Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy rằng bột đậu tương có khả năng thay thế một phần khá lớn bột cá trong công thức sản xuất thức ăn thủy sản và ứng dụng được cho nhiều loài thủy sản nuôi khá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
- -
NGUYỄN THỊ HOA
THỬ NGHIỆM SỬ DỤNG BỘT ĐẬU TƯƠNG TRONG
QUY TRÌNH XỬ LÝ CÁ RÔ PHI (Oreochromis niloticus)
ĐƠN TÍNH ĐỰC 21 NGÀY TUỔI BẰNG HORMONE
17 -METHYLTESTOSTERONE
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
- -
THỬ NGHIỆM SỬ DỤNG BỘT ĐẬU TƯƠNG TRONG
QUY TRÌNH XỬ LÝ CÁ RÔ PHI (Oreochromis niloticus)
ĐƠN TÍNH ĐỰC 21 NGÀY TUỔI BẰNG HORMONE
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ, quan tâm quý báu của nhiều tập thể và cá nhân
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ThS Tạ Thị Bình đã rất tận tình hướng dẫn chỉ bảo tôi trong suốt thời gian thực tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Trần Thị Thúy Hà cùng cán bộ và công nhân thuộc phòng Di truyền - Chọn giống - Viện Nghiên cứu Nuôi Trồng Thủy Sản 1 đã trực tiếp giúp đỡ, tạo điều kiện về cơ sở vật chất và trang thiết bị để tôi hoàn thành đồ án tốt nghiệp này
Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, lãnh đạo trường Đại học Vinh, Ban chủ nhiệm khoa Nông Lâm Ngư, tổ bộ môn Nuôi trồng thuỷ sản đã tạo điều kiên giúp đỡ về mọi mặt cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường, giúp đỡ tôi về cơ sở vật chất, điều kiện nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Tôi xin cảm ơn cảm ơn các bạn, các em cùng thực tâp tại cơ sở đã giúp
đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi xin trân trọng cảm ơn người thân trong gia đình, bạn bè gần xa đã nhiệt tình ủng hộ và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Vinh, tháng 7 năm 2011
Nguyễn Thị Hoa
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số nét về cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) 3
1.1.1 Phân loại 3
1.1.2 Nguồn gốc và phân bố tự nhiên của cá rô phi vằn 3
1.1.3 Đặc điểm hình thái 4
1.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 5
1.2 Một số vấn đề về dinh dưỡng của cá rô phi 7
1.2.1 Thức ăn cho cá rô phi 7
1.2.2 Nhu cầu dinh dưỡng của cá rô phi 8
1.2.3 Khẩu phần ăn của cá 9
1.2.4 Tần suất cho ăn 10
1.3 Chất lượng nước và các yếu tố môi trường ảnh hưởng tới cá rô phi 10
1.3.1 Nhiệt độ 10
1.3.2 Oxy hoà tan (DO) 10
1.3.3 Độ pH 11
1.4 Sơ lược tình hình sản xuất cá rô phi trên thế giới và trong nước 11
1.4.1 Tình hình sản xuất cá rô phi trên thế giới 11
1.4.2 Tình hình sản xuất cá rô phi trong nước 12
1.5 Một số nét về cây đậu tương và giá trị dinh dưỡng của hạt đậu tương 15
1.5.1 Giá trị dinh dưỡng của cây đậu tương 15
Trang 51.5.2 Tình hình trồng và sản xuất đậu tương trên thế giới 16
1.5.3 Tình hình sản xuất đậu tương ở trong nước 17
1.6 Tình nghiên cứu về thức ăn thay thế bột cá 18
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng thí nghiệm 23
2.2 Vật liệu thí nghiệm 23
2.2.1 Dụng cụ thí nghiệm 23
2.2.2 Thức ăn 23
2.3 Sơ đồ khối nghiên cứu 24
2.4 Phương pháp bố trí thí nghiệm 25
2.5 Các chỉ tiêu so sánh và phương pháp xác định 25
2.5.1 Các yếu tố môi trường 25
2.5.2 Khối lượng cá rô phi 26
2.5.3 Tỷ lệ sống 27
2.5.4 Tỷ lệ cá đơn tính đực 27
2.6 Phương pháp xác định, thu thập số liệu 28
2.6.1 Xác định tốc độ tăng trưởng theo khối lượng của cá rô phi 28
2.6.2 Xác định tỷ lệ sống 29
2.6.3 Xác định tỷ lệ cá đơn tính đực 29
2.6.4 Tổng chi phí thức ăn ở mỗi công thức thức ăn 29
2.7 Phương pháp xử lý số liệu 29
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Sự biến động của các yếu tố môi trường 30
3.1.1 Biến động nhiệt độ 30
3.1.2 Biến động pH 31
3.1.3 Biến động oxy hòa tan 31
3.2 Tỷ lệ sống của cá rô phi trong giai đoạn xử lý hormone 33
Trang 63.3 Ảnh hưởng của các mức thay thế bột cá bằng bột đậu tương tới
sự tăng trưởng về khối lượng của cá rô phi đơn tính 34
3.3.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến TT trung bình của cá rô phi đơn tính 35
3.3.2 Ảnh hưởng của các công thức thức ăn đến TĐTT bình quân ngày 36
3.3.3 Ảnh hưởng của các công thức thức ăn đến tăng trưởng đặc trưng 37
3.4 Hiệu quả chuyển đổi giới tính 38
3.5 Tổng chi phí thức ăn trong giai đoạn xử lý hormone 39
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40
1 Kết luận 40
2 Đề xuất 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Cách phân biệt cá đực, cá cái cá rô phi vằn O.niloticus 6
Bảng 1.2 Nhu cầu protein trong khẩu phần ăn của một số loài cá rô phi 8
Bảng 1.3 Khẩu phần ăn của cá rô phi 21 ngày xử lý giới tính 9
Bảng 2.1 Bố trí thí nghiệm 25
Bảng 3.1 Biến động pH trong ao thí nghiệm ương nuôi cá rô phi 31
Bảng 3.2 Tốc độ tăng trưởng của cá rô phi giữa các công thức 34
Bảng 3.3 Kết quả kiểm tra giới tính 38
Bảng 3.4 Phân tích chi phí thức ăn trong giai đoạn xử lý giới tính 39
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Công thức thức ăn 24
Hình 2.2 Hóa chất thí nghiệm 24
Hình 2.3 Sơ đồ khối nghiên cứu 24
Hình 2.4 Dụng cụ đo các yếu tố môi trường 26
Hình 2.5 Cân khối lượng cá 26
Hình 2.6 Tế bào sinh dục cái 28
Hình 2.7 Tế bào sinh dục đực 28
Hình 3.1 Biến động nhiệt độ nước của các công thức trong ao thí nghiệm 30
Hình 3.2 Biến động oxy hòa tan của các công thức trong ao thí nghiệm 32
Hình 3.3 Tỷ lệ sống của cá rô phi trong giai đoạn xử lý hormone 33
Hình 3.4 Tăng trưởng trung bình về khối lượng của cá rô phi qua các lần kiểm tra 35
Hình 3.5 Tốc độ tăng trưởng bình quân ngày về khối lượng của cá rô phi 36
