* Đặc điểm của sản phẩm tài chính phái sinh:a Có giá trị thay đổi theo sự thay đổi của các yếu tố trên thị trường, như: Lãi suất, tỷ giáhối đoái, giá cả hàng hóa hoặc giá chứng khoán; b
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Sau khi gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam có nhiều cơ hội tiếp cậnvới các nguồn vốn lớn của thế giới Các dịch vụ sản phẩm ngành Ngân hàng ngày càng đa dạngnhằm tối ưu lợi nhuận cho khách hàng cá nhân, cho doanh nghiệp và cho cả các NHTM tại ViệtNam
Bên cạnh những lợi thế về kinh tế cũng có những rủi ro mà các doanh nghiệp và Lãnh đạongành ngân hàng cần phải quan tâm vì giao dịch hiện nay không chỉ bó hẹp ở Đồng Việt Nam(VND) và đôla Mỹ (USD) Đa dạng hóa đồng tiền trong giao dịch tài chính nhằm phục vụ cho cáchoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư thông qua các ngân hàng thương mại cũng bắt các doanhnghiệp, NHTM phải đối diện với nhiều khó khăn về rủi ro tỷ giá Chẳng hạn như khi doanhnghiệp nhập khẩu hàng hóa bằng ngoại tệ, nếu vay ngoại tệ (thường là theo lãi suất thẻ nổi) trongkhi thu lại là VND thì rủi ro do biến động giá rất lớn sẽ tác động tới doanh thu
Trong đầu tư, các doanh nghiệp nước ngoài đã và đang đưa vào Việt Nam một lượng lớnngoại tệ Có không ít doanh nghiệp nước ngoài đầu tư trực tiếp, chỉ bán hàng trong nước, thuVND trong khi đó họ phải bán ngoại tệ để thanh toán, trang trải cho các chi phí, nhập máy mócthiết bị từ nước ngoài
Sau một thời gian, khi có lợi nhuận, họ được chuyển tiền về nước, lúc này lại mua ngoại tệchuyển ra Chưa kể cũng có những doanh nghiệp cần lượng ngoại tệ lớn để đầu tư vì vậy cáckhoản vay ngoại tệ dài hạn từ 5-10 năm cũng là vấn đề mà các doanh nghiệp phải cân nhắc, tínhtoán
Chính vì vậy mà công cụ phái sinh dần tiếp cận với nền kinh tế Việt Nam, đã và đangđược áp dụng tại các NHTM ở Việt Nam Với mục đích phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro tronghoạt động kinh doanh đặc biệt là kinh doanh ngân hàng, các công cụ này dần dần đóng vai trò rấtquan trọng trong quản trị rủi ro tài chính
Trang 2* Đặc điểm của sản phẩm tài chính phái sinh:
a) Có giá trị thay đổi theo sự thay đổi của các yếu tố trên thị trường, như: Lãi suất, tỷ giáhối đoái, giá cả hàng hóa hoặc giá chứng khoán;
b) Không phải đầu tư tại thời điểm khởi đầu hợp đồng hoặc chỉ cần đầu tư ban đầu thấphơn so với các loại hợp đồng khác có các phản ứng tương tự đối với sự thay đổi của các yếu tố thịtrường; và
c) Được thanh toán vào một ngày trong tương lai
1.2 Nguồn gốc của các sản phẩm tài chính phái sinh:
Sản phẩm phái sinh ra đời xuất phát từ nhu cầu quản trị rủi ro (nhằm để chia tách rủi ro;kiểm soát rủi ro; chuyển đổi rủi ro từ chủ thể này sang chủ thể khác)
* Lịch sử phát triển của các sản phẩm phái sinh:
+ Những năm 1630s – Tulipomania: quyền chọn và kỳ hạn đối với hoa tulíp
+ Những năm 1650s – Mua bán hóa đơn lưu kho gạo (future) – Osaka, Nhật Bản
+ Những năm 1865s – Thị trường hàng hóa tập trung Chicago (CBOT), hợp đồng tương laitiêu chuẩn hóa đầu tiên
+ Những năm 1970s – Hợp đồng future tài chính đầu tiên được giao dịch tại Thị trường tiền
tệ quốc tế (IMM – một phân nhánh của CBOT), sau đó là sự ra đời của CBOE (option)
+ Những năm 1980s – Sự phát triển của thị trường phái sinh phi tập trung (OTC)
