Điều đó đòi hỏi du lịch Nghệ An cần có sự vào cuộc mạnh mẽ của hoạt động xúc tiến nhằm khai thác và phát huy các lợi thế, tiềm năng du lịch, nâng cao sức hấp dẫn của điểm đến du lịch Ngh
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Tr-ờng đại học vinh
Khoa lịch sử
-*** -
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Tìm hiểu hoạt động xúc tiến
điểm đến du lịch Nghệ An
Giảng viên h-ớng dẫn: trần thị thủy Sinh viên thực hiện: trần thị th-ơng Lớp: 48B2 – Du lịch
MSSV: 0756061788
Vinh – 2011
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo khoa Lịch sử, người thân, bạn bè, …
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô giáo Trần Thị Thủy Cô đã dành nhiều thời gian, tâm huyết, tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài này và đã truyền cho tôi lòng say
mê nghiên cứu khoa học
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể thầy giáo, cô giáo khoa Lịch
sử, Trường Đại học Vinh đã có những chỉ bảo, góp ý và tạo điều kiện giúp đỡ
để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nghệ An, Trung tâm Thông tin xúc tiến du lịch Nghệ An đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi trong việc cung cấp tài liệu để tôi hoàn thành khóa luận
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã động viên khích lệ, đóng góp ý kiến, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này
Vinh, ngày 16 tháng 5 năm 2011
Sinh viên
Trần Thị Thương
Trang 31.2.2 Tạo điều kiện để tiêu thụ sản phẩm nhiều lần 6
1.2.4 Đối với doanh nghiệp, các đại lý trung gian và người tiêu dùng 6
Trang 41.3 Nội dung của hoạt động xúc tiến du lịch 7
1.3.1 Tuyên truyền giới thiệu về điểm đến du lịch 7
1.3.3 Huy động các nguồn lực để đầu tư phát triển du lịch 9 1.3.4 Nghiên cứu thị trường và xây dựng sản phẩm du lịch 9
Trang 5CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN
HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH NGHỆ AN
3.2.2 Giải pháp hoàn thiện bộ máy tổ chức xúc tiến và nâng cao năng
lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác xúc tiến du lịch của tỉnh
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
TTXTDL Trung tâm xúc tiến du lịch
Sở VHTT & DL Sở Văn hóa, thể thao và du lịch
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Trang Bảng 2.1 Tổng hợp các di tích lịch sử - văn hóa tỉnh Nghệ An đã
Bảng 2.8 Tổng hợp kinh phí xúc tiến quảng bá du lịch cấp từ
nguồn ngân sách tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006 - 2010
27
Bảng 2.9 Tổng hợp ấn phẩm, tài liệu quảng bá du lịch Nghệ An
phát hành trong giai đoạn 2003-2009
29
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, trong xu thế phát triển mạnh mẽ của du lịch trên thế giới cũng như trong khu vực, các quốc gia, địa phương ngày càng đẩy mạnh hoạt động xúc tiến nhằm cạnh tranh và thu hút khách du lịch Xúc tiến du lịch là một công cụ tiếp thị hiệu quả để truyền tải những thông điệp và hình ảnh hấp dẫn của điểm đến tới thị trường khách mục tiêu Như vậy, xúc tiến không chỉ
là cầu nối giữa điểm đến du lịch và thị trường khách du lịch mà còn là công
cụ tạo ra cầu hay thị trường du lịch cho điểm đến
Nghệ An là tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch với hệ thống tài nguyên tự nhiên và nhân văn phong phú, đa dạng Tuy nhiên, du lịch Nghệ
An chưa có sự phát triển tương xứng với tiềm năng hiện có và chưa thực sự trở thành một điểm đến hấp dẫn Điều đó đòi hỏi du lịch Nghệ An cần có sự vào cuộc mạnh mẽ của hoạt động xúc tiến nhằm khai thác và phát huy các lợi thế, tiềm năng du lịch, nâng cao sức hấp dẫn của điểm đến du lịch Nghệ An trong lòng du khách, đóng góp vào sự phát triển chung của du lịch tỉnh nhà
Trong thời gian qua, hoạt động xúc tiến du lịch Nghệ An đã có những bước đi bài bản, góp phần không nhỏ làm nâng cao hình ảnh, vị thế du lịch Nghệ An trên thị trường du lịch trong nước và quốc tế Mặc dù đạt được những kết quả đáng khích lệ, song công tác xúc tiến vẫn chưa đủ tầm vươn ra thị trường quốc tế, nội dung tuyên truyền quảng bá còn đơn điệu, kinh phí đầu
tư cho hoạt động xúc tiến còn hạn chế, các doanh nghiệp chưa tích cực tham gia vào các hoạt động xúc tiến
Từ tính cấp thiết đó, tôi lựa chọn đề tài Tìm hiểu hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch Nghệ An làm khóa luận tốt nghiệp nhằm đề xuất các giải
pháp tăng cường hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch Nghệ An, góp phần thúc đẩy ngành du lịch Nghệ An ngày càng phát triển
Trang 92 Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về xúc tiến điểm đến du lịch
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch Nghệ An trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Cơ chế, chính sách, chương trình xúc tiến, phát triển du lịch tỉnh Nghệ
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận chung là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, xem xét Nghệ An là một điểm đến du lịch trong mối quan hệ với hệ thống điểm đến du lịch của các tỉnh, thành phố trong cả nước, với các thị trường khách trong nước và trên thế giới Mặt khác khóa luận nghiên cứu hoạt động xúc tiến Nghệ An trong mối quan hệ với các ngành kinh tế, xã hội khác
Bên cạnh đó, khóa luận còn sử dụng các phương pháp cụ thể khác như: phương pháp thu thập và xử lý số liệu, phương pháp phân tích và tổng hợp,
