1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn làm giàu đến sinh trưởng của ấu trùng cá chẽm (lates calcarifer, bloch 1790) giai đoạn cá hương

71 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ ---  --- PHẠM VĂN VỊ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN LÀM GIÀU ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA ẤU TRÙNG CÁ CHẼM Lates calcarifer, Bloch 1790 GIAI ĐOẠN CÁ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ

-   -

PHẠM VĂN VỊ

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN LÀM GIÀU ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA ẤU TRÙNG

CÁ CHẼM (Lates calcarifer, Bloch 1790)

GIAI ĐOẠN CÁ HƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

VINH - 2010

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ

-   -

PHẠM VĂN VỊ

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN LÀM GIÀU ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA

ẤU TRÙNG CÁ CHẼM (Lates calcarifer, Bloch 1790)

GIAI ĐOẠN CÁ HƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

Sinh viên thực hiện: Phạm Văn Vị Giáo viên hướng dẫn: KS Lê Minh Hải

VINH – 2010

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành tốt khoá luận tốt nghiệp này, ngoài sự lỗ lực của bản thân, tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo KS Lê Minh Hải, các thầy cô giáo, Ban chủ nhiệm khoa Nông Lâm Ngư, cùng sự giúp đỡ của Ban giám đốc, kỹ sư và anh chị em công nhân Công ty Cổ phần thuỷ sản Nhất Giống, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn và khắc ghi tất sự giúp đỡ quý báu đó

Vinh, tháng 11 năm 2010

Sinh viên

PHẠM VĂN VỊ

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Vài nét về đặc điểm sinh học của cá Chẽm Lates calcarifer 3

1.1.1 Hệ thống phân loại 3

1.1.2 ặc điểm h nh thái 3

1.1.3 ặc điểm phân bố và thích nghi 4

1.1.4 ặc điểm dinh dưỡng, sinh trưởng 5

1.1.5 Vòng đời 5

1.1.6 ặc điểm sinh sản của cá Chẽm 6

1.1.6.1 Thành thục sinh dục 6

1.1.6.2 Sức sinh sản và đẻ trứng 6

1.1.6.3 Phát triển phôi và ấu trùng 6

1.2 T nh h nh nuôi và sản xuất giống cá Chẽm trên thế giới và Việt Nam 7

1.2.1 Trên thế giới 7

1.2.2 Ở Việt Nam 8

1.3 Nghiên cứu về thức ăn làm giàu trong nuôi cá biển trên thế giới và Việt Nam 10

1.3.1 Nhu cầu dinh dưỡng của cá biển 10

1.3.2 Một số nghiên cứu về thức ăn làm giàu trong ương nuôi cá biển 12

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 ối tượng nghiên cứu 16

2.2 Vật liệu nghiên cứu 16

2.3 Nội dung nghiên cứu 17

2.4 Phương pháp nghiên cứu 18

2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 18

2.4.2 Sơ đồ khối nghiên cứu 19

2.4.3 Phương pháp thu thập số liệu 19

Trang 5

2.5 Phương pháp xử lý số liệu 22

2.6 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23

3.1 Biến động các yếu tố môi trường trong quá tr nh thí nghiệm 23

3.2 Ảnh hưởng của thức ăn làm giàu đến tăng tốc độ tăng trưởng của ấu trùng cá Chẽm 24

3.2.1 Ảnh hưởng của thức ăn làm giàu đến tốc độ tăng trưởng về chiều dài của ấu trùng cá Chẽm 24

3.2.2 Ảnh hưởng của thức ăn làm giàu đến tốc độ tăng trưởng về khối lượng của ấu trùng cá Chẽm 29

3.3 Ảnh hưởng của thức ăn được làm giàu đến tỉ lệ sống của ấu trùng cá Chẽm 33

3.4 Ảnh hưởng của thức ăn làm giàu đến mức độ phân đàn của quần thể ấu trùng cá Chẽm 35

3.5 Ảnh hưởng của thức ăn làm giàu đến sức sống của ấu trùng cá Chẽm 36

3.6 ánh giá hiệu quả kinh tế của các loại thức ăn làm giàu trong ương nuôi ấu trùng cá Chẽm 38

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ TỰ VIẾT TẮT

Kí hiệu viết tắt Tên đầy đủ

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Nhu cầu acid amin không thể thay thế của một số loài cá biển 10

Bảng 1.2 Nhu cầu lipit, acid béo, carbohydrate, vitamin và khoáng của cá biển 11

Bảng 1.3 Thành phần dinh dưỡng của luân trùng và Artemia được làm giàu và không làm giàu 13

Bảng 1.4 Thành phần các acid béo của luân trùng và Artemia được làm giàu và không làm giàu 14

Bảng 3.1 Kết quả theo dõi một số yếu tố môi trường nước ở các bể thí nghiệm 23

Bảng 3.2 Tăng trưởng chiều dài của ấu trùng cá thí nghiệm 24

Bảng 3.3 Tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài của ấu trùng cá Chẽm 26

Bảng 3.4 Tăng trưởng tương đối về chiều dài của ấu trùng cá Chẽm 27

Bảng 3.5 Tăng trưởng khối lượng của ấu trùng cá thí nghiệm 29

Bảng 3.6 Tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng của ấu trùng cá Chẽm 30

Bảng 3.7 Tăng trưởng tương đối về khối lượng của ấu trùng cá Chẽm 32

Bảng 3.8 Tỉ lệ sống của ấu trùng cá thí nghiệm 33

Bảng 3.9 Hiệu quả kinh tế của các loại thức ăn làm giàu trong ương nuôi ấu trùng cá Chẽm 38

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

H nh 1.1 H nh thái ngoài của cá Chẽm trưởng thành 3

H nh 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 18

H nh 2.2 Sơ đồ khối nghiên cứu 19

H nh 3.1 ồ thị tốc độ tăng trưởng chiều dài ấu trùng cá Chẽm 24

H nh 3.2 ồ thị tốc độ tăng trưởng tuyệt đối chiều dài của ấu trùng cá Chẽm 26

H nh 3.3 ồ thị tốc độ tăng trưởng tương đối chiều dài ấu trùng cá Chẽm 28

Hình 3.4 ồ thị tốc độ tăng trưởng khối lượng ấu trùng cá Chẽm 29

H nh 3.5 ồ thị tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng ấu trùng cá Chẽm 31

