Quá trình phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam Quá trình phát triển của hệ thống Ngân hàng Việt Nam kể từ khi Ngân hàng Quốc gia Việt nam ra đời đến nay có thể chia thành 4 thời kỳ nh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
Trang 2sự phân công được tất cả các thành viên thông qua.
• Điểm số của tiểu luận cũng chính là điểm số của từng thành viên
Danh sách và chữ ký của các thành viên trong nhóm:
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
PHẦN NỘI DUNG 5
1 Ngân hàng, hoạt động ngân hàng 5
1.1 Khái niệm ngân hàng 4
1.2 Khái niệm hoạt động ngân hàng 5
1.3 Phân loại ngân hàng 5
2 Hệ thống ngân hàng Việt Nam 6
2.1 Quá trình hình thành hệ thống ngân hàng Việt Nam 6
2.2 Mô hình của hệ thống ngân hàng Việt Nam 8
3 Cấu trúc tổ chức hoạt động của ngân hàng 10
3.1 Ngân hàng trung ương 10
3.1.1 Mô hình Ngân hàng trung ương là một cơ quan trực thuộc chính phủ 11
3.1.2 Mô hình Ngân hàng trung ương độc lập với chính phủ 12
3.2 Ngân hàng thương mại 15
3.2.1 Cấu trúc mạng lưới của các ngân hàng Việt Nam 16
2.2.2 Sự phát triển của mạng lưới ngân hàng Việt nam 17
2.2.3 Cấu trúc tổ chức bộ mạy của các NHTM 18
2.2.4 Việc phân bổ cấu trúc cổ đông của các NHTM Việt Nam 27
2.2.5 Vấn đề cổ phần hoá các NHTM Nhà nước 30
2.2.6 Môi trường hoạt động ngành Ngân hàng Việt Nam 44
3.3 Xu hướng tổ chức hoạt động của các ngân hàng trên thế giới 47
3.3.1 Mô hình tập đoàn tài chính 47
3.3.2 Mô hình ngân hàng đa năng 48
3.3.3 Mô hình công ty mẹ nắm vốn thuần tuý 49
PHẦN KẾT LUẬN 51
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài:
Một trong số những hoạt động quan trọng nhất của quá trình hội nhập đó là chúng ta cần quan tâm đến cấu trúc tổ chức hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam, xây dựng một hệ thống pháp lý chặt chẻ, đổi mới chất lượng quản trị điều hành của các Ngân hàng, xây dựng một cơ cấu tổ chức phù hợp nhằm mang lại hiệu quả cho cả hệ thống ngân hàng Việt Nam Vấn đề này được đặt ra như một thách thức rất lớn cần phải nghiên cứu để nhận định và đưa ra những nhận xét về cấu trúc tổ chức hoạt động của ngân hàng, hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay
2 Mục tiêu:
Mục tiêu của tiểu luận là tìm hiểu và nắm được những mô hình tổ chức được áp dụng trong ngành ngân hàng cũng như các tác động của chúng đến hành vi, danh mục dịch
vụ mà ngân hàng cung ứng Trên cơ sở đó, phân tích những tác động có thể có của mô hình
tổ chức đến lợi nhuận, rủi ro và hiệu quả họat động của ngân hàng
3 Pham vi nghiên cứu đề tài:
Nghiên cứu cấu trúc tổ chức hoạt động của ngân hàng, hệ thống ngân hàng
4 Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng các phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp cùng các phương pháp nghiên cứu kinh tế khác
5 Kết cấu của đề tài: gồm 3 phần
1 Ngân hàng và hoạt động kinh doanh ngân hàng
2 Cấu trúc tổ chức hoạt động ngân hàng
3 Cấu trúc tổ chức hoạt động hệ thống ngân hàng
Trang 5PHẦN NỘI DUNG
1 Ngân hàng và hoạt động ngân hàng
1.1 Khái niệm ngân hàng (theo luật các TCTD năm 2010)
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân
Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã
1.2 Khái niệm hoạt động ngân hàng (theo luật các TCTD năm 2010)
Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các
nghiệp vụ sau đây:
• Nhận tiền gửi;
• Cấp tín dụng;
• Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản
1.3 Phân loại ngân hàng:
1.3.1 Phân loại ngân hàng theo truyền thống:
• Ngân hàng thương mại: là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các
hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của lợi nhuận
• Ngân hàng chính sách: Hoạt động của các Ngân hàng này không nhằm
mục đích kiếm lời mà nhằm phục vụ một tôn chỉ, mục đích xã hội để nâng
đỡ, tương trợ một tầng lớp xã hội nào đó Ở Việt nam hiện nay, có Ngân hàng chính sách, Ngân hàng phát triển
• Ngân hàng hợp tác xã: là ngân hàng của tất cả các quỹ tín dụng nhân dân
do các quỹ tín dụng nhân dân và một số pháp nhân góp vốn thành lập theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu chủ yếu là liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều hòa vốn trong hệ thống các quỹ tín dụng nhân dân
1.3.2 Phân loại ngân hàng theo hình thức sở hữu:
• Ngân hàng thương mại nhà nước: được thành lập, tổ chức dưới hình thức
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ
• Ngân hàng TMCP: là ngân hàng thương mại được tổ chức dưới hình thức
công ty cổ phần
Trang 6• Ngân hàng liên doanh: là ngân hàng thương mại được thành lập tại Việt
Nam, bằng vốn góp của Bên Việt Nam (gồm một hoặc nhiều ngân hàng Việt Nam) và Bên nước ngoài (gồm một hoặc nhiều ngân hàng nước ngoài) trên