Trang 10phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp khảo sát thực địa và lấy ý kiến chuyên gia
5 Lược sử vấn đề nghiên cứu
Hiện nay, Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu, chuyên khảo
đề cập đến điểm đến và xúc tiến điểm đến du lịch nói chung và tỉnh, thành
phố nói riêng Tiêu biểu như: Nguyễn Văn Dung (2009), “Chiến lược, chiến thuật quảng bá marketing du lịch”; Viện nghiên cứu phát triển du lịch (2005),
“Nghiên cứu đề xuất giải pháp đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch Việt Nam tại một số thị trường du lịch quốc tế trọng điểm”
Về hoạt động xúc tiến du lịch Nghệ An, chỉ có một số bài viết tại các hội nghị, hội thảo về du lịch, trong đó đề cập đến một số vấn đề đơn lẻ, chưa nghiên cứu một cách tổng hợp về xúc tiến du lịch Nghệ An
Nhìn chung, các công trình, chuyên khảo trên chưa nghiên cứu nhiều vấn đề về điểm đến và xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh, thành phố một cách toàn diện và hệ thống Do đó việc tiếp cận vấn đề này một cách hệ thống rất cần thiết và có ý nghĩa không chỉ riêng với tỉnh Nghệ An mà có thể áp dụng với các tỉnh thành phố khác trong cả nước
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung của khóa luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Những lý luận chung về hoạt động xúc tiến du lịch
Chương 2: Thực trạng hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch Nghệ An Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động xúc tiến điểm
đến du lịch Nghệ An
Trang 11NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG
XÚC TIẾN DU LỊCH
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Xúc tiến và xúc tiến hỗn hợp
Cho đến nay khái niệm xúc tiến còn khá mới mẻ và chưa có sự thống
nhất Theo Trần Ngọc Nam trong cuốn Cẩm nang nghiệp vụ tiếp thị du lịch & Quy định pháp luật mới về kinh doanh du lịch, nhà hàng, khách sạn thì xúc
tiến được hiểu như là chiêu thị, là cách sử dụng các phương tiện truyền tin giữa người bán và những người mua hàng (hay có ý định mua hàng) để thuyết phục họ mua những sản phẩm của mình [19, 48]
Như vậy, xúc tiến (Promotion) là một trong 4 yếu tố của Marketing hỗn hợp (Marketing – mix) Đó là sự liên kết giữa người bán và người mua cho mục đích kiểm soát, cung cấp thông tin hoặc làm tăng sức mua của người tiêu dùng
Xúc tiến hỗn hợp (Promotion - mix): Là quá trình truyền thông trong kinh doanh chương trình du lịch nhằm mục đích truyền tin về sản phẩm là các chương trình du lịch cho người tiêu dùng trên thị trường mục tiêu, một mặt giúp họ nhận thức được các chương trình du lịch của doanh nghiệp, một mặt kích thích người tiêu dùng mục tiêu mua sản phẩm và trung thành với sản phẩm của doanh nghiệp Hoạt động xúc tiến hỗn hợp bao gồm: quảng cáo, quan hệ công chúng, kích thích tiêu thụ, bán hàng trực tiếp, mạng internet
1.1.2 Điểm đến du lịch
Điểm đến du lịch (Tourism destination) là một khái niệm rộng và còn tương đối mới ở Việt Nam, nó có thể là một khu vực, một quốc gia hay một
địa phương Khái niệm điểm đến du lịch xuất phát từ khái niệm điểm du lịch
Theo Luật Du lịch, “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn phục
vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch” [23, 7] Nhìn chung, do phần lớn
Trang 12các hoạt động du lịch diễn ra tại các điểm đến, nên có thể miêu tả điểm đến như là một nơi mà những du khách lưu lại tạm thời để tham gia vào các hoạt động và giao tiếp liên quan đến du lịch
1.1.3 Xúc tiến điểm đến du lịch
Xúc tiến du lịch bắt nguồn từ thuật ngữ tiếng Anh: “Tourism promotion” và cũng được nhiều người hiểu là tuyên truyền, quảng bá hay
chiêu thị du lịch
Khoản 17, điều 4 của Luật Du lịch cũng khẳng định, “Xúc tiến du lịch
là hoạt động tuyên truyền, quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch” [23, 8].
Như vậy, xúc tiến du lịch là tất cả các biện pháp có tác dụng hỗ trợ, khuyến khích phát triển du lịch như cung cấp thông tin, tuyên truyền, quảng
bá du lịch thông qua các ấn phẩm, phương tiện truyền thông đại chúng, tổ chức các đoàn famtrip, tổ chức tham gia các sự kiện du lịch, lễ hội, hội chợ triển lãm, khảo sát thị trường, đào tạo nâng cao năng lực hoạt động du lịch cho các doanh nghiệp, nghiên cứu ứng dụng thông tin trong hoạt động du lịch
Xúc tiến điểm đến du lịch: Là việc xây dựng một chương trình xúc tiến hỗn hợp có sự kết hợp của nhiều công cụ xúc tiến khác nhau để xây dựng hình ảnh độc đáo, hấp dẫn về điểm đến cùng các sản phẩm, dịch vụ nhằm thu hút
sự quan tâm chú ý trên diện rộng của thị trường khách mục tiêu và đông đảo
du khách đến điểm du lịch, thuyết phục và tạo quyết định đi du lịch của họ
1.2 Vai trò của hoạt động xúc tiến du lịch
1.2.1 Tạo điều kiện cho sự tự do lựa chọn
Các hoạt động xúc tiến về một sản phẩm dịch vụ do nhiều doanh nghiệp khác nhau cung ứng cho khách hàng, giúp khách hàng biết thêm nhiều thông tin về sản phẩm như giá cả, chất lượng từ đó giúp họ có thể nghiên cứu, kiểm tra thông tin, đưa ra lựa chọn của mình
Hoạt động xúc tiến không khuyến khích độc quyền mà nó là sự cạnh tranh công bằng với các hoạt động quảng bá, truyền đạt thông tin về sản phẩm
Trang 13đến với khách hàng tiềm năng Hoạt động đó tạo ra một môi trường cạnh tranh - điều rất cần để nâng cao chất lượng sản phẩm và định giá vừa phải
Hoạt động xúc tiến góp phần tạo ra một diễn đàn mà qua đó các cơ quan xúc tiến du lịch tự do lựa chọn các biện pháp, cách thức xúc tiến sao cho phù hợp với khách hàng mục tiêu và làm thế nào để công chúng hiểu và lựa chọn sản phẩm của mình
