1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CÁC tập đoàn KINH tế NHÀ nước và tái cấu TRÚC KHU vực KINH tế NHÀ nước

37 332 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Tập Đoàn Kinh Tế Nhà Nước Và Tái Cấu Trúc Khu Vực Kinh Tế Nhà Nước
Tác giả Nguyễn Thị Hiên, Trần Thị Bích Ngọc, Lê Hoàng Bảo Ngọc, Huỳnh Thiện Thảo Nguyên, Trần Văn Nhị, Bùi Thị Nhung, Phạm Thị Anh Thức, Trịnh Yến Oanh, Phạm Hoàng Oanh, Nguyễn Hoài Phong, Phan Vũ Phong, Trần Thị Minh Phương, Trần Thị Thu Phương, Trịnh Thế Phương, Phan Tiến Quân, Nguyễn Thị Quyên, Nguyễn Thị Băng Thanh, Đào Nguyên Thảo, Nguyễn Tất Thắng, Trần Minh Thắng, Huỳnh Thị Thiện, Đỗ Quốc Thịnh
Người hướng dẫn TS. Dương Thị Bình Minh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài Chính Tiền Tệ
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 310 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó để cải thiện năng lực cạnh tranh của các Doanh Nghiệp nhằm đối phó với làn sóng toàn cầu hóa đang hiện hữu tại Việt Nam thì việc chuyển đổi hình thức từ Tổng Công ty nhà nước thành

Trang 1

PHÒNG ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

Trang 2

DANH SÁCH THÀNH VIÊN

4 Huỳnh Thiện Thảo Nguyên 003939

17 Nguyễn Thị Băng Thanh 005251

Trang 3

PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1 PHẦN II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ

2.Tái cấu trúc bản thân (nội bộ) Doanh nghiệp Nhà nước 21

Trang 4

rên thế giới, các Tập đoàn kinh tế ra đời từ lâu do xu hướng tích tụ, tập trung sản xuất và cạnh tranh gay gắt giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh nhằm thống lĩnh thị trường nhờ lợi thế về quy mô Hiện nay sức mạnh tài chính, công nghệ và thị trường đang thực sự nằm trong tay các Tập đoàn kinh tế lớn Vì vậy, việc xuất hiện ngày càng nhiều các Tập đoàn kinh tế hoạt động xuyên quốc gia trở thành một xu hướng tất yếu của quá trình toàn cầu hóa kinh tế Trong quá trình đầy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam cũng cần có những Tập đoàn kinh tế làm đối trọng, đủ sức cạnh tranh quốc tế Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đề ra chủ trương xây dựng một số Tập đoàn kinh tế dựa trên hình thức công ty cổ phần Việc hình thành các Tập đoàn kinh tế ở nước ta vừa tuân thủ quy luật phổ biến, vừa có tính đặc thù của một quốc gia đi sau Do đó, quá trình này tất yếu nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp từ nhận thức, quan điểm đến việc tổ chức thực hiện Trong khuôn khổ của một đề tài tiểu luận, nhóm xin trình bày một số vấn đề cơ bản trong quá trình thực tế đang diễn ra trong những năm gần đây của các tập đoàn kinh tế Nhà nước nói riêng và khu vực kinh tế Nhà nước nói chung.

T

Trang 5

PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

Trang 6

A TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC

1 Khái niệm

- Khái niệm Tập đoàn kinh tế được hiểu là là nhóm các công ty liên kết chủ yếu

dưới hình thức công ty mẹ- công ty con, có từ 2 cấp doanh nghiệp trở lên, gắn

bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh

doanh khác

- Trong đó, Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ giữ vai trò

chi phối hoặc ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đối với các doanh nghiệp thành viên Tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân, không có vốn và tài sản chung

2 Mục tiêu thành lập

- Tập trung đầu tư và huy động các nguồn lực hình thành nhóm công ty có quy

mô lớn trong các ngành, lĩnh vực then chốt, phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế

- Thực hiện vai trò chi phối, bảo đảm việc sản xuất, cung ứng các sản phẩm hàng

hóa, dịch vụ thiết yếu cho nền kinh tế; là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, bảo đảm cân đối cung – cầu và giữ ổn định giá các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ thiết yếu cho nền kinh tế để bình ổn thị trường, kiềm chế lạm phát, chống giảm phát…

- Bảo đảm cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân, ứng dụng công nghệ cao, tạo