Hình 3.6 Tốc độ tăng trưởng đặc trưng của cá rô phi xử lý giới tính 37
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NCNTTS: Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản
Trang 10MỞ ĐẦU
Năm 1994, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 (Viện NCNTTS1) đã
nhập cá rô phi O.niloticus dòng GIFT với mục tiêu khôi phục và phát triển
nghề nuôi cá rô phi ở Việt Nam, góp phần nâng cao sản lượng và chất lượng đàn cá nuôi Loài này có ưu điểm: nuôi dễ, ít dịch bệnh, tốc độ tăng trưởng nhanh, phổ thức ăn rộng Tuy nhiên, do sinh sản nhiều nên hạn chế tới tốc độ sinh trưởng cá thể, làm giảm năng suất nuôi Cùng môi trường và chế độ chăm sóc, cá rô phi đực tăng trưởng nhanh hơn so với cá cái Để chủ động khống chế mật độ nuôi, người ta tạo ra đàn cá giống rô phi toàn đực từ quần đàn cá rô phi giống để nuôi thương phẩm bằng nhiều hình thức khác nhau: chọn thủ công, lai khác loài, tạo đàn cá siêu đực, cho cá ăn thức ăn trộn hormone 17α-Methystestosterone (17α-MT) Bên cạnh các yêu cầu nâng cao chất lượng con giống, nâng cấp quy trình công nghệ xử lý đơn tính thì dinh dưỡng thức ăn cũng là một yếu tố quan trọng quyết định năng suất và hiệu quả ương nuôi và tỷ lệ cá đơn tính đực
Công nghệ xử lý cá đơn tính xử dụng hormone 17α-MT hiện nay sử dụng thức ăn với thành phần chính là bột cá Tuy nhiên, sản lượng cá nổi đánh bắt ngoài tự nhiên để làm bột cá đang suy giảm nghiêm trọng Điều này không những là một cảnh báo về sự thiếu hụt bột cá cung cấp cho ngành sản xuất thức ăn thủy sản trong tương lai mà còn là dấu hiệu đáng lo ngại về mất cân bằng môi trường sinh thái Theo dự án đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn của Bộ đến năm 2010, nước ta phấn đấu đạt tổng sản lượng thuỷ sản 3,4 triệu tấn cần khoảng 1,2 - 1,5 triệu tấn bột cá/năm làm nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thức ăn NTTS [48] Do đó nguồn bột cá cung cấp từ tự nhiên không thể đáp ứng được nhu cầu sử dụng này.Đây là thách thức lớn đặt ra cho ngành NTTS cần có biện pháp hạ giá thức ăn
Trang 11bằng cách sản xuất, tạo nguồn nguyên liệu rẻ tiền, sẵn có trong nước thay thế bột cá
Trong khi đó, đậu tương là nguồn thực vật có hàm lượng protein 38 - 45%, lipit 18 - 25%, hydratcacbon 36 - 40%, các chất khoáng 4 - 5% và các vitamin như vitamin B1, B2, C, D, E, K rất cần thiết Ngoài ra, bột đậu tương có giá thành rẻ, tính sẵn có và làm giảm đáng kể ô nhiễm trong môi trường nước Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy rằng bột đậu tương có khả năng thay thế một phần khá lớn bột cá trong công thức sản xuất thức ăn thủy sản và ứng dụng được cho nhiều loài thủy sản nuôi khác nhau trên thế giới
Xuất phát từ thực tế đó, nhằm nâng cao hiệu quả, giảm chi phí, giảm thiểu những tác động bất lợi đến môi trường nước chúng tôi tiến hành thực
hiện đề tài: “Thử nghiệm sử dụng bột đậu tương trong quy trình xử lý cá
rô phi (Oreochromis niloticus) đơn tính đực 21 ngày tuổi bằng hormone
Nội dung nghiên cứu
- So sánh tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ cá đơn tính đực và tỷ lệ sống của cá
rô phi vằn bằng các công thức thức ăn sử dụng bột cá và bột đậu tương
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các công thức thức ăn
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số nét về cá rô phi vằn ( Oreochromis niloticus)
1.1.1 Phân loại
Cá rô phi vằn dòng GIFT được tập hợp từ đàn cá rô phi bố mẹ ngoài tự nhiên và được chọn lọc qua nhiều thế hệ với sự trợ giúp của chương trình GIFT Foundation, theo Smith (1945) cá thuộc:
Loài Oreochromis niloticus
1.1.2 Nguồn gốc và phân bố tự nhiên của cá rô phi vằn
Cá rô phi thuộc họ Cichlidae bộ Percifomes là loài cá có nguồn gốc từ
châu Phi, chúng có khả năng thích ứng cao, phân bố rộng khắp ở các nước trên thế giới nhưng chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới [27]
Cá rô phi là tên gọi chung của khoảng 80 loài cá và căn cứ vào đặc điểm sinh sản, các nhà nghiên cứu đã phân loại cá rô phi thành 3 giống chính:
giống Tilapia gồm các loài cá đẻ trứng bám vào giá thể, sau khi cá đẻ cả cá đực và cá cái cùng tham gia bảo vệ tổ; Giống Sarotherodon gồm các loài cá
đẻ trứng cả con đực và con cái ấp trứng trong miệng và giống Oreochromis
gồm các loài cá đẻ trứng chỉ con cái ấp trứng trong miệng [46]
Trong 3 giống trên có khoảng 8 đến 9 loài có giá trị trong nuôi trồng
thủy sản [27] Trong các loài có giá trị, cá rô phi vằn O.niloticus, cá rô phi xanh O.aureus và cá rô phi hồng Oreochromis được xem là quan trọng nhất
Trang 13hiện nay, đang được nuôi phổ biến ở hầu hết các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới [40]
Cá rô phi được di nhập vào nước ta lần đầu tiên là cá rô phi đen
Oreochromis mossambicus Cá rô phi đen có khả năng thích ứng cao với các
điều kiện nuôi khác nhau, như có tỷ lệ sống cao ở môi trường ao nuôi kể cả khi có hàm lượng oxy hòa tan thấp, cá thích ứng tốt với môi trường nước có
độ mặn cao tuy nhiên cá chậm lớn, đẻ sớm và mắn đẻ, kích cỡ cá nhỏ, do vậy không được người nuôi cá ưa thích Năm 1973, cá rô phi vằn
Oreochromis niloticus được nhập từ Đài Loan vào nước ta, cá rô phi vằn lớn
nhanh, nhịp đẻ thưa hơn so với cá rô phi đen, cá nhanh chóng trở thành đối tượng nuôi có triển vọng, được nuôi rộng rãi trong cả nước Tuy nhiên do công tác giữ giống thuần không tốt, nên hiện tượng lai tạp giữa cá rô phi vằn với cá rô phi đen xảy ra phổ biến, làm suy giảm chất lượng cá giống [24] Nhiều vùng nước tự nhiên và vùng nuôi ở các địa phương trong cả nước hiện còn tồn tại cá rô phi đen và cá rô phi lai