1.2.2 Tạo điều kiện để tiêu thụ sản phẩm nhiều lần
Hoạt động xúc tiến phải được tiến hành một cách trung thực Hoạt động
đó không phải thiết kế để đánh lừa người tiêu dùng bởi vì sản phẩm du lịch không phải sản xuất ra để bán một lần, mà quá trình bán sản phẩm là một quá trình lặp đi lặp lại nhiều lần Nếu hoạt động xúc tiến không trung thực sẽ làm mất đi lòng tin của người tiêu đối với sản phẩm, dịch vụ du lịch nói riêng và điểm đến nói chung Vì vậy các cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch và xúc tiến điểm đến du lịch cần tiến hành hoạt động xúc tiến một cách trung thực trên quan điểm tôn trọng khách hàng để tạo điều kiện tiêu thụ sản phẩm nhiều lần, từ đó nâng cao hình ảnh của điểm đến du lịch trong lòng người tiêu dùng
1.2.3 Góp phần cải tiến sản phẩm
Hoạt động xúc tiến cùng với các công cụ như: bán hàng cá nhân, marketing trực tiếp… là cầu nối giữa điểm đến du lịch với khách du lịch Thông qua hoạt động xúc tiến, những phản ứng đáp lại của người tiêu dùng về điểm đến du lịch sẽ được tiếp nhận, điều chỉnh, cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, phát triển sản phẩm mới, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng
1.2.4 Đối với doanh nghiệp, các đại lý trung gian và người tiêu dùng
Đối với doanh nghiệp: Hoạt động xúc tiến là công cụ có hiệu lực để giữ vững nhu cầu cũ, tạo thêm nhu cầu mới, chiếm lòng tin của khách hàng, kích thích tiêu thụ, lưu thông phân phối đỡ tốn kém, bảo đảm thế lực trong kinh doanh, tăng khả năng sinh lãi, thông tin nhanh chóng cho thị trường bất cứ sự
Trang 14thay đổi nào về sản phẩm hoặc dịch vụ, hỗ trợ việc giới thiệu một sản phẩm mới vào thị trường
Đối với các đại lý trung gian: Hoạt động xúc tiến giúp cho sự phân phối thuận lợi hơn, tiêu thụ nhiều sản phẩm dịch vụ hơn, tạo uy tín cho doanh nghiệp và đại lý, tạo lập mối quan hệ gắn bó giữa doanh nghiệp, các đại lý trung gian và khách hàng
Đối với người tiêu dùng: Hoạt động xúc tiến cung cấp thông tin về sản phẩm mới, về giá cả, góp phần bảo vệ người tiêu dùng vì cùng với quảng cáo hoạt động xúc tiến còn phải cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm để cạnh tranh, trang bị cho người tiêu dùng những kiến thức cần thiết để có sự lựa chọn tốt nhất Từ đó hướng dẫn người tiêu dùng nên mua sản phẩm dịch vụ ở đâu, khi nào và giá cả ra sao, nhắc nhở họ tiếp tục sử dụng sản phẩm của mình Nếu hoạt động xúc tiến trung thực và sản phẩm đưa ra xúc tiến có giá trị đích thực thì hoạt động xúc tiến là công cụ có giá trị giáo dục, đưa người tiêu dùng đến với sự lựa chọn thông thái, hướng họ tới cuộc sống tốt đẹp hơn
1.3 Nội dung của hoạt động xúc tiến du lịch
1.3.1 Tuyên truyền giới thiệu về điểm đến du lịch
Hoạt động xúc tiến du lịch trước hết nhằm tuyên truyền giới thiệu rộng rãi về đất nước, con người Việt Nam, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, di tích cách mạng, di sản văn hóa, các công trình lao động sáng tạo của con người, bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam cho các tầng lớp nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế
Việc tập trung và đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền quảng bá hình ảnh đát nước và con người Việt Nam được thực hiện bằng việc truyền bá rộng rãi
và ấn tượng các hình ảnh, lợi thế, nét đặc trưng về thiên nhiên, con người và văn hóa Việt Nam thông qua các sản phẩm du lịch cụ thể song song với việc đầu tư tương xứng về cơ sở vật chất, hạ tầng giao thông, hệ thống lưu trú, hệ thống dịch vụ phục vụ du lịch… Kết hợp linh hoạt các hình thức tuyên truyền như: hội chợ, hội thảo, triển lãm và các phương tiện thông tin tuyên truyền
Trang 15khác để xúc tiến du lịch phù hợp với định hướng phát triển thị trường du lịch
ở trong và ngoài nước Đồng thời tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài và hỗ trợ quốc tế để phục vụ công tác xúc tiến quảng bá du lịch đạt hiệu quả
1.3.2 Nâng cao nhận thức xã hội về du lịch
Hoạt động xúc tiến du lịch nhằm nâng cao nhận thức của các cấp ngành, cộng đồng địa phương, cán bộ nhân viên ngành du lịch về vai trò của hoạt động du lịch đối với lợi ích kinh tế - xã hội cũng như sự phát triển toàn diện của địa phương cũng như của đất nước Rõ ràng, nhận thức được tầm quan trọng của du lịch, của những hiệu quả mà du lịch mang lại, tiềm năng và thế mạnh của du lịch đất nước thì mới có được những định hướng đúng đắn cho phát triển du lịch Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch, giúp họ tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, làm cho họ có trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ tài nguyên môi trường du lịch, cùng ngành du lịch chăm lo đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của ngành du lịch
Hoạt động xúc tiến còn nhằm mục đích tạo môi trường du lịch văn minh, lành mạnh, an toàn, phát huy truyền thống mến khách của dân tộc
1.3.3 Huy động các nguồn lực để đầu tư phát triển du lịch
Hoạt động xúc tiến du lịch nhằm tập trung phát triển các đô thị du lịch, khu du lịch, điểm du lịch đa dạng, độc đáo, có chất lượng cao, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc trong cả nước, từng vùng và từng địa phương Xúc tiến phát triển du lịch ở các vùng, các địa bàn trọng điểm du lịch, cần phải xuất phát từ điều kiện, đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương và lợi thế về du lịch của từng vùng nhằm khai thác tốt nhất tiềm năng của cả nước để phát triển du lịch