động lực phát triển cho các ngành, các lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế, thúc đẩy liên kết trong chuỗi giá trị gia tăng, phát triển các thành phần kinh tế khác

- Là đầu tàu đi trước, mở đầu, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp

thuộc tất cả các thành phần kinh tế phát triển

- Cùng với việc tập trung mở rộng phát triển ở trong nước, các tập đoàn kinh tế

đã vươn ra đầu tư mạnh ở nước ngoài, thương hiệu ngày càng được khẳng định, góp phần tạo dựng được hình ảnh và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới

- Tăng cường quản lý, giám sát có hiệu quả đối với vốn, tài sản nhà nước đầu tư

tại các doanh nghiệp trong tập đoàn

- Tạo cơ sở để hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp luật về tập đoàn kinh tế.

B KHU VỰC KINH TẾ NHÀ NƯỚC VÀ TÁI CẤU TRÚC KHU VỰC KINH

TẾ NHÀ NƯỚC

Trang 7

1. Khu vực kinh tế nhà nước: Có vai trò là một công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà

nước Định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy

các thành phần kinh tế cùng phát triển

2 Tái cấu trúc khu vực kinh tế nhà nước

Tái cấu trúc khu vực kinh tế nhà nước theo yêu cầu hiện đại và phát triển bền vững là quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng chủ yếu từ dựa vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng là vốn, sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu (chủ yếu dựa vào các nhân tố năng suất tổng hợp, như khoa học công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao và kỹ năng quản lý hiện đại, qua đó mà nâng cao mức đóng góp của các yếu tố này vào tăng trưởng).

Đặc điểm:

Để tái cấu trúc khu vực kinh tế nhà nước, chuyển đổi mô hình tăng trưởng cần xác định những tiền đề như: Hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường, gắn với cải cách hành chính, phát triển mạnh thị trường công nghệ; tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, xóa bỏ độc quyền, kiểm soát độc quyền tự nhiên; phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao Tăng trưởng trong tương lai của Việt Nam phải có bước đột phá về năng suất, hậu thuẫn bởi kỹ năng và công nghệ Đặc biệt, quá trình tái cơ cấu nền kinh tế phải được thực hiện một cách có hệ thống, bài bản và đặc biệt có sự đồng thuận của toàn xã hội

Tái cấu trúc nền kinh tế có thể thực hiện theo các hướng sau:

- Tái cấu trúc theo ngành hàng

- Phân bổ nguồn lực hợp lý

- Tái cấu trúc theo hướng chú trọng chất lượng

Trang 8

PHẦN II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÁC TẬP ĐOÀN KINH

TẾ NHÀ NƯỚC VÀ TÁI CẤU TRÚC KHU VỰC KINH TẾ NHÀ

NƯỚC

Trang 9

A TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC

Đến năm 2005, cả nước đã có 17 Tổng Công ty 91 và 77 Tổng Công ty 90, so với khu vực doanh nghiệp nhà nước thì Tổng Công ty nhà nước chiếm khoảng 50% tổng giá trị sản phẩm, 28,4% tổng số Doanh nghiệp, nẳm giữ khoảng 65% về vốn và 61% về lao động Tuy nhiên mô hình Tổng Công ty đã bộc lộ một số nhược điểm sau:

- Chưa xây dựng được chiến lược kinh doanh, tổ chức và điều hành

- Mô hình quản lý, cơ chế tổ chức chưa rõ ràng Mối quan hệ giữ Tổng Công ty và các Doanh Nghiệp thành viên là quan hệ quản lý hành chính nên hạn chế quyền tự chủ kinh doanh của các Doanh Nghiệp thành viên Quản trị vốn và bảo toàn vốn của nhà nước còn nhiều khó khăn Khả năng tài chính của các Tổng Công ty còn hạn chế và phụ thuộc vào nguồn vốn ngân sách nhà nước

- Hạn chế trong việc xác định trách nhiệm (người trực tiếp điều hành không có quyền

tự chủ và không chịu trách nhiệm về kết quả điều hành) Hệ thống thanh tra kiểm soát thiếu chặt chẽ làm thất thoát vốn và kinh doanh kém hiệu quả

- Xuất hiện hiện tượng độc quyền trong một số lĩnh vực làm giảm khả năng cạnh tranh của nền kinh tế