Năm 1994, Viện NCNTTS 1 đã nhập nội một số phẩm giống cá rô phi như: Cá rô phi vằn dòng Thái Lan, cá rô phi GIFT thế hệ thứ 5, cá rô phi dòng
Swansea và cá rô phi xanh O.aureus từ Philippines, cá rô phi hồng
Oreochromis sp từ Đài Loan và Thái Lan, dòng GIFT và cá rô phi hồng đã
thể hiện ưu thế sinh trưởng, thích ứng với điều kiện nuôi cá nước ta, được người nuôi cá quan tâm Các dòng cá rô phi vằn dòng GIFT, dòng Thái Lan
và cá rô phi hồng hiện đang được sử dụng làm giống nuôi ở nhiều vùng nuôi trong cả nước [29]
1.1.3 Đặc điểm hình thái
Cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) có thân ngắn mình cao, vẩy lớn
dày và cứng Màu sắc thân thay đổi theo môi trường và giai đoạn phát triển của cá Thân cá có màu hơi sẫm, trên thân có 7 - 9 sọc đen từ gốc đuôi đến
Trang 14vây ngực, ở đuôi và vây có chấm hoa xếp theo thứ tự thành vạch đen đều đặn,
cá đực cũng như cá cái nhưng màu sắc của cá đực sặc sỡ hơn Miệng cá có nhiều hàm răng nhỏ và sắc, dạ dày bé, đặc biệt cá rô phi có ruột dài gấp 6 - 7 lần chiều dài của cơ thể
1.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Quá trình sinh trưởng và phát triển của cá rô phi có thể chia làm 3 giai đoạn chính là giai đoạn cá bột, giai đoạn ương nuôi và trưởng thành, giai đoạn
thành thục và sinh sản
a, Giai đoạn cá bột
Giai đoạn cá bột kéo dài từ khi trứng được đẻ ra cho tới khi trứng nở thành cá bột Sau khi đẻ ra, trứng được thụ tinh thì cá mẹ ấp trứng trong miệng Tùy thuộc vào nhiệt độ nước mà thời gian ấp trứng dài hay ngắn Ở
noãn hoàng và còn yếu ớt, chúng được bảo vệ trong miệng cá mẹ từ 1 đến 4 ngày trước khi chúng có thể bơi lội và tự kiếm ăn được Ở giai đoạn này, nhiệt độ nước và thức ăn có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của cá bột
b, Giai đoạn cá giống và cá trưởng thành
Cá bột trong giai đoạn ương thường bơi lội thành từng đàn và tập trung
ở những vùng nước nông, thức ăn ở giai đoạn này là thực vật phù du, ấu trùng
côn trùng Cá bột O.niloticus chênh lệch nhau 14 ngày tuổi có thể ăn lẫn nhau
và hiện tượng này tăng lên mạnh mẽ sau 24 ngày tuổi Hiện tượng ăn lẫn nhau
là nguyên nhân gây nên tỷ lệ hao hụt lớn của cá bột trong giai đoạn này Tuy nhiên trong môi trường nuôi có thức ăn tự nhiên phong phú, hiện tượng ăn lẫn nhau có thể giảm đi và tỷ lệ sống tăng lên [1] Trong giai đoạn nuôi thịt, mật
độ cá thả phụ thuộc vào cỡ cá và hệ thống nuôi
Trang 15c, Giai đoạn cá thành thục và sinh sản
Cá rô phi là loài dễ sinh sản, nhanh và nhiều, sức sinh sản lớn Chúng
có thể sinh sản tự nhiên trong ao nuôi rất nhiều Đây là một đặc điểm của cá
rô phi khác với nhiều loài cá nuôi khác và cũng là một điều cần chú ý trong quá trình nuôi cá này nếu cá sinh sản tự nhiên trong ao quá nhiều chúng sẽ gây ra sự quản lý khó khăn cho người nuôi và chất lượng của đàn cá thương phẩm là không cao do mất tính đực hóa trong đàn dẫn tới năng suất nuôi không cao
* Cách phân biệt đực, cái
- Dựa vào đặc điểm hình thái
Cá đực đến tuổi phát dục ở mép vây đuôi, vây lưng và vây bụng có màu sắc sặc sỡ (Từ màu hồng tím đến xanh đen), cá cái ít hoặc không thay đổi màu sắc bên ngoài mà bụng của nó phát triển nhanh Khi cá cái mang trứng, bụng cá tương đối thon đều trong khi đó cá đực có bụng dưới thót nhỏ hơn Khi đến tuổi thành thục người ta có thể phân biệt được cá đực và cá cái dựa vào một số đặc điểm sau
Bảng 1.1 Cách phân biệt cá đực, cá cái cá rô phi vằn O.niloticus
lỗ sinh dục
Có 3 lỗ: Lỗ hậu môn, lỗ sinh dục và lỗ niệu
“Nguồn Lê Văn Thắng (1999)” [23]
- Dựa vào việc giải phẫu tuyến sinh dục
Khi cá đạt cỡ 3 - 5g tiến hành mổ cá cắt một mẫu nhỏ tuyến sinh dục đưa lên lam kính có sẵn thuốc nhuộm Aceto – Carmine, chờ 3 - 5 phút cho
Trang 16khô sau đó ép thêm một lam kính khác và quan sát dưới kính hiển vi quang học Nếu là cá đực thì tuyến sinh dục gồm những tế bào nhỏ li ti tạo thành dải trong, mịn Nếu là cá cái thì tuyến sinh dục gồm những tế bào lớn, hình tròn [37]
1.2 Một số vấn đề về dinh dưỡng của cá rô phi
1.2.1 Thức ăn cho cá rô phi
Cá rô phi là loại ăn tạp, thức ăn chủ yếu là thực vật phù du, các loài tảo (tảo lục, tảo khuê), một số thực vật bậc cao [46] Chúng ăn cả động vật nổi, ấu trùng, côn trùng, bọ gậy đôi khi ăn cả cá con, bèo, cám, rau, bã đậu, bã rượu, vụn ngô… [31] Ngoài ra theo Chervinski (1982), khẩu phần ăn của cá rô phi bao gồm cả vi khuẩn và mùn bã hữu cơ [26]
Kết quả phân tích lượng protein trong thức ăn tự nhiên của cá rô phi cho thấy hàm lượng này có thể dao động từ 2 - 50% trên 1 trọng lượng khô cơ bản, nhưng hàm lượng này thường dưới 15% Thức ăn giàu Carbohydrate chắc chắn làm tăng sản lượng cá rô phi so với ao bón phân và không có thức
ăn bổ sung [39] Tuy nhiên điều quan trọng là chất lượng và số lượng protein trong thức ăn cần được đảm bảo
Khi còn nhỏ ở giai đoạn cá bột, thức ăn của cá rô phi là sinh vật phù du, khi chiều dài cá từ 17 – 18 mm trở lên, cá chuyển sang ăn mùn bã hữu cơ, tảo lắng ở đáy Ngoài ra cá còn tăng thêm các ấu trùng dưới nước và trên cạn Khi
cá đạt 6 cm thì chuyển sang ăn thực vật phù du nhiều hơn, khi cá trưởng thành phổ thức ăn rộng hơn bao gồm: tảo, động vật phù du, phân, mùn bã hữu cơ, tảo lắng đáy, giáp xác, giun đất, ấu trùng côn trùng và một phần thực vật thượng đẳng loại mềm, có thể là sinh vật bơi lội khác trong ao Bên cạnh đó
cá còn ăn các loại thức ăn bổ sung như: bột ngũ cốc, cám gạo, bột ngô, bã đậu, bã rượu, bột đậu tương và thức ăn công nghiệp [18] Để thức ăn viên có chất lượng cao điều căn bản là nguyên liệu phải được lựa chọn đảm bảo chất