Trang 16Bên cạnh đó, xúc tiến du lịch cần chú trọng phát triển kết cấu hạ tầng,
cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các dịch
vụ điểm đến du lịch
1.3.4 Nghiên cứu thị trường và xây dựng sản phẩm du lịch
Thực hiện xúc tiến, quảng bá du lịch thông qua việc tổ chức các hoạt động nghiên cứu thị trường Nghiên cứu thị trường du lịch nắm vững nhu cầu thị hiếu của thị trường khách đi đôi với việc củng cố thị trường khách trọng điểm, tập trung khai thác các thị trường gần, thị trường tiềm năng, tích cực xúc tiến, quảng bá tới các thị trường mục tiêu với tần suất cao, quy mô lớn Đồng thời hoạt động xúc tiến nhằm xây dựng sản phẩm, dịch vụ du lịch phù hợp với thị hiếu khách du lịch; tuyên truyền, giới thiệu sản phẩm du lịch
1.4 Các công cụ xúc tiến du lịch
1.4.1 Quảng cáo
1.4.1.1 Khái niệm
Quảng cáo là các hình thức giới thiệu gián tiếp và khuyếch trương các
ý tưởng, hàng hóa hay dịch vụ thông qua các phương tiện truyền thông, mà doanh nghiệp phải trả tiền, nhằm mục đích thu hút khách hàng để đạt tới mục đích cuối cùng là thu lợi nhuận
1.4.1.2 Các hình thức quảng cáo phổ biến
* Quảng cáo trên ấn phẩm
Là hình thức quảng cáo lâu đời và phổ biến nhất từ trước đến nay Bao gồm 3 loại cơ bản là: báo, tạp chí và ấn phẩm gửi trực tiếp Ngoài việc cung cấp những thông tin quan trọng hàng ngày, quảng cáo trên ấn phẩm giúp truyền đạt các thông điệp quảng cáo về sản phẩm tới đông đảo người đọc Ấn phẩm quảng cáo dùng để minh họa những những tính năng và lợi ích của sản phẩm Về khía cạnh hình ảnh, ấn phẩm quảng cáo nếu được sử dụng đúng kênh truyền thông còn tạo được sức hút lớn, vì độc giả thường lựa chọn các loại báo, tạp chí phù hợp với sở thích hoặc ngành nghề chuyên môn của mình
Trang 17Đó là một trong những yếu tố giúp các đơn vị xúc tiến tìm được khán giả mục tiêu cho sản phẩm của mình và xây dựng thông điệp tạo sức hút cao nhất Ngày nay, quảng cáo trên ấn phẩm vẫn là một thành phần quan trọng trong nhiều chiến dịch xúc tiến
* Quảng cáo trên truyền thanh và truyền hình
- Quảng cáo trên truyền hình
Từ khi ra đời đến nay, quảng cáo trên truyền hình đã chứng tỏ là một phương tiện truyền thông hữu hiệu nhất vì âm thanh, chuyển động, màu sắc, hình ảnh và nhiều yếu tố khác hấp dẫn người xem Ưu điểm dễ thấy nhất là chỉ số tiếp cận cao
Các hình thức: Bảo trợ (Sponsorship), tự giới thiệu (Participation), mua spot quảng cáo truyền hình (Spot announcement), quảng cáo qua phim ảnh
- Quảng cáo trên truyền thanh
Radio vẫn là một phương tiện hàng đầu về cả 2 mặt: quảng cáo và giải trí phổ cập Đối với các nước trên thế giới, quảng cáo trên truyền thanh tỏ ra rất hiệu quả Tại Việt Nam, quảng cáo trên radio không phổ cập đặc biệt là trong lĩnh vực du lịch quy định bởi tính đặc biệt của sản phẩm du lịch Tuy nhiên, radio vẫn là một phương tiện truyền thông cần thiết cho những hoạt động quảng cáo có ngân sách nhỏ, với những khu vực mà truyền hình không thể tiếp cận được
Hình thức quảng cáo trên truyền thanh phổ biến ở nước ta vẫn là hình thức mua spot tương tự như truyền hình
* Quảng cáo ngoài trời
Đây là một trong những hình thức quảng cáo có lịch sử lâu đời nhất Phương tiện quảng cáo ngoài trời hiện đại bao gồm:
- Quảng cáo ngoài trời trên phương tiện cố định:
+ Áp phích (poster panel): là loại bảng cỡ nhỏ (A4, A3, A2) có in sẵn các thông điệp quảng cáo, dán trên tường, cột, khu vực công cộng…
Trang 18+ Bảng quảng cáo ngoài trời (billboard): Xuất hiện trên các nhà cao tầng, sân bay, bến bãi, trạm xe buýt, sân vận động, biển hiệu cửa hàng… Hình thức thể hiện bắt mắt, hấp dẫn, kỹ thuật cao, có 2 loại cơ bản là dạng bạt tấm lớn hoặc dạng xoay 3 chiều
+ Bảng điện tử (spectacular): như một màn hình vô tuyến lớn, có ưu điểm về màu sắc, sống động, hấp dẫn song chi phí khá cao
- Quảng cáo ngoài trời trên phương tiện di động: thường được đặt trên các phương tiện giao thông
Các hình thức phổ biến:
+ Áp phích bên trong (inside card): là bảng quảng cáo bên trong phương tiện vận chuyển (dán trên cửa sổ, cửa chính, tờ gấp đặt trên phương tiện), có khả năng thu hút sự chú ý của hành khách
+ Áp phích bên ngoài (outside poster): có thể thuê không gian bên thành xe, phía trước, phía sau, thậm chí trên nóc xe Áp phích bên ngoài đạt được chỉ số tiếp cận và tần suất cao tại các khu vực mà phương tiện di chuyển đi qua
+ Áp phích tại bến bãi (terminal poster): tại bến xe, trạm dừng xe buýt,
xe đẩy hành lý tại sân bay
+ Bảng quảng cáo di động: được các phương tiện giao thông kéo đi trên đường phố hoặc do khinh khí cầu, máy bay kéo đi trên trời
Quảng cáo ngoài trời là phương tiện quảng cáo mang tính chất quốc gia, gắn liền với việc mở rộng, phát triển mạng lưới và phương tiện giao thông Quảng cáo ngoài trời có khả năng hướng dẫn khách hàng tới những điểm cung cấp sản phẩm Yêu cầu của quảng cáo ngoài trời là gợi phản ứng cao và gây ấn tượng sâu sắc do đó thường sử dụng thông điệp ngắn, hình ảnh bắt mắt
1.4.2 Marketing trực tiếp (Direct marketing)
Marketing trực tiếp bao gồm toàn bộ những hoạt động và nỗ lực trực tiếp của đơn vị xúc tiến du lịch đối với công chúng mục tiêu, thông qua việc
