1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của đạo công giáo đối với người dân xã quỳnh yên huyện quỳnh lưu tỉnh nghệ an

48 663 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của đạo công giáo đối với người dân xã Quỳnh Yên, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Tác giả Nguyễn Thanh Nga
Trường học Trường Đại Học Nghệ An
Chuyên ngành Nghiên cứu tôn giáo
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố nghệ an
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 228,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh những mặt tích cực của sinh hoạt này là góp phần đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân, khuyến khích con người làm điều thiện, giảm điều ác thì đã nảy sinh không ít hiện tượng

Trang 1

A Mở đầu

1. Lý do chọn đề tài

Trong cuộc sống mỗi người đều quan tâm đến vấn đề hạnh phúc, có cơm no, áo ấm, có những được những giây phút thư giản thật thoải mái Thế nhưng, điều đó cho đến tận bây giờ đặt ngay trong hoàn cảnh của đất nước ta thì có lẽ không phải nơi đâu người dân cũng được an vui mà nơi đâu cũng có người giàu, kẻ nghèo Tuy sự phân biệt gàu nghèo không dẫn đến những mâu thuẫn, xung đột giai cấp không thể điều hòa được nhưng lại đặt ra cho Đảng và Nhà nước ta những câu hỏi cần giải quyết ngay

Vào những năm 20 của thế kỷ XX, người đầu tiên tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin và truyền bá nó vào Việt Nam chính là Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở chủ nghĩa Mác-Lênin một thứ vũ khí tinh thần cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, một đường lối chính trị mà xã hội Việt Nam đang rất cần Với sự xuất hiện của tư tưởng triết học này chúng ta thấy một chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử được nhận thức một cách triệt để và những khái niệm, phạm trù triết học phương Tây lần đầu tiên xuất hiện trong tư tưởng chính trị xã hội của Việt Nam, chúng

ta thấy được một học thuyết Mác-xít về đấu tranh giai cấp về dân chủ và chủ nghĩa xã hội và về mặt tôn giáo thì chúng ta thấy một chủ nghĩa vô thần khoa học và một thế giới quan duy vật biện chứng, duy vật lịch sử được truyền bá vào Việt Nam Cũng là vấn đề Tôn giáo, ngay trong cuộc kháng chiến cứu nước đối với Hồ Chí Minh thì điều mà người quan tâm lớn nhất là vấn đề tăng cường và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc vì độc lập

Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân do vậy người cũng rất quan tâm đến vấn đề của đồng bào Công giáo Việt Nam Người luôn kêu gọi đoàn kết Lương-Giáo, kính Chúa, yêu nước vì độc lập của Tổ quốc cũng như vì sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà ở miên Nam

Trang 2

Ngày nay trong xã hội hiện đại, khoảng cách giữa ham muốn

vô hạn và tồn tại hữu hạn, giữa khát khao hạnh phúc vô tận với gánh nặng tai họa, giữa ý chí ham sống và quy luật tất yếu của cái chết Đang ngày một gia tăng Tất cả những điều đó có thể là nhân tố làm cho con người tự ti trong suy nghĩ cũng như trong việc nhìn nhận thế giới, làm cho con người

dễ dàng chạy theo một tín ngưỡng nào đó Đồng thời, nước ta là một quốc gia có nhiều tôn giáo cùng tồn tại, thậm chí còn đan xen lẫn nhau Có tôn giáo mang tính toàn cầu như Thiên Chúa Giáo, Phật Giáo, Hồi Giáo; có những tôn giáo mang tính khu vực như Nho giáo; cũng có nhữg tôn giáo mang tính địa phương như Đạo Cao đài, Hòa hảo được phát triển ở mức

độ đa dạng khác nhau Trong mấy năm gần đây thì tôn giáo cũng đã có những xu hướng phát triển Bên cạnh những mặt tích cực của sinh hoạt này

là góp phần đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân, khuyến khích con người làm điều thiện, giảm điều ác thì đã nảy sinh không ít hiện tượng tiêu cực phải chấn chỉnh ngay như: mê tín, dị đoan, buôn thần, bán thánh rất nhiều biểu hiện ảnh hưởng xấu đến việc xây dựng lối sống văn minh đặc biệt có một số biểu hiện lợi dụng tôn giáo vào mục đích chính trị để gây trở ngại cho việc phát trển kinh tế-xã hội của đất nước

Việc nghiên cứu tôn giáo là để hiểu đúng, hiểu rõ bản chất, những mặt tích cực và những biểu hiện tiêu cực của hiện tượng này đã trở thành một nhiệm vụ cần thiết hiện nay Bộ chính trị đã ra Nghị quyết 24/NĐ-TW và Hội đồng Chính phủ đã ra nghị định về công tác tôn giáo

Vậy thì luận bàn đến tôn giáo nói chung và đạo Công giáo nói riêng thì Tôi muốn đi sâu vào việc tìm hiểu các ảnh hưởng tích cực và những hạn chế tiêu cực của đạo Công giáo trong tín ngưỡng nhân dân để làm một minh chứng cụ thể hơn về những điều trên.Và tôi cũng mạnh dạn quyết định chọn địa điểm cho việc nghiên cứu là xã Quỳnh Yên- huyện Quỳnh Lưu-tỉnh Nghệ An cùng với chủ thể được nghiên cứu là người dân của xã, để từ đó chúng ta thấy được đạo Công giáo đã có ảnh hưởng đến đời sống văn hóa của người dân ở đay ra sao, thông qua đè tài:"Ảnh hưởng của

Trang 3

Đạo Công giáo đối với người dân xã Quỳnh Yên - huyện Quỳnh Lưu - tỉnh Nghệ An".

2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:

Ngay ở tên đề tài cũng đã cho thây rõ mục dích của đề tài.Tuy nhiên, với những hiểu biết còn rất hạn chế của mình về nhận thức tôn giáo nói chung và đạo Công giáo nói riêng thì Tôi không dám khẳng định sẽ khai thác được hết đời sống văn hóa-xã hội của ngưòi dân dưói sự tác động của đức tin về Chúa mà ở đây Tôi chỉ cố gắng góp phần làm rõ hơn cơ sơ lý luận của tôn giáo với hình thức cu thể là đạo Công giáo để từ đó khái quát hóa ở trong đòi sống thực tiễn cua bà con giúp người đọc hình dung ra được vai trò của đạo Công giáo ở đây

Để đạt được mục đích thì tôi cũng giải quyết các vấn đề

- Lý luận chung, cơ bản về đạo Công giáo, về đức tin của các tín đồ đối với đạo Thiên Chúa

- Trình bày nội dung gắn liền với thực tiễn cuộc sống tại xã Quỳnh Yên-Quỳnh lưu-Nghệ an

3 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài áp dụng phương pháp quan sát, nghiên cứu tài liệu, phương pháp phỏng vấn trực tiếp và bản ankét, phương pháp phân tích- tổng hợp, phương pháp thống kê

4. Đóng góp khoa học của đề tài:

- Khẳng định vai trò của đạo Công giáo đối với người dân xã Quỳnh Yên-huyện Quỳnh Lưu-tỉnh Nghệ An

-Ảnh hưởng của nó như thế nào, chỉ ra sư tác động tích cưc và tiêu cực của đạo đối với nếp sống của nhân dân

-Từ những nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống văn hóa-xã hội của đạo Công giáo với người dân ở xã Quỳnh Yên - Quỳnh Lưu

- Nghệ An để vận dụng vào Đạo Công giáo nói riêng trong cả nước và tôn giáo nói chung trong cả nước nói chung để thúc đẩy thêm nữa tinh thần

Trang 4

đoàn kết Lương - Giáo trong nhân dân đồng thời đặt nó trong công cuộc đổi mới của đất nước, hướng đến mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.