Trang 17lượng tốt về các mặt như hàm lượng dinh dưỡng có sẵn, khả năng tiêu hoá, không nhiễm thuốc sâu và các độc tố… nhưng cần thiết dựa trên nhu cầu dinh dưỡng của cá mà sử dụng sao cho giá thành thấp đồng thời có tính bền vững
ổn định trong nước
1.2.2 Nhu cầu dinh dưỡng của cá rô phi
Nhu cầu dinh dưỡng của cá rô phi thay đổi theo từng giai đoạn phát triển Trong các yếu tố dinh dưỡng thì protein là thành phần quan trọng nhất cả
về số lượng và chất lượng Protein là hợp chất cao phân tử có 50% cacbon, 22% oxy, 7% hydrô, 16% nitơ và 5% các thành phần khác [9] Hàm lượng
protein trong thức ăn tốt nhất cho cá rô phi O.niloticus cỡ từ 3 – 30g là 36%, cá
rô phi tối ưu là 50%, cỡ cá 0,5 – 10g là 40% và cỡ cá 10 – 30g là 30 – 35% Còn đối với cá rô phi cỡ lớn hơn 35g hàm lượng protein tối ưu là 25% Nhu cầu protein của cá rô phi được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 1.2 Nhu cầu protein trong khẩu phần ăn của một số loài cá rô phi
“ Theo Nguyễn Duy Khoát, nghiên cứu về đặc điểm dinh dưỡng của cá rô phi”
Trang 18Khi khẩu phần ăn tối ưu về mặt sinh học chưa hẳn đã tối ưu về mặt kinh
tế, nhất là đối với loài O.niloticus vì loài này có thể sử dụng thức ăn dưới mức
tối ưu mà vẫn tăng trưởng tốt, người nuôi cần quan tâm với vấn đề này để nâng cao hiệu quả kinh tế dựa vào việc giảm chi phí thức ăn
1.2.3 Khẩu phần ăn của cá
Cá rô phi ở thời kỳ ấp trứng và nuôi con trong miệng thì ngừng ăn Khẩu phần ăn ngày, đêm của cá rô phi cỡ 40 - 300g bằng 2,5 - 5% khối lượng
cơ thể [16]
Lượng thức ăn cho cá tùy thuộc vào từng loài, kích cỡ, mức năng lượng trong khẩu phần cho ăn, chất lượng nước, tần suất cho ăn và lượng thức ăn tự nhiên trong thủy vực Thông thường việc cho ăn chỉ đạt hiệu quả cao khi cá sử dụng được hầu hết lượng thức ăn cung cấp Vì thế cần lựa chọn khẩu phần thức ăn và tần suất cho ăn thích hợp để giảm mức tối thiểu thời gian thức ăn nằm trong nước trước khi được cá sử dụng Thường thì khi
cá nhỏ khẩu phần thức ăn cao, khi cá lớn khẩu phần thức ăn giảm tính theo
% khối lượng cơ thể cá Lượng thức ăn cung cấp cho cá thường được điều chỉnh hàng ngày dựa trên lượng thức ăn thừa, điều kiện thời tiết, chất lượng nước và sức khỏe của cá
Bảng 1.3 Khẩu phần ăn của cá rô phi 21 ngày xử lý giới tính
Trang 191.2.4 Tần suất cho ăn
Trong tự nhiên cá rô phi ăn hầu hết vào các giờ trong ngày, ruột cá rô phi thích nghi với việc thu nhận thức ăn từng ít một Do vậy các tác giả đề nghị chia lượng thức ăn thành 4 lần trong ngày và cho ăn vào ban ngày Cá nhỏ nên cho ăn nhiều lần hơn cá lớn, tần suất cho ăn giảm dần cùng với sự tăng lên về khối lượng của cá Thời điểm cho ăn vào lúc thời tiết thuận lợi nhất (tránh lúc mưa to) để cá sử dụng tối đa nguồn thức ăn Về nguyên tắc cho ăn nhiều lần trong ngày sẽ thuận lợi cho việc theo dõi thức ăn dư thừa, quản lý chất lượng nước tốt hơn nhưng tăng công lao động [40]
1.3 Chất lượng nước và các yếu tố môi trường ảnh hưởng tới cá rô phi
1.3.1 Nhiệt độ
Cá rô phi là loài có nguồn gốc nhiệt đới nên khả năng thích nghi với nhiệt độ cao tốt hơn so với điều kiện nhiệt độ thấp Ngưỡng chịu đựng nhiệt
C Nhiệt độ thích ứng của cá rô phi tùy thuộc vào vùng khí hậu mà chúng phân bố và theo thời gian thích ứng với môi trường mới Cá rô phi chết rét ở
C [15] Giới hạn nhiệt độ thấp của cá
rô phi O.niloticus là 11 – 120C, nhiệt độ thích hợp cho phát triển từ 25 –
– 300
C [27], [43]
1.3.2 Oxy hoà tan (DO)
Cá rô phi có thể chịu đựng được oxy hoà tan thấp 0,1 mg/l trong một
khoảng thời gian ngắn Cá rô phi O niloticus có thể sống bằng cách sử dụng
oxy không khí làm lượng oxy hoà tan giảm dưới 1 mg/l, nhưng cá phát triển chậm khi oxy hoà tan dưới 0,5 mg/l, DO thích hợp cho cá rô phi phát triển là lơn hơn hoặc bằng 4 mg/l [36] Trong môi trường nuôi thâm canh có hàm
Trang 20lượng oxy hoà tan thấp cá sẽ giảm tiêu thụ oxy, giảm các hoạt động trao đổi chất và giảm tốc độ sinh trưởng Vì vậy, để nuôi cá rô phi thương phẩm đạt
nước, hệ thống nuôi phải được bật sục khí vào sáng sớm lúc 5 - 6 giờ sáng, đồng thời tăng dần thời gian sục khí theo thời gian nuôi [28]
1.3.3 Độ pH
Độ pH có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới cá nuôi Độ pH nhỏ hơn
4 hay lớn hơn 11 có thể gây chết cho cá [12] Độ pH cao sẽ làm tăng độc tính
men trong sinh vật làm thức ăn cho cá Cá rô phi thích hợp với môi trường
pH trung tính hay kiềm nhẹ, pH từ 6,5 – 9 là phù hợp [12] Cá rô phi O
niloticus chịu được pH 8 – 11 trong ao nuôi
1.4 Sơ lược tình hình sản xuất cá rô phi trên thế giới và trong nước
1.4.1 Tình hình sản xuất cá rô phi trên thế giới
Cá rô phi có nguồn gốc từ châu Phi, được con người đưa vào nuôi từ năm 1924, song nghề nuôi cá rô phi hiện đại thì mới được phát triển ở những năm gần đây, phong trào nuôi cá rô phi mới bắt đầu phát triển từ những năm
1990 và đầu những năm 2000 Sau cá chép, cá rô phi là loài được nuôi rộng rãi nhất, cho đến nay đã được nuôi ở hơn 140 nước trên thế giới
Theo thống kê của FAO, tổng sản lượng cá rô phi trên thế giới đang tiếp tục tăng một cách nhanh chóng, trong đó sản lượng nuôi chiếm 70% Trong giai đoạn 5 năm từ 2003 - 2007, sản lượng cá nuôi tăng đến 60%, từ 1,58 triệu tấn lên 2,51 triệu tấn Theo báo cáo sơ bộ của FAO, sản lượng cá rô phi nuôi năm 2010 sản lượng cá rô phi toàn cầu hiện nay ở mức 3,2 triệu tấn hàng năm Nước sản xuất cá rô phi lớn nhất thế giới là Trung Quốc, chiếm đến 45% tổng sản lượng toàn cầu Các nước châu Á đóng góp tới 80% tổng