Trang 19sử dụng một hoặc nhiều phương tiện liên lạc, nhằm thông tin về sản phẩm và yêu cầu hiện có và tương lai cung cấp những phản ứng đáp lại
Các hình thức phổ biến: Thư gửi trực tiếp (direct mail): chìa khóa thành công của hình thức này là phải xây dựng được một danh sách địa chỉ nhận thư (mailing list); Thư đặt hàng, catalog qua bưu điện; Chào hàng và mua hàng qua điện thoại, qua internet; Quảng cáo và yêu cầu phản ứng trực tiếp (direct – response ads): quảng cáo sản phẩm khuyến khích khách hàng trực tiếp liên hệ và đặt hàng với nhà sản xuất, nhà cung cấp
1.4.3 Quan hệ công chúng (PR – Public relation)
Là quan hệ của đơn vị xúc tiến với cộng đồng (khách hàng, nhà cung ứng, cổ đông, nhân viên, chính quyền, các tổ chức xã hội ) thông qua các chương trình khác nhau được thiết kế với mục đích tạo ra nhận thức có lợi cho công chúng, nhằm tạo lập hình ảnh tốt về sản phẩm, đề cao hay bảo vệ hình ảnh ấy, xử lý hoặc chặn đứng các sự kiện hoặc tin đồn bất lợi
Các hình thức phổ biến bao gồm: Tin tức báo chí (press release), họp báo (press conferences), chuyên mục (exclusives), phỏng vấn (interviews); Báo cáo hàng năm, tạp chí doanh nghiệp; Hoạt động cộng đồng: đóng góp từ thiện, tài trợ, sự kiện đặc biệt; Vận động hành lang; Mạng internet
1.4.4 Bán hàng cá nhân
Là hoạt động giao tiếp trực tiếp giữa nhân viên bán hàng và khách hàng triển vọng với mục đích bán hàng, thu nhập chính của nhân viên là từ phần trăm hoa hồng trên từng đơn vị sản phẩm
Các hình thức phổ biến là: bán hàng tại nhà, bán hàng tại cơ quan, bán hàng tại cửa hàng, trình diễn bán hàng, hội nghị bán hàng, hội chợ và trưng bày thương mại
1.4.5 Khuyến mại
Khuyến mại là hình thức thưởng hoặc giá trị phụ thêm trong môt thời gian xác định dành cho đội ngũ nhân viên bán hàng, đại lý phân phối hoặc
Trang 20khách hàng cuối cùng với mục đích là khuyến khích, kích thích, đẩy mạnh tiêu thụ ngay lập tức một sản phẩm, dịch vụ
Các hình thức phổ biến:
- Định hướng tiêu dùng: Phát hàng mẫu khuyến mại (Sampling); Phiếu
ưu đãi (Coupons); Quà tặng kèm theo (Premiums); Thi, bốc thăm trúng thưởng (Contests/ Sweepstakes); Trả lại một phần tiền hàng (Refunds/ Rebates); Thêm hàng hóa, dịch vụ bổ sung giá không đổi (Bonus packs); Hạ giá trực tiếp (Price – off); Chương trình khách hàng thường xuyên (Frequency programs); Tổ chức sự kiện (Event marketing)
- Các hình thức kích thích tiêu thụ trong định hướng thương mại: Thi
và thưởng (Contest and incentives); Chiết khấu (Trade allowances); Trình diễn bán hàng (Trade show); Đào tạo kỹ năng bán hàng (Sales training programs); Hợp tác quảng cáo theo thành phần tài trợ (Corporate advertising)
Trang 21CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN ĐIỂM ĐẾN
Nghệ An nằm ở phía Đông Bắc dãy Trường Sơn, có độ dốc thoải dần
từ Tây Bắc xuống Đông Nam, bị chia cắt mạnh bởi các dãy đồi núi cao và hệ thống sông ngòi chằng chịt Địa hình đa dạng, phong phú với biển, hải đảo, sông ngòi, rừng núi, hang động, thác nước thuận lợi để phát triển các loại hình
du lịch.Bờ biển Nghệ An dài 82km với nhiều bãi biển đẹp có giá trị phát triển
du lịch (bãi biển Cửa Lò, Diễn Thành, Quỳnh Phương ) Nghệ An là tỉnh có tài nguyên rừng lớn với diện tích đất rừng khoảng 68.439.800 ha, chiếm 41,51% diện tích tự nhiên Rừng Nghệ An tập trung chủ yếu ở miền Tây với tài nguyên sinh vật rất phong phú, đa dạng trong đó có 1513 loài thực vật, 241 loài động vật là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch, đặc biệt là
du lịch sinh thái (Vườn Quốc Gia Pù Mát, Khu dự trữ sinh quyển Pù Huống,
Pù Hoạt ) Nghệ An có tiềm năng rất lớn về suối khoáng có thể phát triển các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh kết hợp với vui chơi giải trí như: suối nước khoáng nóng Giang Sơn, suối nước Mọc
Nghệ An nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ trung bình từ
230- 240 Lượng mưa trung bình từ 1200- 2000mm/ năm Khí hậu nhiệt đới gió mùa với sự phân hóa đa dạng là điều kiện quan trọng để phát triển nhiều loại hình du lịch, tạo ra lợi thế về các loại hình du lịch đặc trưng của từng vùng
Trang 222.1.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Nghệ An có gần 1000 di tích lịch sử văn hóa đã được công nhận, trong
đó có 156 di tích lịch sử Nhìn chung mật độ di tích ở Nghệ An khá dày, hầu hết các di tích tập trung ở vùng đồng bằng Song xét về mật độ di tích thì thành phố Vinh có mật độ di tích cao nhất (50/100km2
) Phần lớn các di tích được xếp hạng là các di tích lịch sử văn hóa, trong đó nhóm di tích lịch sử, khảo cổ, công trình kiến trúc, đình chùa chiếm nhiều về số lượng Đặc biệt khu di tích lịch sử văn hóa Kim Liên gắn với cuộc đời Chủ Tịch Hồ Chí Minh
có vị trí hết sức quan trọng của tỉnh cũng như của đất nước, là đối tượng thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế đến tham quan
Di tích cấp tỉnh (73)
Di tích đặc biệt QG (1)
Số lượng di tích quốc gia và cấp tỉnh (176)
Trang 23Nghệ An là nơi sinh sống lâu đời của nhiều dân tộc khác nhau góp phần tạo nên 24 lễ hội đặc trưng phân bố ở hầu khắp các địa phương cùng với nhiều làng nghề có giá trị Qua khảo sát bước đầu, Nghệ An đã có một số làng
đủ tiêu chí xếp loại làng nghề và có khả năng tổ chức, thu hút khách du lịch đến tham quan như: Làng đan nứa trúc Xuân Nha (Hưng Nguyên); Làng nghề dệt thổ cẩm, Bản Châu Tiến (Quỳ Châu); Làng rèn Nho Lâm (Diễn Châu); Làng đục, chạm trổ đá ở Diễn Bình (Diễn Châu); Làng nồi đất ở Trù Sơn (Đô Lương); Làng nghề mây tre đan - Nghi Lộc; Làng nghề nước mắm Vạn Phần