cơ sở hợp đồng liên doanh Ngân hàng thương mại liên doanh được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam
• Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: là đơn vị phụ thuộc của ngân hàng
nước ngoài, không có tư cách pháp nhân, được ngân hàng nước ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết của chi nhánh tại Việt Nam
• Ngân hàng 100% vốn nước ngoài: là ngân hàng thương mại được thành
lập tại Việt Nam với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu nước ngoài; trong đó phải có một ngân hàng nước ngoài sở hữu trên 50% vốn điều lệ (ngân hàng mẹ) Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc từ hai thành viên trở lên, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam
1.3.3 Phân loại theo sản phẩm cung cấp:
• Ngân hàng bán buôn: danh mục sản phẩm không nhiều nhưng giá trị từng
sản phẩm rất lớn Khách hàng thường là các doanh nghiệp lớn
• Ngân hàng bán lẻ: danh mục sản phẩm rất nhiều nhưng giá trị từng sản
phẩm không lớn Khách hàng thường là hộ gia đình
• Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ.
1.3.4 Phân loại theo lĩnh vực hoạt động:
• Ngân hàng chuyên doanh: một tổ chức công lập hay tư lập mà hoạt động
thường xuyên là thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng phục vụ một số lĩnh vực kinh tế nhất định
• Ngân hàng đa năng: cung cấp một danh mục và dịch vụ tài chính đa dạng.
Trang 7Hình 1 – Mô hình ngân hàng đa năng
2 Hệ thống ngân hàng Việt Nam
2.1 Quá trình phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam
Quá trình phát triển của hệ thống Ngân hàng Việt Nam kể từ khi Ngân hàng Quốc gia Việt nam ra đời đến nay có thể chia thành 4 thời kỳ như sau:
• Thời kỳ 1951-1954: Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập và hoạt động độc
lập tương đối trong hệ thống tài chính, thực hiện trọng trách đầu tiên: Phát hành giấy bạc Ngân hàng, thu hồi giấy bạc Tài chính; Thực hiện quản lý Kho bạc Nhà nước góp phần tăng thu, tiết kiệm chi, thống nhất quản lý thu chi ngân sách; Phát triển tín dụng ngân hàng phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hóa, tăng cường lực lượng kinh tế quốc doanh và đấu tranh tiền tệ với địch
• Thời kỳ 1955-1975: Đây là thời kỳ cả nước kháng chiến chống Mỹ, miền Bắc vừa xây
dựng, chiến đấu, vừa chi viện cho cách mạng giải phóng miền Nam Trong thời kỳ này, Ngân hàng Quốc gia thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Củng cố thị trường tiền tệ, giữ cho tiền tệ ổn định, góp phần bình ổn vật giá, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc khôi phục kinh tế trong chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ ở miền Bắc
- Phát triển công tác tín dụng nhằm phát triển sản xuất lương thực, đẩy mạnh khôi phục và phát triển nông, công, thương nghiệp, góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và giải phóng miền Nam
• Thời kỳ 1975-1985: Là giai đoạn khôi phục kinh tế sau chiến tranh giải phóng và
thống nhất nước nhà Nhiệm vụ cụ thể của ngành Ngân hàng là tiến hành thiết lập hệ
Trang 8thống Ngân hàng thống nhất trong cả nước và thanh lý hệ thống Ngân hàng của chế độ
cũ ở miền Nam Theo đó, Ngân hàng Quốc gia của chính quyền Việt Nam Cộng hòa
đã được quốc hữu hóa và sáp nhập vào hệ thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cùng thực hiện nhiệm vụ thống nhất tiền tệ trong cả nước, phát hành các loại tiền mới của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thu hồi các loại tiền cũ ở cả hai miền Nam- Bắc vào năm 1978 Trong giai đoạn này, hệ thống Ngân hàng Nhà nước về cơ bản vẫn hoạt động như là một công cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc thị trường
• Thời kỳ 1986 đến nay: Là quá trình đổi mới căn bản và toàn diện hệ thống Ngân hàng
- Tháng 10/1993, quan hệ hợp tác giữa Việt nam và cộng đồng tài chính quốc tế (Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á) được tái lập và khơi thông
- Ngày 2/12/1997, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Các tổ chức tín dụng được Quốc hội khóa X chính thức thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/1998
- Ngày 16/6/2010 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội khóa XII chính thức thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011 Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối; thực
Trang 9hiện chức năng Ngân hàng trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền; bảo đảm sự an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm sự an toàn, hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trên cơ sở quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị định quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Hiện nay, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện theo Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26/8/2008 của Chính phủ Về cơ cấu tổ chức, theo Nghị định 96/2008/NĐ-CP, Ngân hàng Nhà nước có 24 đơn vị trực thuộc, trong đó 19 đơn vị giúp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước và chức năng Ngân hàng trung ương, 5 đơn vị