Trang 21sản lượng cá rô phi nuôi trên thế giới [38] Trung Quốc, Ai Cập, Thái Lan, Philippin, Đài Loan, Indonesia là những nước đang đứng đầu thế giới về sản lượng cá rô phi nuôi theo Pullin và Capili (1988), Capili (1995), Macintash và Little (1995), Guerero (1996) Trong tổng sản lượng cá rô phi nuôi của thế
giới thì sản lượng cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) chiếm tới 80%
Công nghệ nuôi cá rô phi trên thế giới ngày càng được phát triển nhằm thu được năng suất cao và tạo ra sản lượng tập trung Các hệ thống nuôi thâm canh bao gồm nuôi trong ao, trong hệ thống bể nước chảy, trong lồng bè trên sông hồ Hệ thống nuôi cá rô phi thâm canh trong ao xây được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước như Đài Loan, Trung Quốc và Thái Lan Hệ thống nuôi này
đã cho năng suất từ 10 - 15 tấn/ha/năm Nuôi cá rô phi trong lồng bè là rất phổ biến ở các nước như Đài Loan, Indonesia, Philippin và Malaisia Năng
tùy thuộc vào kích thước lồng và trình độ thâm canh Lồng có kích thước nhỏ sẽ cho năng suất cao hơn lồng có kích thước lớn do khả năng trao đổi nước trong và ngoài lồng cao
là phù hợp nhất
Cá rô phi nuôi thương phẩm vừa phục vụ cho tiêu thụ nội địa, vừa cung cấp nguồn thực phẩm rẻ tiền, giàu đạm động vật cho dân nghèo, vừa có thể xuất khẩu thu ngoại tệ Đến nay, cá rô phi đứng thứ 10 trong số các loài cá nuôi có giá trị cao trên thế giới Thị trường tiêu thụ ngày càng được mở rộng, hàng năm sản lượng nhập khẩu cá rô phi vào thị trường Mỹ tăng khoảng 2% Năm 2003, nhập khẩu cá rô phi của Mỹ đạt khoảng 241,2 triệu USD tăng 38% so với năm 2002 [49]
1.4.2 Tình hình sản xuất cá rô phi trong nước
Ở Việt Nam, nuôi cá rô phi từ đầu những năm 1950, ban đầu là loài cá
rô phi đen O.mossambicus được nhập vào Việt Nam từ Philippin Đây là loài
cá ăn tạp, có thể sinh trưởng và phát triển tốt ở cả môi trường nước ngọt và
Trang 22nước lợ nhưng lại có nhiều nhược điểm như thành thục sớm, chậm lớn, có màu đen sẫm, cỡ cá nhỏ, chịu đựng điều kiện môi trường thấp kém, năng suất nuôi và giá trị thương phẩm thấp nên giá trị kinh tế của loài này thấp
Năm 1973, loài cá rô phi vằn (O niloticus) đã được nhập vào miền
Nam nước ta từ Đài Loan, sau đó nó được mở rộng nuôi trong cả nước vào những năm 1970 - 1980 Tuy nhiên do sự lai tạp các loài cá rô phi đen
(Oreochromis mossambicus) trong các hệ thống nuôi, khiến cho chất lượng di
truyền của loài cá rô phi vằn này bị thoái hóa, kéo theo sản lượng cá rô phi của nước ta trong những năm cuối 1980 đầu 1990 bị giảm sút nghiêm trọng
Để góp phần khôi phục và phát triển nghề nuôi cá rô phi ở nước ta, trong những năm 1994 - 1007, Viện NCNTTS 1 đã nhập nội và thuần hóa 3 dòng cá
rô phi vằn (Oreochromis niloticus) từ Philippinnes và Thái Lan Trong đó,
dòng GIFT là dòng có sức sống cao nhất, nó được tiếp nhận và phát triển ở nhiều nơi, đặc biệt là các tỉnh đồng bằng sông Hồng [3] Để ổn định và nâng cao phẩm chất giống của cá rô phi dòng GIFT mới nhập, từ năm 1998 đến nay, Viện NCNTTS 1 đã tiến hành chương trình chọn giống dòng cá này nhằm tăng sức sinh trưởng và khả năng chịu lạnh Sau 3 năm thực hiện, đến năm 2000 đã chọn được đàn cá rô phi có sức sinh trưởng cao hơn 16% so với đàn cá rô phi dòng GIFT thường [4]
Ngành thuỷ sản hiện nay đã xây dựng được hệ thống sản xuất cá giống
ở khắp các miền đất nước gồm trên 300 trạm trại, cung cấp cá giống cho dân
Từ khi chuyển sang kinh tế thị trường các cơ sở cung cấp cá giống gồm cả tư nhân, các trạm, trại của Nhà nước Nguồn cá giống do các thành phần kinh tế sản xuất, cung ứng, việc mua bán không ai quản lý Những năm gần đây ta đã nghiên cứu thành công việc xử lý giới tính tạo ra cá rô phi tính đực, giúp cho
cá rô phi chỉ ăn và lớn, không đẻ Việc cho đẻ và xử lý giới tính nhiều đơn vị làm được, song tỷ lệ đực mới đạt 70 - 80% có một số ít cơ sở đạt 95 - 97% Số
Trang 23cá cái còn lại 3 - 5% thì ít đẻ, nếu tỷ lệ này tăng lên 20 - 30% thì cá cái đẻ nhiều, cá con sinh ra ăn tranh mồi trong ao, cá sẽ phát triển chậm, mật độ cá trong ao tăng nhanh, năng suất sẽ giảm Vừa qua khuyến ngư của ngành Thuỷ sản đã chỉ đạo mô hình nuôi cá rô phi đơn tính Những nơi nuôi cá thuần 97%
cá đực, đã đạt năng suất 8 – 10 tấn/ha, giá cá thuần mua vào 300 đồng/con [48]
Cá rô phi là đối tượng xuất khẩu trong những năm sắp tới, đây là chủ trương đúng đắn của ngành Thuỷ sản, nhằm khai thác tiềm năng của vùng nước ngọt, góp phần tạo ra việc làm cho dân xoá đói giảm nghèo Giống là yếu tố quyết định cho việc thực hiện chủ trương phát triển nuôi cá rô phi xuất khẩu, để có giống và đủ giống cá rô phi đơn tính cung ứng cho nông dân các vùng nuôi cá xuất khẩu Nhanh chóng hoàn thiện quy trình sản xuất, ổn định đạt tỷ lệ cá đực 95 - 97% trở nên Phổ biến và tổ chức thành hệ thống trạm trại, tư nhân cùng nhau sản xuất nhanh chóng đáp ứng thoả mãn lượng giống các vùng nuôi xuất khẩu với số lượng, chất lượng và giá cả hợp lý Bên cạnh việc sản xuất cũng cần phải tổ chức nhập số lượng nhất định cá rô phi đơn tính từ Ðài Loan, Trung Quốc về cung ứng cho nhân dân nuôi những năm trước mắt
Riêng các tỉnh miền Bắc trời rét cá thường đẻ tháng 5 tháng 6 muộn thời vụ nuôi, cần đầu tư xây dựng cơ sở nâng nhiệt để nuôi vỗ cá rô phi bố mẹ chủ động cho đẻ sớm tháng 2 tháng 3 ươm cá bột, cá giống cung ứng sớm thời vụ tháng 3 tháng 4 cho ngư dân, nông dân nuôi thành cá thương phẩm xuất khẩu Quản lý chặt chẽ các cơ sở sản xuất từ đàn cá bố mẹ, quy trình sản xuất, trang thiết bị cho đẻ, xử lý cá sau khi nở, kết quả tỷ lệ cá đực xuất xưởng bán cho dân, tỷ lệ phải đạt 95% trở lên [50]