5 Ý nghĩa khoa học của đề tài:

6 Kết cấu của đề tài:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo thìđề tài gồm

có 2 chương sau:

B PHẦN NỘI DUNG

Trang 5

ChươngI : KHÁI QUÁT VỀ ĐẠO CÔNG GIÁO

I Vài nét về sự ra đời của đạo Công giáo trên thế giới

1 Hoàn cảnh kinh tế-xã hội.

Cùng với phát triển của Phật giáo và Hồi giáo, Đạo Công giáo

là một trong ba tôn giáo lớn, phổ biến nhất trên thế giới Đạo Công giáo được khai sinh ở Đế quốc La Mã vào năm đầu tiên của công nguyên Từ thế

kỷ thứ III đến thế kỷ I TrCN thì các cuộc chiến tranh của Đế quốc La Mã diễn ra rất kịch liệt, sự bóc lột của chế độ chiếm hữu nô lệ cổ đại đã trở nên mâu thuẫn với nô lệ, đã làm bùng nổ các cuộc khởi nghĩa của nô lệ chống lại chủ nô Những người bị áp bức, bóc lột cần thiết một sự che chở nhưng vào đầu thế kỷ I TrCN KiTô giáo không còn phù hợp, không còn che chở cho nô lệ như cũ nữa , trong các Đế quốc La Mã đã hình thành những mặt trận giải phóng nô lệ, đã nảy sinh những cuộc khởi nghĩa vĩ đại nhất để lại dấu mốc trong lịch sử đó là cuôc khởi nghĩa Spac Ta Cut, cuộc khởi nghĩa này đã thu hút được hầu như toàn thể nô lệ La Mã vùng dậy đấu tranh chống kẻ cầm quyền áp bức Chính bởi lẽ đó, giáo lí của đạo Kitô mới ra đời nhằm xoa dịu nỗi đau cho giai cấp nô lệ và nó đã xuất hiện với tên mới

là Công giáo

Xét ở góc độ lịch sử :

Đây chính là thời điểm mà chế độ chiếm hữu nô lệ dã bắt đầu bước dần trên con đường suy thoái, thực hiện bước quá độ di chuyển lên phương thức phong kiến, điều đó là một tất yếu lịch sử trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất Khi lực lượng sản xuất phát triển thì quan hệ sản xuất chủ nô không còn phù hợp nữa phải được thay thế bởi quan hệ sản xuất mới là quan hệ sản xuất phong kiến

Xét ở góc độ xã hội :

Về tinh nguyên thủy sự ra đời của đạo Công giáo mang tính nhân văn cao cả, là sự bù đắp sự cứu rỗi cho những người nghèo khổ,

Trang 6

những người bị áp bức hay nói cách khác nó là tôn giáo của những người nô

lệ, của những ngưòi được phóng thích của các dân tộc bị đế quốc La Mã chinh phục, nó cũng mang tính chất chống áp bức, bóc lột, xâm lược

Trong buổi sơ kỳ, từ thế kỷ I đến thế kỷ III cùng với sự suy yếu dần của chê độ chiếm hữu nô lệ , cùng với sự biến đổi dần dần trong công đồng Kitô giáo thì Ki tô giáo bắt đầu có sự biến đổi về nội dung và tư tưỏng tổ chức công đồng Ban đầu Kito giáo chỉ dung nạp người nghèo và chỉ nhằm cứu rỗi cho những người nghèo khổ nhưng về sau thì họ lại cho rằng những người giàu có thể lên thiên đàng được nếu như họ bố thí của cải của riêng mình và từ bỏ bản chất bóc lột, điều đó có nghĩa họ dung nạp thêm những người giàu Chính từ sự thay đổi về thành phần của tín đồ mà

họ đưa thêm nhiều nghi lễ rườm rà hơn, về mặt tổ chức, về việc rửa tội cho những người giàu và những kẻ bóc lột, tổ chức giáo hội ra đòi trở thành một

tổ chức riêng biệt bảo vệ người giàu Giáo phẩm bảo vệ cho ngưòi giàu ở giáo hội và tín đồ thì bảo vệ những chân lí nguyên thủy do giáo hội đặt ra, hàng giáo phẩm có thiên hướng bảo vệ hành vi bóc lột của bọn giàu có Cho nên , cuộc đấu tranh trong nội bộ diễn ra trở nên quyết liệt hơn.Từ thế kỷ thư III thì manh nha sự phyân hóa vaf giai đoạn quyết liệt là ở thời trung cổ(V -XV)

Từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ I X thì giáo hội đã gây ảnh hưởng lớn đối với các nướcTây âu và họ chuyển hẳn lập trường của mình sang bảo vệ cho những người bóc lột , tạo ra mối liên hệ giữa giáo hội và những kẻ bóc lột

Từ thế kỷ thứ ơ IX trở đi sự liên Sự phân hóa của nội bộ Giáo hội Công giáo chính thức được đặt ra từ thế kỷ thứ XI, phong trào này diễn

Trang 7

ra mạnh ở tây âu đặc biệt là ở Đức Những người Công giáo chính thống cố duy trì giáo hội của mình như cũ , hầu hết họ là những người cực đoan Những người Công giáo thiên chúa thì chủ trương có sự cách tân về tổ chức, về giới luật.Nói chung , họ cố gắng làm cho Công giáo phù hợp với

sự vận động và phát triển của lịch sử trong giai đoạn từ thế kỷ thứ V - XV, với sự tranh giành quyền lực , với thế quyền Công giáo họ đã tiến hành nhiều cuộc thập tự chinh đối vớiChâu Âu.Tiêu biểu có 7 cuộc thập tự chinh (TTC ) như sau :

- Cuộc TTC thứ nhất : Diễn ra ở thế kỷ thứ XV , lần này thì đạo Công giáo chiếm lại vùng đất thánh Giê ru sa lem mà trước đó bị Hồi giáo chiếm đóng và lập nên vương quốc la tinh Giêrusalem

- Cuộc TTC thứ hai : diễn ra ở giữa thế kỷ thứ XII (1140) Cuộc thánh chiến này do Đức và Pháp chỉ huy.Cuộc chiến tranh diễn ra quyết liệt và đổ nhiều máu nhưng mà cuối cùng không chiếm lại đươc thánh địa Giê ru sa lem

