1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CÁC NHÂN tố ẢNH HƯỚNG đến CHI TIÊU CHĂM sóc sức KHỎE của hộ GIA ĐÌNH ở VIỆT NAM

20 1,9K 18

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu chăm sóc sức khỏe của hộ gia đình ở Việt Nam
Tác giả Lê Minh Quyền, Nguyễn Ngọc Thuyết, Nguyễn Duy Thọ, Nguyễn Thị Hoàng Yến
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Trọng Hoài
Trường học Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Đề án môn học
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 466,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhóm nghiên cứu phân tích các nhân tố quyết định đến tổng mức chi tiêu cho chăm sóc sức khỏe của một hộ gia đình.. Chính vì vậy, điểm xuất phát của nghiên cứu này là nhằm phát hiện những

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 

ĐỀ ÁN MÔN HỌC

ĐỀ TÀI: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỚNG ĐẾN CHI TIÊU CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỦA HỘ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Trọng Hoài

Nhóm 3:

- Lê Minh Quyền

- Nguyễn Ngọc Thuyết

- Nguyễn Duy Thọ

- Nguyễn Thị Hoàng Yến

Ngày 16 tháng 9 năm 2010

Trang 2

KẾT QUẢ ĐÓNG GÓP CỦA TỪNG THÀNH VIÊN TRONG NHÓM

Họ và tên Tỷ lệ đóng góp cho đề án

Trang 3

MỤC LỤC

Giới thiệu

Cơ sở lý thuyết

1.1 Hộ gia đình và việc sử dụng chăm sóc sức khỏe 6

Mô hình ước lượng

Kết luận

Trang 4

TÓM TẮT

Bài nghiên cứu này nhằm giải thích hành động tiêu dùng chăm sóc sức khỏe của các hộ gia đình thuộc các nhóm kinh tế - xã hội khác nhau Bài nghiên cứu đặc biệt quan tâm đến tác động của hoàn cảnh kinh tế của hộ gia đình đối với tiêu dùng chăm sóc sức khỏe của hộ gia đình Nhóm nghiên cứu phân tích các nhân tố quyết định đến tổng mức chi tiêu cho chăm sóc sức khỏe của một

hộ gia đình

Trong bài này, Nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích định lượng, dùng công cụ phân tích hồi quy theo phương pháp bình phương tối thiểu thông thường (OLS)

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ VHLSS 2008 Đây là bộ dữ liệu có được từ cuộc khảo sát mức sống của hộ gia đình năm 2008

Trang 5

PHẦN 1 GIỚI THIỆU

1.1 Lý do chọn đề tài

Hầu hết các nghiên cứu về việc sử dụng chăm sóc sức khỏe trước đây đều tập trung vào cá nhân như là người tiêu dùng sức khỏe Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu xem xét hộ gia đình như nhà sản xuất chính của sức khỏe và là người tiêu dùng chăm sóc sức khỏe Đối với Việt Nam, điều này rất quan trọng do người Việt Nam đa số thường sống chung với gia đình, do đó các quyết định của

họ thường bị chi phối bởi chủ hộ và ít nhiều chịu ảnh hưởng bởi các thành viên còn lại trong gia đình Chính vì vậy, điểm xuất phát của nghiên cứu này là nhằm phát hiện những nhân tố quyết định đến hành động tiêu dùng chăm sóc ye tế của hộ gia đình

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm phát hiện các nhân tố có ảnh hưởng đến việc chi tiêu chăm sóc sức khỏe của hộ gia đình ở Việt Nam và nhằm xác định mức độ tác động của các nhân tố có ý nghĩa đối với việc tiêu dùng chăm sóc sức khỏe của hộ gia đình

1.3 Phạm vi nghiên cứu

Bài nghiên cứu quan tâm đến việc tiêu dùng chăm sóc sức khỏe của các hộ gia đình thuộc các nhóm kinh tế - xã hội khác nhau