Trong đó hợp đồng quyền chọn là sản phẩm tài chính phái sinh rất được ưa chuộng Hợpđồng quyền chọn cổ phiếu được thực hiện lần đầu tiên tại Mỹ vào năm 1973, từ đó thị trường nàyphát triển tăng vọt và ngày nay được thực hiện trên khắp thị trường tài chính thế giới Hợp đồngquyền chọn được thực hiện với các hoạt động mua, bán: Cổ phiếu, chỉ số thị trường chứng khoán,ngoại tệ, công cụ nợ, các hợp đồng mua bán tương lai và hàng hóa
II CÁC LOẠI SẢN PHẨM TÀI CHÍNH PHÁI SINH CHÍNH TRÊN THỊ
TRƯỜNG
Chúng ta xem các công cụ phái sinh như là các hợp đồng, và giống như tất cả hợp đồng,chúng được thoả thuận giữa hai bên, người mua và người bán, trong đó mỗi bên sẽ thực hiện một
Trang 3số nghĩa vụ nào đó cho bên kia Các hợp đồng này có giá cả và người mua sẽ cố gắng mua với giả
rẻ và người bán cố gắng bán với giá cao nhất Các loại công cụ phái sinh cơ bản bao gồm: Hợp đồng kỳ hạn (Forward Contracts), Hợp đồng tương lai (Future Contracts), Hợp đồng quyền chọn (Option Contracts) và hợp đồng hoán đổi (Swap Contracts).
2.1 Hợp đồng kỳ hạn:Là một thoả thuận ràng buộc mang tính pháp lý giữa hai bên để muahoặc bán một số tài sản, nghĩa vụ phải trả hoặc công cụ tài chính nhất định vào một thời điểm xácđịnh trong tương lai với mức giá thoả thuận giữa các bên tại ngày giao dịch Đặc biệt là hợp đồngnày thường chỉ được giao dich trên thị trường phi tập trung (OTC) và chỉ được thực hiện vào ngàyđáo hạn hợp đồng
Thông thường, hợp đồng này chỉ được thực hiện giữa các tổ chức tài chính với nhau, hoặcgiữa các tổ chức tài chính với các khách hàng là doanh nghiệp phi tài chính (các hợp đồng nàythường được ký song phương)
2.2 Hợp đồng tương lai: Là một thoả thuận ràng buộc mang tính pháp lý giữa các bên để
mua hoặc bán một số tài sản, nghĩa vụ phải trả hoặc công cụ tài chính nhất định vào một thời điểmxác định trong tương lai với mức giá niêm yết tại ngày giao dịch, được chuẩn hoá theo quy định
và được giao dịch trên sàn giao dịch tập trung
Tương tự như giao dịch kỳ hạn nhưng giao dịch tương lai có một số điểm khác biệt:
- Đối tượng của hợp đồng là các hàng hóa được tiêu chuẩn hóa như: kim loại (sắt, nhôm,đồng, ), cà phê, bông, , và tiền tệ
- Thời gian giao hàng được chuẩn hóa (theo tuần, tháng)
- Giao dịch tương lai được thực hiện tại các thị trường tập trung
2.3 Hợp đồng hoán đổi: Là một thoả thuận ràng buộc mang tính pháp lý giữa hai bên để
trao đổi (nhưng không mang tính chất mua bán) một số tài sản hoặc nghĩa vụ phải trả trong mộtkhoảng thời gian cụ thể với một mức lãi suất, tỷ giá hối đoái hoặc giá cả nhất định được quy địnhtrong hợp đồng
Hợp đồng hoán đổi là hợp đồng chỉ được giao dịch trên thị trường phi tập trung (OTC).Thông thường giao dịch này bao gồm các thanh toán lãi và trong một số trường hợp là thanh toán
nợ gốc
* Có hai loại nghiệp vụ hoán đổi:
- Giao dịch hoán đổi lãi suất: Hoán đổi giữa hai món vay cùng số lượng và một loại tiềnvới lãi suất cố định và lãi suất thả nổi
- Giao dịch hoán đổi tiền tệ: Hoán đổi giữa hai món vay có loại tiền tệ khác nhau với giátrị tương đương
Trang 42.4 Hợp đồng quyền chọn: Là một thoả thuận ràng buộc mang tính pháp lý giữa hai bên,
trong đó người mua quyền chọn được quyền (nhưng không bắt buộc) mua hoặc bán một công cụtài chính cụ thể với một mức giá nhẩt định vào hoặc trước một thời điểm trong tương lai được quyđịnh trong hợp đồng Khi người mua quyền chọn thực hiện quyền mua hoặc bán theo hợp đồng,người bán quyền chọn bắt buộc phải thực hiện các nghĩa vụ đã ký kết trong hợp đồng theo yêucầu của bên mua