là tổ chức sự nghiệp
2.2 Mô hình của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam
Quản trị Ngân hàng TS Hoàng Công Gia Khánh
Công ty tài chính
Cty cho thuê tài chính
Các TCTD phi ngân hang khác
NHTM Quốc doanh
NHTM Cổ phần
NH liên doanh
CN NH nước ngoài
Trang 10Hình 2 – Cấu trúc tổ chức hệ thống Ngân hàng Việt Nam hiện nay
Tính đến thời điểm cuối tháng 12/2010, hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam bao gồm các tổ chức sau :
• Các tổ chức tín dụng quốc doanh : Ngân hàng ngọai thương Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng phát triển Nhà đồng bằng sông Cửu long, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng phát triển (trong đó 02 ngân hang đã cổ phần hóa đó là VCB và Vietinbank)
• Các tổ chức tín dụng cổ phần : 37 ngân hàng thương mại cổ phần
• Các chi nhánh ngân hàng nước ngoài: 49 chi nhánh ngân hàng nước ngoài (City bank, Duetsche Bank AG, Hoa Kiều, )
• Các ngân hàng liên doanh : 05 ngân hàng liên doanh (VID Public bank, Vinasiam bank; Indovina bank; Chohungvina bank, NH Việt-Nga)
Trang 11• Ngân hàng 100% vốn nước ngoài: 05 ngân hang (Standard Chartered, HSBC, ANZ, Shinhan, Hong Leong)
• Công ty tài chính : 17 công ty tài chính (2 công ty đã cổ phần hóa là Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí và Công ty Cổ phần Tài chính Handico)
• Công ty cho thuê tài chính : 13 công ty tài chính
3 Cấu trúc tổ chức hoạt động của các ngân hàng Việt Nam
3.1 Ngân hàng trung ương
NHTW là “ngân hàng của các ngân hàng”, là ngân hàng độc quyền phát hành tiền, là cơ quan quản lý của quốc gia về tiền tệ, hoạt động ngân hàng;
• NHTW không giao dịch trực tiếp với công chúng;
• NHTW chỉ giao dịch với các NH trung gian, giao dịch với chính phủ, các tổ chức tài chính quốc tế;
• NHTW đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia;
Trong lịch sử phát triển ngành ngân hàng trên thế giới ghi nhận có 3 mô hình Ngân hàng Trung Ương (NHTW) đã hình thành và phát triển Đó là: (1) NHTW độc lập với Chính phủ, (2) NHTW là một cơ quan thuộc Chính phủ và (3) NHTW thuộc Bộ Tài chính Hiện nay, mô hình NHTW trực thuộc bộ tài chính đã không còn được các nước trên thế giới áp dụng Do đó, Nhóm chỉ nêu và phân tích hai mô hình: NHTW độc lập với Chính phủ và NHTW là một cơ quan thuộc Chính phủ
3.1.1 Mô hình Ngân hàng trung ương là một cơ quan trực thuộc chính phủ
Mô hình NHTW là một cơ quan trực thuộc Chính phủ là mô hình trong đó
NHTW là một cơ quan ngang Bộ thuộc chính phủ và chịu sự chi phối trực tiếp của chính phủ về mô hình tổ chức, nhân sự, về tài chính và đặc biệt về các quyết định liên quan đến việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ
Các nước áp dụng mô hình này phần lớn là các nước Đông Á (Hàn quốc, Đài loan, Singapore, Indonesia, Việt nam ) hoặc các nước thuộc khối XHCN trước đây
Chính phủ
Hội đồng chính sách tiền tệ
Chủ tịch hội đồng chính sách tiền tệ
Các thành viên: Thống đốc NH…
Trang 12Hình 3 - Mô hình ngân hàng trung ương trực thuộc chính phủ
Ưu điểm của mô hình này là Chính phủ có thể dễ dàng phối hợp chính sách tiền tệ của NHTW đồng bộ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm đảm bảo mức độ và liều lượng tác động hiệu quả của tổng thể các chính sách đối với các mục tiêu vĩ mô trong thời kỳ Mô hình này được xem là phù hợp với yêu cầu cần tập trung quyền lực để khai thác tiềm năng xây dựng kinh tế trong thời kỳ tiền phát triển
Điểm hạn chế chủ yếu của mô hình này là NHTW sẽ mất đi sự chủ động trong việc thực hiện chính sách tiền tệ Ngoài ra, việc tạm chi cho ngân sách trung ương bù đắp thâm hụt ngân sách sẽ làm gia tăng lạm phát
Tuy nhiên, sự lớn mạnh nhanh chóng của các nước thuộc nhóm NIEs như Singapore, Hàn quốc, Đài loan nơi NHTW là một bộ phận trong guồng máy chính phủ
là một bằng chứng có sức thuyết phục về sự phù hợp của mô hình tổ chức này đối với truyền thống văn hoá Á đông
Hình 4 - Mô hình NHTW độc lập với chính phủ
Theo mô hình này, NHTW có toàn quyền quyết định việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ mà không bị ảnh hưởng bởi các áp lực chi tiêu của ngân sách hoặc các áp lực chính trị khác
Tuy nhiên, không phải tất cả các NHTW được tổ chức theo mô hình này đều
Quốc Hội
Trang 13đảm bảo được sự độc lập hoàn toàn khỏi áp lực của chính phủ khi điều hành chính sách tiền tệ Mức độ độc lập của mỗi NHTW phụ thuộc vào sự chi phối của người đứng đầu nhà nước vào cơ chế lập pháp và nhân sự của NHTW.