H nh 3.6 ồ thị tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng ấu trùng cá Chẽm 32

H nh 3.7 ồ thị tỷ lệ sống của ấu trùng 20 ngày tuổi 33

H nh 3.8 Hệ số biến thiên CV về chiều dài ấu trùng giữa các công thức 35

H nh 3.9 ồ thị chỉ số chết tích luỹ sau khi sốc mặn ở độ mặn 55ppt 36

H nh 3.10 ồ thị chỉ số chết tích lũy theo thời gian 37

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Phát triển nghề nuôi biển là một hướng đi tất yếu của nghành nuôi trồng thuỷ sản Việt Nam Trong những năm gần đây nghề nuôi biển đã được đầu tư nghiên cứu và tạo ra nguồn giống nhiều loài cá, là tiềm năng cho phát

triển nuôi xa bờ Trong đó, cá Chẽm Lates calcarifer là một trong những đối

tượng được chú trọng phát triển hiện nay

Cá Chẽm Lates calcarifer là loài cá biển có giá trị kinh tế cao, phân bố

ở vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới trên toàn thế giới Cá tăng trưởng nhanh, thịt cá có giá trị dinh dưỡng cao, đặc biệt là hàm lượng cao các axit béo không no EPA và DHA Mặt khác, cá Chẽm còn có khả năng chống chịu với điều kiện môi trường tốt, có khả năng thích nghi rộng với sự biến động của các yếu tố môi trường, đặc biệt là nhiệt độ và độ mặn (Võ Ngọc Thám, 2000) Do đó, cá Chẽm là đối tượng tiềm năng không chỉ cho phát triển nuôi biển mà còn là một đối tượng cho phát triển nuôi gần bờ

Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đã đạt được, công nghệ sản xuất xuất giống cá Chẽm vẫn còn gặp nhiều khó khăn, trong đó chất lượng và tỷ lệ sống của ấu trùng giai đoạn đầu còn thấp và chưa ổn định là một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và sản lượng giống cá Chẽm

Một trong những khâu có thể nâng cao được sản lượng giống đó là nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng cá, trong đó chất lượng thức ăn để ương nuôi

cá Chẽm đóng vai trò quan trọng Trong giai đoạn phát triển của ấu trùng các loại acid béo không no có vai trò vô cùng quan trọng Tuy nhiên, các loài cá biển không thể chuyển đổi acid béo mạch ngắn như (18:3n-3) và (18:2n-6) thành chuỗi HUFA dài hơn v phạm vi hoạt động của các enzyme cần thiết là

có hạn Do vậy, thức ăn của ấu trùng cá Chẽm phải được cung cấp đầy đủ hàm lượng HUFA bao gồm các acid béo ARA, EPA, DHA HUFA [18] Các acid béo này giữ vai trò duy tr cấu trúc và chức năng của màng tế bào, sức chịu đựng stress, sự phát triển của hệ thần kinh và hệ thống thị giác [17]

Trang 10

Rotifer và Artemia là hai loại thức ăn chính của ấu trùng cá Chẽm Hiện nay, có nhiều hợp cách làm giàu Rotifer và Artemia nhằm bổ sung hàm

lượng HUFA bao gồm các acid béo ARA, EPA, DHA cho ấu trùng cá Chẽm Tuy nhiên, việc đánh giá hiệu quả của các phương pháp làm giàu đó đến tẳng trưởng và tỉ lệ sống của cá Chẽm vẫn còn hạn chế Xuất phát từ thực tế trên,

chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn làm giàu

đến sinh trưởng của ấu trùng cá Chẽm (Lates calcarifer, Bloch 1790) giai đoạn cá hương”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- ánh giá ảnh hưởng của thức ăn làm giàu đến tăng trưởng, tỉ lệ sống và sức sống của của ấu trùng cá Chẽm Từ đó, xác định loại thức ăn làm giàu phù hợp nhằm nâng cao tỷ lệ sống, góp phần hoàn thiện quy tr nh ương cá Chẽm

- T m ra loại thức ăn giàu mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Vài nét về đặc điểm sinh học của cá Chẽm Lates calcarifer

Tên tiếng Anh là Asian seabass hay barramundi Tiếng Việt là cá Chẽm hay cá Vược

1.1 c đi m h nh thái

H nh 1.1 H nh thái ngoài của cá Chẽm trưởng thành

Cá Chẽm có thân dài dẹt, cuống đuôi khuyết sâu ầu nhọn, nh n bên lõm về phía lưng và lồi phía trước vây lưng Miệng rộng hơi so le, hàm trên chồm tới phía sau mắt, răng dạng lông nhung, không có sự hiện diện của răng nanh Mép dưới của xương trước nắp mang có gai cứng, nắp mang có một gai nhỏ và một vẩy bên có răng cưa trước đầu đường bên Vây lưng có 7 - 9 gai cứng và 10 - 11 gai mềm, tia vây ngực ngắn và tròn có các rãnh răng cưa

Trang 12

cứng và ngắn phía trên gốc, vây lưng và vây hậu môn có 3 gai và 7 - 8 tia mềm, vây đuôi tròn, vẩy dạng lược rộng

1.1.3 c đi m phân bố và thích nghi

 Phân bố

Cá Chẽm phân bố rộng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc các nước ở khu vực Ấn ộ - tây Thái B nh Dương, kéo dài từ kinh tuyến 50o

Châu Á, phía Nam kéo dài đến Queenland (Oxtraylia) phía Tây đến ông Châu Phi

Ở Việt Nam, cá phân bố khắp các vùng biển, cửa sông, lạch, nhưng chủ yếu tập trung ở các tỉnh Nam Bộ và một số tỉnh ồng Bằng Bắc Bộ

 Thích nghi

Cá Chẽm là loài có độ muối rộng (0 - 35ppt), có khả năng thích ứng rộng với sự thay đổi của độ mặn nên cá Chẽm thích hợp cho phát triển nuôi trong các điều kiện khác nhau (Kungvankij và Ctv, 1994, Võ Ngọc Thám, 2000, Nguyễn Quang Huy, 2001) [2], [3], [4]

Cá Chẽm thích ứng với nhiệt độ từ 21 - 39oC, nhưng nhiệt độ thích hợp cho sự đẻ trứng từ 26 - 34oC, giai đoạn phát triển phôi và cá bột từ 25 - 35o

