưng nếu sựcân bằng giữa nam và nữ bi ̣ lê ̣ch đi thì mô ̣t vài gia đình sẽ mong muốn có con gái thêm

Bảng 2: Mô hình hỗ trợ của cấp số tương đồng

Giá trịcủacácbiến

Số lượng trẻ

A. Mô hình tiêu chuẩn

Số lượng con trai

-0,743**

-0,488 -1,133

-1,272**

-0,988

Trang 13

Tuổi của người mẹ lúc sinh

con

0,042*

-0,135**

0,314**

0,134**

0,320**Đàn ông nắm quyền trong gia

0,777**

0,661**

0,662**

-0,136**

0,110**

0,051

-0,111**

0,108**

B. Mô hình đơn giản

Số lượng con trai

-0,821**

Trang 14

Nguồn dữ liệu: Cuộc khảo sát tiêu chuẩn sống tại Việt Nam 1992-1993

Bảng 3: Ảnh hưởng của những thay đổi trong các biến độc lập của cấp số tương đồng

Các số liệu trong bảng được thể hiện là % Số lượng trẻ ít nhất trong gia đình

Tỷ lệ cấp số cơ bản: tỷ lệ cấp số gia đình

đến sự tương đồng tiếp theo ( = xác suất

trung bình ước tính của cấp số tương

đồng)

Dự đoán xác suất (%) của cấp số đến sự

tương đồng tiếp theo cho người mẹ với n

con trai, giả định tỷ lệ cấp số cơ bản áp

dụng cho người mẹ với 0 con trai tương

ứng với mỗi gia đình có:

Trang 15

e. Năm con trai 26,8 37,4

Ghi chú: Có nguồn gốc từ Bảng 2 P là xác suất ban đầu của cấp số từ một sự tươngđồng tiếp theo, do đó, p / (1-p) là tỷ số tỷ lệ Tỷ số tỷ lệ thay đổi là do một sự thay đổitrong biến độc lập X là exp(b-αX), trong đó b là hệ số ước tính trong các hỗ trợ hồi quy.Các tỷ số tỷ lệ mới trở thành q/(1-q) = exp(b-αX) + (p/(1-p)), từ đó q (xác suất mới củacấp số từ một sự tương đồng tiếp theo) có thể được tính toán Ví dụ, đối với các gia đình

có hai con trai trở lên, nếu p = 0,786 cho không có con trai, thì q = 0,636 cho các giađình có một con trai

Tác đô ̣ng của tư tưởng tro ̣ng nam ảnh hưởng đến tỷ lê ̣ sinh như thế nào ? Mức đô ̣ảnh hưởng được thể hiê ̣n trong bảng 4, trong cô ̣t 2 của bảng này đã trình bày hê ̣ số cấpsố tương đồng trung bình cho mỗi số lượng người con khác nhau Từ cô ̣t này, chúng tacó thể tính toán số lượng con cái trong mô ̣t gia đình hoàn chỉnh thông qua viê ̣c ướclươ ̣ng tỷ lê ̣ sinh tổng thể (ngoa ̣i trừ trường hợp sinh tám hoă ̣c cao hơn), mà đi kèm với3,81.Theo đề xuất bởi Arnold (1985), cột thứ hai có tỷ lệ tương đồng cấp số tối thiểutăng từ kết quả hồi quy, điều này ít liên quan đến tỷ lệ thể hiện khi thiếu sự ưa thích giớitính Những điều này sinh ra một tỷ lệ sinh sản tổng quát là 3,46, khoảng 9% thấp hơn

so với tỷ lệ sinh sản thực được quan sát Điều này xác định ảnh hưởng (tối đa) của sự ưatiên giới tính trong sinh sản

Sự phân tích chủ yếu của chúng ta không nhằm vào các biến khác, nhưng chúng

ta lưa ý trong qua rằng những tác động là đáng tin cây Các bậc cha mẹ ít có khả năngsinh thêm con nếu người mẹ có học vấn cao hơn hoặc kết hôn muộn, nếu mức chi phíbình quân đầu người cao hơn, nếu các gia đình sống trong một khu vực đô thị, hoặc nếucác hộ sống trong các vùng lúa gạo sông Hồng và đồng bằng Cửu Long Nó xuất hiện

để làm cho không có sự khác biệt cấp số tương đồng cho dù người nắm quyền trong giađình là đàn ông hay đàn bà, hoặc cho dù người mẹ làm việc bên ngoài

Sử dụng những kết quả này như một tiêu chuẩn, bây giờ chúng ta chuyển sang một loạtcác phân tích của sự ưa thích con trai, điều mà dựa trên một số lượng thông tin hạn chếhơn rất nhiều