Điểm bất lợi chủ yếu của mô hình này là khó có sự kết hợp hài hoà giữa chính sách tiền tệ - do NHTW thực hiện và chính sách tài khoá - do chính phủ chi phối để quản
lý vĩ mô một cách hiệu quả
Nhìn chung, dù tổ chức theo mô hình nào thì ngân hàng trung ương cũng thực hiện các chức năng cơ bản sau đây :
• Là ngân hàng phát hành tiền
• Là ngân hàng của các ngân hàng, đóng vai trò là người cho vay cuối cùng
• Là cơ quan thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
• Là ngân hàng của chính phủ
3.1.3 Cấu trúc tổ chức của NHNN Việt Nam
Trên cơ sở Nghị định 96/2008/NĐ-CP, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành các Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước, như sau:
Trang 14Hình 5 – Cơ cấu tổ chức của NHNN Việt Nam
- Vụ Chính sách tiền tệ: Tham mưu, giúp Thống đốc xây dựng chính sách tiền tệ Quốc
gia và sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ theo quy định của pháp luật
- Vụ Quản lý ngoại hối: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện chức năng quản lý Nhà
nước về ngoại hối và hoạt động ngoại hối theo quy định của pháp luật
- Vụ Thanh toán: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện quản lý Nhà nước về lĩnh vực
thanh toán trong nền kinh tế quốc dân theo quy định của pháp luật
- Vụ Tín dụng: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện quản lý Nhà nước về lĩnh vực tín
dụng ngân hàng và điều hành thị trường tiền tệ theo quy định của pháp luật
- Vụ Dự báo thống kê tiền tệ: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện công tác dự báo,
thống kê tiền tệ theo quy định của pháp luật
- Vụ Hợp tác quốc tế: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện chức năng quản lý Nhà
nước về hợp tác và hội nhập quốc tế thuộc phạm vi quản lý của NHNN theo quy định của pháp luật
Trang 15- Vụ Kiểm toán nội bộ: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện kiểm toán nội bộ hoạt
động của các đơn vị thuộc NHNN
- Vụ Pháp chế: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện quản lý Nhà nước bằng pháp
luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong ngành ngân hàng
- Vụ Tài chính- Kế toán: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện công tác tài chính, kế
toán, đầu tư xây dựng cơ bản của NHNN và quản lý Nhà nước về kế toán, đầu tư xây dựng
cơ bản của ngành Ngân hàng theo quy định của pháp luật
- Vụ Tổ chức cán bộ: Tham mưu, giúp Thống đốc, ban cán sự Đảng NHNN thực hiện
công tác tổ chức, biên chế, quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức; chế độ tiền lương và các chế độ khác thuộc phạm vi quản lý của NHNN theo quy định của pháp luật
- Vụ Thi đua khen thưởng: Tham mưu, giúp Thống đốc quản lý Nhà nước về công tác
thi đua, khen thưởng trong ngành Ngân hàng theo quy định của pháp luật
- Văn phòng: Tham mưu, giúp Thống đốc chỉ đạo và điều hành hoạt động ngân hàng;
thực hiện công tác cải cách hành chính của NHNN; quản lý hoạt động thông tin, tuyên truyền, báo chí, văn thư, lưu trữ của ngành Ngân hàng theo quy định của pháp luật; thực hiện công tác hành chính, lễ tân, văn thư, lưu trữ tại trụ sở chính NHNN
- Cục Công nghệ tin học: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà
nước chuyên ngành về lĩnh vực công nghệ tin học trong phạm vi toàn ngành Ngân hàng
- Cục Phát hành và kho quỹ: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện chức năng quản lý
Nhà nước và chức năng Ngân hàng Trung ương về lĩnh vực phát hành và kho quỹ theo quy định của pháp luật
- Cục Quản trị: Giúp Thống đốc quản lý tài sản, tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật, hậu
cần, bảo vệ, an ninh trật tự, an toàn cơ quan, chăm lo đời sống, sức khỏe cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc trụ sở chính NHNN