Trang 241.5 Một số nét về cây đậu tương và giá trị dinh dưỡng của hạt đậu tương
1.5.1 Giá trị dinh dưỡng của cây đậu tương
Đậu tương (Glycine max (L) Merr.) còn gọi là đậu nành là một cây trồng cạn ngắn ngày có giá trị kinh tế cao Đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao, hàm lượng prôtein trung bình khoảng từ 35,5 - 40 [11]
Hạt đậu tương là loại thực phẩm duy nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời cả prôtit và lipit Prôtein của đậu tương có phẩm chất tốt nhất trong số các prôtein có nguồn gốc thực vật Hàm lượng prôtein trong hạt đậu tương cao hơn cả hàm lượng prôtein có trong cá, thịt và cao gấp 2 lần so với các loại đậu khác Hàm lượng acid amin quan có chứa lưu huỳnh như methionin và sixtin của đậu tượng cao gần bằng hàm lượng các chất này có trong trứng gà Hàm lượng cazein, đặc biệt lisin cao gần gấp rưỡi lần chất này
có trong trứng
Hạt đậu tương có chứa hàm lượng dầu béo cao hơn các loại đậu khác nên được coi là cây cung cấp dầu thực vật quan trọng Lipit của đậu tương chứa một tỉ lệ cao các axít béo chưa no (khoảng 60 - 70%) có hệ số đồng hoá cao, mùi vị thơm như axit linoleic chiếm 52 - 65%, oleic từ 25 - 36%, linolenolic khoảng 2 - 3% [5] Dùng dầu đậu tương thay mỡ động vật có thể tránh được xơ mỡ động mạch
Trong hạt đậu tương có khá nhiều loại vitamin, đặc biệt là hàm lượng vitamin B1 và B2 ngoài ra còn có các loại vitamin PP, A, E, K, D, C,v.v Đặc biệt trong hạt đậu tương đang nảy mầm hàm lượng vitamin tăng lên nhiều, đặc biệt là vitamin C Phân tích thành phần sinh hoá cho thấy trong hạt đậu tương đang nảy mầm, ngoài hàm lượng vitamin C cao, còn có các thành phần khác như: vitamin PP, và nhiều chất khoáng khác như Ca, P, Fe v.v Chính vì thành phần dinh dưỡng cao như vậy nên đậu tương có khả năng cung cấp năng lượng khá cao khoảng 4700 cal/kg [8]
Trang 25Theo Robert (1994), những chất độc chính có trong đậu tương gồm các chất sau:
Trypsin inhibitor ức chế men tuyến tụy là trypsin và chymotrypsin, hậu quả là tỷ lệ tiêu hóa protein giảm và tuyến tụy bị sưng vì phải tiết nhiều dịch
bù cho sự mất mát, chất ức chế men này bị phá hủy bởi nhiệt
Allergin đậu tương chứa một loại protein glycinin và conglycinin gây hại cho động vật non, nó bền vững với nhiệt
Phytoestrogens: Là hợp chất Isoflavons có đặc tính Oestrogenic, chúng không bị phá hủy bởi nhiệt nhưng sự hiện diện của nó không đủ gây độc cho động vật
Oligosacharites: Đậu tương chứa khoảng 6,2% Saccarose; 1,4% Raffinose và 5,2% Stachyose (tính theo vật chất khô) Những đường này dễ bị lên men ở ruột già sinh khí độc có hại cho động vật Các đường này không bị phá hủy bời nhiệt, nhưng tách đường Raffinose, Stachyose ra sẽ nâng cao giá trị dinh dưỡng đậu tương
Saponin: Là glucozides đắng, gây dị ứng màng nhầy và nhiều ảnh hưởng sinh học khác như gây tăng tiết Cholesterol, giảm sinh trưởng, nó không bị phá hủy bởi nhiệt nhưng hàm lượng ít thường không đủ gây độc trong thực tế
Phytin: Là một khoáng phức của Hexaphosphote của Inositol, bền vững với nhiệt độ vì phốt pho của phytin không dễ tiêu nên không được coi là nguồn phốt pho Có thể thêm enzim phytase vào thức ăn để biến phytin thành phốt pho dễ tiêu và giảm ô nhiễm môi trường gây ra bởi phốt pho trong phân
1.5.2 Tình hình trồng và sản xuất đậu tương trên thế giới
Đậu tương là một trong những loại cây trồng mà loài người đã biết sử dụng và trồng trọt từ lâu đời, vì vậy nguồn gốc của cây đậu tương cũng sớm được xác minh Những bằng chứng về lịch sử, địa lý và khảo cổ học đều công
Trang 26nhận rằng đậu tương có nguyên sản ở châu Á và có nguồn gốc từ Trung Quốc Cây đậu tương được thuần hoá ở Trung Quốc qua nhiều triều đại tiền phong kiến và được đưa vào trồng trọt và khảo sát có thể trong triều đại Shang (năm 1700-1100 B.C) trước công nguyên Trong cơ cấu cây trồng, cây đậu tương phát triển mạnh từ sau chiến tranh thế giới thứ hai cả về diện tích, năng suất và sản lượng Theo Fukuda (1933), vùng Mãn Châu (Trung Quốc) được coi là trung tâm phát sinh cây đậu tương Lúc đầu cây đậu tương được trồng chủ yếu
ở Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và một số nước ở Châu Á như: Ấn Độ, Việt Nam, Lào, Campuchia… Sau này, cây đậu tương được đưa sang trồng ở Bắc Mỹ và đã trở thành cây trồng đóng vai trò lớn ở Mỹ, do khả năng thích nghi cao với điều kiện thời tiết, khí hậu và đất đai, đậu tương đã lan rộng ra rất nhanh và trở thành vùng sản xuất đậu tương chính trên thế giới Hiện nay, đậu tương đã được trồng ở gần 80 nước khác nhau trên khắp các Châu lục Hiện nay, đậu tương là nguồn cung cấp dầu và Protein quan trọng, trên thế giới khoảng 88% sản lượng đậu tương được sản xuất ở 4 nước mà đứng đầu là: Mỹ (36,94%); Brazil (24,64%); Achentina (19,04%) và Trung Quốc (7,35%)
1.5.3 Tình hình sản xuất đậu tương ở trong nước
Một số tài liệu cho rằng cây đậu tương được đưa vào trồng nước ta từ thời vua Hùng và xác định rằng nhân dân ta trồng cây đậu tương trước cây đậu xanh và cây đậu đen [5] Trong những năm gần đây, cây đậu tương đã phát triển khá nhanh cả về diện tích và năng suất góp phần tạo ra mặt hàng tiêu dùng nội địa quan trọng
Về mặt diện tích: Diện tích gieo trồng đậu tương của nước ta mới chiếm tỉ lệ nhỏ trong tổng diện tích gieo trồng (khoảng l,5-l,6%) Xét về tốc
độ thì tăng rất nhanh nếu lấy năm 1980 làm mốc thì đến năm 2004 diện tích
đã tăng gấp 3,6 lần