Do đó để cải thiện năng lực cạnh tranh của các Doanh Nghiệp nhằm đối phó với làn sóng toàn cầu hóa đang hiện hữu tại Việt Nam thì việc chuyển đổi hình thức từ Tổng Công ty nhà nước thành các Tập Đoàn Kinh Tế là tất yếu.Năm 2005 đã thành lập ba tập đoàn ( TĐCN Than- Khoáng sản Việt Nam, TĐ dệt may Việt Nam, TĐ Bảo Việt )

- Quy mô và khả năng tích tụ vốn của các Tập đoàn kinh tế Việt Nam còn hạn chế, phạm vi hoạt động nhỏ hẹp

- Hợp tác và liên kết kinh doanh giữa các đơn vị trong Tập đoàn kinh tế chưa cao, chưa thể hiện được bản chất kinh tế của Tập đoàn kinh tế

2 Cơ cấu tổ chức, hoạt động

Cơ cấu nội tại của Tập đoàn kinh tế nhà nước như sau:

Trang 10

Tập đoàn kinh tế nhà nước được tổ chức theo mô hình công ty mẹ - công ty con, do Nhà nước giữ 100% vốn hoặc giữ quyền chi phối theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Thực chất, các Tập đoàn kinh tế Nhà nước thuộc sở hữu toàn dân Chính phủ

là người đại diện thực hiện quyền sở hữu toàn dân đó Tuy nhiên, chính phủ không thể trực tiếp thực hiện quyền của chủ sở hữu nên Chính phủ cử ra Hội đồng quản trị làm đại diện Ở đây xuất hiện một số vấn đề Trước hết là mối quan hệ giữa chủ

sở hữu và bên đại diện chủ sở hữu Hiện không có quy định nào thể hiện sự giám sát tập thể của chủ sở hữu Nhà nước đối với đại diện chủ sở hữu Do đó, Tập đoàn

có rất nhiều chủ, nhưng thực tế các ông chủ này chỉ quản lý các Tập đoàn về mặt hành chính, không có chủ sở hữu đích thực Chính vì có quá nhiều chủ nên trở thành vô chủ Thực trạng này dẫn đến không có ai chịu trách nhiệm cuối cùng về hiệu quả hay sự đi lên, hay đi xuống của các Tập đoàn kinh tế Nhà nước

Bên cạnh đó, cũng không có cơ chế giám sát của toàn dân trong quá trình hoạt động của Tập đoàn mà vốn thuộc sở hữu toàn dân Nhân dân chỉ có thể giám sát kết quả hoạt động nếu kết quả ấy được báo cáo công khai theo một quy định chặt chẽ Trên thực tế thì Hội đồng quản trị chỉ lập báo cáo định kỳ hoặc báo cáo theo yêu cầu của Thủ tướng, nhưng các báo cáo này được xử lý, thẩm định thế nào thì chưa rõ ràng, và cũng không được công khai như mong muốn của toàn dân

Tiếp theo là thành phần Hội đồng quản trị Hiện nay, thành phần này phần lớn

là cán bộ quản lý Doanh nghiệp Họ có lợi ích gắn chặt với lợi ích của Doanh nghiệp và thường là những lợi ích ngắn hạn sẽ chi phối quyết định của họ Việc này sẽ có ảnh hưởng lớn đến khả năng thực hiện những mục tiêu chiến lược dài hạn và trong nhiều trường hợp là xung đột với lợi ích của chủ sở hữu Trong thành

NHÀ NƯỚC

TẬP ĐOÀN

Các Công ty con và Công ty liên kết

Trang 11

phần Hội đồng quản trị của những Tập đoàn quan trọng có một số thành viên từ các Bộ, ngành Sự tham gia của các thành viên này cũng dẫn đến hệ lụy là xung đột lợi ích giữa chủ sở hữu và lợi ích của chính Doanh nghiệp thể hiện ở việc thiên

vị Doanh nghiệp, làm méo mó chính sách quản lý của Nhà nước

Tóm lại, với cơ cấu như trên thì Tập đoàn kinh tế Nhà nước thể bộc lộ nhiều điểm thiếu sót về tổ chức, quản lý điều hành trong Tập đoàn, vấn đề quản lý cũng như các quy định về quản lý đầu tư trong Tập đoàn kinh tế Nhà nước quản lý, các quy định về đầu tư kinh doanh cùng chế độ trách nhiệm của Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc trong các Tập đoàn cần phải được xem xét hoàn thiện để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh Cần nhấn mạnh rằng, không có bằng chứng lý thuyết nào khẳng định Doanh nghiệp Nhà nước là không hiệu quả dù trên thực tế nhiều Doanh nghiệp Nhà nước rất kém hiệu quả Nhưng cũng có nhiều Doanh Nghiệp hoạt động rất hiệu quả Vấn đề là nằm ở khâu quản trị Doanh nghiệp và cơ chế quản lý quá trình quản trị đó