C, thích hợp nhất 27 - 28o

C, cá giống đến cá trưởng thành 21 - 39oC, thích hợp nhất 27 - 30oC (Huỳnh Văn Lâm, 2000; Tucker, 2000) [5]

quá giới hạn cho phép đều ảnh hưởng lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá

ộ pH cho cá phát triển là từ 7,0 - 8,5; DO > 4ppm; NH3 < 0,25ppm (Kungvankij và Ctv., 1994) [4]

1.1.4 c đi m dinh dưỡng, sinh trưởng

Cá Chẽm là loài cá dữ, ăn mồi sống và có khả năng ăn thịt đồng loại, đặc biệt là giai đoạn 10 - 100mm tỷ lệ ăn thịt lẫn nhau là cao nhất Chúng có thể ăn được con mồi có chiều dài bằng 60 - 70% chiều dài cơ thể chúng (Schipp, 1996) Ngoài tự nhiên, cá Chẽm ăn mồi sống, thức ăn của chúng gồm: cá nhỏ, tôm, cua và mực Giai đoạn nhỏ (cỡ 10 - 100mm) cá ăn thực vật

Trang 13

phù du (20%), chủ yếu là tảo khuê và 80% là động vật phù du và tôm, cá nhỏ,

cá trên 200mm th ăn 100% mồi động vật (Kungvankij et al, 1994) Trong điều kiện nuôi, cá con từ khi mở miệng đến cỡ 2cm cho ăn luân trùng và ấu trùng Artemia, cá giống sau giai đoạn chuyển đổi thức ăn cho đến cỡ trưởng thành cá có thể ăn tốt các loại thức ăn tổng hợp dạng viên hay thức ăn là cá tạp (Kungvankij et al, 1994; Boonyatatpalin & Williams, 2002; Glencross, 2006; Curnow et al., 2006)

Cá Chẽm là loài cá dữ nên nhu cầu protein trong thức ăn tổng hợp tương đối cao, với cá giống yêu cầ mức protein thô trong thức ăn từ 40 - 50%, giai đoạn nuôi thương phẩm từ 40 - 50%

Cá Chẽm là loài có kích thước lớn, khối lượng tối đa có thể đạt 60kg

Cá tăng trưởng chậm ở giai đoạn đầu, khi đạt 20 - 30g tốc độ tăng trưởng nhanh hơn và chậm lại khi đạt 4 kg Cá khi mới nở có chiều dài 1,44mm, sau 40 ngày đạt cỡ 17,4mm, 50 ngày 28,9mm, 90 ngày đạt chiều dài 93mm khối lượng là 9g (Kungvankij et al., 1994) Trong điều kiện nuôi, cá giống

cỡ 20 - 25mm sau thời gian ương từ 30 - 45 ngày đạt cỡ 50 - 110mm, sau

từ 6 đến 24 tháng nuôi thương phẩm cá đạt 350 - 3000g, (Schipp, 1996; Võ Ngọc Thám, 1994; Lưu Thế Phương, 2006)

1.1.5 Vòng đời

Cá chẽm trải qua phần lớn thời gian sinh trưởng ở các thủy vực nước ngọt, lợ, khi đạt cỡ trưởng thành (tuổi từ 3 - 5+ ; kích cỡ từ 3 - 5kg) sau 2 - 3 năm

cá trưởng thành 3 - 4 tuổi di cư từ vùng nước ngọt ra vùng có độ mặn 30 - 32ppt,

ổn định để thành thục và đẻ trứng Cá đẻ trứng theo chu kỳ tuần trăng, khi thủy triều lên, điều này giúp trứng và ấu trùng trôi vào vùng cửa sông, tại đó ấu trùng trôi ngược dòng đẻ lớn lên

Trang 14

1.1.6 c đi m sinh sản của cá Chẽm

1.1.6.1 Thành thục sinh dục

Cá Chẽm Lates calcarifer là loài có khả năng chuyển đổi giới tính, giai

đoạn nhỏ là cá đực sau đó chuyển thành cá cái, thời điểm chuyển đổi giới tính

1.1.6.3 Phát tri n phôi và ấu trùng

Trứng được thụ tinh có đường kính khoảng 0,8mm Sau khi thụ tinh

30 - 40 phút trứng bắt đầu phân cắt sự phân chia tế bào tiếp tục 15 - 20 phút/lần và trứng phát triển tế bào trong vòng 3 giờ Phôi được phát triển qua các giai đoạn: Phôi nang, phôi vị, phôi thần kinh, phôi mầm Sự phát triển phôi diễn ra trong môi trường nước, ở điều kiện nhiệt độ 28 - 30oC, độ mặn 30 - 32ppt, sau 18h kể từ khi đẻ, trứng nở ra cá bột Sự phát triển của phôi chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường Sự phát triển của phôi chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường như: nhiệt độ, độ mặn, ánh sáng,…Ở giai đoạn này đến khi nở mà nhiệt độ nước quá cao hay thấp hoặc có tác động cơ học mạnh cá nở ra có tỷ lệ dị h nh cao (Kungvankij

et al., 1994; Schipp, 1996)

Ấu trùng mới nở có chiều dài dao động từ 1,2 - 1,65mm, có giọt dầu nằm ở phía trước noãn hoàng làm cho cá mới nở nổi theo chiều thẳng đứng hay lệch 45o

so với mặt phẳng ngang Lúc đầu sự h nh thành sắc tố đồng loạt

Ba ngày sau khi nở, hầu như noãn hoàng được sử dụng hết, giai đoạn này cá

Trang 15

mở miệng, hàm bắt đầu cử động, ấu trụng bắt đầu sử dụng thức ăn ngoài Giai đoạn ấu trùng cá có màu đen hoặc sẫm, giai đoạn cá hương cá có màu sáng bạc, có khả năng bơi lội và bắt mồi chủ động