- Cuộc TTC thứ ba : diễn ra cuối thế kỷ XII, do các vị Vua châu âu mà cụ thể là của Đức , Pháp lãnh đạo mà có sự tham gia của Anh Lúc này, Hồi giáo và Công giáo đã kí hòa ước, những người Công giáo đã được phép hành hương đến Giê ru sa lem

- Cuộc TTC thứ tư : diễn ra ở đầu thế kỷ thứ XIII,tại HyLạp vì những mâu thuẫn nội bộ của giáo hội HyLap.Nói cách khác cuộc thâp tự chinh này nhằm thống nhất lại nội bộ giáo hội HyLạp

- Cuộc TTC thứ năm : diễn ra ở thế kỷ thứ XIII với kết quả những người Ai Cập phải thất bại và đạo Hồi nhường bước cho sự phát triển lớn mạnh của đạo Công giáo Mặc dù , ở trong công đồng thì sự đấu tranh của Giáo Hoàng đã thất bại so với sự phản kháng của các Vua trong

đế quốc La mã Đức - Pháp - Anh

- Cuộc TTC thứ sáu : diễn ra ở thế kỷ thứ XIII, do mâu thuẫn nội bộ của nước Đức với Giáo hội và mâu thuẫn của Công giáo và Hồi giáo tại Đức Kết quả của cuộc TTC này Vua Đức phải nhường quyền cho Giáo hội , Hồi giáo tại nước Đức phải nhường vị trí của mình cho Công giáo

Trang 8

- Cuộc TTC thứ bảy : diễn ra ở thế kỷ thứ XIII tại nước Pháp

và Anh và chính cuộc thánh chiến này đã chuẩn bị cho sự phân hóa mới đó

là đạo Công giáo thắng đạo Tin lành

Như vậy từ khi ra đời cho đến hết thời kỳ trung cổ để khẳng định được vị trí của mình thì đạo Công giáo đã tiến hành nhiều cuộc thánh chiến vói Hồi giáo cũng như với các chính phủ phong kiến ở phương Tây

Và thông qua các cuộc thánh chiến tiêu biểu chúng ta có thể thấy những đặc điểm :

Sự liên minh giữa Công giáo với phong kiến chỉ về lợi ích kinh tế còn về mặt chính trị thì họ vẫn đối đầu với nhau Chế độ phong kiến và Công giáo đều hình thành nên những tòa án khác nhau, đều có quyền hành xét xử công dân như nhau

Chính sự liên minh ma quỷ giữa tòa án tôn giáo và tòa án chính phủ đã làm cho các tín đồ trở thành những người mất tự do thật sự

Họ đã khiến cho hàng triệu người dân vô tội phải chịu cảnh lưu đày, bị khổ sai chung thân và bị tra tấn giã man

Cùng với sự ra đời và phát triển của đạo Công giáo ngoài bản chất nhân văn , nhân đạo , nguyên thủy cao cả do tính chát liên kết chính trị của nó thì đạo Công giáo đã bị phân hóa một cách mãnh liệt Cũng bởi lẽ phải khẳng định mình trước sự tấn công của hồi giáo mà đạo Công giáo đã

có xu hướng phản động hóa trong những giai đoạn phát triển về sau

3 Sự vận động và phát triển của đạo Công giáo thời kỳ cận - hiện đại.

Khi đạo công giáo đã phát triển hầu khắp thế giới, ban đầu giai cấp tư sản đã dương cao ngọn cờ duy vật , đâú tranh chống lại đạo Công giáo đồng thời đấu tranh để chống lại chế độ phong kiến nhưng về sau thì chính giai cấp tư sản lại dưạ vào triết lý của đạo Công giáo, được sự hỗ trợ của chính đạo Công giáo mà lớn mà cuộc cải cách tôn giáo ở thế kỷ thứ

Trang 9

XVI, cho ra đời đạo Tin lành, Anh giáo, những người đứng đầu cuộc cải cách Công giáo phải nói đến Lu thơ , Can vin Sự phát triển mạnh mẽ của đạo Công giáo đã ảnh hưởng mạnh nhất ở Hà Lan , Pháp , Anh , Đức , Tây Ban Nha , Bồ Đào Nha Ở đây , cũng diễn ra một tổ chức mới là công đồng

Va ti căng ( là Hội nghị gồm tất cả các giám mục chức vị ở các nước có đạo Công giáo)

Vào thời kỳ cận đại do sự tấn công của giai cáp tư sản ở phong trào cải cách tôn giáo ( Tin lành ) thì Giáo hội Công giáo đã thực hiện chưong trình truyền giáo với qui mô lớn Đạo Công giáo đã thoát khỏi bầu trời châu Âu, ảnh hưởng đến châu Á ; châu Phi ; châu Mỹ và lịch sử đã ghi nhận công lao thuộc về giáo hội của Tây Ban Nha và Bồ đào Nha Khi tư tưởng xã hội chủ nghĩa cộng sản khoa học xuất hiện vào giữa thế kỷ XIX thì phản ứng của Giáo hội Công giáo bắt đầu mãnh liệt hơn nhưng lại cũng thận trọng hơn và có tính cân nhắc khoa học hơn Giữa thế kỷ XX trở đi khi phong trào giải phóng dân tộc bùng lên mạnh mẽ và sự phát triển mạnh

mẽ của khoa học kỹ thuật, sự ứng dụng nhanh của các thành tựu khoa học

kĩ thuật vào đời sống xã hội thì phản ứng của giáo hội dần được xoa dịu Hoạt động của Giáo hội có nhiều biến đổi phù hợp với điều kiện mới , Công đồng Va ti căng II ( hay còn gọi là Công đồng Va ti căng 21 ) diễn ra vào năm 60 là một sự điều chỉnh về đường hướng hoạt động của giáo hội, đem lại cho giáo hội một bộ mặt mới trong quá trình truyền giáo và thế tục,

để đạo Công giáo phát triển rộng khắp trên thế giới Có thể thấy đến nay, đạo Công giáo đã có mặt khắp toàn cầu ,đây là tôn giáo thế giới lớn đúng thứ nhất thế giới , theo thống kê của đạo Công giáo thì cho đến nay đã có một tỉ tín đồ, phân ra ở các châu lục theo các tỉ lệ ở châu Phi có gần 81.106

người ; ở châu Mỹ có 450.106 ngưòi ; ở châu Âu có 300.106 người ; ở châu

Á có 100.106 người ; ở châu Đại Dương có 7.106 người Còn số giám mục

có gần 5.106 người trên toàn thế giới Số giám mục có trình độ ngang với tiến sĩ khoa học có gần 1.106 người

Từ khi công đồng được thành lập đạo Công giáo đã có các kì đại hội tiêu biểu :

Trang 10

Công đồng I( đã họp vào thế kỷ IV) với 300.106giám mục tham gia nhưng chủ yếu là giám mục Phương đông.