* Có hai loại quyền chọn:
- Quyền chọn mua: Là một hình thức của quyền chọn, cho phép người mua nó có quyềnnhưng không bắt buộc, được phép mua một số lượng tài sản theo một mức giá đã được ấn địnhtrước trong hợp đồng
- Quyền chọn bán: Là một hình thức của quyền chọn, cho phép người mua nó có quyềnnhưng không bắt buộc, được phép bán một số lượng tài sản theo một mức giá đã được ấn địnhtrước trong hợp đồng
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM TÀI CHÍNH
PHÁI SINH TẠI VIỆT NAM
I SỰ CẦN THIẾT ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM TÀI CHÍNH PHÁI SINH TẠI VIỆT NAM:
Như đã biết ở phần trên, các sản phẩm tài chính phái sinh được các nước trên thế giới sửdụng như những công cụ để phòng ngừa rủi ro hiệu quả trong hoạt động kinh doanh đặc biệt làcủa ngành ngân hàng (NH)
Chính vì vậy mà công cụ phái sinh dần tiếp cận với nền kinh tế Việt Nam, đã và đangđược áp dụng tại các NHTM ở Việt Nam (VN)
Các ngân hàng thương mại ngày nay kinh doanh trên nhiều lĩnh vực Ngoài các nghiệp vụngân hàng mang tính truyền thống như: tiết kiệm, cho vay thế chấp, cho vay cầm cố, bảo lãnhL/C, chiết khấu giấy tờ có giá, thanh toán bằng séc, chuyển khoản…các ngân hàng đã có nhiềusản phẩm mới như bao thanh toán, cho thuê tài chính, cho vay đồng tài trợ hay các nghiệp vụ tàichính phái sinh…Trong đó, các nghiệp vụ phái sinh có vai trò rất quan trọng, giúp hạn chế thấpnhất những rủi ro thua lỗ có thể xảy ra
Kinh doanh các nghiệp vụ phái sinh sẽ mang lại cho các ngân hàng nhiều lợi ích
Trang 5Thứ 1: Hoạt động kinh doanh của ngân hàng có nhiều rủi ro, kinh doanh nghiệp vụ phái sinh giúp
các ngân hàng có thể bù đắp được rủi ro thông qua hoạt động bù trừ giữa các giao dịch
Thứ 2: Kinh doanh nghiệp vụ phái sinh sẽ làm sản phẩm kinh doanh của ngân hành thêm đa dạng,
phong phú, từ đó làm tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng
Thứ 3: Kinh doanh nghiệp vụ phái sinh đòi hỏi ngân hàng phải có đội ngũ nhân viên giỏi, có hệ
thống công nghệ hiện đại, do đó sẽ nâng cao uy tín, thương hiệu của các ngân hàng không chỉtrong nước mà cả ở nước ngoài
Các nghiệp vụ phái sinh là sản phẩm tất yếu của thị trường tài chính hiện đại Đó thực chất là cáchợp đồng tài chính mà giá trị của nó phụ thuộc vào một hợp đồng mua bán cơ sở Các nghiệp vụtài chính phái sinh bao gồm: giao dịch kỳ hạn (Forward), tương lai (Futures), quyền chọn(Options) và hoán đổi (Swaps) Trong đó, giao dịch kỳ hạn, hoán đổi chỉ được thực hiện trên thịtrường OTC (thị trường phi tập trung); giao dịch tương lai được thực hiện trên thị trường tậptrung; còn giao dịch quyền chọn có thể thực hiện trên cả hai thị trường
II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM TÀI CHÍNH PHÁI SINH TẠI VIỆT NAM
pháp lý để các ngân hàng được thực hiện các sản phẩm phái sinh
*Sự biến động khó lường của giá cả hàng hóa, lãi suất, tỷ giá trên thị trường là nhữngnguyên nhân gây ra rủi ro cho các nhà đầu tư trong hoạt động mua, bán Để hạn chế thấp nhấtnhững rủi ro thua lỗ có thể xảy ra, các nghiệp vụ tài chính phái sinh đã được hình thành Đến naytrên thị trường tài chính quốc tế, nghiệp vụ tài chính phái sinh đã phát triển mạnh với các nghiệp
vụ phái sinh rất đa dạng và thị trường phái sinh đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chínhtoàn cầu Trên thị trường có thể phân ra thành 3 loại thành viên: Người đầu tư, người đầu cơ,người cơ lợi Sử dụng nghiệp vụ tài chính phái sinh đều mang lại lợi ích cho 3 loại thành viênnày:
- Người đầu tư phải đối diện với những rủi ro do biến động giá cả của các sản phẩmchính, họ phải sử dụng nghiệp vụ phái sinh để giảm thiểu hoặc loại bỏ rủi ro;
- Người đầu cơ lại muốn đánh cuộc trên những biến động giá cả của sản phẩm chính, họdùng nghiệp vụ này như một đòn bẩy đặc biệt;
- Người cơ lợi ( thực hiện lợi nhuận mà không có rủi ro) bằng cách sử dụng chênh lệchgiá giữa các thị trường tài chính khác nhau, họ sử dụng rất hiệu quả các nghiệp vụ pháisinh để hưởng chênh lệch giá
Trang 6* Trên thị trường tài chính ở Việt Nam, các nghiệp vụ phái sinh bắt đầu xuất hiện khoảng
7 năm trước đây và đến nay xuất hiện nhiều loại công cụ phái sinh chuẩn và không chuẩn đangđược thực hiện Tuy nhiên, cơ sở pháp lý các nghiệp vụ phái sinh còn mang tính thí điểm và đơn
lẻ, ngoại trừ giao dịch hoán đổi lãi suất đã có quy chế của NHNN ( Quyết định số NHNN ngày 30/09/2003 ban hành kèm theo quy chế) Đồng thời số lượng các giao dịch còn ítkhoảng gần 15 hợp đồng hoán đổi lãi suất và một số ít hợp đồng phái sinh không chuẩn khác đãđược cho phép thực hiện (trong đó có một số giao dịch đã chưa phát sinh giao dịch) Có thể liệt kêmột số tổ chức tín dụng đã được NHNN cho phép thực hiện:
1133/2003/QĐ-Citibank thực hiện thí điểm hoán đổi lãi suất giữa 2 đồng tiền từ ngày 01/03/2005 đến02/2006;
Ngân hàng Standard Chartered chi nhánh tại Việt Nam thực hiện hoán đổi lãi suất chéogiữa 2 đồng tiền chéo (Cross Currency Swap- CCS) đối với khoản vay ngoại tệ của khách hàngsau khi khách hàng vay ngoại tệ;
Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam thực hiện thí điểm giao dịch quyền chọn lãi suấtđối với các khoản cho vay hoặc đi vay trung hạn bằng USD hoặc EURO;
Vietcombank thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất kèm theo điều kiện quyền chọn với cácđối tác là tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam và các pháp nhân khác hoạt động ở trong vàngoài nước, phù hợp với các quy định của pháp luật Quyền chọn thuộc về NHNT là quyền kếtthúc hợp đồng Swap đối với các khoản vay của BTC;
Ngân hàng HSBC thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất cộng dồn (Daily range accrual)thời hạn của hợp đồng tối đa 5 năm;
Thực hiện quyền chọn ngoại tệ (Option ngoại tệ/ VND): Đã cho phép thực hiện thí điểmtại VIBank, Vietcombank (8/2005), ACB, NHĐT &PT, Techcombank, NHTMCP Quân Đội(12/2005);
Ngân hàng Calyon, Citibank, ABN-AMRO thực hiện nghiệp vụ hoán đổi lãi suất bắt đầuthực hiện trong tương lai (Forward Start Swap)
trạng thị trường phái sinh ở Việt Nam
Nghiệp vụ tài chính phái sinh đã xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 1990, chủ yếu là tạicác ngân hàng có giao dịch với các ngân hàng nước ngoài Một số ngân hàng lớn như: Ngân hàngNgoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV), Ngânhàng Công thương (Viettinbank)…cũng đã triển khai các nghiệp vụ như: mua bán ngoại tệ kỳhạn, hoán đổi, hợp đồng tương lai…cho các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng ngoại tệ và trao đổihàng hóa, dịch vụ trong thanh toán quốc tế Tuy nhiên, các sản phẩm công cụ phái sinh hiện nay
Trang 7tại các ngân hàng còn ít, chưa thu hút được các doanh nghiệp sử dụng Vì thế, thu nhập từ cáccông cụ phái sinh còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng thu nhập của ngân hàng.