Trang 27Về năng suất: Năng suất đậu tương bình quân của nước ta rất thấp chỉ đạt khoảng trên 50% so với năng suất bình quân trên thế giới Tuy nhiên, nhờ những nỗ lực rất lớn của các nhà khoa học trong công tác nghiên cứu chọn tạo giống và các biện pháp canh tác, năng suất đậu tương trong 5 năm gần đây đã
có một bước nhảy vọt quan trọng, năng suất tăng 1,8 lần so với năm 1980 [17] Hiện nay, cả nước đã hình thành 6 vùng sản xuất đậu tương: vùng Đông Nam bộ có diện tích lớn nhất (26,2% diện tích đậu tương cả nước), miền núi Bắc bộ 24,7%, đồng bằng sông Hồng 17,5%, đồng bằng sông Cửu Long 12,4% [5] Tổng diện tích 4 vùng này chiếm 80% diện tích trồng đậu tương cả nước, còn lại là đồng bằng ven biển miền Trung và Tây Nguyên
Về sản lượng, vùng đồng bằng sông Hồng, Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long chiếm hơn 60% sản lượng đậu tương cả nước Đặc biệt vùng đồng bằng sông Cửu Long chỉ chiếm khoảng 12% diện tích nhưng năng suất bình quân cao nhất cả nước đạt trên 20 tạ/ha [5] Hiện nay cùng với nhịp
độ tăng dân số và việc thay đổi tập quán tiêu dùng dầu thực vật thay mỡ động vật, thì nhu cầu dầu thực vật đặc biệt là dầu đậu tương sẽ tăng lên, như vậy sẽ tạo ra một cơ hội rất lớn cho việc phát triển sản xuất đậu tương trong nước
Mặc dù quy mô sản xuất còn khá nhỏ và nhu cầu tiêu thụ trong nước có
xu hướng giảm, nhưng sản lượng đậu tương nước ta năm 2010 vẫn đạt 297.000 tấn, tăng 39% so với năm 2009 Nguyên nhân chính là do sự mở rộng đáng kể về diện tích cây trồng (khoảng 35%) và những nỗ lực nhằm cải thiện năng suất của ngành Tuy nhiên, sản lượng trên vẫn thấp hơn so với mục tiêu
đề ra cho năm 2010 là 325.000 tấn của Bộ NN&PTNT do chi phí sản xuất tăng và năng suất đậu tương của nước ta chưa cao
1.6 Tình nghiên cứu về thức ăn thay thế bột cá
Xây dựng khẩu phần ăn hợp lý vừa đảm bảo các nhu cầu dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể như protein, lipit, gluxit, chất khoáng đảm bảo nhu cầu
Trang 28về năng lượng đồng thời giá thành hợp lý là rất quan trọng đối với NTTS nói chung và nuôi cá rô phi nói riêng Tập trung vào việc nghiên cứu hiệu quả của việc thay thế protein bột cá bằng các nguồn protein khác là giải pháp đặc biệt
có ý nghĩa hiện nay Chính vì vậy việc nghiên cứu thay thế protein bột cá trong khẩu phần ăn của cá nói chung và cá rô phi nói riêng đã được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới cũng như ở Việt Nam
Bột cá có hàm lượng protein cao và các axit amin cần thiết Bột cá chứa hàm lượng phốt pho vượt xa so với khẩu phần của cá, hơn nữa giá thành bột cá cao hơn nhiều so với các nguyên liệu khác Do vậy để giảm lượng phốt pho và giảm giá thành thức ăn cần phải giảm lượng bột cá trong khẩu phần ăn đồng thời thay thế bằng các nguyên liệu khác chứa ít phốt pho hơn Trong xu hướng phát triển nuôi cá rô phi có nhiều nhà khoa học
đã tập trung nghiên cứu tìm các nguyên liệu làm thức ăn thay thế bột cá bằng các nguồn protein thực vật và đã thu được những thành công
M.B.New (1987), đã tổng kết các nhóm nguyên liệu được sử dụng trong thức ăn NTTS chủ yếu bằng một số phụ phẩm nông nghiệp.Theo nghiên cứu của Wee và Shu (1989), dùng khẩu phần chứa 58% đậu tương nấu chín
để nuôi cá rô phi cho tốc độ tăng trưởng và hệ số chuyển hoá thức ăn tốt Năm
1992, Lim và Aligna đã dùng bột đậu tương không béo và bột đậu nành giàu chất béo để thay thế một phần nguồn prôtêin từ bột cá Nhiều nghiên cứu đã
sử dụng nuôi cá rô phi với khẩu phần 30 - 60% bột sắn vẫn cho sinh trưởng tốt [41] Ngoài ra bèo tấm cũng có hàm lượng protein cao chiếm 31,11% trọng lượng khô, được sử dụng nuôi cá rô phi cũng cho sinh trưởng tốt, khi cho cá rô phi ăn thức ăn viên có bổ sung bèo tấm cho tốc độ phát triển tăng so với cá chỉ ăn thức ăn viên (Gaigher và ctv,1984)
Lim và Akyama (1992), cho cá sử dụng bột đậu tương giàu chất béo
và thấy rằng bột đậu tương giàu chất béo có trong những cấu trúc amino
Trang 29axit tốt nhất trong số các nguồn protein thực vật để đáp ứng nhu cầu về amino axit thiết yếu của cá Wu và ctv (1999), đã nghiên cứu nguồn protein thực vật và bột xương thay thế bột cá trong khẩu phần ăn của cá rô phi vằn cho tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống cao Theo Liti và Mugo Muchiri (2002),
đã chứng minh việc sử dụng 3 loại thức ăn: cám gạo, cám ngô và WB (một loại thức ăn công nghiệp) nuôi thương phẩm cá rô phi vằn Kết quả thu được cho thấy không có sự sai khác về tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng giữa cá sử dụng WB và cám ngô do đó tác giả cho rằng bột ngô có thể là nguồn thay thế thích hợp cho WB
David liti và ctv (2005), tiến hành thí nghiệm nhằm so sánh tốc độ tăng trưởng và hiệu quả kinh tế của cá sử dụng bột hạt bông thay thế một phần bột
cá và thức ăn công nghiệp Nghiên cứu cho thấy, hai loại thức ăn này kết hợp trong quá trình nuôi có thể giảm chi phí và tăng lợi nhuận 18% Theo kết quả nghiên cứu của AI-Ogaily (2002), về khả năng thay thế đạm bột cá bằng đạm
bột đậu tương trong thức ăn của cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) giống
cho thấy cá có thể sử dụng thức ăn tốt và đạt tăng trưởng cao khi thức ăn có 47% đạm bột cá được thay thế bởi đạm bột đậu tương Thức ăn chứa 30% đạm trong đó 25% đạm bột đậu tương thay thế cho bột cá đã làm tăng tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá rô phi giống (Ashraf, 2007)
Kết quả nghiên cứu của Soltan và ctv (2008), cho thấy ở cá rô phi vằn
(O niloticus) giống (2,61-2,71g) khi thay thế bột cá bằng đạm thực vật từ