1.2 Tình hình nuôi và sản xuất giống cá Chẽm trên thế giới và Việt Nam

1 .1 Trên thế giới

Lates calcarifer, Bloch 1790 là loài có giá trị kinh tế cao ở khu vực

Nhiệt đới và Cận nhiệt đới thuộc Châu Á - Thái B nh Dương Do có giá trị thương phẩm cao nên cá Chẽm đó trở thành một đối tương nuôi hấp dẫn được chú trọng phát triển Tuy nhiên, điểm hạn chế lớn nhất làm cho sản lượng cá Chẽm nuôi hàng năm ở các quốc gia vẫn còn thấp là do con giống thiếu cả về số lượng cũng như chất lượng ặc biệt nguồn giống còn phụ thuộc nhiều vào đánh bắt tự nhiên nên nên rất khó khăn trong việc hoạch định

kế hoạch sản xuất

Cá Chẽm lần đầu tiên được nghiên cứu sản xuất giống thành công ở Thái Lan vào những năm 1971 (Wongsomnuk và Maneewoongsa) bằng phương pháp vuốt trứng những cá bố mẹ chín muồi sinh dục đánh bắt được từ

cá bố mẹ ngoài tự nhiên ến năm 1973, Thái Lan đã thành công trong việc kích thích nuôi vỗ, cho sinh sản thành công bằng phương pháp điều chỉnh môi trường và khép kín vòng đời của loài cá này trong sản xuất giống nhân tạo (Maneewongsa, 1987 và Kungvakij, 1987) ến năm 1985, mỗi năm Thái Lan sản xuất trên 100 triệu con giống (Anon, 1985), riêng trạm thủy sản Satul mỗi năm cung cấp trên 30 triệu con Cùng với sự phát triển của công nghệ sản xuất giống, nuôi thương phẩm ở Thái Lan cũng đó đạt những thành công đáng kể với tổng sản lượng nuôi qua các năm là: năm 1981 (215 tấn), 1982 (145 tấn), 1983 (1059 tấn, 1984 (473 tấn), 1985 (512 tấn) (Cục thống kê thủy sản Thái Lan, 1981-1985) và 1998 (4.200 tấn) (FAO, 1998)

Tiếp sau sự thành công của Thái Lan, quy tr nh sản xuất giống cá Chẽm sau đó được mở rộng ra ở nhiều nước: Philipine, Indonesia, Malaysia, Singapore, Trung Quốc, Ấn ộ, ài Loan, Australia (Mackinnon, 1984)

Trang 16

Thành công đầu tiên trong việc sản xuất cá bột và giống cá Chẽm

(Lates calcarifer) ở Malaysia được thực hiện ở Viện Nghiên Cứu Nghề Cá

Glugor - Penang vào năm 1982

Philippine việc cho cá Chẽm (Lates calcarifer) sinh sản thành công vào

tháng 8/1983 và kỹ thuật sản xuất được cải tiến, đơn giản hóa cho dễ sử dụng

và đạt được hiệu quả hơn (Fortes, 1987)

Hiện nay, một số nước có tiềm năng nuôi trồng thủy sản lớn như: Trung Quốc, Nauy, Indonesia, Philipine…đã sản xuất và nuôi thương phẩm

cá Chẽm với quy mô công nghiệp trong ao đất, nuôi lồng trên biển với mật

năng suất đạt 8 - 10tấn/ha Sản lượng cá Chẽm nuôi ở khu vực Châu Á - Thái B nh Dương năm 2004 khoảng 25.399 tấn, tổng giá trị khoảng 65,08 triệu USD (FAO, 2004) Tại các quốc gia này, nguồn giống phục vục cho các trại nuôi được cung cấp chủ yếu từ sản xuất giống nhân tạo Bên cạnh đó việc tiếp nhận và làm chủ được công nghệ giúp cho các trại sản xuất giống chủ động trong quá tr nh sản xuất

1 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu cá Chẽm được bắt đầu tư những nghiên cứu của Mai nh Yên (1979) và Nguyễn Nhật Thi (1991) điểm h nh thái, phân bố, đặc điểm sinh học và đánh giá nguồn lợi cá Chẽm

Theo nghiên cứu của các tác giả Trường ại học Thủy sản - Nha Trang (Võ Ngọc Thám & Ctv (1994)), ầm Nha Phu - Khánh Hòa là một trong những vùng phân bố của cá Chẽm ở Việt Nam Các điều kiện: Khí hậu, thủy văn, địa h nh, yếu tố thủy lí, thủy hóa của ầm Nha Phu rất thuận lợi cho cá Chẽm sinh sống và phát triển qua các giai đoạn trong vòng đời, thành thục sinh dục và sinh sản Nhóm nghiên cứu đã xác định được một số bãi đẻ của cá Chẽm ở vùng cửa ầm nơi có độ sâu 5 - 6m, độ mặn 30 - 33ppt, nhiệt độ 28 -

đẻ trứng mạnh ở các tháng 4, 5, 6 và mùa sinh sản kéo dài đến mùa mưa ồng thời, cá giống cũng được t m thấy ở vùng ven bờ gần các ao tôm, nhiều nhất vào các tháng 10 và 11 [5]

Trang 17

Năm 1994, việc nghiên cứu, thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá Chẽm được tiến hành tại Viện Nghiên cứu NTTS II, trường ại học Cần Thơ, ại học thủy sản Nha Trang ến năm 2000, Viện Nghiên cứu NTTS II đã nghiên cứu thành công công nghệ sản xuất giống cá Chẽm, khép kín quy tr nh thuần dưỡng và nuôi vỗ cá bố mẹ, kích thích sinh sản và ương lên giống trong bể xi măng (Nguyễn Duy Hoan và Võ Ngọc Thám, 2000) [3] Tiếp đến, công nghệ sản xuất giống được Viện Nghiên cứu NTTS II chuyển giao cho một số tỉnh như: Bà Rịa - Vũng Tàu, Thái B nh, Cà Mau… Và được các công ty cùng các trại sản xuất giống quy mô hộ gia đ nh đưa đối tượng vào sản xuất đại trà