Có thể nhận thấy, hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực công cụ phái sinh của các ngânhàng chưa hiệu quả Các sản phẩm chưa đa dạng, phong phú, do đó mặc dù các ngân hàng đãkhông ngừng đầu tư chi phí để phát triển các sản phẩm này nhưng chưa thu hút được các doanhnghiệp tham gia Thực tế là các doanh nghiệp hiện nay nhận thức rất ít về kỹ thuật phòng chốngrủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái và phòng chống bằng công cụ phái sinh lại càng xa lạ
Do đó, các doanh nghiệp không nhiệt tình phòng ngừa rủi ro bằng các hợp đồng kỳ hạn,hợp đồng hoán đổi, hợp đồng quyền chọn dẫn đến các NHTM gặp khó khăn trong việc phát triểncác nghiệp vụ này Mặt khác, vì đây là các nghiệp vụ hiện đại, phức tạp nên đòi hỏi đội ngũ nhânviên ngân hàng phải có trình độ chuyên môn cao, mới có thể tư vấn cho các doanh nghiệp thựchiện các nghiệp vụ phái sinh đồng thời việc quảng bá, giới thiệu của các ngân hàng đối với doanhnghiệp còn chưa rộng rãi, làm doanh nghiệp chưa biết hoặc không mặn mà với các dịch vụ mới vềcông cụ phái sinh của ngân hàng
Quyết định 17 đã mở đường cho các ngân hàng thương mại tiến hành triển khai thực hiệncác giao dịch hoán đổi ngoại tệ ở Việt Nam Năm 1998 là năm thị trường ngoại hối ở Việt Nam
có nhiều biến động, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ Đông Nam Á Khách hàng cónhu cầu thực hiện giao dịch hoán đổi với ngân hàng có thể là các công ty xuất nhập khẩu, cácngân hàng khác hoặc là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng
Khách hàng có thể thực hiện từng loại giao dịch riêng lẻ nhằm thoả mãn nhu cầu ngoại tệ
và VND Tuy nhiên, nếu thực hiện riêng lẻ từng loại giao dịch giao ngay và giao dịch kỳ hạn thìngân hàng và khách hàng phải thỏa thuận đến hai loại hợp đồng, theo đó khách hàng bán giaongay và mua kỳ hạn hoặc mua giao ngay và bán kỳ hạn với cùng một loại ngoại tệ Giao dịchriêng lẻ này khiến cho khách hàng phải chịu thiệt hai lần do chênh lệch giữa giá bán và giá mua
Trang 8và những phiến toái trong thoả thuận hợp đồng giao dịch Thay vì thực hiện giao dịch giao ngay
và giao dịch kỳ hạn riêng biệt, ngân hàng kết hợp hai loại giao dịch này lại trong một hợp đồng,gọi là hợp đồng hoán đổi tiền tệ
Trong hợp đồng giao dịch hoán đổi, hai bên ngân hàng và khách hàng thỏa thuận với nhaumột số nội dung chính như sau:
+ Thời hạn giao dịch – Thời hạn giao dịch hoán đổi có thể từ 3 ngày đến 6 tháng Nếungày đáo hạn rơi vào ngày Chủ nhật hoặc ngày lễ thì hai bên sẽ thoả thuận chọn một ngày đáo hạnthích hợp và thời hạn hợp đồng sẽ tính trên số ngày thực tế
+ Điều kiện thực hiện – Giao dịch hoán đổi áp dụng đối với khách hàng có đủ các điềukiện sau: (1) có giấy phép kinh doanh, (2) xuất trình các chứng từ chứng minh nhu cầu sử dụngngoại tệ, (3) mở tài khoản ngoại tệ và tài khoản VND ở ngân hàng, (4) trả phí giao dịch theo quiđịnh, (5) duy trì một tỷ lệ đặt cọc tối đa không quá 5% trị giá hợp đồng để bảo đảm việc thực hiệnhợp đồng, và (6) ký hợp đồng giao dịch hoán đổi với ngân hàng