Công đồng II( họp vào thế kỷ thứ IV) với gần 200 giám mục nhưng cũng chủ yếu là của Phương Đông

Công đồng III ( họp ở thế kỷ V) có tới 250 giám mục của Phương Đông và 1giám mục của Phương Tây tham gia.Ở đây người ta bắt đầu tuyên bố bà Ma-ri-a là mẹ của Chúa Giê-Su

Công đồng IV( cũng được họp vào thê kỷ V) có 600 giám mục Phương Đông, 2 giám mục Châu Phi và 1 giám mục Phương Tây tham gia Tại công đồng này người ta tuyên bố Chúa Giê-Su có hai bản tính,nhân tính

và thần tính

Công đồng V họp vào thế kỷ VI có tổng số giám mục cả Phưong Đông và Phương Tây tham gia theo con số thống kê cụ thể là: 150 giám mục Phương Đông , 8 giám mục Châu Phi và 7 gíam mục Châu Âu Ở đây người ta chính thức tuyên bố Chúa hai ngôi

Công đồng VI ( thế kỷ VII) có 200 giám mục phương Đông ,

6 giám mục Phương Tây vói nội dung bàn về việc Chúa Giê-Su không nhị tính

Công đồng VII ( ở thế kỷ VIII) đã phủ nhận chúa Giê-Su là con Thiên Chúa và chống lại quan điểm Chúa hai ngôi

Công đồng VIII(họp vào thế kỷ I X) đã ra tuyên bố chung có giá trị trên toàn cầu về việc thừa nhận sự ngang hàng như nhau giữa công đồng Phương Đông và công đồng Phương Tây

Công đồng IX( họp vào thế kỷ XII) với nội dung nhằm ổn định giáo hội Phương Đông và Phương Tây

Công đồng X( họp vào thế kỷ XII) đã ra nghị quyết lên án các phái giám lý , li khai cho vay nặng lãi, chống lại thần quyền và phong kiến

Công đồng XI (họp vào thế kỷ XII) nhằm chống lại thuyết Can-vanh và ban hành những qui chế bầu Giáo Hoàng.Bắt đầu từ đây Giáo Hoàng được bầu cử nghiêm ngặt

Công đồng XII chủ yếu tập trung bàn về 7 bí tích

Trang 11

Công đồng XIII( họp vào thế kỷ XIII) đã thảo luận việc phạt

và phế truất Hoàng Đế Pháp

Tiếp theo công đồng XIV( Ở thế kỷ XIII) lại tìm kiếm sự hòa giải giữa giáo hội Phương Đông và Phương Tây, tìm kiếm sư mâu thuẫn đặc biệt giữa giáo hội Phương Đông

Công đồng XV(thế kỷ XIV) đã bãi bỏ dòng tu kiểu hiệp sĩ- dòng tu loạn nhất của đạo Công giáo

Công đồng XVI(thế kỷ XV) thông qua nội dung ban bố cải cách chế độ đăc biệt ở Va-ti căng về bổ nhiệm và bãi nhiệm đối với Giáo Hoàng và chức sắc trong giáo triều

Công đồng XVII(thế kỷ XV) thừa nhận quyền tối cao của Giáo Hoàng Ở đây Giáo Hoàng có quyền tối cao nhất trong ban bố sắc lệnh đối vói giáo hội và thống nhất hai giáo hội Đông, Tây

Công đồng XVIII(thế kỷ XVI) gắn liền với cải cách tôn giáo ở Đức, giải phóng mối quan hệ giữa Giáo Hoàng và công đồng, cách tân giáo hội

Công đồng XIX ( nửa cuối thế kỷ XVI) củng cố đức tin và luật

lệ của giáo hội đồng thời Giáo hội Công giáo thừa nhận quyền của đạo Tin lành

Công đồng XX (thế kỷ XIX) tại đây giáo hội lên án thuyết duy lí

Công đồng XXI (thế kỷ XIX) công đồng này hay còn gọi là Va-ti-căng 21 thì ở đây đã thêm một lần nữa thừa nhận quyền hạn lớn nhất của Giáo Hoàng và thay đổi luật của giáo hội ở những nơi có tín ngưỡng truyền thống của quốc gia có đạo Công giáo

Thập niên 70 và 90 thì công đồng Va-ti-căng X XII họp chủ yếu là của Phương Tây không có nội dung gì ngoài công bố nội dung thư của Giáo Hoàng

4 Vài nét về nội dung giáo lý, chức sắc, phẩm trật của đạo

Công giáo.

Trang 12

; 12 quyển "Giô-suê", "Các quan sát", "Ru-tơ", "I-sa-mu-en I", "I-sa-mu-en II" , "Các Vua I", "Các Vua II" , "Sử ký I" , "Sử ký II" ,"Ê-xơ-ra", "Nê-he-mi" ,"Ê-xơ-tê" viết về các Vua và dân Do Thái sau khi lập vương quốc và tan rã Sách văn thơ gồm có sách của Gióp và các sách Ca vịnh, Thi thiên, châm ngôn , Truyền đạo, Nhã ca Sách tiên tri (sấm ký) của các thánh tiên tri như Ê-sai, Giê-rê-mi, Ê-xê-chiên, Đa-nhiên, Ô-sê , Giô-ên, A-mốt

Nguyên bản của các sách Kinh Cựu Ước được viết bằng tiếng Hê-bơ-rơ, khoảng 2 thế kỷ trước kinh Cựu ước đươc dịch ra tiếng HyLạp, những sách này được giáo hội Thiên chúa coi là sách thánh Cuối thế kỷ IV đầu thế kỷ V Thánh Je-rô-me dịch kinh cựu ước ra tiếng Catin , bản dịch này mang tính đại chúng cho mọi tín đồ

Kinh cựu ước cho rằng: Chúa tạo dựng trời đất và vạn vật trong 6 ngày, ngày thứ nhất Chúa tạo dựng ra ngày và đêm; ngày thứ hai tạo

ra trời; ngày thứ ba tạo ra đất, nước, cây cỏ; ngày thứ bốn tạo thời tiết trong

Trang 13

đó có mặt trời và mặt trăng; ngày thứ năm tạo ra vạn vật, chim, cá, muông thú; ngày thứ sáu tạo ra con người; ngày thứ bảy sau khi hoàn tất công việc tạo dựng Chúa nghỉ nên gọi là ngày Chúa nhật(lâu ngày gọi là ngày chủ nhật).Như vậy, Chúa là đấng tối cao,thiêng liêng, sáng láng, chúa tể của trời đất và muôn loài, có quyền phép vạn năng, sắp xếp trật tự và vận hành của van vật và vũ trụ.Thiên Chúa tiền định một cách hợp lí và tuyệt đối với vạn vật và vũ trụ

Tân ước là bộ sách thứ hai trong Kinh Thánh, nó gắn liền với giáo lý vê một giao ước mới giữa Thiên Chúa và con người thông qua Đức Chúa Jê-Su Tập sách tân ước gồm có 27 quyển , được viết bằng tiếng HyLạp phổ thông thời bấy giờ.Tuy gọi là quyển nhưng có quyển chỉ dài 1 hay 2 trang Ta có thể tạm chia Tân Ước làm 4 loại ,dựa trên bốn thể văn khác nhau:

Thể văn tin mừng.