- Sở Giao dịch: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện các nghiệp vụ Ngân hàng Trung
ương
- Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng: Cơ quan trực thuộc NHNN thực hiện chức
năng thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành và giám sát chuyên ngành về ngân hàng trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của NHNN; Tham mưu, giúp Thống đốc NHNN quản lý Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính quy mô nhỏ, hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác; thực hiện phòng, chống rửa tiền theo quy định của pháp luật
Trang 16- NHNN Chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Là các đơn vị phụ thuộc
của NHNN, chịu sự điều hành và lãnh đạo tập trung, thống nhất của Thống đốc NHNN; có chức năng tham mưu, giúp Thống đốc quản lý Nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng trên địa bàn và thực hiện một số nghiệp vụ Ngân hàng trung ương theo ủy quyền của Thống đốc
- Văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh: Đơn vị phụ thuộc của NHNN, thực
hiện nhiệm vụ đại diện theo sự ủy quyền của Thống đốc NHNN
- Viện Chiến lược ngân hàng: Đơn vị sự nghiệp Nhà nước trực thuộc NHNN VN, có
chức năng nghiên cứu và xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành Ngân hàng; tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ ngân hàng phục vụ cho yêu cầy quản lý Nhà nước của NHNN về tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật
- Trung tâm Thông tin tín dụng: Tổ chức sự nghiệp Nhà nước thuộc NHNN, có chức
năng thu nhận, xử lý, lưu trữ, phân tích, dự báo thông tin tín dụng phục vụ cho yêu cấu quản lý Nhà nước của NHNN; thực hiện các dịch vụ thông tin ngân hàng theo quy định của NHNN và của pháp luật
- Thời báo ngân hàng: Đơn vị sự nghiệp Nhà nước thuộc NHNN; là cơ quan ngôn
luận, diễn đàn xã hội và là công cụ tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và hoạt động của ngành Ngân hàng theo quy định của NHNN và của pháp luật
- Tạp chí ngân hàng: Đơn vị sự nghiệp Nhà nước thuộc NHNN; là cơ quan ngôn luận
và diễn đàn về lý luận, nghiệp vụ, khoa học và công nghệ ngân hàng; có chức năng tuyên truyền, phổ biến đường lối chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, hoạt động ngân hàng và những thành tựu về khoa học, công nghệ của ngành Ngân hàng và lĩnh vực liên quan theo quy định của NHNN và của pháp luật
- Trường bồi dưỡng cán bộ ngân hàng: Đơn vị sự nghiệp có thu thuộc cơ cấu tổ chức
của NHNN, có chức năng đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng quản lý Nhà nước và chuyên môn nghiệp vụ thuộc lĩnh vực ngân hàng phục vụ yêu cầu phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của NHNN và của ngành ngân hàng theo quy hoạch, kế hoạch đã được Thống đốc phê duyệt
3.2 Mô hình tổ chức hoạt động của các ngân hàng thương mại
Thông thường, hình thức tổ chức phủ thuộc vào chức năng và quy mô họat động
Trang 17của mỗi ngân hàng nhằm giúp các ngân hàng thực hiện chức năng và vai trò của mình một cách hiệu quả nhất Tuy nhiên, vai trò và quy mô của ngân hàng không phải là yếu tố duy nhất quyết định việc các ngân hàng sẽ được tổ chức như thế nào
và họat động hiệu quả ra sao Các quy định của Chính phủ và Ngân hàng trung ương cũng giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành cấu trúc tổ chức và tính đa dạng của các ngân hàng
3.2.1 Cấu trúc mạng lưới của các ngân hàng Việt Nam