1.4 Đối tượng khảo sát

Nhóm nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu từ cuộc khảo sát mức sống của dân cư do Tổng cục Thống kê thực hiện năm 2008 Số hộ gia đình được chọn ra từ bộ dữ liệu là 6.627 hộ, đây là những

hộ có chi tiêu cho chăm sóc sức khỏe tại thời điểm khảo sát

Trang 6

PHẦN 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Hộ gia đình và việc sử dụng chăm sóc sức khỏe

Trong kinh tế học, xu hướng tiêu dùng chăm sóc sức khỏe của cá nhân được quyết định bởi chi phí của việc sử dụng và lợi ích nhận được từ chăm sóc sức khỏe Nếu chi phí chủ yếu được quyết định bởi việc phân phối các nguồn lực chăm sóc sức khỏe thì việc sử dụng sẽ được quyết định bởi mối tương tác giữa cung và cầu chăm sóc sức khỏe (McGuire et al 1988) Cung chăm sóc sức khỏe xác định các nguồn lực chăm sóc sức khỏe được sử dụng Giá chăm sóc sức khỏe đôi khi là kết quả của thị trường nhưng phổ biến hơn là do chính phủ quy định

Mặt khác, cầu chăm sóc sức khỏe phụ thuộc vào vài nhân tố có liên kết với nhau Thái độ, nhận thức và quyết định của cá nhân là những nhân tố quan trọng quyết định việc sử dụng chăm sóc sức khỏe khi họ tiếp xúc ban đầu với nhà cung cấp chăm sóc sức khỏe Những nhân tố có ảnh hưởng đến cầu chăm sóc sức khỏe là tình trạng sức khỏe, thu nhập và giáo dục (Grossman, 1972; Manning et al 1987; Kenkel, 1994) Tình trạng sức khỏe của một cá nhân dĩ nhiên sẽ ảnh hưởng lớn đến lợi ích mà người đó nhận được từ điều trị y tế Tuy nhiên lợi ích nhận được cũng bị ảnh hưởng bởi giáo dục Thu nhập là quan trọng khi nó xác định khả năng chi trả và nó ảnh hưởng đến số tiền kiếm được bị từ bỏ khi tìm kiếm chăm sóc sức khỏe Lợi ích và chi phí của việc điều trị được kỳ vọng có thể khác nhau theo tuổi và giới tính

Nhiều quyết định mang tính hộ gia đình, nghĩa là việc sử dụng của cá nhân thành viên hộ gia đình phụ thuộc vào các nhân tố hộ gia đình, bao gồm mối quan hệ với các thành viên khác trong

hộ và đặc điểm của họ Gia đình có thể được xem như người sản xuất sức khỏe hơn là cá nhân (Facobson, 1999; Bolin et al, 1999) và việc sử dụng chăm sóc sức khỏe phụ thuộc vào thu nhập của

hộ gia đình… Thêm vào đó, các quyết định bị ảnh hưởng bởi vài nhân tố bên trong hộ gia đình Điều này cho thấy giáo dục của thành viên trong hộ có ảnh hưởng đến hành vi liên quan đến sức khỏe của các thành viên khác trong hộ chẳng hạn như việc sử dụng chăm sóc sức khỏe (Currie và Gruber, 1996; Thomas et al, 1991)

Các nghiên cứu về việc sử dụng chăm sóc sức khỏe nhìn chung lấy cá nhân làm đơn vị phân tích Hầu hết các nghiên cứu loại này lấy ý tưởng từ bài nghiên cứu của Grossman năm 1972 Trong nghiên cứu của mình, Grossman đã tranh luận rằng cá nhân sản xuất ra mặt hàng “sức khỏe tốt” Loại hàng hóa này là một phần tài sản của cá nhân và có ảnh hưởng đến toàn bộ lượng thời gian mà cá nhân có thể sử dụng để hoạt động có năng suất Ngay cả khi nghiên cứu của Grossman cung cấp đầu vào khá lớn cho lĩnh vực kinh tế học sức khỏe thì nó vẫn thiếu điều thực tế là các cá nhân đều là thành viên của hộ gia đình và chịu nhiều ảnh hưởng từ những thành viên khác của hộ gia đình cho dù là sẵn lòng hay không Hầu hết phát biểu việc lấy hộ gia đình làm đơn vị phân tích (vài cá nhân đương nhiên sống trong những hộ gia đình chỉ có một người)