5.2 Phân tích tỷ lệ cấp số tương đồng giản đơn

Trang 16

Trong thử nghiệm này, chúng ta ước tính một mô hình cấp số tương đồng, nhưng

không bao gồm biến kiểm soát Do đó chỉ gồm những thông tin cần thiết như thứ tự sinh

và giới tính của tất cả các trẻ đang sống đối với các hộ gia đình hoàn chỉnh Các kết quả

được trình bày trong phần B của Bảng 2

Bảng 4: Ước tính hiệu suất sinh sản có sự ưa thích con trai

Số lượng trẻ

Tỷ lệ cấp sốtương đồng(từ bảng 5)

Tỷ lệ cấp số tương đồng ước tính với không có sự

ưa thích con trai

Từ mô hìnhđầy đủ (Bảng2.A)

Từ mô hìnhgiản đơn (Bảng2.B)

Từ sự sắp xếp(Bảng 5)

Ghi chú: * Số liệu giống cột 5

Phương pháp tính tổng tỷ lệ khả năng sinh sản được trình bày tại phần cuối ghi chú 2

Các hệ số là tương tự với số liệu đã tìm thấy trong mô hình sinh sản đầy đủ và

cho thấy cùng một khuôn mẫu đặt nặng việc ưa thích con trai Điều này cho thấy rằng

việc ưa thích con trai bản chất là không tương quan với các biến kiểm soát như giáo dục

hoặc chi tiêu bình quân đầu người, sự thiếu tương quan này làm cho thử nghiệm giản

đơn hoạt động tốt hơn Sử dụng các kết quả từ mô hình đơn giản này và phương pháp

Ngày đăng: 26/12/2013, 11:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Mô hình hỗ trợ của cấp số tương đồng - CÁC THỬ NGHIỆM GIẢN đơn về tư TƯỞNG TRỌNG NAM có THỰC sự hữu ÍCH ĐÁNH GIÁ dựa TRÊN dữ LIỆU từ VIỆT NAM
Bảng 2 Mô hình hỗ trợ của cấp số tương đồng (Trang 12)
Bảng 3: Ảnh hưởng của những thay đổi trong các biến độc lập của cấp số tương đồng - CÁC THỬ NGHIỆM GIẢN đơn về tư TƯỞNG TRỌNG NAM có THỰC sự hữu ÍCH ĐÁNH GIÁ dựa TRÊN dữ LIỆU từ VIỆT NAM
Bảng 3 Ảnh hưởng của những thay đổi trong các biến độc lập của cấp số tương đồng (Trang 14)
Bảng 5: Tỷ lệ cấp số tương đồng của những hộ gia đình hoàn chỉnh - CÁC THỬ NGHIỆM GIẢN đơn về tư TƯỞNG TRỌNG NAM có THỰC sự hữu ÍCH ĐÁNH GIÁ dựa TRÊN dữ LIỆU từ VIỆT NAM
Bảng 5 Tỷ lệ cấp số tương đồng của những hộ gia đình hoàn chỉnh (Trang 18)
Bảng 6: So sánh thực tế với giới tính anh chị em ruột dự đoán - CÁC THỬ NGHIỆM GIẢN đơn về tư TƯỞNG TRỌNG NAM có THỰC sự hữu ÍCH ĐÁNH GIÁ dựa TRÊN dữ LIỆU từ VIỆT NAM
Bảng 6 So sánh thực tế với giới tính anh chị em ruột dự đoán (Trang 20)
Bảng 7 . Tỷ lệ số trẻ nam trên tổng số trẻ em - CÁC THỬ NGHIỆM GIẢN đơn về tư TƯỞNG TRỌNG NAM có THỰC sự hữu ÍCH ĐÁNH GIÁ dựa TRÊN dữ LIỆU từ VIỆT NAM
Bảng 7 Tỷ lệ số trẻ nam trên tổng số trẻ em (Trang 22)
Bảng   8.  Mô  hình  tỷ   lệ  rủi   ro  khi  sinh   con. - CÁC THỬ NGHIỆM GIẢN đơn về tư TƯỞNG TRỌNG NAM có THỰC sự hữu ÍCH ĐÁNH GIÁ dựa TRÊN dữ LIỆU từ VIỆT NAM
ng 8. Mô hình tỷ lệ rủi ro khi sinh con (Trang 27)
Bảng 9: Tóm tắt các thử nghiệm việc ưu thích con trai - CÁC THỬ NGHIỆM GIẢN đơn về tư TƯỞNG TRỌNG NAM có THỰC sự hữu ÍCH ĐÁNH GIÁ dựa TRÊN dữ LIỆU từ VIỆT NAM
Bảng 9 Tóm tắt các thử nghiệm việc ưu thích con trai (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w