- Cửa Hội
Đánh giá chung:
Nghệ An là tỉnh có nguồn tài nguyên tự nhiên phong phú, đa dạng có thể khai thác phát triển các loại hình du lịch như: du lịch sinh thái, tham quan, nghiên cứu, nghỉ dưỡng, tắm biển, leo núi Nghệ An cũng có nhiều di tích lịch sử văn hóa, công trình kiến trúc, lễ hội, phong tục tập quán, làng nghề trong đó có một số tài nguyên đặc biệt như khu di tích Kim Liên, di tích lịch sử phong trào tiền khởi nghĩa hấp dẫn và phù hợp để phát triển các loại hình du lịch như du lịch tham quan văn hóa, du lịch chuyên đề
Tuy nhiên, tác động xấu của điều kiện tự nhiên và thời tiết đã ảnh hưởng xấu đến tính chất thời vụ du lịch Bên cạnh đó, các yếu tố thời tiết bất thường như: giông tố, bão, lũ lụt, hạn hán vào chính vụ du lịch ít nhiều tác động đến việc thu hút khách Những bất lợi đó đã ít nhiều đến các dự án đầu
tư du lịch đặc biệt là các dự án có liên quan đến sản phẩm du lịch chất lượng cao cho khách du lịch quốc tế Tài nguyên du lịch tuy nhiều về số lượng nhưng phân bố không tập trung, số tài nguyên nổi trội được tôn tạo chưa nhiều, điều kiện cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch chưa phát triển ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển du lịch Hơn nữa, một số tài nguyên vật thể đang bị xuống cấp, chưa được trùng tu tôn tạo, còn tài nguyên phi vật thể chưa khôi phục được giá trị tinh thần và nguyên trạng của nó nên ảnh hưởng phần nào đến sự đa dạng của sản phẩm du lịch Một thực tế nữa là
Trang 24công tác quản ký tài nguyên chưa phù hợp, chưa có sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp đối với việc khai thác tài nguyên phát triển du lịch của Nghệ An
2.1.2 Tình hình phát triển du lịch Nghệ An
Giai đoạn 2006 – 2010, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng du lịch Nghệ An đã có bước phát triển khá toàn diện trên tất cả các mặt Có được thành tựu đó, là nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh,
sự phối hợp giúp đỡ của các cấp, các ngành và sự nỗ lực của cán bộ công nhân viên ngành du lịch
Trong 5 năm qua, tốc độ tăng trưởng của du lịch Nghệ An đạt mức trung bình 22,8%/ năm Lượng khách du lịch đến Nghệ An trong giai đoạn này tăng nhanh trong đó khách du lịch quốc tế có xu hướng tăng đều hàng năm Du lịch có đóng góp nhất định vào nguồn thu ngân sách của tỉnh, trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh
- Về tổng số lượt khách du lịch: Thời kỳ 2006 - 2009 tổng số lượt khách tiếp tục tăng nhanh, bình quân đạt 14,2%/năm Trong đó khách quốc tế đón được 95.000 lượt, đạt 63,3% so với chỉ tiêu kế hoạch 5 năm là 150.000 lượt.Năm 2010, tổng lượng khách đến Nghệ An ước đạt 2.740.000 lượt, bằng 115.3% so với năm 2009, đạt 103,4% kế hoạch; trong đó khách quốc tế đạt 97.000 lượt, bằng 120% so với năm 2009
- Về doanh thu du lịch: Trong 4 năm 2006 - 2009 doanh thu dịch vụ du
lịch tăng trưởng bình quân 22,4%/năm Năm 2010, tổng doanh thu dịch vụ du
lịch đạt 1.003 tỷ đồng, bằng 129% so với năm 2009 và đạt 111.4% kế hoạch
được giao trong đó doanh thu khách quốc tế là 12.000 triệu USD/ năm (chỉ tiêu 900 tỷ đồng)
Khách du lịch đến Nghệ An thời kỳ 2006 - 2010 phần lớn là khách du lịch nội địa, trong đó khách từ Hà Nội và các tỉnh phía Bắc chiếm 70 - 75% Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế bình quân hàng năm từ
15 - 18% năm Cơ cấu khách quốc tế đến Nghệ An thay đổi không lớn và chủ
Trang 25yếu vẫn là khách từ các nước Đông Nam Á và Đông Bắc Á, khách từ các nước châu Âu, châu Mỹ tăng không đáng kể Khách có nhu cầu du lịch thuần tuý, thăm thân chiếm tỷ trọng từ 25 - 30%, trong đó phần lớn là khách từ Đông Bắc Thái Lan, Lào đến Nghệ An theo đường 8, đường 9 và quốc lộ 7
Bảng 2.2 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu phát triển du lịch
Nếu như năm 1994 toàn tỉnh mới có 35 cơ sở lưu trú du lịch (trong đó
17 cơ sở là nhà khách, nhà nghỉ với 1000 buồng, 2.274 giường thì đến cuối năm 2009 đã có 439 sơ sở lưu trú với 9.808 phòng, 19.199 giường Quy mô
và chất lượng cơ sở lưu trú ngày càng được nâng cao
Trang 26Bảng 2.3 Tình hình phát triển cơ sở lưu trú Nghệ An
2 Tổng số gường Giường 16.175 16.346 18.067 19.199 19.968
Chia theo khu vực Giường 16.175 16.346 18.067 19.199 19.968 + Vinh Giường 4.048 4.303 4.746 5.156 5.246 + Cửa Lò Giường 10.558 10.768 11.132 11.405 11.751 + Các huyện Giường 1.569 1.563 2.189 2.638 2.971
Nguồn: Sở Văn hóa – Thể thao và du lịch Nghệ An
Bảng 2.4 Chất lượng cơ sở lưu trú trên địa bàn Nghệ An
Nguồn: Sở Văn hóa – Thể thao và du lịch Nghệ An
Trang 27Bảng 2.5 Tổng hợp cơ sở lưu trú trên địa bàn Nghệ An (2009)
CSLT hiện có Số phòng Số giường Lao động Đầu tư Toàn tỉnh 453 9.808 19.199 5.611 1.954.2730
Nguồn: Sở Văn hóa – Thể thao và du lịch Nghệ An
+ Cơ sở vui chơi giải trí:
Toàn tỉnh có 252 cơ sở vui chơi giải trí Nhìn chung còn khá đơn điệu, chủ yếu là các dịch vụ café, karaoke, Do đó khách du lịch lưu trú tại Nghệ
An buổi tối chỉ được giới thiệu đi dạo phố, uống café hay đi hát karaoke rồi quay về khách sạn nghỉ Đây cũng là yếu điểm làm giảm khả năng cạnh tranh