+ Ngày thanh toán – Trong giao dịch hoán đổi, ngày thanh toán bao gồm hai loại ngàykhác nhau: ngày hiệu lực và ngày đáo hạn Ngày hiệu lực là ngày thực hiện thanh toán giao dịchgiao ngay trong khi ngày đáo hạn là ngày thực hiện thanh toán giao dịch có kỳ hạn
+ Xác định tỷ giá hoán đổi – Một hợp đồng hoán đổi liên quan đến hai loại tỷ giá: tỷ giágiao ngay và tỷ giá có kỳ hạn Tỷ giá giao ngay là tỷ giá do ngân hàng niêm yết tại thời điểm giaodịch do hai bên thoả thuận Tỷ giá có kỳ hạn được tính trên cơ sở tỷ giá giao ngay, chênh lệch lãisuất giữa VND và ngoại tệ, và số ngày thực tế của hợp đồng
+ Quy trình thực hiện giao dịch hoán đổi – Tại ngân hàng thương mại quy trình thực hiệngiao dịch hoán đổi tiến hành qua các bước sau đây:
• Khách hàng có nhu cầu thực hiện giao dịch hoán đổi đến liên hệ với phòng kinh doanhtiền tệ của ngân hàng
• Căn cứ vào cung và cầu ngoại tệ, phòng kinh doanh tiền tệ sẽ chào giá và kỳ hạn cụ thểcho khách hàng
• Nếu khách hàng đồng ý giá cả thì hai bên sẽ ký hợp đồng hoán đổi
2.3.2 Hợp đồng quyền chọn
Hợp đồng quyền chọn: Quyền chọn là một công cụ cho phép người nắm giữ nó được
mua (nếu là quyền chọn mua) hoặc bán (nếu là quyền chọn bán) một khối lượng nhất định hànghóa với một mức giá xác định trong một thời gian nhất định Khác với việc sở hữu hợp đồng kỳhạn và hợp đồng tương lai, buộc phải mua hoặc bán các tài sản cơ sở trong tương lai, người sửdụng hợp đồng quyền chọn có thể lựa chọn xem có nên mua (call) hay bán (put) một tài sản cơ sởtrong tương lai tại mức giá thực hiện được xác định vào ngày hôm nay Khả năng lựa chọn có thểtạo ra các khoản thanh toán không cân xứng, nghĩa là người sở hữu hợp đồng quyền chọn có thể
Trang 9từ chối mua hay bán một tài sản Trên thực tế, người sở hữu hợp đồng quyền chọn sẽ từ chối thựchiện hợp đồng nếu giá hợp đồng này bất lợi so với giá thực hiện hợp đồng và ngược lại họ sẽ thựchiện hợp đồng nếu giá hợp đồng thuận lợi.
Quyền chọn mua trao cho người nắm giữ quyền mua tài sản vào một ngày nhất định vớimột giá xác định Quyền chọn bán trao cho người nắm giữ quyền bán tài sản vào một ngày nhấtđịnh với một giá xác định Ngày trên hợp đồng là ngày đáo hạn hay ngày thực hiện và giá trênhợp đồng là giá thực hiện
Có bốn chiến lược cơ bản trong giao dịch quyền chọn là: mua quyền chọn mua, bán quyềnchọn mua, mua quyền chọn bán và bán quyền chọn bán
• Option vàng: không hạn chế đối tượng
Quy trình giao dịch Option tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam
• Khách hàng liên hệ với ngân hàng khi có nhu cầu
• Ngân hàng báo phí (phí có hiệu lực trong thời gian nhất định)
• Nếu khách hàng xác nhận đồng ý mức phí này thì ký hợp đồng quyền chọn và thanh toánphí cho NH
• Khách hàng ký thỏa thuận chung về nghiệp vụ quyền chọn tiền tệ hoặc còn gọi là Hợpđồng nguyên tắc quyền chọn tiền tệ HĐ này chỉ ký một lần và phải ký trước hoặc cùnglúc với hợp đồng giao dịch Option
• Khi muốn thực hiện Hợp đồng, khách hàng gửi NH giấy Đề nghị/Lệnh thực hiện quyềnchọn
Nội dung chính của hợp đồng
• Ngày ký kết, giờ giao dịch
• Tên, địa chỉ, Tel & Fax của bên mua, bên bán
• Call/Put
Trang 10• Số lượng
• Giá Strike
• Phí Premium
• Kiểu Âu hay Kiểu Mỹ