3 Công tác kiểm tra, giám sát

Mặc dù các TĐKT được kỳ vọng là đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta, nhưng thực tế cho thấy hoạt động của chúng vẫn còn chứa đựng nhiều yếu kém, nhiều bất cập cần phải cải thiện Tuy nhiên những yếu điểm, những sai sót này hầu như chỉ được đưa ra "mổ xẻ", xử lý và giải quyết khi đã có hậu quả nghiêm trọng xảy ra Điều này minh chứng cho sự lỏng lẻo và kém hiệu quả của công tác kiểm soát và giám sát của các bên có liên quan đặc biệt là sự giám sát của chủ sở hữu là Nhà Nước, sự thiếu trách nhiệm của các bên tham gia quá trình giám sát cũng như những bất cập trong cơ chế, chính sách về quản lý vốn và tài sản của nhà nước tại các tập đoàn này Sau đây là một số những tồn tại chủ yếu:

Trang 12

3.1. Hệ thống giám sát:

Theo quy định của Nhà nước cũng như nhu cầu thực tiễn thì hệ thống kiểm soát giám sát của một công ty mà chủ sở hữu không là người trực tiếp quản lý nên được tổ chức thành ba cấp bậc như sau:

-Ban Kiểm Soát Cấp 1 (BKS1): thực hiện chức năng giám sát của Chủ Sở Hữu (Nhà Nước) đối với Đại Diện Chủ Sở Hữu ( Hội Đồng Quản Trị)

-Ban Kiểm Soát Cấp 2 (BKS2): thực hiện chức năng giám sát của Đại Diện Chủ

Sở Hữu (Hội Đồng Quản Trị) đối với Ban Tổng Giám Đốc

-Ban Kiểm Soát Cấp 3 (BKS3): thực hiện chức năng giám sát của Ban Tổng Giám Đốc đối với Công ty con, liên doanh liên kết hay các đơn vị chức năng

Tuy nhiên trong cơ cấu tổ chức của các tập đoàn hiện nay đều không thấy sự

có mặt BKS3 Dường như Ban TGĐ công ty không quan tâm đến vấn đề này hoặc

họ cho rằng họ đã có BKS2 làm công việc này rồi, nhưng đây là một quan niệm sai lầm vì BKS2 là công cụ để HĐQT giám sát hoạt động của Ban TGĐ do đó mà họ

sẽ có những mục tiêu giám sát đôi khi khác với mục tiêu của Ban Giám Đốc

Thiếu sự rõ ràng và nhất quán trong vấn đề BKS Trên thực tế, mỗi tập đoàn đều có BKS Tuy nhiên, theo như Chủ tịch HĐQT của một tập đoàn nói: "Trưởng BKS của tập đoàn do Thủ Tướng bổ nhiệm và có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát hoạt động đầu tư, kinh doanh của các tập đoàn và báo cáo cho cơ quan quản lý cấp trên" (1), điều này có nghĩa là đây là BKS của Chính phủ dùng để giám sát hoạt động của các tập đoàn thì theo mô hình ở trên thì phải thuộc loại BKS1 Nhưng trên thực tế, trong cơ cấu tổ chức của các tập đoàn thì BKS này lại trực thuộc HĐQT nghĩa là thuộc loại BKS2 Hệ lụy của sự không nhất quán này là sự kém hiệu quả của công tác giám sát

Sự nhập nhằng còn thể hiện ở điểm nếu HĐQT xem hoạt động của BKS là phục vụ cho mục tiêu giám sát của cơ quan quản lý cấp trên, nhưng lại có thành viên HĐQT trong BKS Điều này sẽ dẫn đến thiếu sự khách quan trong quá trình kiểm soát Nhưng nếu HĐQT xem là phục vụ cho mục tiêu giám sát của HĐQT đối với Ban TGĐ thì lại càng không ổn vì HĐQT vừa lại có thành viên trong BKS vừa có thành viên trong Ban TGĐ (thông thường Chủ tịch HĐQT lại là TGĐ của tập đoàn), chính điểm này sẽ dẫn đến BKS bị chi phối thậm chí bị vô hiệu hóa

Trang 13

Ngoài ra, Nhà nước còn giám sát thông qua các cơ quan thanh tra Nhà nước, kiểm toán Nhà nước Tuy nhiên, việc thanh tra và kiểm toán không phải là quy định bắt buộc và mang tính định kỳ mà thông thường chỉ tiến hành khi có dấu hiệu bất thường nào đó ở các đơn vị.