nhiều nguồn nguyên liệu như bột hướng dương, bột hạt bông, bột canola và bột hạt lanh thì có thể thay thế đến 45% mà không ảnh hưởng đến tăng trưởng cũng như hiệu quả sử dụng thức ăn và hiệu quả sử dụng đạm của cá Khi thay thế 45% đạm thực vật cho bột cá góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, chi phí cho 1 kg cá tăng trọng giảm 6,74% so với thức ăn làm bằng đạm bột cá
Ngoài ra, tăng trưởng của cá rô phi vằn (O.niloticus) được cải thiện khi thay
Trang 30thế đạm bột cá bằng đạm bột đậu tương có bổ sung thêm methionine Việc bổ sung thêm dầu, lysine, methionine và vitamin vào thức ăn của cá rô phi làm tăng khả năng sử dụng đạm bột đậu tương của cá nhưng khi thay thế hoàn toàn đạm bột cá bằng đạm bột đậu tương thì tăng trưởng của cá giảm đáng kể
và hiệu quả sử dụng thức ăn thấp (Hertrampf và ctv, 2000)
Nhìn chung, hướng nghiên cứu này đã được các nhà khoa học trên thế giới chú trọng, nguồn nguyên liệu thay thế là bột đậu tương được nghiên cứu bởi Shiau và ctv (1989), (1990), Wee và Shu (1989), Webster và ctv (1992), bột cám ngô (Wu và ctv, 1995), đậu Lupin (Fontainhas - Fernandes và cộng
sự, 1999), hạt cải dầu (Davies và cộng sự, 1990), bột bông (Robinson Rinchard và cộng sự, 2002)
Ở Việt Nam cũng có một số đề tài nghiên cứu về sự thay thế bột cá bằng một số phụ phẩm có nguồn gốc từ thực vật và đã được ứng dụng rộng rãi nhằm giảm giá thành trong NTTS
Đỗ Hoàng Hiệp (2000), sử dụng thức ăn tự phối kết hợp với các sản phẩm phụ (bã bia, bột ngô, bột sắn) thành thức ăn nuôi cá Rô phi vằn và bước đầu đã thu được năng suất nuôi là 20 tấn/ha/vụ (5 - 6 tháng) Tuy nhiên thức
ăn dưới dạng phối trộn đội kết dính còn thấp hiệu quả sử dụng thức ăn chưa đáng kể Viện NCNTTS I (2002), đã đưa ra công thức chế biến thức ăn cho cá
rô phi thương phẩm Thành phần nguyên liệu gồm: Bột cá 10%, đỗ tương 12%, khô dầu lạc 15%, cám gạo 40%, ngô 17%, sắn 5%, vitamin 1%
Lê Công Tuấn và Anaton Beynen (2007), sử dụng 50% bột hạt bông thay thế bột cá cho hiệu quả tốt, hạt bông có qua xử lý nhiệt cho tăng trọng
cá tương đương loại thức ăn không thay thế hạt bông sử dụng 100% bột cá Một số nghiên cứu cho thấy, đậu tương không cung cấp về thành phần dinh dưỡng tốt hơn nguyên liệu từ các động vật biển, nhưng sử dụng đậu tương thay thế bột cá cho hiệu quả hơn về chi phí sản xuất Việc thay thế nguồn
Trang 31prôtêin từ bột cá bằng nguồn prôtêin thực vật không chỉ làm giảm chi phí thức ăn mà cá sử dụng nguồn prôtêin từ thức vật thì cho thịt thơm ngon hơn (Nguyễn Công Dân, 2003)
Nghiên cứu về dinh dưỡng và thức ăn cho cá rô phi còn được triển khai
thông qua các đề tài "Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả nuôi cá rô phi O
niloticus trong lồng trên sông và hồ chứa ở miền Bắc"; đề tài "Nghiên cứu sản
xuất thức ăn viên nổi từ nguồn nguyên liệu địa phương phục vụ nuôi cá Tra và
cá rô phi thương phẩm" (Viện I 2004-2005, kinh phí SUFA) Các đề tài này đã khảo sát, xác định được các nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương có thể sử dụng để chế biến thức ăn cho nuôi cá rô phi Thông qua nuôi thử nghiệm, các loại thức ăn tự chế đã cho kết quả tốt, cá lớn nhanh và giảm đáng kể giá thành
Theo Lê Thanh Hùng (2008), có thể sử dụng đạm bột đậu tương thay thế 70 - 75% đạm bột cá trong thức ăn cho cá rô phi có bổ sung các axít amin thiết yếu mà không ảnh hưởng đến tăng trưởng của cá Đối với cá rô phi nuôi trong ao đất, có thể hấp thu một số axít amin và axít béo thiết yếu từ thức ăn tự nhiên Vì thế, có thể thay thế hoàn toàn đạm bột cá trong thức ăn của cá rô phi bằng các nguồn đạm khác Trái lại, trong hệ thống nuôi thâm canh thì cần phải
có đạm bột cá trong thức ăn, với tỷ lệ thay đổi từ 5 - 10%
Nghiên cứu của Trần Thị Thanh Hiền (2009), đã đánh giá bột đậu tương như là một nguồn đạm thực vật tối ưu để thay thế nguồn đạm bột cá trong thức ăn của động vật thủy sản, nhưng khả năng thay thế đạm bột cá bằng đạm bột đậu nành thì khác nhau ở các loài khác nhau Các loài ăn thực vật, ăn tạp chấp nhận mức độ thay thế cao hơn loài ăn động vật Bột đậu nành được sử dụng làm thức ăn cho động vật hiện nay chủ yếu là bột đậu tương có hàm lượng đạm khoảng 47 - 50%, chất béo không quá 2% Tuy nhiên, hiện nay các nghiên cứu về thức ăn trong sản xuất cá rô phi đơn tính ở trên thế giới
và trong nước còn hạn chế Việc nghiên cứu tìm ra hướng giải quyết về giảm chi phí thức ăn trong xử lý cá rô phi đơn tính là rất cần thiết
Trang 32Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng thí nghiệm
Cá rô phi vằn ( Oreochromis niloticus) vừa tiêu hết noãn hoàng được
sinh sản tại Viện Nghiên cứu Nuôi Trồng Thủy Sản 1
2.2 Vật liệu thí nghiệm
2.2.1 Dụng cụ thí nghiệm
- Giai ương cá có kích thước 1m × 1m × 1,5m, mắt lưới cỡ 1mm
- Các dụng cụ đo môi trường:
+ Test kit đo pH, DO
- Cân điện tử (với độ chính xác 0,01g)
- Các dụng cụ khác: Xô, chậu, vợt, cốc đong, kính hiển vi, lam kính, lamen…
- Hormone dùng trong thí nghiệm là 17α_Methyltestosterone (MT)
dịch Aceto - Carmine
2.2.2 Thức ăn
- Giai đoạn 1: Từ 1 đến 21 ngày tuổi
+ Công thức 1 (Đối chứng): Bột cá nhạt (100%)
+ Công thức 2: Bột đậu tương (100%)
+ Công thức 3: Bột cá nhạt (50%) + Bột đậu tương (50%)
- Thức ăn gồm: 3 công thức được trộn đều với VitaminC, Cồn Ethanol
(Phụ lục 1.3)
- Giai đoạn 2 (nuôi để kiểm tra giới tính): từ 22 ngày tuổi đến 60 ngày tuổi
Trang 33Thức ăn gồm: Bột cá nhạt (50%) + Bột đậu tương (50%)
Hình 2.1 Công thức thức ăn Hình 2.2 Hóa chất thí nghiệm
2.3 Sơ đồ khối nghiên cứu
Hình 2.3 Sơ đồ khối nghiên cứu
Thử nghiệm sử dụng bột đậu tương trong quy trình xử lý cá rô phi
(Oreochromis niloticus) đơn tính đực 21 ngày tuổi bằng hormone