NHNN dự thảo tăng yêu cầu VĐL từ 100 lên 200 tỷ để giảm mức độ mở rộng chi nhánh tại TP HCM và Hà Nội Theo dự thảo Thông tư quy định điều kiện, thủ tục thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện, các NHTM quy mô nhỏ sẽ khó thành lập nhiều chi nhánh tại TP HCM và Hà Nội NHNN vừa đưa ra dự thảo lần 2 lấy ý kiến về Thông tư quy định điều kiện, thủ tục thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện của các NHTM Điểm khác biệt quan trọng trong dự thảo lần này là các ngân hàng phải đảm bảo vốn điều lệ đạt mức trên 200 tỷ đồng/chi nhánh nếu chi nhánh được mở tại TP HCM và Hà Nội, trên mức
50 tỷ đồng/chi nhánh nếu chi nhánh được mở tại các địa phương khác Trước đó, dự thảo lần 1 bỏ các quy định phải đảm bảo vốn điều lệ khi mở chi nhánh và theo Quyết định số 13/2008/QĐ-NHNN đang được thi hành về mạng lưới hoạt động của NHTM, các ngân hàng phải đảm bảo vốn điều lệ đạt mức trên 100 tỷ đồng/chi nhánh nếu chi nhánh được mở tại TP HCM và Hà Nội và trên mức 50 tỷ đồng/chi nhánh nếu chi nhánh được mở tại các địa phương khác
Thông tin về dự thảo thay thế quyết định 13- quy chế mạng lưới ngân hàng thương mại:
Số chi nhánh ngân hàng thương mại được thành lập phải đảm bảo
Trang 18Tuy nhiên việc quy định đảm bảo vốn điều lệ đạt mức trên 200 tỷ đồng/chi nhánh là hơi cao Bởi các NHTM có quy mô vốn điều lệ quanh mức 3.000 tỷ đồng chỉ có thể thành lập trên dưới 15 chi nhánh tại Hà Nội và TP HCM, hoặc thấp hơn nếu mở rộng thêm tại các địa bàn khác
Nếu bắt buộc phải có quy định đảm bảo vốn điều lệ thì mức độ như bây giờ khoảng
100 tỷ đồng hợp lý hơn
Việc này đần đến các ngân hàng nhiều lúc cũng không muốn mở rộng mạng lưới ồ
ạt, bởi kể cả chưa tính đến việc phải đảm bảo vốn điều lệ là bao nhiêu, mà ngay bản thân chi phí cho việc mở và duy trì một chi nhánh là rất lớn
Trong khi đó, nguyên nhân sâu xa của việc "thúc ép" mở rộng chi nhánh là do vốn điều lệ tăng nhanh, nên dẫn tới việc phải tăng nhanh nguồn huy động, tăng cho vay để đảm bảo hiệu quả hoạt động Ngoài ra, thanh khoản của nhiều ngân hàng khá yếu, trong khi sự
hỗ trợ của NHNN còn rất hạn chế, nên ngân hàng phải tăng tốc huy động nguồn vốn từ thị trường 1, mà muốn huy động được vốn thì phải mở chi nhánh
Do vậy, nếu NHNN đưa ra quy định về hạn mức vốn làm điều kiện mở chi nhánh cũng khó có thể ràng buộc được NHTM NHNN nên để cho thị trường tự điều chỉnh và cuối cùng là để bản thân các NHTM tự tính bài toán hiệu quả khi mở rộng mạng lưới và hình thành những phân khúc rõ ràng giữa ngân hàng lớn, ngân hàng bé
Theo thông lệ quốc tế, việc mở rộng hay không mở rộng mạng lưới hoạt động của một ngân hàng nào phụ thuộc vào quyết định của Hội đồng quản trị, Ban điều hành của ngân hàng đó Mở rộng mạng lưới đòi hỏi năng lực về vốn, về quản trị con người của ngân hàng liệu có phù hợp, thích ứng, theo kịp cùng quá trình phát triển mạng lưới Điều này cũng phản ánh năng lực quản trị của mỗi ngân hàng trong việc bành trướng về mạng lưới hay phát triển các loại hình dịch vụ Do vậy, việc quy định vốn điều lệ phải là bao nhiêu mới được mở phòng giao dịch/chi nhánh là không cần thiết
3.2.2 Sự phát triển của mạng lưới ngân hàng Việt Nam
Sau sự kiện mọc lên như nấm của các hợp tác xã tín dụng vào những năm cuối cùng của thập niên 1980, chưa bao giờ chúng ta được chứng kiến sự ra đời nhiều đến như vậy của các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng trong thời gian vừa qua Nhiều ngân hàng mà cách đây một năm rất ít người biết đến bỗng nhiên “lột xác” trở thành các ngân hàng có vốn điều lệ hàng nghìn tỷ đồng với trụ sở cao hàng chục tầng nằm trên những trục đường phố chính tại Hà Nội hay TP.HCM Hơn thế, các chi nhánh ngân hàng đã, đang và sẽ được
Trang 19thành lập ở rất nhiều nơi Ở nhiều tỉnh, hai năm trước đây chỉ có chi nhánh ngân hàng của bốn ngân hàng thương mại nhà nước, nhưng đến nay con số này đã xấp xỉ 20.