ặc biệt, công ty cổ phần thủy sản Nhất Giống, Bà Rịa - Vũng Tàu trung b nh mỗi sản xuất khoảng 15 triệu con giống, cung cấp cho các địa phương trên cả nước, nuôi thương phẩm cá Chẽm bằng thức ăn công nghiệp đạt năng suất 30 - 50tấn/ha Công ty Saipac (Úc) đã khép kín quy tr nh sản xuất, từ thuần dưỡng và nuôi vỗ cá bố mẹ, cho sinh sản, ương giống trong bể

xi măng, bể composite và nuôi thương phẩm trong khu vực ao nuôi của công

ty với năng suất 20 - 30tấn/ha Tại các tỉnh ồng Bằng sông Cửu Long, phong trào nuôi cá Tra giảm mạnh do xuất khẩu bị ép giá Do đó, nhiều công

ty tư nhân và hộ gia đ nh đã chuyển đổi sang nuôi cá Chẽm thương phẩm Năm 2010, công ty Nhất Giống đã tư vấn cho các hộ dân ở Bến Tre, Tiền

dự tính lên tới 70tấn/ha

Trong những năm vừa qua, phong trào nuôi cá Chẽm phát triển mạnh, tuy nhiên nguồn giống tự nhiên ít Mặt khác, sản xuất giống nhân tạo trong nước đang trong giai đoạn phát triển, do đó nguồn giống tự cung cấp trong nước còn hạn chế ặc biệt, các tỉnh từ Thừa Thiên Huế trở ra, hàng năm vẫn phải nhập con giống từ các nước Trung Quốc, Indonesia… Trong đó, không ít

số lượng giống chất lượng kém đó gây chết hàng loạt sau 1 - 2 tháng nuôi gây thiệt hại kinh tế cho các hộ nuôi, đồng thời gây ô nhiễm nguồn bệnh cho các khu vực nuôi

1.3 Nghiên cứu về thức ăn làm giàu trong ƣơng nuôi ấu trùng cá biển

Trang 18

1.3.1 Nhu cầu dinh dưỡng của cá bi n

Dinh dưỡng là một trong những yếu tố quan trọng quyết định tốc

độ tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá biển, thường phụ thuộc vào hàm lượng DHA, EPA và ARA có trong thức ăn [22] Nhiều công tr nh nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng của ấu trùng cá biển cho thấy, nhu cầu dinh dưỡng của cá biển về các acid amin không thể thay thế (IAA) dường như thay đổi không đáng kể giữa các loài cá biển với nhau (Bảng 1.1) Tuy nhiên, căn cứ vào sự tương quan tương đối chặt chẽ giữa cấu trúc chặt chẽ giữa cấu trúc acid amin của toàn bộ cơ thể và nhu cầu IAA của các loài khác nhau, trong thực tế người ta có thể lập được công thức thức ăn chứa một kiểu IAA phản ánh được toàn bộ cấu trúc acid amin của protein của toàn bộ cơ thể [13]

Bảng 1.1 Nhu cầu acid amin không thể thay thế của một số loài cá biển (%Protein)

Loài Arg His lle Lys Leu Thr Try Met

+Cys Nguồn

Dicentrarchus

[13]; [15]

Bảng 1.2 Nhu cầu lipit, acid béo, carbohydrate, vitamin và khoáng của cá biển

Loài Lipit

(%)

Acid béo (%)

Carbo hydrat (%)

Vitamin (mg/kg)

Khoáng (mg/kg) Nguồn

Trang 19

2

C < 50;

E=500 P:0,6

[13], [15]

Lates

calcarife 12,9

n-3HUFA:3 n-3:n-6=1,5- 1,7:1

20

B6:5-10 CoA:15-90 C:700 (tinh thể);

0,65 [9]

P:0,55-Salmo

salar 20-40

n-3 HUF:1 (EPA+DHA) 6-15

Các loài cá biển có nhu cầu về các axit béo không no (n-3HUFA: Higly Unsaturated Fatty Acid) tương đối cao, khoảng 0,5 - 2% trong tổng số các axit béo [27], đặc biệt là 2 acid béo không no (EPA) và DHA [26] Tuy nhiên,

do các loài cá biển không thể dễ dàng chuyển hoá toàn bộ các acid béo 18:2n-6 hoặc 18:3n-3 trong thức ăn thành các acid béo không bão hoà có trên3 nối đôi (HUFA) như là: 20:4n-6 (ARA), 20:5n-3 (EPA), hoặc 22:6n-3 (DHA), trong khi những acid béo này rất cần cho nhiều chức năng sống, đặc biệt

là giai đoạn ấu trùng cá biển [20], [22] Việc thiếu các axit béo không no trong khẩu phần ăn sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh, giảm tỉ lệ sống và tăng trưởng chậm [27] V vậy cần phải cung cấp một lượng nhất định acid béo thiết yếu (có trong dầu mực, dầu cá ) để đáp ứng nhu cầu này của cá biển

Ngoài ra, các nghiên cứu gần đây cũng cho thấy nhu cầu các vitamin tan trong nước, các chất khoáng và các nguyên tố vi lượng Việc cung cấp tất cả các vitamin ở các mức nhu cầu tối thiểu là đủ cho sinh trưởng đạt mức tối đa của nhiều loài cá [14]

Trong ương nuôi ấu trùng cá biển, vi tảo, luân trùng (Branchionus

plicatilis), Artemia là 3 nhóm thức ăn tươi sống quan trọng Trong đó, Rotifer và

Artemia là hai loại thường dùng làm thức ăn cho ấu trùng cá Tuy nhiên, do thành phần acid béo có trong Rotifer và Artemia thiếu nên cần phải làm giàu chúng để

làm tăng các axit béo cần thiết trước khi cho cá ăn [23]

Trang 20

Trên thế giới đã có hơn 40 loài tảo khác nhau được phân lập nhằm phục vụ nuôi trồng thủy sản Các loài tảo biển có giá trị dinh dưỡng khác nhau, song protein luôn là thành phần hữu cơ chủ yếu chiếm 12 - 35%, lipit chiếm 7,2 - 23% và carbohydrat chiếm 4,6 - 23% trọng lượng khô Hàm lượng các axit béo không no (HUFA), axit Eicosapentaenoic (20:5n-3, EPA) axit Arachidonic (20:4n-6, ARA), axit Docosahexaenoic (22:6n-3, DHA) và axit Ascorcbic là những axit quan trọng trong thành phần dinh dưỡng của tảo được làm thức ăn cho các loài thủy hải sản [19]

Rotifer là loài có kích thước nhỏ và tốc độ bơi chậm do đó chúng trở thành

con mồi thích hợp của ấu trùng cá khi vừa hết noãn hoàng Trong khi đó, Artemia

là ấu trùng lớn cá hết noãn hoàng không thể ăn được [12] Giá trị dinh dưỡng của luân trùng: Protein 26 – 63%, Lipit chiếm 9 – 28% khối lượng khô