3.2. Quy trình giám sát:

-Việc Nhà nước giao cho các Bộ quản lý ngành, Bộ Tài Chính giám sát hoạt động kinh doanh, quản lý vốn của các tập đoàn đã thể hiện nhiều nhược điểm: bộ chủ quản chỉ quản lý chuyên ngành, việc quản lý đồng vốn, quản trị doanh nghiệp nằm ngoài chuyên môn của họ do đó quá trình giám sát nặng về tính hành chính và sẽ không sâu sát với các hoạt động của các tập đoàn là một tất yếu; chưa kể đến là việc giao quyền giám sát cho nhiều bên dẫn đến tình trạng việc thanh tra, kiểm tra còn trùng lấp giữa các bộ ngành

-Báo cáo tài chính hợp nhất của tập đoàn là một công cụ quan trọng để các bên có liên quan có thể giám sát kết quả hoạt động của tập đoàn, nhưng hiện các DNNN chưa bắt buộc phải thực hiện chế độ kiểm toán định kỳ Không có kiểm toán độc lập, các báo cáo tài chính của các TĐKT chưa được kiểm chứng

do vậy mà chưa thể hoàn toàn tin cậy, mà chỉ mang tính tham khảo

-Quy chế về báo cáo đầu tư, về tình hình sản xuất kinh doanh định kỳ cũng không thống nhất, mà tùy thuộc vào từng cơ quan cụ thể được ủy quyền Thông thường, báo cáo chỉ phải làm mỗi năm một lần, nhưng đa phần mang tính thủ tục nên chất lượng báo cáo không cao, độ tin cậy thấp Thêm vào đó, hiện nay cũng chưa có một quy định mang tính pháp lý nào liên quan đến việc kiểm tra, giám sát các hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước nói chung và tập đoàn kinh tế nói riêng

-Hệ thống các mục tiêu cần kiểm soát chưa được cụ thể hóa và còn sơ sài, chưa phản ánh hết được tình hình sử dụng và quản lý tài chính cũng như hiệu quả của nó

-Quá trình giám sát thường chỉ dừng lại ở việc nêu ra những sai phạm và kiến nghị đối với những sai phạm này nhưng lại thiếu công tác dự báo và kiểm soát những rủi ro tiềm ẩn của hoạt động tài chính để có biện pháp ứng phó linh hoạt

Trang 14

-Bên cạnh các yêu cầu về chuyên môn, khách quan là một trong những phẩm chất quan trọng của người được giao nhiệm vụ giám sát Tuy nhiên, với các mối ràng buộc trong công việc của BKS như đã phân tích ở mục 1, thì chất lượng của quá trình giám sát sẽ bị chi phối.

-Hiệu quả hoạt động của các cơ quan giám sát quá yếu, chưa làm tròn trách nhiệm của mình, tất cả những phát hiện sai phạm và kiến nghị chỉ dừng lại trên báo cáo mà chưa làm cho chúng được thực hiện

4 Hoạt động kinh doanh, sử dụng vốn của các tập đoàn kinh tế Việt Nam hiện nay

Một số mặt đã đạt được :

 Kinh doanh có lãi:

Theo báo cáo của các TĐKTNN kết quả kinh doanh của các tập đoàn trong các năm qua đều có lãi kể từ khi thành lập, ngoại trừ Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Vinashin lỗ 1.600 tỷ đồng năm 2009 và Tập đoàn Điện lực lỗ 8.596 tỷ đồng năm

2010 (Phụ lục 1) Năm 2008 lợi nhuận sau thuế của 8 tập đoàn kinh tế là 44.153

tỷ đồng, chiếm 63,7% tổng lợi nhuận sau thuế của các tập đoàn, tổng công ty Năm 2010, trong tổng lợi nhuận trước thuế của 21 tập đoàn, tổng công ty 91 là 70.778 tỷ đồng thì có đến 80% tổng lợi nhuận là của 4 tập đoàn: Dầu khí, Viễn thông Quân đội, Bưu chính Viễn thông và Cao su