Bốn bộ sách đầu tiên của tân ước được viết theo thể văn này

đó là sách tin mừng (còn gọi là sách phúc âm) được ghi lại bởi bốn Thánh

sử là Mác- cô, Mát-Thêu, Lu-ca và thánh Gio-an Công đồng Va-ti- căng

đệ nhị đã coi các sách tin mừng như những chứng từ thành văn của các tông

đồ ghi chép lại do ơn linh hứng Thánh Thần.Đó là một chứng từ đức tin mang hai đặc điểm sau đây.Trước hết chứng từ này được viết lại sau những biến cố nền tảng của KiTô giáo:phục sinh, thăng thiên và hiện xuống , các biến cố này như những luồng sáng chiếu rọi vào toàn bộ cuộc đời đức Giê-

Su , khiến cho các tông đồ có một hiểu biết thâm trầm hơn về các việc làm

và lời nói của đức Chúa con; kế đó, chứng từ này mang đậm nét đặc thù của từng tác giả

Thể văn lịch sử Công giáo.

Sách công vụ tông đồ thuộc thể văn này, sách này kể lại buổi đầu của giáo hội và công cuộc ban báo tin mừng cho các dân tộc Đây

Trang 14

không phải là một tài liệu thuần túy lịch sử như kiểu hồi kí hay niên sử nhưng cũng không phải là một sách giáo lý thuần túy, vì mang nhiều yếu tố lịch sử, Có thể nói, công vụ là một sách lịch sử nhằm giáo huấn Tác giả Lu-Ca viết sách này cho những tín hữu gốc dân ngoại để nói lên rằng sứ điệp cứu độ được gửi đến cho mọi người, trước hết là Do Thái, sau là dân ngoại.

Thể văn thư tôn giáo chính thức.

Tân ước có 23 lá thư, một số lớn của thánh Phao-Lô, số còn lại của các vị tông đồ khác Các thư xuất phát từ nhưng hoàn cảnh cụ thể nhằm đáp ứng những nhu cầu cụ thể như cũng cố niềm tin, khích lệ trong cơn bách hại, xác định những điểm giáo lý, uốn nắn những lệch lạc, ngăn ngừa những sai lầm

Thể văn khải huyền.

Sách cuối cùng trong bộ tân ước là sách khải huyền, do thánh Do An tiên đoán về tương lai đạo Ki Tô và của nước Do Thái trong quan hệ với đế chế La Mã Sách khải huyền được viết sớm nhất trong tân ước vào khoảng giữa thê kỉ I sau CN Thể văn này dùng nhiều hình ảnh, con số, tên gọi và màu sắc mang ý nghĩa tượng trưng Sách này được viết

để cũng cố niềm hy vọng cho các tín hữu đang bị bách hại vì đức tin Tác giả sách này đã phác họa một loạt những thị kiến có tính tượng trưng để mô

tả cuộc giao tranh trong vũ trụ giữa sự thiện và sự ác; giữa Đức Ki Tô và Xa Tan, cuối cùng Đức Ki Tô và các thánh sẽ toàn thắng

Vậy, Tân ước là chuyện kể về cuộc đời và sự nghiệp của chúa Giê Su ,hoạt động của cácThánh Tông đồ, những lời răn, chỉ bảo của Hội Thánh

Nói chung, đạo Công giáo cho rằng Kinh thánh là lời mạc khải của Thiên Chúa đối với loài người, là mẫu mực tối cao của đức tin phải được đề cao và tôn sùng như Thánh thể Chúa Họ cho rằng, Hội Thánh do Chúa Giê-Su sáng lập có nhiệm vụ truyền giảng Kinh Thánh.Truyền đạo là nhiệm vụ thiêng liêng mang ý nghĩa Thánh truyền

Trang 15

Vậy nội dung giáo lý của đạo Công giáo có thể khái quát thành mấy điểm cơ bản như sau :

Về tín ngưỡng:

Đây là trường phái triết học duy tâm khách quan Họ thừa nhận Thiên Chúa sáng tạo ra vũ trụ và con người Chúa là thực thể tiên thiên, là cái có trước không rõ nguồn gốc Chúa nằm ngoài vũ trụ, quyết định sự vận động và phát triển của vũ trụ.Người Công giáo tin vào Thiên Chúa và sự mầu nhiệm của Thiên Chúa

Về thần thánh:

Họ quan niệm Thiên Chúa là nhất thể nhưng có ba ngôi và mỗi ngôi thì có một chức năng vai trò riêng đối với con người: Cha-ngôi một,đây chính là ngôi sáng tạo;Con-ngôi hai, đây chính là ngôi cứu chuộc; Thần thánh-ngôi ba, là ngôi thánh hóa Người Công giáo cho rằng ngôi Con bởi ngôi Cha mà ra Ngôi Thánh thần nhờ ngôi Cha và ngôi Con mà có.Tuy nhiên, khác với Công giáo, đạo Chính thống lại cho rằng ngôi Cha sinh ra ngôi con và ngôi Con sinh ra ngôi Thánh thần Quan điểm về việc chia ngôi này đã đấu tranh mãi đến công đồng V mới kết thúc Mặt khác, theo họ thì

ba ngôi này "đồng đẳng", đồng vinh", đồng quyền"

Về con người:

Công giáo cho rằng Thiên Chúa đã tạo ra con ngưòi ở ngày thứ sáu và theo hình ảnh của Chúa, có nhiệm vụ thờ phụng Chúa và tiếp tục kiến tạo trái đất của Chúa Lúc đầu Chúa lấy bụi từ đất tạo nên người đàn ông, và Ngài hà hơi sự sống vào sống mũi và người đó trở thành một con người sống động Thiên Chúa gọi con người đàn ông đầu tiên đó là Adam(nghĩa là con người theo tiếng Hê-bơ-rơ) Tiếp tục Thiên Chúa rút ra một chiếc xương sườn từ cơ thể Ađam rồi lắp thịt vào đó và tạo ra người đàn bà có tên là Êva (có nghĩa là mẹ của sự sống) Con người là sản phẩm tuyệt hảo của Chúa có trí khôn, có lương tâm, có đạo đức và được làm chủ

Trang 16

thế giới, làm chủ muôn loài Con người có 2 phần thể xác và lin hồn: linh hồn là sinh khí do Chúa truyền vào, khi con người chết linh hồn không chết

mà đầu thai ở kiếp khác phần thể xác khi chết trở về với cát bụi Theo Kinh Cựu ước thì Ađam và Êva ăn trái cấm trong vườn Địa Đàng mà họ đem lòng yêu nhau Như vậy họ đã làm trái với yêu cầu của Chúa, điều đó đã làm Thiên Chúa nổi giận đuổi ra khỏi vườn Địa Đàng và đày xuống trần gian với lời nguyền họ và con cháu họ phải lao động vất vả, phải bới đất lạt

cỏ để kiếm ăn và phải chết Riêng Êva và con cháu bà là nữ thìa phải mang nặng đẻ đau Theo lời nguyền đó loài người phải đời đời mang tội do vợ chồng Ađam gây ra gọi là tội tông truyền Họ rời khỏi Êđen với lời hứa của Thiên Chúa rằng ngày nào đó ớâng cứu độ sẽ xuất hiện giữa con cháu của con cháu họ để rửa sạch mọi tội lỗi