Có 2 loài luân trùng: Brachionus rotundiformis hay dòng nhỏ (S - type)

có kích thước 100 - 200μm (Trung b nh 160μm) và loài B.Plicalitis hay dòng

lớn (L - type) có kích thước 130 - 140μm [19] Hiện nay, việc nuôi sinh khối luân trùng đã được tiến hành chủ động nhờ vào thức ăn là men bánh m

và tảo, song để đảm thành phần dinh dưỡng cho sự phát triển của ấu trùng cá biển cần phải làm giàu luân trùng bằng các axit béo không no như DHA, EPA, ARA, 3-HUFA Các chất này được lấy từ các sản phẩm công nghiệp như protein selco, DHA selco hoặc lấy từ các loài

tảo như: Nanochloropsis, Tetraselmis, Isochrysis [13]

1.3 Một số nghiên cứu về thức ăn làm giàu trong ương nuôi cá bi n

Thức ăn làm giàu có vai trò nhất định đối với ấu trùng cá biển ể nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn làm giàu, phương pháp làm giàu có vai trò hết sức quan trọng Nhiều nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng thức ăn được làm giàu trong

ương nuôi các loài cá biển như: cá Chẽm (Lates calcarifer) cá Mú Châu Âu (Disentrarchus labrax) Cho thấy ngoài việc làm tăng chất lượng ấu trùng, thức ăn

tươi sống làm giàu bằng HUFA còn làm tăng tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và khả năng chịu dựng stress của ấu trùng [13]

Kết quả nghiên cứu của Derht và ctv (1990) về việc dử dụng ω3 - HUFA

làm giàu thức ăn tươi sống để cải thiện tỷ lệ sống cho ấu trùng cá Chẽm (Lates

Trang 21

calcarifer), ông đã dùng phương pháp sốc mặn để đánh giá sức sống của ấu trùng

cá Chẽm Ông kết luận rằng: Cá ăn thức ăn giàu HUFA có sức sống tốt hơn và hiện tượng chết sớm có thể do cá ăn thức ăn không được làm giàu Sự thiếu hụt HUFA trong khẩu phần ăn đã dẫn cá chết nhiều ở 27 ngày, khi Artemia làm giàu bằng Protein Selco được cho vào một lúc sau khi bắt đầu sự chết th một số con đã b nh phục và sự chết ngừng lại trong 2 ngày [10]

Năm 1994, khi nghiên cứu ảnh của việc làm giàu thức ăn tươi sống

đối với sinh trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng cá Chẽm (Lates

calcarifer), Rimmer và ctv đã tiến hành phân tích để so sánh thành phần

dinh dưỡng của luân trùng và Artemia không làm giàu và được làm giàu

bằng dung dịch Booster [21] Thành phần các axit béo và các aminoaxit

ở luân trùng và Artemia không làm giàu và được làm giàu bằng dung

dịch Booster được tr nh bày trong bảng 1.1, 1.2

Bảng 1.3 Thành phần dinh dưỡng của luân trùng và Artemia

được làm giàu và không làm giàu

Thành phần %

Không Làm giàu

Làm

thành

Làm giàu

Trang 22

Bảng 1.4 Thành phần các acid béo của luân trùng và Artemia

được làm giàu và không được làm giàu

và Artemia không được làm giàu Luân trùng và Artemia được làm giàu

có hàm lượng acid béo DHA (22:6n-3) mà thành phần này không có ở luân trùng và Artemia không được làm giàu Như vậy, việc làm giàu thức ăn tươi sống đã làm thay đổi đáng kể thành phần dinh dưỡng của chúng và đáp ứng phần nào nhu cầu dinh dưỡng của cá Cũng trong thí nghiệm này, Rimmer và ctv đã chỉ ra rằng có sự sai khác về tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng cá Chẽm sau 22 ngày tuổi (P < 0,05) Sau 22 ngày tuổi, ấu trùng được nuôi bằng thức ăn là luân trùng và

Trang 23

Artemia được làm giàu có tốc độc tăng trưởng và tỉ lệ sống cao hơn so với ấu trùng được nuôi bằng luân trùng và Artemia không được làm giàu Ấu trùng được nuôi bằng luân trùng và Artemia không được làm giàu có chiều dài trung b nh 8,47mm trong khi đó ấu trùng được nuôi bằng luân trùng và Artemia được làm giàu đạt 9,54mm [21]

Năm 2006, Nguyễn Thị Ngọc Toán đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn được làm giàu đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng cá Giò Kết quả nghiên cứu cho thấy: Ấu trùng cá Giò sử

dụng thức ăn được làm giàu bằng tảo Pavlova có xu hướng tăng trưởng

cả về kích thước và khối lượng nhanh hơn khi sử dụng thức ăn làm giàu bằng dầu DHA selco A1 và thức ăn làm giàu Ấu trùng sử dụng thức ăn

thức ăn làm giàu bằng tảo Pavlova, mức sai khác không có ý nghĩa thống

kê [6]

Năm 2008, khi nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn làm giàu lên sinh trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng cá Chẽm, Lục Minh Diệp và ctv đã chỉ ra rằng: Với thức ăn làm giàu bằng DHA Protein Selco là thích hợp nhất cho sự sinh trưởng của ấu trùng cá Chẽm [1]

Trang 24

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

ối tượng nghiên cứu là ấu trùng cá Chẽm Lates calcarifer, Bloch, 1790

giai đoạn cá bột lên cá hương ây là đợt ấu trùng cho sinh sản tại bè nuôi cá bố

mẹ, sau đó được vận chuyển về trại ương của Công ty cổ phần Nhất Giống - Bà Rịa Vũng Tàu

2.2 Vật liệu nghiên cứu

Vật liệu nghiên cứu bao gồm:

Các loại thức ăn sử dụng cho ấu trùng cá trong thí nghiệm

Thức ăn thí nghiệm được thiết lập với 3 công thức thức ăn được làm giàu bằng các cách sau:

- Luân trùng (Brachionus plicatilis) và nauplius Artemia INVE được

làm giàu bằng DHA Protein Selco (CT1)

Phương pháp làm giàu: Luân trùng và Artemia được lọc sạch và cho vào bể làm giàu, mật độ luân trùng và Artemia lần lượt là 3000con/ml và

10h bổ sung DHA Protein selco lần thứ 2 với liều lượng như trên Trước khi cho vào làm giàu, DHA Protein selco được xay kĩ bằng máy say sinh tố Sau 24h thu hoạch và rửa sạch dầu trước khi cho cá ăn Trong quá tr nh làm giàu cần sục khí đủ mạnh đảm bảo DO > 4mg/l