 Quy mô về vốn lớn so với các tổng công ty, thành phần kinh tế khác trong nước:

Các tập đoàn đã huy động được một lượng vốn khá lớn từ các thành phần kinh tế khác, thông qua việc cổ phần hoá các công ty thành viên của tập đoàn và thành lập mới các công ty cổ phần Trong Bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam (VNR500) do Công ty cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam (VietNam Report) kết hợp với Báo điện tử VietNamNet công bố có thể thấy các TĐKTNN chiếm vị trí dẫn đầu về quy mô và doanh thu trong các năm qua như: Tập đoàn Dầu khí, Điện lực, Bưu chính viễn thông, Than – Khoáng Sản, Viễn thông quân đội.

ĐVT: tỷ đồngDoanh thu 2010 % tăng so với năm 2009

Trang 15

Tập đoàn Viettel 91.561 52

 Tỷ suất lợi nhuận /vốn chủ sở hữu: đạt mức cao ở một số tập đoàn như: tập

đoàn Dầu khí bình quân từ năm 2006 đến 2010 là 20%/năm, tập đoàn Viettel là 48,3% trong năm 2010

 Đóng góp cho NSNN: trong năm 2010 tập đoàn Dầu khí là tập đoàn dẫn đầu

trong các tập đoàn, tổng công ty về nộp cho NSNN với 128.700 tỷ đồng chiếm khoảng 6,5% GDP và 25% NSNN Ngoài ra các tập đoàn khác cũng đóng góp đáng kể cho NSNN như: VNPT 8.450 tỷ đồng, Viettel 7.628 tỷ đồng, Tập đoàn Cao Su 7.104 tỷ đồng, Tập đoàn Phát triển nhà và đô thị VN 2.370 tỷ đồng.Một số TĐKT đã đầu tư mở rộng tầm hoạt động, phát triển ngành nghề phụ trợ, không chỉ tập trung đầu tư trong nước mà bước đầu vươn ra đầu tư ở nước ngoài, tạo dựng được hình ảnh của Việt Nam trong một số lĩnh vực đối với khu vực và trên thế giới như: tập đoàn Viettel, VNPT, Điện lực, Dầu khí

Tóm lại, trong thời gian 5 năm hoạt động các TĐKTNN đã góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế, đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đóng vai trò quan trọng trong ổn định, điều tiết thị trường trong nước… Tuy nhiên TĐKTNN vẫn còn là mô hình kinh

tế khá mới mẻ ở Việt Nam nên không tránh khỏi có những tồn tại trong hoạt động

Một số mặt còn hạn chế trong hoạt động tài chính, kinh doanh

 Quy mô vốn chủ sở hữu của các Tập đoàn còn quá nhỏ bé so với yêu cầu

phát triển và hội nhập: Tuy vốn đã tăng lên đáng kể so với trước đây nhưng vẫn còn rất nhỏ bé so với các TĐKT các nước trên thế giới Tổng vốn chủ sở hữu của các TĐKT năm 2008 tăng gấp ruỡi so với 2 năm trước đó, nhưng mới đạt hơn 300.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 20 tỷ USD Tập đoàn PVN có mức vốn chủ sở hữu lớn nhất chiếm tới hơn 45% tổng vốn chủ sở hữu của các tập đoàn cũng chỉ đạt mức gần 145 nghìn tỷ đồng Riêng mức vốn chủ sở hữu của Tập đoàn PVN và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã chiếm gần 70% tổng số vốn chủ sở hữu của tất cả các TĐKT Quy mô vốn nhỏ bé của các Tập đoàn cùng với hiệu quả hoạt động chưa cao sẽ hạn chế khả năng cạnh tranh của nhiều tập đoàn trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 16

 Hiệu quả hoạt động của các TĐKT còn chưa tương xứng với nguồn lực được đầu tư:

Quy mô vốn chủ sở hữu của 21 tập đoàn, tổng công ty 91 trong năm 2010 là 540.701 tỷ đồng, tăng 11,75% so với năm 2009 Trong khi đó, tổng lợi nhuận trước thuế là 70.778 tỷ đồng Như vậy, chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế trên vốn chủ sở hữu chỉ đạt khoảng 13,1%, thấp hơn nhiều so với lãi suất vay ngân hàng thương mại trong năm vừa qua