• Ngày đáo hạn, giờ hạn chót (Cut-off time)
• Chỉ thị thanh toán
Hoạt động Option tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam
Ngân hàng Loại
quyền chọn
Đồng tiền giao dịch Số lượng (tối
Tiền tệ USD, GBP, CHF, JPY,
AUD, CAD, EUR
Ví dụ về hợp đồng quyền chọn: Doanh nghiệp A có nhu cầu nhập 100 tấn đồng phục vụ
sản xuất trong 3 tháng tới Giá đồng hiện tại giao dịch trên sàn LME ( London Metal Exchange) là
Trang 117700 USD một tấn Đây là mức giá nguyên liệu phù hợp với cơ cấu giá thành của doanh nghiệp
và doanh nghiệp muốn chốt chi phí nguyên liệu đầu vào ở mức giá này Tuy nhiên, tại thời điểm
đó, doanh nghiệp chưa ký được hợp đồng nhập khẩu đồng với đối tác nước ngoài Doanh nghiệp
có thể thông qua ngân hàng mua một hợp đồng quyền chọn mua 100 tấn đồng, ở mức giá thựchiện là 7.700 với kỳ hạn 3 tháng
Với hợp đồng này, doanh nghiệp sẽ có quyền mua 100 tấn đồng ở mức giá 7.700 đồng, nhưngkhông kèm theo nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện hợp đồng Như vậy, nếu giá xuống dưới 7.700đồng, doanh nghiệp có thể từ bỏ quyền chọn của mình và mua đồng trên thị trường, với mức giátốt hơn đang giao dịch tại thời điểm đó Nếu giá đồng lên trên 7.700 đồng, doanh nghiệp có thểthông báo ngân hàng thực hiện hợp đồng quyền chọn này và doanh nghiệp sẽ chắc chắn mua được
100 tấn đồng trên sàn LME với mức giá 7.700 đồng, dù thị trường thực tế đang giao dịch ở mứccao hơn
Như vậy doanh nghiệp đã cố định được giá mua nguyên liệu đầu vào ở mức 7.700 đồng, đồngthời nếu giá xuống có thể từ bỏ hợp đồng quyền chọn, để mua đồng với mức giá tốt hơn trên thịtrường Để có được hợp đồng bảo hiểm giá này, doanh nghiệp sẽ phải trả một mức phí bảo hiểmnhất định theo giá thị trường quyền chọn đang giao dịch tại thời điểm đó
2.3.3 Hợp đồng kỳ hạn
Hợp đồng kỳ hạn là hợp đồng mua hay bán một số lượng nhất định đơn vị tài sản cơ sở ởmột thời điểm xác định trong tương lai theo một mức giá xác định ngay tại thời điểm thỏa thuậnhợp đồng Thời điểm xác định trong tương lai gọi là ngày thanh toán hợp đồng hay ngày đáo hạn.Thời gian từ khi ký hợp đồng đến ngày thanh toán gọi là kỳ hạn của hợp đồng Giá xác định ápdụng trong ngày thanh toán hợp đồng gọi là giá kỳ hạn
Tại thời điểm ký kết hợp đồng kỳ hạn, không hề có sự trao đổi tài sản cơ sở hay thanh toántiền Hoạt động thanh toán xảy ra trong tương lai tại thời điểm xác định trong hợp đồng Vào lúc
đó, hai bên thoả thuận hợp đồng buộc phải thực hiện nghĩa vụ mua bán theo mức giá đã xác định,bất chấp giá thị trường lúc đó là bao nhiêu đi nữa
Ví dụ 1: Vào ngày 1/09/2012, A ký hợp đồng kỳ hạn mua của B: 1 tấn gạo với kỳ hạn 3tháng (tức là vào ngày 1/12/2012) với giá 10.000đ/kg B được gọi là người bán trong hợp đồng kỳhạn, A là người mua trong hợp đồng kỳ hạn Sau 3 tháng B phải bán cho A một tấn gạo với giá10.000đ/kg và A phải mua 1 tấn gạo của B với giá đó, cho dù giá gạo trên thị trường sau ba tháng
là bao nhiêu đi nữa
Ví dụ 2: Tình hình giá cà phê trên thị trường Việt Nam thường bất ổn và dao động tùythuộc vào tình hình giá cả cà phê trên thị trường thế giới và tình hình thời tiết Năm nào thời tiết