Trang 7

Thu nhập và giáo dục là hai trong số nhiều nhân tố có ảnh hưởng đến việc sử dụng chăm sóc sức khỏe (Grossman, 1972a, 1972b) Tuy nhiên, những nhân tố khác như tuổi cũng có ảnh hưởng đến việc sử dụng vì tuổi phản ánh trên thu nhận và lợi ích nhận được Có nhiều nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ giữa thu nhập hộ gia đình và việc sử dụng chăm sóc sức khỏe như nghiên cứu của Grossman (1972), Muurinen (1982), Wagstaff (1986, 1993), Bolin et al (1999) Tuy nhiên, tất

cả đều cho thấy một mối quan hệ tương đối yếu trong khi các nghiên cứu tại các quốc gia phát triển cho thấy thu nhập co giãn khá mạnh Dữ liệu từ Cote d’Ivoire đã chỉ ra rằng chi phí tại các phòng khám tư có ảnh hưởng đến việc sử dụng chăm sóc sức khỏe của những người nghèo hơn là những người giàu có (Timyan et al, 1993) Kết quả này cũng tương tự như nghiên cứu được thực hiện ở Swaziland Nghiên cứu này cho thấy số người tham gia chăm sóc sức khỏe giảm 32,4% khi chi phí

sử dụng do các cơ sở chính phủ quy định (Yoder, 1989)

Việc sử dụng chăm sóc sức khỏe trên thực tế chịu ảnh hưởng bởi các quyết định của nhà cung cấp, lời khuyên của bác sĩ,… Tuy nhiên, cá nhân là người tiếp xúc đầu tiên với hệ thống y tế

và chi phí cơ hội kỳ vọng có thể là yếu tố quyết định lớn nhất đến việc tìm kiếm chăm sóc sức khỏe Chi phí cơ hội là sự kết hợp của vài nhân tố như khoản cách đến cơ sở y tế, thời gian chờ đợi tại cơ

sở, số tiền phải trả bị mất… tức là chi phí bằng tiền và cả chi phí thời gian (LeGrand, 1982) Chi phí thời gian bao gồm thời gian để đến cơ sở, thời gina chờ đội và thời gian tư vấn Chi phí bằng tiền bao gồm phí dịch vụ và chi phí đi lại Trong một hệ thống y tế với chi phí thấp hoặc ở nơi mà không

có sự tồn tại của lệ phí thì chi phí khác ngoại trừ các chi phí tài chính trực tiếp phải được kể đến Việc di chuyển đến cơ sở y tế có thể được đo lường bằng thời gian hoặc khoảng cách và có thể được sử dụng để phân tích khả năng sử dụng chăm sóc sức khỏe Chi phí sử dụng thường là một yếu tố giải thích quan trọng cho việc sử dụng chăm sóc sức khỏe giữa những nhóm xã hội khác nhau trong các quốc gia phát triển (Gertler và van der Gaag, 1990, Timyen et al, 1993)

Các nghiên cứu tại các quốc gia phát triển nhìn chung tập trung vào thu nhập hàng năm đại diện cho tình hình kinh tế của hộ gia đình Tuy nhiên, tiêu dùng của hộ gia đình có thể đánh giá tốt hoàn cảnh kinh tế của hộ gia đình bao gồm khả năng thanh toán cho chăm sóc sức khỏe trong ngắn hạn và dài hạn (Steen Carlsson và Lyttkens, 1997) Thực tế này cho thấy tầm quan trọng phải xem xét trong bối cảnh của một nước đang phát triển mà tại đó thu nhập hàng năm thường không phù hợp để đo lường hoàn cảnh kinh tế Behrman và Deolalikar (1988) trong các phân tích của họ về các quyết định cũng phát hiện tiêu dùng của hộ gia đình đánh giá gần đúng hoàn cảnh kinh tế của

hộ gia đình Parker và Wong (1997) trong phân tích về chi tiêu chăm sóc sức khỏe của người Mexico đã sử dụng chi tiêu của hộ gia đình thay cho thu nhập