Con cháu của tổ phụ Ađam và Êva ngày càng sinh sôi và nảy

nở đông đúc và cũng phạm nhiều tội lỗi làm mất lòng Thiên Chúa do nhiều lần Thiên Chúa răn dạy qua các tiên tri mà không có kết quả Cuối cùng Thiên Chúa đã trừng phạt loài người bằng nạn đai hồng thủy Trong nạn đại hồng thủy chỉ có ông già Nô-Ê với gia đình, vợ con và muông thú mỗi loài mỗi cặp đực cái để lưu giống về sau được Thiên chúa báo trước cho sống là còn sống sót

Sau nạn đại hồng thủy con cháu Nô-Ê vẫn lỗi nghịch với Thiên Chúa, thậm chí toan xây tháp Baben, định vào cõi trời sống với Thiên Chúa Thiên chúa đã tức giận ban cho loài người nhiều tiếng nói khác nhau Con cháu của Nô-Ê vẫn sinh sôi nảy nở đông thêm mãi và chia nhau sống khắp thế giới Trong các dân tộc con cháu của Nô-Ê, dân Do Thái là dân tộc thượng đẳng được Chúa yêu thươg ban cho Mai Sen tài trí hơn người dũng cảm vô song đưa dân Do Thái từ các nơi, đặc biệt là từ Ai-Cập vượt biển

Đỏ trở về Tổ quốc Thiên Chúa ban cho họ 10 điều răn khắc vào những phiến đá để họ làm lẽ sống để thờ phụng mình

Nhưng loài người kể cả dân Do Thái vẫn sa ngã và phạm tội Thiên Chúa không nỡ quả phạt mãi, với tình yêu thương loài người Thiên

Trang 17

chúa đã quyết định cho ngôi hai- Chúa Con xuống trần cứu chuộc tội lỗi cho con người.

Quan niệm về đời người

Như đã nêu trên Đạo Công giáo quan niệm rằng đời người đầy tội lỗi, sống ở trên đời chỉ là sống tạm bợ, thác về bên kia mới là cái vĩnh hằng Như thế trên khía cạnh nhân bản mà nói khi đặt vấn đề cuộc đời của con người là đầy rẫy tội lỗi, Chúa phải luôn luôn tìm cách cứu rỗi, chuộc lỗi cho con người, phải định ra những luật lệ , lễ nghi để răn dạy con người, cải

tà qui chính cho họ Đây là cách đặt vấn đề rất mới, rất tiến bộ so với tư duy truyền thống của con người và cũng chính vì lẽ đó mà trong giáo lý của đạo Công giáo thì điểm nổi bật là vấn đề cứu chuộc-đây là điểm sáng của lòng nhân từ cao cả mà bản thân Chúa là một tấm gương của sự nhân từ đó

Về Chúa Giê-Su và công cuộc cứu chuộc:

Theo Thánh Kinh Chúa Con chính là đáng cứa thế đã xuống trần gian một cách huyền thoại như sau: Chúa đã đầu thai một cách mầu nhiệm ở nơi Đức Mẹ Maria-gái đồng trinh, đây là người được Chúa Cha chọn, bà là người ở làng Na-Gia-Rét gần thành Giê-Ru-Sa-Lem Thiên Chúa đã chọn người thợ mộc Giu-Sê thuộc dòng dõi vua Đa-Vít đến đính hôn và chung sống với bà Maria để bà Maria khỏi mang tiếng không chồng

mà chửa Chúa Giê-Su giáng sinh tại hang đá Bê Lem lạnh lẽo trên đường

từ Nagiaret về Bê Lem xứ Giu Đê quê hương của Giu-Sê Nhà Vua Hêrôđê

xứ Giêruxalem sợ Chúa tộc tộc Do Thái tranh quyền với mình nên đã giết tất cả những trẻ em trai ở Bêlem và vùng lân cận có từ 2 tuổi trở xuống (tức

có cùng năm sinh với Chúa) Vợ chồng Giu-Sê được sứ thần của Chúa báo trước và đưa Chúa lánh nạn sang Ai-Cập Giu-Sê sống với bố mẹ một cách bình thường và giữ trọn đạo hiếu thảo Cho đến năm 30 tuổi Chúa bắt đầu

đi giảng đạo; dùng nhiều phép lạ cứu chữa cho nhiều người vượt qua đói khổ, bệnh tật hiểm nghèo Trong quá trình giảng đạo Chúa thu nạp được 12

Trang 18

môn đệ (Thánh tông đồ), một trong số 12 môn đệ được Chúa tuyển chọn thì Giu-Đa-Ít-Ca-Ri-Ốt sau này là kẻ phản Chúa ông đã báo cho vua Hê-Rô-Đê bắt và hành hình Chúa vào năm Chúa 33 tuổi Chúa chết 3 ngày thì sống lại

và sống thêm 40 ngày nữa rồi trở thành thánh thần lên trời Trước khi về trời Chúa đã lập 7 phép bí tích để loài người đượ hưởng ân sủng của Thiên Chúa trong đó phép mình thánh Chúa là phương tiện mầu nhiệm để con người thông công với Chúa Chúa cũng lập ra Giáo Hội đặt môn đệ Phê-Rô đứng đầu là vị Giáo Hoàng tiên khởi của Giáo hội Công giáo Sau khi Chúa lên trời 10 ngày thì Thiên Chúa cử ngôi 3- Chúa thánh thần xuống trần thế hóa hội Thánh ban sức mạnh và lòng can đảm cho các môn đệ của Chúa Giê-Su để họ đi truyền đạo

Giáo lý Công giáo cho rằng một ngày kia toàn thế giới sẽ tận thế Khi con người từ trong tro bụi, tất cả các thế hệ cùng sống lại Chúa Giê-Su lại xuống trần để có lời phán xét cuối cùng (gọi là ngày phán xét chung), người có tội phải xuống hỏa ngục, người không có tội được lên Thiên Đàng sống sung sướng mãi mãi như thời Ađam-Êva ở Ê-Đen

Đặc biệt đáng chú ý là khi Chúa Giê-Su xuống trần thì giáo lý của đạo Công giáo đã thể hiện hiện hai bản tính của Chúa, nhân tính và thần tính Cả hai bản tính này đều được mô tả hết súc gần gũi với con người Bản tính nhân tính là cái rất thật, không phô trương, không ngoa dụ, không bị cách điệu như một số thần học khác.Bàn đến tính thần tính thì huyền diệu, bao giờ cũng khiến ta có cảm tưởng rất xa lạ thế nhưng thông qua hình ảnh của Chúa lại hết sức gần gũi và chúng ta thấy ở Chúa thì cả hai bản tính này

nó là một, nó là cái thiêng liêng, huyền diệu nhưng lại rất càn thiết cho con người