- Luân trùng (Brachionus plicatilis) và nauplius Artemia INVE được

làm giàu bằng tảo Tetraselmis sp (CT2)

Phương pháp làm giàu: Luân trùng và Artemia được lọc sạch và cho vào bể làm giàu, mật độ luân trùng và Artemia lần lượt là 3000con/ml và

300con/ml Tảo Tetraselmis sp cho vào bể làm giàu với tỉ lệ 300.000 tế

bào/ml Sau 6 giờ, thu hoạch và lọc sạch tảo trước khi cho ấu trùng cá ăn

- Luân trùng (Brachionus plicatilis) và nauplius Artemia INVE được

làm giàu bằng hỗn hợp DHA Protein Selco tảo Tetraselmis sp (CT3)

Trang 25

Phương pháp làm giàu: Luân trùng và Artemia sau khi nở được lọc sạch, cho vào bể làm giàu, mật độ luân trùng và Artemia lần lượt là 3000con/ml và 300con/ml Lượng dầu DHA protein Selco cho vào bể là 60mg/l Tính lượng dầu

cần dùng chia làm 2 phần, cách 12h cho vào bể 1 lần Tảo Tetraselmis sp cho vào

bể làm giàu trước khi thu hoạch khoảng 6 - 8 tiếng với tỉ lệ 150.000 tế bào/ml Sau 24h thu hoạch và rửa sạch dầu trước khi cho cá ăn Trong quá tr nh làm giàu cần sục khí đủ mạnh đảm bảo DO > 4mg/l

Dụng cụ thí nghiệm

- Bể composite thể tích 150 lít, h nh trụ tròn, màu đen

- Hệ thống sục khí, trống lọc, đèn neon

- Xô, chậu các loại, lưới lọc cỡ mắt nhỏ, các dụng cụ thu thức ăn

- Cân điện tử (HN-202), Nhật Bản, chính xác đến 0,01mg thước đo chiều dài:

Thước đo chiều dài (độ chính xác đến 0,1mm) và kính hiển vi có gắn thước đo (mm)

- Các dụng cụ đo các yếu tố môi trường: Máy đo pH, khúc xạ kế, máy

đo DO meter

- Các dụng cụ khác

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Theo dõi sự biến động các yếu tố môi trường trong thí nghiệm

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn làm giàu đến tăng trưởng của ấu

trùng cá Chẽm giai đoạn cá hương

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn làm giàu đến tỉ lệ sống của ấu

trùng cá Chẽm giai đoạn cá hương

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn làm giàu đến tỉ lệ phân đàn của ấu

trùng cá Chẽm giai đoạn cá hương

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn làm giàu đến tỉ lệ sống của ấu

trùng cá Chẽm giai đoạn cá hương

- ánh giá hiệu quả kinh tế của việc sử dụng các loại thức ăn làm giàu

trong ương nuôi ấu trùng cá Chẽm

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 26

4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức tương ứng với 3 công thức thức ăn làm giàu, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần, các yếu tố phi thí nghiệm được khống chế giống nhau Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên hoàn toàn một nhân tố

Công thức thí nghiệm:

- Công thức 1 (Kí hiệu: CT1): Luân trùng và Artemia INVE được làm

giàu bằng DHA Protein Selco

- Công thức 2 (Kí hiệu: CT2): Luân trùng và Artemia INVE được làm

giàu bằng tảo Tetraselmis sp

- Công thức 3 (kí hiệu: CT3): Luân trùng và Artemia INVE được làm

giàu bằng DHA Protein Selco kết hợp với tảo Tetraselmis sp

- ơn vị thí nghiệm (B): Bể thí nghịêm

- Công thức thức ăn (CT): Công thức thí nghiệm.

iều kiện thí nghiệm:

Ấu trùng sau khi nở được chuyển vào các bể thí nghiệm với mật độ là 50con/l, mực nước duy tr 100 (l) Các bể phải đảm bảo điều kiện ương ban đầu như nhau: nhiệt độ nước biến động từ 27 – 30oC, độ mặn biến động từ 27 – 32ppt, pH từ 7,5 - 7,9; hàm lượng oxi hoà tan lớn hơn 5mg/l, bể ương được lắp sục khí, đèn chiếu sáng 40w, cách mặt bể 50cm

Trang 27

4 Sơ đồ khối nghiên cứu

H nh 2.2 Sơ đồ khối nghiên cứu

4.3 Phương pháp thu thập số liệu

* Xác định các chỉ số môi trường

- Xác định nhiệt độ bằng máy đo oxymeter

- Xác định độ mặn bằng khúc xạ kế

- Xác định pH bằng máy đo pH meter

- Xác định oxy hoà tan bằng máy đo DO meter

Các yếu tố nhiệt độ, pH, oxy hòa tan được đo ngày 2 lần/ngày vào lúc 7h và 14h

Ảnh hưởng củ a thức ă n là m già u

đ ế n sinh trưởng ấ u trùng cá Chẽ m

Trang 28

* Phương pháp xác định các chỉ số của cá thí nghiệm

- Các chỉ tiêu tăng trưởng tuyệt đối

Wt: Là khối lượng ở thời điểm sau (mg)

S

L : Là chiều dài thân ở thời điểm trước (mm)

Lt: Là chiều dài thân ở thời điểm sau (mm)

t

 : Là khoảng cách giữa hai lần đo

- Tốc độ tăng trưởng tương đối SGR (Special growth rate )

Theo Ricker (1975 - 1979) tốc độ tăng trưởng theo ngày được tính theo công thức

Wt: Là khối lượng ở thời điểm sau (mg)

S

L : Là chiều dài thân ở thời điểm trước (mm)

Lt: Là chiều dài thân ở thời điểm sau (mm)

t

 : Là khoảng cách giữa hai lần đo

Trang 29

* Phương pháp xác định tỷ lệ sống

Tỉ lệ sống (%) =

* Mức độ phân đàn của quần thể ấu trùng

ộ phân đàn về kích thước quần thể ấu trùng ở mỗi bể được đánh giá dựa trên hệ số biến thiên (HSBT) về chiều dài toàn thân của 30 ấu trùng cá 21 ngày tuổi thu được từ mỗi bể đó HSBT càng lớn th quần thể có mức độ phân đàn càng mạnh

Xi: Là giá trị thựccủa từng mẫu

* Đánh giá sức sống của ấu trùng thông qua sốc mặn (theo phương pháp của Dhert và ctv, 1990)