Trong bài phân tích này, chúng tôi cũng sử dụng chi tiêu hộ gia đình đại diện cho hoàn cảnh kinh tế và phân tích nếu điều này tác động có ý nghĩa đến việc sử dụng chăm sóc sức khỏe

Trang 8

Tuy nhiên, chúng tôi cũng tính đến thu nhập trong mô hình, tức là thu nhập bằng tiền mặt và kiểm tra xem liệu thu nhập bằng tiền mặt tác động có ý nghĩa đến chi tiêu chăm sóc sức khỏe hay không

Jacobson (1998) đã mở rộng mô hình của Grossman thành một mô hình mà trong đó gia đình được xem như nhà sản xuất ra sức khỏe Trong mô hình này, gia đình có chung sở thích và bà

ấy đã rút ra kết luận chính là không chỉ thu nhập của chính cá nhân mà còn các nguồn lực kết hợp của gia đình cũng được sử dụng trong việc sản xuất ra sức khỏe Gia đình sẽ không có gắng cân bằng vốn sức khỏe của các thành viên khác nhau nhưng phân phối việc đầu tư vào vốn sức khỏe để lợi ích biên cân bằng với chi phí vốn sức khỏe ròng biên Điều này cho thấy cá nhân những thành viên trong một hộ gia đình có ảnh hưởng đến việc phân phối nguồn lực trong phạm vi hộ gia đình

Ví dụ điển hình nhất là hộ gia đình có con cái sẽ phân phối phần ngân sách lớn hơn cho thực phẩm

so với hộ gia đình không có con cái Brady và Barber đã mô hình hóa điều này vào năm 1948 Một điều tương tự là hộ gia đình có con cái cũng sẽ phân phối phần ngân sách lớn hơn để chi tiêu cho y tế

2.2 Kinh tế học hộ gia đình

Một vài nghiên cứu thực nghiệm trước đây đã xem xét cách thức hộ gia đình phân phối các nguồn lực Becker (1964, 1965) đã mở rộng mô hình tân cổ điển về cầu tiêu thụ của gia đình Trong

mô hình này, hàm hữu dụng được tối đa hóa là hàm hữu dụng chung, theo đó tất cả thành viên trong

hộ gia đình ban đầu đều có một mức hữu dụng tối đa như nhau Thu nhập được phân phối theo phương thức tỷ lệ thay thế biên giữa bất kỳ hai hàng hóa tiêu dùng nào là như nhau đối với từng cặp thành viên Tất cả nguồn lực có được của từng thành viên ban đầu được gộp chung lại, sau đó mới tái phân phối cho từng thành viên theo một nguyên tắc chung Theo mô hình của Becker, sở thích của từng cá nhân là sở thích chung của hộ gia đình, kết quả phân phối nguồn lực của hộ gia đình như sức khỏe, kết quả của thu nhập không kiếm được nên như nhau, độc lập với người kiểm soát

nó Tuy nhiên, trên thực tế sở thích của từng thành viên có thể khác nhau, hơn nữa, các nguồn lực được phân phối hướng về những hàng hóa cho nên sẽ khác với mong muốn của từng thành viên trong hộ gia đình

Một vài nghiên cứu thực nghiệm về việc gộp chung sử dụng dữ liệu từ cả những quốc gia