Khi Chúa Giê-Su chịu nạn, chịu đóng đinh ở trên cây thánh giá

đã thể hiện hành động cao cả, thiêng liêng nhất, thể hiện lòng nhân từ cao

cả nhất Sự hy sinh vì nhân loại cao cả nhất trong công cuộc cứu chuộc của Chúa.Chúa lập ra các bí tích và cho xây dựng hội thánh, ở đây thể hiện sự khai sinh nước Chúa ở trên thế giới, tạo ra một mô giới duy nhất cho mối liên hệ giữa con người với Chúa Đồng thời, ở điểm này cũng thể hiện tư

Trang 19

tưởng cho rằng con ngưòi và trời không liên hệ được với nhau nếu như không có vật trung gian Nó cũng thể hiện cái quyết tâm của đạo Công giáo

cố giải thích hiện tượng con ngưòi có thể khám phá và giải thích được toàn

bộ thế giới khi có sự giúp đỡ của Chúa

b.Luật lệ, lễ nghi.

Luật lệ, lễ nghi của đạo Công giáo chịu ảnh hưởng sâu sắc của chế độ phong kiến La Mã và hầu như ít có sự thay đổi với nội dung cơ bản chủ yếu sau:

Mười điều răn của Thiên Chúa:

Theo truyền thuyết những điều răn này đã được Chúa ban cho MaiSen-ông tổ của người Do Thái và 10 lời răn này đã được khắc vào đá Hiện nay, 10 lời răn được khắc vào đá này vẫn con tồn tại ở thủ đô RôMa-thủ đô Công giáo Mười điều răn được ghi như là tôn chỉ, mục đích của đạo Công giáo.Dù nghiên cứu ở góc độ nào thì mục đích tôn chỉ cao nhất của 10 điều răn chỉ vẽn vẹn trong những từ: KÍNH CHÚA- YÊU NGƯỜI

1 Phải kính thờ Thiên Chúa trên hết mọi sự.

2 Không được lấy danh Thiên Chúa để làm những việc phàm tục tầm thường.

3 Phải nhớ ngày thứ bảy là ngày Thánh để phụng thờ Thiên Chúa.

4 Phải thảo kính với cha mẹ.

5 Không được giết người.

6 Không được ngoại tình.

7 Không được trộm cuớp.

8 Không được làm chứng dối hại ngưòi khác, che đấu sự dối gian.

9 Không được tham muốn vợ hoặc chồng của người khác.

Trang 20

10 Không được tham của cải trái phép.

Sáu điều răn của Giáo Hội:

Giáo Hội là cộng đồng hữu hình và có tổ chức mà Chúa KiTô

đã sáng lập để lưu tồn sự hiện diện của Ngài trên trần gian và tiếp tục thực hiện hai sứ mệnh của Ngài là giảng dạy chân lý và thưởng ban sự sống

Giáo Hội đưa ra sáu điều răn với nội dung cốt lõi làvấn đề giới luật:

1 Phải xem lễ các ngày Chúa Nhật và các ngày lễ buộc.

2 Kiêng việc xác vào ngày chủ nhật.

3 Mỗi năm phải xưng tội một lần.

5 Phải ăn chay trong những ngày quy định.

6 Kiêng ăn thịt trong những ngày quy định.

Ngoài ra Giáo Hội còn quy định nghĩa vụ trong các quan hệ đối với linh hồn, đối với đồng loại và đối với chính bản thân mình như: Lấy điều thiện mà khuyên người; Hướng dẫn cho kẻ mê muội; Tha thứ cho kẻ khinh mình; Nhịn lẻ xúc phạm đến mình; Răn bảo kẻ tội lỗi; An ủi người lo âu; Cầu nguyện cho người sống và người chết; Cho kẻ đối ăn; Cho kẻ khát uống; Cho kẻ rách mặc; Cho khách ở nhờ; Cho người làm thuê; Thăm viếng người hoạn nạn; Chôn táng người chết; Khiêm nhường; Không hà tiện; Không tị hiềm; Siêng năng; Ăn uống điều độ

Bảy bí tích:

Bảy bí tích được Chúa truyền lại cho Hội Thánh để Hội Thánh

sử dụng Ngoài ra, bảy bí tích còn có ý nghĩa khác là làm tăng thêm sức mạnh, tăng thêm sự tự tin của Hội Thánh và của những con chiên trong hành động và trong suy nghĩ của mình.Chúng ta có thể trình bày tóm tắt nội dung của bảy bí tích như sau:

Trang 21

1 Phép rửa tội.

Dùng để rửa sạch những tội tông truyền Khi đã dược rửa sạch tội thì sẽ trở thành một môn đồ của đạo Công giáo.Với trẻ sơ sinh là con của Giáo dân thì chỉ dung nước Thánh hoặc có sự chứng giám của giám mục, linh mục Nói cách khác, rửa tội đối với trẻ sơ sinh là con của Giáo dân thì hết sức đơn giản Nhưng đối với những người không phải gia đình giáo dân khi muốn theo đạo đương nhiên phải chịu phéo rửa tội Trước khi làm phép rửa tội họ phải trải qua một thời gian thử thách tâm lý hết sức phức tạp, đặc biệt vấn đề sám hối, ăn năn về những sai lầm mà mình đã mắc phải Đối với những người này bắt buộc phải rửa tội tại nhà thờ.Tại nhà thờ các linh mục đã dùng nước Thánh vẩy lên đầu của những người xưng tội và

sẽ đọc những câu kinh, những lời kinh theo quy định cho những người rửa tội Đây cũng chính là lễ nhập đạo

2 Phép thêm sức.

Giúp cho tín đồ được ơn Chúa mà liên hệ chặt chẽ với Giáo Hội, vững tin đi vào đời sống tín ngưỡng Bí tích này chỉ được thực hiện với những người đã chịu phép rửa tội Bí tích này chỉ được thực hiện tại nhà thờ vào dịp lễ Misa hay lễ Chịu mình thánh Giám mục sẽ thực hiện bí tích này bằng cách bôi dầu Thánh lên trán người trưc tiếp chịu phép thêm sức và đồng thời đọc lời kinh nguyện theo quy định của Giáo Hội Trong trường hợp Giám mục đi vắng thì Linh mục có thể tiến hành nhưng phải được sự

ủy quyền của Giám mục

3.Phép giải tội.