Trang 12tốt và giá cà phê thị trường thế giới giảm thì giá cà phê trong nước giảm theo khiến nông dântrồng cà phê bị thiệt hại Ngược lại, năm nào thời tiết không tốt và giá cà phê thị trường thế giớităng thì giá cà phê trong nước tăng theo khiến các nhà xuất khẩu cà phê khó khăn khi thu mua càphê của nông dân Để tránh tình trạng bất ổn, nhà xuất khẩu cà phê, chẳng hạn Vinacafe, có thểthương lượng và ký kết hợp đồng mua cà phê kỳ hạn với nông dân Ví dụ vào đầu vụ, Vinacafe kýhợp đồng kỳ hạn 6 tháng mua của ông X: 20 tấn cà phê với giá là 30 triệu đồng/tấn Ông X đượcgọi là người bán và Vinacafe là người mua trong hợp đồng kỳ hạn Sau 6 tháng ông X phải báncho Vinacafe 20 tấn cà phê với giá thỏa thuận trước là 30 triệu đồng/tấn và Vinacafe phải mua 20tấn cà phê của ông X với giá đó, cho dù giá trên thị trường sau sáu tháng là bao nhiêu đi nữa Vớigiá thỏa thuận biết trước và cố định, cả ông X và Vinacafe đều có được sự yên tâm khỏi phải lolắng về sự biến động giá cả cà phê trên thị trường Mặc dù hợp đồng kỳ hạn có thể giao dịch dựatrên cơ sở giao dịch các tài sản cơ sở như hàng hóa, chứng khoán và ngoại tệ nhưng ở Việt Namhiện nay chỉ có hợp đồng kỳ hạn dựa trên co sở giao dịch ngoại tệ là phổ biến và chính thức đ ượcphép giao dịch từ năm 1998 Cụ thể cách thức giao dịch và cách sử dụng hợp đồng kỳ hạn trên thịtrường ngoại hối như sau:
* Hợp đồng kỳ hạn trên thị trường ngoại hối
Giao dịch ngoại tệ kỳ hạn (forward) là giao dịch mua hoặc bán ngoại tệ mà việc chuyểngiao ngoại tệ được thực hiện sau một thời hạn nhất định kể từ khi thỏa thuận hợp đồng Lý doxuất hiện loại giao dịch này là để cung cấp phương tiện phòng ngừa rủi ro hối đoái, tức là rủi rophát sinh do sự biến động bất thường của tỷ giá gây ra Với tư cách là công cụ phòng ngừa rủi ro,hợp đồng có kỳ hạn được sử dụng để cố định khoản thu nhập hay chi trả theo một tỷ giá cố định
đã biết trước, bất chấp sự biến động tỷ giá trên thị trường Tham gia giao dịch kỳ hạn chủ yếu làcác ngân hàng thương mại, các công ty đa quốc gia, các nhà đầu tư trên thị trường tài chính quốc
tế và các công ty xuất nhập khẩu, tức là những người mà hoạt động của họ thường xuyên chịu ảnhhưởng một cách đáng kể bởi sự biến động của tỷ giá Khi có nhu cầu giao dịch ngoại tệ, hai bênngân hàng và khách hàng thoả thuận giao dịch và ký kết hợp đồng giao dịch ngoại tệ kỳ hạn
Ở Việt Nam giao dịch hối đoái kỳ hạn chính thức ra đời từ khi Ngân hàng Nhà nước ban hànhQuy chế hoạt động giao dịch hối đoái kèm theo Quyết định số 17/1998/QĐ-NHNN7 ngày 10tháng 01 năm 1998 Theo quy chế này giao dịch hối đoái kỳ hạn là giao dịch trong đó hai bên camkết sẽ mua, bán với nhau một số lượng ngoại tệ theo một mức giá xác định và việc thanh toán sẽđược thực hiện trong tương lai Quy chế này cũng xác định tỷ giá kỳ hạn là tỷ giá giao dịch dongân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư và phát triển yết giá hoặc do hai bên tham gia giao dịch
tự tính toán và thoả thuận với nhau, nhưng phải bảo đảm trong biên độ qui định giới hạn tỷ giá kỳhạn hiện hành của Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm ký kết hợp đồng