và thu hút của Nghệ An so với các điểm đến khác Tình trạng thiếu cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ các nhu cầu vui chơi giải trí đã làm giảm khả năng kéo dài thời gian lưu trú cũng như tăng chi tiêu của khách Do đó đòi hỏi ngành du lịch Nghệ An cần tiếp tục có kế hoạch và giải pháp thu hút, tăng cường đầu tư vào các dịch vụ vui chơi, giải trí thì mới thúc đẩy khách ở lại dài ngày hơn, chi tiêu nhiều hơn
Công viên, khu vui chơi
Chợ và siêu thị
Nhà hát, nhà văn hóa
Sân thể thao
Nguồn: Số liệu điều tra
Trang 28- Nguồn nhân lực du lịch
Năm 2009 toàn ngành có gần 7000 lao động trực tiếp, tăng hơn 6 lần so với năm 1995, trong đó trên 50% lao động đã qua đào tạo, trên 30% lao động
có các chứng chỉ ngoại ngữ, 10 cá nhân đã giành được huy chương trong các
kỳ hội thi nghiệp vụ toàn quốc
Mặc dù ngành du lịch Nghệ An đã có nhiều nỗ lực trong việc đào tạo, đào tạo lại lực lượng lao động trực tiếp trong ngành và bồi dưỡng kiến thức
du lịch cho nhân dân địa phương tham gia làm du lịch nhưng chất lượng đội ngũ lao động du lịch còn rất yếu, cả về chuyên môn và trình độ ngoại ngữ, chưa đáp ứng được nhu cầu phục vụ các thị trường khách du lịch có khẳ năng chi trả cao, đặc biệt là thị trường khách quốc tế
Bảng 2.7 Số liệu tổng hợp về nguồn lao động du lịch Nghệ An
giai đoạn 2005 - 2010
2005 2006 2007 2008 2009 2010
Tổng số lao động 4.075 4.462 4.524 5.136 5.431 5.709 Chia theo khu vực 4.075 4.462 4.524 5.136 5.431 5.709
Trang 29Công tác đầu tư mới chỉ chú ý đến du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch biển với các sản phẩm nghèo nàn, không hấp dẫn, mang tính thời vụ cao trong khi sản phẩm du lịch sinh thái, mạo hiểm, làng nghề, nông thôn chưa phát triển Quy hoạch du lịch chưa kịp thời, một số vùng chưa được quan tâm đúng mức
Các doanh nghiệp chủ yếu vừa và nhỏ, chủ yếu là cơ sở lưu trú, nhà hàng nhìn chung còn nhỏ lẻ, manh mún, chất lượng chưa cao, các công ty lữ hành chưa mạnh
Công tác đào tạo nguồn nhân lực chưa theo kịp với yêu cầu đặt ra cả về
số lượng và chất lượng, cán bộ có trình độ chuyên môn cao, giỏi ngoại ngữ còn thiếu và yếu ở cơ quan quản lý Nhà nước và các doanh nghiệp
Công tác tuyên truyền quảng bá có bước phát triển khá song chưa vươn
ra được thị trường quốc tế, nội dung còn đơn điệu, kinh phí đầu tư cho công
ty quảng cáo chư nhiều, các doanh nghiệp chưa tham gia tích cực vào hoạt động xúc tiến mà còn ỷ lại, ngòi chờ đầu tư từ ngân sách
2.2 Chính sách và chương trình xúc tiến phát triển du lịch của tỉnh Nghệ An
Ngay từ khi mới thành lập, ngành du lịch đã được tỉnh Nghệ An xác định là ngành kinh tế mũi nhọn Các cơ chế, chính sách pháp luật về phát triển
du lịch luôn được quan tâm đổi mới hoàn thiện để tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý, phát triển du lịch, xúc tiến đầu tư và quảng bá hình ảnh du lịch Nghệ
An
Ngày 5/7/1994, UBND tỉnh Nghệ An đã ra Quyết định số 673/QĐ –
UB về việc thành lập Sở Du lịch Nghệ An (nay là Sở VHTT&DL Nghệ An)
Sở VHTT&DL Nghệ An là cơ quan quản lý về du lịch của tỉnh Nghệ An, trực thuộc UBND tỉnh, tham mưu và giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh; quản lý các dịch vụ công thuộc lĩnh vực
du lịch; tổ chức các hoạt động xúc tiến phát triển thị trường và thu hút khách
Trang 30Khởi đầu bằng những cơ sở vật chất thấp kém, không đồng bộ hoặc tồi tàn do chiến tranh để lại, du lịch Nghệ An vượt lên khó khăn để xây dựng thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh Trước hết, Nghệ An đã sớm hình thành được chiến lược phát triển du lịch Dưới sự chỉ đạo của UBND tỉnh, sự giúp đỡ về chuyên môn của Tổng Cục Du lịch, Sở VHTT&DL Nghệ An đã
phối hợp với Viện nghiên cứu phát triển du lịch thiết lập “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Nghệ An thời kỳ 1996-2010”với mục tiêu khai thác các tiềm năng du lịch, gắn bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm cho du lịch phát triển có hiệu quả, bền vững Quy hoạch đã xác định rõ 5 trung tâm du lịch lớn: Trung tâm du lịch biển Cửa Lò; Trung tâm du lịch Thành phố Vinh; Trung tâm du lịch Nam Đàn; Khu du lịch vườn Quốc gia Pù Mát; Khu du lịch văn hoá - lịch sử - sinh thái Quỳ Châu - Quế Phong.Tiếp đó, Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Nghệ An giai đoạn 2006 -2020 với mục tiêu là phấn đấu
đưa du lịch Nghệ An thành ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển bền vững, trở thành trung tâm du lịch khu vực Bắc Trung Bộ và là trọng điểm du lịch của cả nước cũng đã được thông qua vào tháng 6/2009 Các quy hoạch phát triển du lịch đã tạo tạo tiền đề quan trọng thu hút đầu tư vào cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật, hình thành các khu, điểm du lịch, sản phẩm dịch vụ du lịch của tỉnh trong thời gian vừa qua
Nghị quyết đại hội Đảng Bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XVI đã xác định
ngành du lịch là một “ngành kinh tế mũi nhọn” Nghị quyết 01 – NQ/TU của
Ban chấp hành Đảng Bộ tỉnh khóa XVI đã quán triệt chương trình phát triển
du lịch Nghệ An là “phải xây dựng ngành du lịch Nghệ An có bước phát triển nhanh, toàn diện hơn, khi thác triệt để tiềm năng và lợi thế sẵn có của tỉnh”,
“các sản phẩm du lịch từng bước được đa dạng hóa và nâng cao chất lượng,
cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật được tăng cường, công tác đào tạo nguồn nhân lực được triển khai tích cực” Nghị quyết 12 – NQ.TU của Thường vụ Tỉnh Ủy về phát triển du lịch là “tạo bước phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững cho du lịch Nghệ An”