Có ý nghĩa là để tha thứ những tội lỗi mà bản thân mỗi con người mắc phải Yêu cầu đối với người dự lễ giải tội là phải hết sức trung thực, thành thật nói rõ những tội lội mà mình mắc phải Thái độ khi xưng tội phải hết sức thành kính, phải thành khẩn Linh mục với tư cách thay mặt Thiên chúa ngồi trong tòa giải tội luận xét tha tội hoặc định những hình thức sửa chữa đền tội bằng những việc làm nhân đức Theo quy định của Hội Thánh đối với nam tín đồ mỗi năm phải xưng tội ít nhất một lần Ngày nay, tất cả các con chiên của Chúa mỗi năm phải xưng tội ít nhất một lần

Trang 22

Khi xưng tội và được giải tội thì đồng thời có ý nghĩa thêm sức và tham gia

lễ giải tội

4 Phép chịu Mình thánh Chúa.

Đây chính là sự tái diễn lại tất cả công cuộc cứu chuộc của Chúa Giê-Su, Chúa đã hiến dâng một cách cao cả cho sự nghiệp cứu chuộc của mình Theo Công giáo, công cuộc cứu chuộc của Chúa sẽ được tiếp tục trong phép màu nhiệm của bí tích Thánh thể Bí tích này là đỉnh cao, là nguồn mạch trong đời sống tín ngưỡng của những tín đồ Công giáo Phép bí tích này được cử hành trọng thể tại nhà thờ gọi là Thánh lễ Mi-sa Sau khi xưng tội và giải tội thì đựơc chịu phép Mình Thánh Người chủ lễ đọc lời truyền phép Mình Thánh theo quy định của Giáo Hội để bánh (mì) và rượu (nho) trở thành thịt và máu của Chúa sau đó ban cho người chịu phép một ít hay một phần chiếc bánh và rượu đã làm phép để Thiên Chúa ngự trong họ.Theo quy định của Hội Thánh người chịu phép Mình Thánh lần đầu, sau

đó phải chịu phép Mình Thánh mỗi năm ít nhất một lần Như vậy, ý nghĩa của phép chịu Mình Thánh nhằm làm tăng thêm sức mạnh trong đời sống tín ngưỡng của Giáo dân, nó làm cho đời sống tín ngưỡng và bản thân mỗi môn đồ thấy đuợc sự hiện diện của Chúa trong con nguời mình

5 Phép xức dầu Thánh.

Bí tích này được thực hiện với những bệnh nhân trong cơn nguy cấp để được Thiên Chúa nâng đỡ và cứu vớt Các Giám mục là người thực hiện phép chuyển dầu thảo mộc thành đầu Thánh để xoa lên trán hoặc lên người cho bệnh nhân và đọc lời nguyện cầu Thiên Chúa theo quy định của Giáo Hội Phép xức dầu Thánh thể hiện sự hiện diện của Chúa trong việc cứu rỗi cho con người qua khỏi bệnh tật

6 Phép truyền chức Thánh.

Chỉ thực hiện với các tín đồ chịu ơn riêng của Chúa và trở thành những tác viên thay mặt Chúa chăn dắt tín đồ Có bảy chức Thánh, từ chức một đến chức năm là những chức giúp việc trong nhà thờ, chức sáu gọi là phó tế hay gọi là thầy sáu có quyền thực hiện một số bí tích Người

có quyền thực hiện đủ bảy bí tích thì trở thành linh mục

Trang 23

7.Bí tích hôn phối.

Là việc nhìn nhận của Thiên chúa đối với việc chung sống trọn đời của đôi nam nữ đã chịu phép rửa tội Bí tích này nhằm tăng cường tính duy nhất và bền vững trong gia đình của tín đồ Công giáo

Nói chung, các ngày lễ trọng trong năm được tập trung vào tháng 5-6 và có ba ngày lễ cố định

Ngoài các ngày lễ buộc đó thì các tín đồ còn phải đến dự lễ tại nhà thờ vào các ngay chủ nhật quanh năm Các ngày lễ khác tuy không bắt buộc nhưng tín đồ vẫn tham gia với số lượng đông để mong được hưởng nhiều ơn phúc của Chúa như:Lễ Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tộingày 08/12;

Lễ Tro (đầu mùa chay); Lễ Lá vào ngày chủ nhậ đầu tuần Thánh kỷ niệm Chúa vào thành Giê-ru-xa-lem được dân chúng rải lá trên đường tiếp đón;

Lễ thánh tông đồ Phê-rô và Phao-lô 29/06; Lễ càu nguyện cho các lnh hồn nơi luỵen ngục 02/11; Lễ Chúa Giê-su chịu chết

Ngoài ra Giáo Hội còn nhiều những ngày lễ khác tùy mùa, tùy chủ đích cho sinh hoạt và các hoạt động của Công giáo

c.Cơ cấu tổ chức và phẩm truật của Đạo Công giáo.

Trang 24

Giáo Hội đựoc thành lập vói tư cách như là một nhà nước Họ cũng có thành lập ra hội đồng tương tự như hội đồng các nhà nước thế quyền Trong ngôn ngữ ta thường gọi là giáo triều Vaticăng.

Giáo Hội là một công đồng hữu hình có tổ chức do Chúa

Giê-su lập ra trước khi về trời để lưu tồn sự hiện diện của Chúa nơi trần thế Giáo hội Công giáo có bốn đặc điểm: Duy nhất; Thánh thiện; Công giáo; Tông truyền

Duy nhất có nghĩa là chỉ có duy nhất một Giáo hội và Giáo hội

này duy nhất được thừa nhận là ở Rôma, mọi người trong Giáo hội cùng chịu duy nhất một đức tin, cùng chịu một bí tích, cùng chịu một Giáo Hoàng

Thánh thiện mang ý nghĩa thiêng liêng, cao nhất của Giáo hội,

là bản chất của Chúa.Thánh ý cũng chính là cội nguồn của Thánh thiện Người được phép thể hiện Thánh ý là Giáo Hoàng

Công giáo nghĩa là đạo phổ quát với tất cả mọi người Đạo

Công giáo không loại trừ bất cứ một ai mà chủ trương nếu ai tin thì linh hồn của họ đều được Chúa cứu rỗi

Tông truyền có ý nghĩa được xây dựng trên nền tảng của các

Thánh tông đồ Giáo lý của Hội thánh phải do chính các Thánh tông đồ truyền lại

Cơ cấu và tổ chức và phẩm truật của Giáo hội Công giáo sắp xếp như sau:

Giáo Hoàng, Giám mục đoàn, Hồng y đoàn, Giáo hội địa phương, Giáo hội cơ sở

Giáo Hoàng còn gọi là giáo chủ được tín đồ tôn xưng là Đức Thánh cha, người kế vị Thánh Phê-rô, Tông đồ Giáo Hoàng đại diện của Chúa, là vị tối cao đối với toàn thể tín đồ Công giáo (Từ Phê-rô đến Gioan Phao-lô IIhiện nay đã có 246 vị Giáo Hoàng, trong đó có 206 vị có quốc tịch Italia, 13 vị Pháp , 3 vị Tây Ban Nha, 1 vị Bồ đào Nha, 10 vị Hy Lạp, 3

vị người Châu Phi Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II hiện nay có tên là Karol

Ngày đăng: 26/12/2013, 11:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w