Khi mạng lưới được mở rộng, một chi nhánh được thành lập, việc đầu tiên các ngân hàng phải làm là tìm cách tăng trưởng nguồn vốn huy động, tăng trưởng tổng tài sản Quy
mô của ngân hàng, của chi nhánh càng lớn khi số vốn huy động được càng nhiều và tổng tài sản càng lớn
Một điều đáng quan tâm khác là việc mở rộng quy mô quá nhanh trong khi nguồn nhân lực và khả năng quản trị ngân hàng không thể theo kịp sẽ tạo ra rủi ro rất lớn cho cả
hệ thống ngân hàng cũng như nền kinh tế vì các ngân hàng rất khó để có thể làm tốt công tác đánh giá và quản trị rủi ro ở rất nhiều hoạt động mà nó luôn tiềm ẩn những bất trắc
3.2.3 Phân tích các cấu trúc tổ chức bộ máy của 1 số ngân hàng TMCP
Theo dữ liệu của Reuters cập nhật về tổng tài sản và vốn điều lệ, hiện vốn điều lệ của 49 ngân hàng thương mại đạt 3,521,601 tỷ đồng và vốn điều lệ đạt trên 250.000 tỷ đồng Ngoài ra, nếu hoàn thành kế hoạch tăng vốn năm 2011, vốn điều lệ tăng thêm của các ngân hàng sẽ đạt gần 50.000 tỷ đồng
Tuy nhiên, nếu xét trên tổng thể toàn ngành thì những “đại gia” có vốn điều lệ cũng như tổng tài sản lớn đều là những NHTM quốc doanh, riêng Vietcombank và Vietinbank vừa mới cổ phần hóa và niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán nhưng mức độ cổ phần hóa quá ít (Vietcombank chỉ bán cổ phần ra ngoài tương đương 9,28% vốn điều lệ; con số này ở Vietinbank là 4%) Vì vậy, đến nay, nhìn chung các ngân hàng này vẫn hoạt động theo mô hình quản trị công ty đã cũ (nhất là các NHTM cổ phần nông thôn vừa được nâng cấp) Thêm nữa, những khó khăn trên thị trường tiền tệ những năm vừa qua đã bộc lộ ra nhiều yếu kém trong quản trị của các ngân hàng Những yếu kém này đã được nhiều chuyên gia cảnh báo trước đây, nhưng cuộc khủng hoảng vừa qua mới chính là động lực để những nhà quản trị ngân hàng thúc đẩy những biện pháp cải cách của mình, đặc biệt là những ngân hàng nhỏ
Dưới đây là thống kê tổng tài sản và vốn điều lệ của các ngân hàng tại Việt Nam
Tên ngân hàng Tính đến Tài sản Vốn điều lệ
Mục tiêu tăng vốn năm 2011
Ngân hàng quốc doanh (5)
Trang 2139 Nam A Bank T 12/2010 14,509 3,000
40 Bao Viet Bank T 12/2010 13,718 1,500 3,150
41 Kien Long Bank T 12/2010 12,628 3,000
46 ANZ Bank (Vietnam) T 12/2010 27,183 3,200
47 Standard Chartered Bank (Vietnam) T 12/2010 16,641 3,000
48 Shinhan Vietnam Bank T 12/2010 5,754 1,670 3000
49 Hong Leong Bank Vietnam T 12/2010 N/A 3,000
Tổng
3,521,601
251,517
Nguồn: Reuters
Ở đây, chúng ta sẽ xem xét mô hình hoạt động của 2 ngân hàng được xem là đại diện tiêu biểu cho khối NHTMCP là ACB và Sacombank để có cái nhìn chung nhất về cấu trúc tổ chức, hoạt động của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn hội nhập kinh tế thế giới
Ngân hàng TMCP Á Châu – ACB (Kể từ ngày 31/12/2010 vốn điều lệ của ACB là 9.376.965.060.000 đồng)
Ngân hàng Á Châu (ACB) đã thiết lập một cơ cấu quản trị điều hành phù hợp với các tiêu chuẩn về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại, gồm 4 Hội đồng và 2 Ban:
Hội đồng quản trị
Hội đồng Quản trị (HĐQT) của ACB gồm tám thành viên và không tham gia điều hành trực tiếp Hội đồng họp định kỳ hàng quý để thảo luận các vấn đề liên quan đến hoạt động của Ngân hàng Hội đồng có vai trò xây dựng định hướng chiến lược tổng thể và định hướng hoạt động lâu dài cho Ngân hàng, ấn định mục tiêu tài chính giao cho Ban điều hành Hội đồng chỉ đạo và giám sát hoạt động của Ban điều hành thông qua một số hội đồng và ban chuyên môn do Hội đồng thành lập như Ban Kiểm tra- Kiểm soát nội bộ, Hội đồng Tín dụng, Hội đồng Quản lý Tài sản Nợ và Tài sản Có, và Hội đồng Đầu tư…
Ban điều hành
Ban điều hành gồm có Tổng Giám đốc điều hành chung và bảy Phó Tổng Giám đốc phụ tá cho Tổng Giám đốc Ban điều hành có chức năng cụ thể hóa chiến lược tổng thể và