Hơn thế nữa, như đã nói ở trên trong số lợi nhuận của 21 tập đoàn, tổng công ty 91 thì có đến 80% tổng số lợi nhuận trước thuế đến từ 4 tập đoàn là Dầu khí, Viễn thông Quân đội, Bưu chính Viễn thông và Cao su Như vậy, số lợi nhuận còn lại là 14.154 tỷ đồng thuộc về 17 tập đoàn, tổng công ty còn lại, cho thấy tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của các tập đoàn, tổng công ty còn lại còn thấp hơn nữa

Cũng trong năm 2010, 21 tập đoàn, tổng công ty 91 đã nộp ngân sách nhà nước đạt 173.549 tỷ đồng, tăng 31% so với thực hiện năm 2009 Đối chiếu với tổng thu ngân sách được Bộ Tài chính công bố là 528,1 nghìn tỷ đồng, khoản trên chỉ chiếm khoảng 32,9%

 Đầu tư dàn trải, kém hiệu quả:

Năm 2008 Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo, các TĐKT, Tổng công ty nhà nước phải đầu tư vào các ngành nghề kinh doanh chính không thấp hơn 70%; đối với các ngành nghề kinh doanh hỗ trợ khác phải là các ngành nghề liên quan, trên cơ sở điều kiện, lợi thế của ngành nghề kinh doanh chính và không vượt quá 30%

Thực tế mục tiêu phát triển của các Tập đoàn đa ngành, đa lĩnh vực đã thực hiện sai lệch Nhiều Tập đoàn đầu tư sang các lĩnh vực khác hẳn với ngành nghề kinh doanh chính, khiến cho nguồn lực vốn rất nhỏ bé của Tập đoàn lại bị phân tán Đặc biệt nhiều Tập đoàn đã cùng đầu tư vào các lĩnh vực nhiều rủi ro như chứng khoán, bất động sản và vào các lĩnh vực chuyên ngành đặc thù như ngân hàng, bảo hiểm

Năm 2007, EVN đầu tư vào lĩnh vực tài chính khoảng 2.146 tỉ đồng Năm 2008, EVN đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán là 214 tỉ đồng, các tập đoàn góp vốn vào quỹ đầu tư của Tập đoàn Dầu khí 368,9 tỷ đồng; Tập đoàn Cao su VN 271 tỷ đồng; Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy 144 tỷ đồng nhưng đều không phát sinh lợi nhuận Trong năm 2009 công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt (BVSC) lỗ hơn 122 tỉ đồng, quỹ đầu tư chứng khoán Việt Long lỗ trên 112,8 tỉ đồng

Trang 17

 Tỷ lệ nợ trên vốn ngày càng cao:

Hiện nay, một số tập đoàn có số vốn thực rất ít, phần lớn là vốn vay ngân hàng với

tỷ lệ nợ trên vốn còn quá cao, dẫn đến độ rủi ro lớn, khả năng thanh toán nợ thấp Đến tháng 12/2008, theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, tổng nợ tổ chức tín dụng của 7/8 tập đoàn, gồm: Tập đoàn Dầu khí, Điện lực, Công nghiệp tàu thủy, Công nghiệp Than – Khoáng sản, Công nghiệp Cao su, Bưu chính Viễn thông, Dệt may là 128.786 tỷ đồng, tăng 20,54% so với cuối năm 2007 và chiếm tới gần 10% tổng nợ tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế, trong đó chủ yếu là nợ trung, dài hạn với 109.940 tỷ đồng, chiếm 85% tổng nợ Số nợ trên chủ yếu thuộc về 3 tập đoàn lớn: Tập đoàn Điện lực chiếm lớn nhất (tới 51,84%) với 66.764 tỷ đồng; Tập đoàn Dầu khí nợ 21.477 tỷ đồng (chiếm 16,67%); Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy nợ 19.885 tỷ đồng (chiếm 15,44%) Trong đó nợ quá hạn của cả 7 tập đoàn là 4.168 tỷ đồng, nợ có khả năng mất vốn chiếm 15% tổng số nợ quá hạn Tập đoàn Vinashin

có số nợ quá hạn là 3.812 tỷ đồng, chiếm 19,17% dư nợ của tập đoàn và chiếm 91,4% tổng số nợ quá hạn của cả bảy tập đoàn Trong năm 2008, Tập đoàn công nghiệp Tàu Thủy có tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu là 10,9 đến năm 2010 tỷ lệ này tăng lên 20,8 trong khi tỷ lệ quy định là 3 thì tỷ lệ này là quá cao cùng với hoạt động kém hiệu quả dẫn đến sự phá sản của Vinashin trong thời gian qua