đã phát triển và đang phát triển, cho thấy việc gộp chung phụ thuộc vào người kiểm soát nguồn lực Các kết quả khác cho thấy nó phụ thuộc vào hành vi của gia đình được đo bằng lượng tiền chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ hoặc bằng kết quả kết quả chẳng hạn sứa khỏe con cái Sự gia tăng thu nhập của người vợ có liên quan đến thu nhập của người chồng, từ đó có thể có liên quan đến việc chi tiêu nhiều hơn để chăm sóc sức khỏe con cái (Phipps và Burton, 1992) Sự gia tăng sức khỏe, dinh dưỡng và khả năng sinh tồn của đứa trẻ cũng có quan hệ với quyền kiểm soát các nguồn lực gia đình của người mẹ (Thomas, 1990, 1994) Thomas (1990) chỉ ra rằng ở Brazil, tác động thu

Trang 9

nhập không kiếm được của người mẹ đối với khả năng sinh tồn của đứa con bằng gấp khoảng 20 lần so với thu nhập của người cha

Trong trường hợp hộ gia đình quyết định theo số đông, tức là mỗi thành viên trong hộ hành động như một cá nhân với một hàm hữu dụng riêng Samuelson (1956) đưa ra một trong những mô hình đơn giản nhất về tiêu dùng của hộ gia đình, theo đó thu nhập của hộ gia đình luôn luôn được chia thành những tỷ lệ cụ thể cho trước cho các thành viên của hộ gia đình Mỗi thành viên chọn cho mình lượng tiền tiêu dùng để tối đa hóa hữu dụng trong giới hạn ngân sách được cấp Khi lượng tiền này được chi tiêu cho chăm sóc sức khỏe, mỗi thành viên hộ gia đình sẽ tập trung vào hữu dụng

có được khi tiêu dùng chăm sóc sức khỏe Nếu hộ gia đình không có sở thích chung thì mô hình thương lượng từ lý thuyết trò chơi hợp tác có thể được áp dụng cho tình huống này, tức là mô hình thương lượng Nash (Lundberg và Pollak, 1996) Tuy nhiên, điều này chỉ phù hợp đối với hộ gia đình có hai người Khi lý thuyết thương lượng không có hợp tác thì sự thiếu vắng những thỏa thuận ràng buột trong phạm vi gia đình sẽ đưa đến kết quả là hành động phân phối trong hộ gia đình thường được thực hiện Những mô hình này tập trung vào cân bằng tự định

Từ những lý thuyết thảo luận ở trên, có thể thấy rằng kết cấu hộ gia đình có thể ảnh hướng đến việc sử dụng, tức là, số lượng nam, nữ trưởng thành và trẻ em trong hộ gia đình Hơn nữa, không chỉ kết cấu hộ gia đình mà các đặc tính cá nhân của những thành viên trong hộ gia đình như chủ hộ co thể ảnh hưởng đến việc tiêu dùng chăm sóc sức khỏe Khi giáo dục là một yếu tố quyết định quan trọng đối với việc sử dụng chăm sóc sức khỏe thì giáo dục của chủ hộ gia đình cũng có khả năng ảnh hưởng đến việc sử dụng Tương tự thu nhập và giới tính của chủ hộ cũng có ảnh hưởng đến việc sử dụng chăm sóc sức khỏe

Trang 10

PHẦN 3

MÔ HÌNH ƯỚC LƯỢNG 3.1 Định nghĩa các biến

Biến độc lập được xem xét trong bài nghiên cứu là biến tổng chi tiêu cho chăm sóc sức khỏe của hộ gia đình trong một năm Đây là biến định lượng, ký hiệu là THCE, bao gồm chi phí khám/chữa bệnh ngoại trú (không tính chi phí do bảo hiểm y tế chi trả), chi phí điều trị nội trú (không tính chi phí do bảo hiểm y tế chi trả), chi phí mua thuốc không qua khám để tự chữa hoặc để

dự trữ, chi phí mua dụng cụ y tế, chi phí mua các loại bảo hiểm y tế Đơn vị đo lường là nghìn đồng