Trang 22các mục tiêu do HĐQT đề ra, bằng các kế hoạch và phương án kinh doanh, tham mưu cho HĐQT các vấn đề về chiến lược, chính sách và trực tiếp điều hành mọi hoạt động của Ngân hàng
Ban Kiểm tra- Kiểm soát nội bộ
Ban Kiểm soát Nội bộ được chính thức thành lập ngày 13/03/1996, nay đổi tên là Ban Kiểm tra- Kiểm soát nội bộ Nhiệm vụ của Ban là kiểm tra, giám sát tình hình hoạt động của các đơn vị thuộc hệ thống ACB về sự tuân thủ pháp luật, các quy định pháp lý của ngành ngân hàng và các quy chế, thể lệ, quy trình nghiệp vụ của ACB Qua đó, Ban Kiểm tra- Kiểm soát nội bộ đánh giá chất lượng điều hành và hoạt động của từng đơn vị, tham mưu cho Ban điều hành, cũng như đề xuất khắc phục yếu kém, đề phòng rủi ro, nếu
có
Hội đồng Tín dụng
Hội đồng Tín dụng được thành lập từ năm 1995 Hội đồng là cơ quan cấp cao nhất
về quản lý hoạt động tín dụng, thực hiện xét duyệt việc phân phối nguồn vốn tín dụng cho khu vực kinh tế, ấn định hạn mức tín dụng cho các Ban tín dụng chi nhánh, quyết định việc cho vay của Ngân hàng đối với các định chế tài chính trong và ngoài nước, quyết định về chuẩn mực tín dụng, giám sát chất lượng tín dụng và xem xét các vấn đề khác liên quan đến hoạt động tín dụng Hội đồng tín dụng ra quyết định theo nguyên tắc nhất trí
Hội đồng Quản lý Tài sản Nợ và Tài sản Có
Hội đồng Quản lý Tài sản Nợ và Tài sản Có (ALCO) được chính thức thành lập vào ngày 05/07/1997 Hiện nay, Hội đồng gồm có 11 người là thành viên HĐQT, ban Tổng giám đốc, giám đốc khối Hội đồng có nhiệm vụ xây dựng các chỉ tiêu tài chính để quản lý tài sản nợ và tài sản có hữu hiệu và kịp thời; quản lý khả năng thanh toán và chênh lệch thời gian đáo hạn của từng loại tiền tệ; quy định mức dự trữ thanh khoản; quản lý rủi ro lãi suất, tỷ giá; quyết định về cấu trúc vốn và nguồn vốn, chính sách lãi suất; và phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh
Hội đồng Đầu tư
Hội đồng Đầu tư được chính thức thành lập ngày 11/01/1996 Hiện nay, Hội đồng
có mười người là thành viên HĐQT, Ban điều hành, trưởng Ban pháp chế và giám đốc đầu
tư Nhiệm vụ của Hội đồng là xem xét tính hiệu quả của dự án đầu tư mà ACB quan tâm,
ra quyết định đầu tư, xem xét và quyết định các vấn đề khác liên quan đến hoạt động đầu
tư
Trang 23Mạng lưới kênh phân phối
Gồm 298 chi nhánh và phòng giao dịch tại những vùng kinh tế phát triển trên toàn quốc
Công ty trực thuộc
• Công ty Chứng khoán ACB (ACBS)
• Công ty Quản lý và khai thác tài sản Ngân hàng Á Châu (ACBA)
• Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu (ACBL)
• Công ty Quản lý Quỹ ACB (ACBC)
Công ty liên kết
• Công ty Cổ phần Dịch vụ Bảo vệ Ngân hàng Á Châu (ACBD)
• Công ty Cổ phần Địa ốc ACB (ACBR)
Công ty liên doanh
Công ty Cổ phần Sài Gòn Kim hoàn ACB- SJC (góp vốn thành lập với SJC)
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - SACOMBANK
Trang 25Tháng 5/2008, Tập đoàn Sacombank hình thành với 11 thành viên ban đầu hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực tài chính-tiền tệ với định hướng trở thành Tập đoàn kinh tế đa chức năng, đa sở hữu có quy mô tổng tài sản lớn trong nước và trong khu vực.
Công ty thành viên
Trang 26Quản trị Ngân hàng TS Hoàng Công Gia Khánh
và mua bán nợ; quản chấp hàng cầm cố; thẩm định giá; dịch vụ công chứng, hợp thức hóa bất động sản
3 Sacombank-SBRCty Kiều hối NH
5 Sacombank-SBJCty Vàng bạc đá
quý NH SGTT
28/11/2008 250 tỷ www.sacombank-sbj.com
Sản xuất, kinh doanh vàng miếng Thần tài
Sacombank; thiết
kế, sản xuất trang sức SBJ; dịch vụ khắc laser, giám định đá quý, phân kim, phân tích hàm lượng vàng
và thiết bị viễn thông trong các cửa hàng chuyên doanh
Tư vấn máy vi tính
và quản trị hệ thống máy tính Cho thuê máy móc, thiết bị,
và đồ dùng hữu hình khác
26