Những khoản cho vay của các công ty tài chính, ngân hàng có vốn góp của các tập đoàn chứa nhiều rủi ro vì các điều kiện và thủ tục vay vốn rất đơn giản như không bắt buộc phải có đủ tài sản đảm bảo cho khoản vay, chưa kể những khoản cho vay này còn có nhiều ưu đãi Ngoài ra, một số tập đoàn như Tập đoàn Dầu khí, Bảo Việt kiểm soát một số ngân hàng đã dùng ngân hàng của mình tài trợ cho các dự án đầu

tư của mình, dẫn tới việc lạm dụng khoản vay trong khi việc đầu tư quá mức của các tập đoàn chưa thực sự tính kỹ đến hiệu quả

 Cơ chế quản lý tài chính chưa hiệu quả:

Cơ chế thực hiện quyền chủ sở hữu của nhà nước đối với tài sản đầu tư vào kinh doanh chưa tách bạch rõ ràng giữa quản lý của chủ sở hữu với quản lý của nhà nước Hiện nay, cơ chế thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu Nhà nước đối với vốn đầu tư vào tập đoàn vẫn bị phân tán thành nhiều đầu mối, trong đó có Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ quản lý chuyên ngành, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ Đặc

Trang 18

khác nhau với nhiều quan hệ như giữa quyết định nhân sự và quản lý tài chính; giữa quy hoạch, đầu tư và cấp nguồn tài chính… Điều này làm cho bản thân Bộ, ngành, được giao làm đại diện chủ sở hữu Nhà nước cũng không được toàn quyền quyết định những vấn đề trong phạm vi chủ sở hữu.

Việc quản trị trong các TĐKT vẫn còn mang nhiều ảnh hưởng của cơ chế DNNN trước đây Ở một vài Tập đoàn, Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc chậm xây dựng, ban hành các quy chế quản lý nội bộ nên vẫn còn hoạt động theo nếp cũ khi còn là tổng công ty Trong các TĐKT, vẫn còn những đơn vị thành viên tổ chức và hoạt động theo Luật DNNN, không phù hợp quy định về hình thức công ty mẹ – công ty con là các đơn vị thành viên chuyển sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp

Có một số trường hợp, công ty con đầu tư ngược trở lại công ty mẹ, công ty mẹ góp vốn chi phối cả ở các công ty cháu làm cho quan hệ đầu tư phức tạp, chồng chéo

Có những trường hợp Công ty con phải gánh chịu cho Công ty mẹ những khoản đầu

tư không hiệu quả dẫn đến nguy cơ thua lỗ, phá sản của Công ty con

Quy định về phần lợi nhuận của các công ty con phải nộp cho các tập đoàn kinh tế nhà nước còn kẽ hở ở chỗ các khoản lợi nhuận sau thuế đáng lẽ phải nộp cho các tập đoàn kinh tế nhà nước, nhưng phần lớn vẫn còn “treo” tại các công ty con Theo quy định lợi nhuận sau khi đã được chia cho các thành viên góp vốn, cũng như đã trích lập các quỹ theo qui định, sẽ được phân chia theo tỷ lệ góp vốn nhà nước tại công ty và vốn công ty tự huy động bình quân trong năm Tuy nhiên, để có thể giữ lại phần lợi nhuận được phân chia nhiều hơn, không ít các công ty con đã phải

“lách” bằng cách tạo ra các hợp đồng vay mượn, dù trên thực tế không có nhu cầu Động cơ mong muốn có được thu nhập nhiều hơn đã tạo ra các phản tác dụng về mặt tài chính: trên bình diện tồng thể, tập đoàn kinh tế nhà nước đã vô tình tự làm giảm giá trị tổng thu nhập của mình từ việc phải trả các khoản lãi vay “vô lý” cho các công ty con

B THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN TÁI CẤU TRÚC KHU VỰC KINH TẾ NHÀ NƯỚC

1 Quá trình tái cấu trúc khu vực kinh tế nhà nước từ năm 2000 đến nay

1.1 Cổ phần hóa:

Tái cấu trúc khu vực kinh tế Nhà nước mà trọng tâm là cổ phần hóa DNNN được coi là xương sống của công cuộc đổi mới về kinh tế Theo đó là đổi mới cơ

Ngày đăng: 26/12/2013, 11:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w