Sau khi tiến hành thử sốc độ mặn cá Chẽm 20 ngày tuổi ở các độ mặn 50ppt, 55ppt, 60ppt, và 65ppt Sau đó xác định độ mặn để sốc mặn

ộ mặn được chọn để sốc mặn là tại ngưỡng độ mặn đó cá không chết quá nhanh (dưới 30 phút) và không quá chậm (sau 2 tiếng)

Trang 30

Phương pháp sốc mặn: Cấp nước biển 55ppt vào 9 xô 3 (l) có sục khí Bắt ở mỗi bể thí nghiệm 10 ấu trùng cá bằng vợt chuyên dụng, nhẹ nhàng cho vào ống lưới đường kính 110cm đó được đặt sẵn trong xô chứa nước bể ương tương ứng, để yên cá một lúc sau đó nhẹ nhàng nhấc ống lưới vào các xô chứa nước biển 55ppt, cùng lúc đó bấm thời gian cứ 5 phút kiểm tra và đếm số cá chết tích lũy đến lúc cá chết hết

Chỉ số chết tích lũy (Cumulative mortality index): được tính bằng tổng số cộng dồn số lượng cá chết sau các khoảng thời gian 5 phút Chỉ

số này càng cao th sức sống càng kém do mức độ mẫn cảm lớn và cá càng dễ bị stress

2.5 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thu được, được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học có sử

dụng phần mềm SPSS, Excel

2.6 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8 đến tháng 10 năm 2010

- ịa điểm nghiên cứu: Thí nghiệm được thực hiện tại Công ty Cổ Phần

thuỷ sản Nhất Giống - Bà Rịa Vũng Tàu

Trang 31

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Biến động các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm

Các yếu tố môi trường có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của ấu trùng cá Chẽm Trong quá tr nh tiến hành thí nghiệm, các yếu tố môi trường được theo dõi thường xuyên và kết quả được thể hiện ở bảng 3.1

Bảng 3.1 Kết quả theo dõi một số yếu tố môi trường nước ở bể thí nghiệm

thích hợp cho giai đoạn phát triển phôi và cá Chẽm bột từ 25 - 35o

Trang 32

3.2 Ảnh hưởng của thức ăn làm giàu đến tăng tốc độ tăng trưởng của ấu trùng cá Chẽm

3 .1 Ảnh hưởng của thức ăn làm giàu đến tốc độ tăng trưởng về chiều dài của ấu trùng cá Chẽm

Bảng 3.2 Tăng trưởng chiều dài của ấu trùng cá thí nghiệm

H nh 3.1 ồ thị tốc độ tăng trưởng chiều dài ấu trùng cá Chẽm

Trang 33

Kết quả nghiên cứu thể hiện ở bảng 3.2 và h nh 3.1 cho thấy: Tăng trưởng về chiều dài của ấu trùng cá Chẽm cao nhất ở CT1 đạt 8,32mm, tiếp đến là CT2 đạt 7,78mm và nhỏ nhất ở CT3 đạt 7,41mm

Tại thời điểm cá 8 ngày tuổi, tăng trưởng về chiều dài của ấu trùng

cá tương đương nhau, sai khác không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 Tuy nhiên, tại thời điểm 13, 18 và 21 ngày tuổi tăng trưởng về chiều dài của ấu trùng cá Chẽm có sự sai khác có ý nghĩa thống kê giữa các công thức

Ở ngày tuổi thứ 13, chiều dài của ấu trùng cá Chẽm cao nhất ở CT1 đạt 4,14mm, tiếp đến là CT2 đạt 4,12mm và nhỏ nhất ở CT3 đạt 4,0mm Ở ngày tuổi thứ 18 và 23, chiều dài của ấu trùng cá Chẽm cao nhất ở CT1 đạt 5,65mm

Như vậy, nghiên cứu của chúng tôi ảnh hưởng của thức ăn làm giàu lên tăng trưởng chiều dài ấu ấu trùng cá Chẽm phù hợp với nghiên cứu của Lục Minh Diệp và ctv, 2008

Tuy nhiên, để đánh giá hiệu quả sử dụng các loại thức ăn làm giàu, chúng tôi tiến hành phân tích tăng trưởng tuyệt đối và tăng trưởng tương đối

về chiều dài ấu trùng cá Chẽm Kết quả phân tích thể hiện ở bảng sau:

Trang 34

Bảng 3.3 Tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài của ấu trùng cá Chẽm (mm/ngày)

H nh 3.2 ồ thị tốc độ tăng trưởng tuyệt đối chiều dài của ấu trùng cá Chẽm Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài

của ấu trùng cá Chẽm tăng theo thời gian Giai đoạn từ 3 - 13 ngày tuổi tăng

trưởng tuyệt đối về chiều dài giữa các công thức là tương đương nhau Trong

đó, giai đoạn từ 3 - 8 ngày tuổi, cao nhất ở CT1 đạt 0,13mm/ngày, tiếp đến là CT2: 0,12mm/ngày và thất nhất ở CT1: 0,1mm/ngày Giai đoạn từ 13 - 18

Trang 35

ngày tuổi, tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài giữa các công thức cao nhất ở CT2 đạt 0,32mm/ngày, và thấp hơn ở CT1 và CT3 là 0,31mm/ngày Cả hai giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài giữa các công thức sai khác không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05

Tuy nhiên, giai đoạn từ 18 - 23 ngày tuổi, tăng trưởng tuyệt đối về

chiều dài giữa các công thức cao nhất ở CT1 đạt 0,53mm/ngày, tiếp đến

là CT2: 0,52mm/ngày và thất nhất ở CT1: 0,48mm/ngày Nguyên nhân là

ở giai đoạn này, ấu trùng cá Chẽm sử dụng thức ăn làm giàu bằng DHA Protein Selco có khả năng thích nghi tốt hơn trong giai đoạn chuyển đổi thức ăn từ luân trùng sang nauplius Artemia Do đó tốc độ tăng trưởng nhanh hơn

Giai đoạn 18 – 23 ngày tuổi: ây là giai đoạn cá có tốc độ tăng trưởng tuyệt đối lớn nhất Tuy nhiên, ở giai đoạn này sự sai khác về tốc độ tăng trưởng tuyệt đối sai khác không có ý nghĩa về mặt thống

kê, p < 0,05 Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Lục Minh Diệp

Ngày đăng: 07/10/2021, 23:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w