Trên cơ sở lý thuyết, các mô hình nghiên cứu thực nghiệm trước đó và dữ liệu tìm được, nhóm nghiên cứu đưa vào mô hình 10 biến giải thích Nhóm nghiên cứu chia 10 biến giải thích thành hai loại là nhóm biến hoàn cảnh kinh tế và nhóm biến đặc điểm hộ gia đình

Nhóm biến hoàn cảnh kinh tế gồm 4 biến:

EXPEND là biến tổng chi tiêu dùng của hộ gia đình trong một năm bao gồm chi cho y tế, giáo dục, chi tiêu dùng hàng ăn uống, chi tiêu dùng hàng không phải lương thực, thực phẩm và các khoản chi khác được tính vào chi tiêu Đây là biến định lượng, đơn vị đo lường là nghìn đồng

NOTFOOD là biến tổng chi tiêu hàng hóa không phải lương thực, thực phẩm và các khoản chi khác được tính vào chi tiêu của hộ gia đình trong một năm Đây là biến định lượng, đơn vị đo lường là nghìn đồng

INCOME là biến tổng thu nhập của hộ gia đình trong một năm, bao gồm thu nhập từ tiền lương, tiền công (kể cả các khoản tiền thưởng, lễ, tết, trợ cấp), tiền cho thuê đất, lợi nhuận thu được

từ hoạt động sản xuất nông, lâm, thủy sản Đây là biến định lượng, đơn vị đo lường là nghìn đồng

TOTALW là biến tổng trị giá tài sản cố định và đồ dùng lâu bền mà hộ gia đình sở hữu tính theo thời giá hiện nay Đây là biến định lượng, đơn vị đo lường là nghìn đồng

Nhóm biến đặc điểm hộ gia đình gồm 6 biến:

HHAGE là biến tuổi của chủ hộ Đây là biến định lượng

HHSEX là biến giới tính của chủ hộ Đây là biến định tính - biến giả nhận hai giá trị HHSEX = 1 nếu là nam và HHSEX = 2 nếu là nữ

MALE là biến số nam trong hộ gia đình

FEMALE là biến số nữ trong hộ gia đình

HHMARIT là biến tình trạng hôn nhân của chủ hộ Đây là biến định tính - biến giả nhận 5 giá trị từ 1 đến 5 Gọi HHMARIT1 =1 nếu chưa bao giờ kết hôn, HHMARIT2 = 2 nếu đã kết hôn, HHMARIT3 = 3 nếu ở góa, HHMARIT4 = 4 nếu ly hôn và HHMARIT5 = 5 nếu ly thân

FERTIL là biến số phụ nữ trong độ tuổi sinh sản Độ tuổi sinh sản của nữ được tính từ 15 đến 49 tuổi

Ngày đăng: 26/12/2013, 11:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3. Dấu kỳ vọng của các biến giải thích - CÁC NHÂN tố ẢNH HƯỚNG đến CHI TIÊU CHĂM sóc sức KHỎE của hộ GIA ĐÌNH ở VIỆT NAM
Bảng 3. Dấu kỳ vọng của các biến giải thích (Trang 12)
Bảng 4. Kết quả hồi quy sau khi bỏ 3 biến FERTIL, FEMALE và MALE - CÁC NHÂN tố ẢNH HƯỚNG đến CHI TIÊU CHĂM sóc sức KHỎE của hộ GIA ĐÌNH ở VIỆT NAM
Bảng 4. Kết quả hồi quy sau khi bỏ 3 biến FERTIL, FEMALE và MALE (Trang 13)
Bảng 5. Kết quả kiểm định Wald Test - CÁC NHÂN tố ẢNH HƯỚNG đến CHI TIÊU CHĂM sóc sức KHỎE của hộ GIA ĐÌNH ở VIỆT NAM
Bảng 5. Kết quả kiểm định Wald Test (Trang 13)
Phụ lục 2. Đồ thị phần dư - CÁC NHÂN tố ẢNH HƯỚNG đến CHI TIÊU CHĂM sóc sức KHỎE của hộ GIA ĐÌNH ở VIỆT NAM
h ụ lục 2. Đồ thị phần dư (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w