Trang 31Ngày 10/4/2009, UBND tỉnh Nghệ An ban hành Quyết định số
1270/QĐ – UBND.VX về việc ban hành Quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo phát triển du lịch Nghệ An giai đoạn 2006 – 2010
Trong thời gian qua, để đẩy mạnh hoạt động xúc tiến du lịch, tỉnh đã ra Quyết định 6818/2009/QĐ- UBND.VX ngày 23/ 12 /2009 về việc ban hành
Chương trình xúc tiến du lịch Nghệ An đến năm 2015, trong đó nhấn mạnh
đến vai trò của các chương trình quảng bá xúc tiến, nghiên cứu tổng hợp thông tin, xúc tiến đầu tư phát triển du lịch và công tác hỗ trợ các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn
2.3 Bộ máy tổ chức hoạt động xúc tiến du lịch của tỉnh Nghệ An Trung tâm xúc tiến du lịch Nghệ An được thành lập theo Quyết định
số 1601/QĐ.UB ngày 29/4/2004 của UBND tỉnh Nghệ An TTXTDL Nghệ
An có chức năng giúp Giám đốc Sở VHTT&DL tổ chức thực hiện kế hoạch chiến lược xúc tiến du lịch đã được UBND tỉnh và Tổng cục Du lịch phê duyệt; hướng dẫn hỗ trợ các doanh nghiệp du lịch trong công tác tuyên truyền quảng bá du lịch ở trong và ngoài nước; triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển du lịch của tỉnh Trung tâm đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của Sở VHTT&DL, đồng thời chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo
và kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ khác của các ngành trong tỉnh
Cơ cấu tổ chức hành chính của trung tâm gồm 17 người với 1 giám đốc, 1 phó giám đốc, 2 trưởng phòng chuyên môn, 1 phụ trách bộ phận, trong
đó biên chế chính thức là 7 người, hợp đồng 10 người
Các phòng ban chức năng:
+ Phòng tuyên truyền quảng bá du lịch
+ Phòng thông tin và xúc tiến đầu tư
+ Phòng hành chính - quản trị
Trung tâm có nhiệm vụ:
Trang 32- Tổ chức các hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch Nghệ An ở trong và ngoài nước, bao gồm:
+ Triển khai tổ chức các hội chợ, hội thảo và sự kiện du lịch trên địa bàn tỉnh; giúp các doanh nghiệp Nghệ An tham gia các hội chợ, hội thảo về
du lịch ở trong nước và quốc tế
+ Chịu trách nhiệm tổ chức phát hành các ấn phẩm tuyên truyền quảng bá du lịch: tập gấp, bản đồ, sách hướng dẫn, các loại tranh ảnh, băng đĩa CD, VCD về giới thiệu du lịch Nghệ An; trực tiếp biên tập bản tin nội bộ ngành, quản lý và cập nhật nội dung trang web du lịch Nghệ An; lắp dựng và quản lý hệ thống biển quảng cáo tấm lớn về du lịch Nghệ An
+ Phối hợp xây dựng phim du lịch, chuyên trang, chuyên mục du lịch trên các báo và Đài phát thanh Truyền hình của tỉnh theo kế hoạch được phê duyệt
+ Tổ chức các lớp tập huấn về nghiệp vụ quảng bá xúc tiến du lịch
- Nghiên cứu, tổng hợp và cung cấp thông tin về du lịch, xúc tiến các
+ Tổ chức nghiên cứu chiến lược phát triển mở rộng thị trường khách
du lịch trong nước và quốc tế Xây dựng các tuyến du lịch trọng điểm của địa phương
Trang 33+ Làm đầu mối tìm kiếm các chương trình hợp tác về du lịch, tư vấn
tổ chức cho các doanh nghiệp du lịch Nghệ An đi khảo sát nghiên cứu thị trường và đặt chi nhánh, đại diện du lịch ở trong nước và quốc tế
+ Tham mưu tổ chức cho các hãng lữ hành trong nước và nước ngoài khảo sát các tuyến, điểm và đưa khách du lịch đến Nghệ An
- Xúc tiến kêu gọi đầu tư phát triển du lịch:
+ Tổ chức triển khai thực hiện quy hoạch du lịch của tỉnh đã được phê duyệt; tham mưu lập các dự án về du lịch để kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước
+ Xúc tiến các hoạt động hợp tác, liên kết phát triển du lịch với các tỉnh và khu vực để thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực du lịch của Nghệ An
+ Đề xuất các cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư phát triển du lịch trên địa bàn Nghệ An
+ Phối hợp triển khai thực hiện các dự án phát triển du lịch theo yêu cầu của tỉnh
- Thực hiện một số nhiệm vụ giúp Sở VHTT&DL do Giám đốc Sở giao
2.4 Ngân sách xúc tiến du lịch
Kinh phí xúc tiến của tỉnh Nghệ An trong thời gian vừa qua chủ yếu là
từ nguồn chi từ ngân sách tỉnh và một phần đóng góp của các doanh nghiệp
du lịch Nguồn kinh phí dành cho hoạt động xúc tiến du lịch còn hạn chế Trung bình, kinh phí xúc tiến của ngân sách tỉnh chỉ từ 300 đến 500 triệu đồng, phần lớn cấp cho việc xây dựng ấn phẩm tài liệu quảng cáo, tham gia hội chợ triển lãm đến tuyên truyền quảng bá trên báo đài, quảng cáo trên
mạng internet tuyên truyền nâng cao nhận thức, kiến thức về du lịch
Trang 34Các chương trình, dự toán kinh phí hoạt động xúc tiến hàng năm của tỉnh Nghệ An được Trung tâm xúc tiến du lịch xây dựng và đề xuất theo kế hoạch phát triển du lịch của tỉnh và của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, trình HĐND, UBND tỉnh xem xét ra quyết định phê duyệt Trên cơ sở đó, Trung tâm xúc tiến du lịch chủ động chủ trì phối hợp với các đơn vị, doanh nghiệp tổ chức triển khai các hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch của tỉnh theo kế hoạch và dự toán được duyệt Ngoài ra, nếu Trung tâm xúc tiến du lịch muốn tham gia thêm các sự kiện, hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch lớn
ở trong nước và nước ngoài không nằm trong kế hoạch ngân sách duyệt, phải báo cáo, trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt, cấp bổ sung kinh phí để tổ chức
Nguồn ngân sách dành cho hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch của tỉnh Nghệ An hàng năm là khoảng gần 400 triệu đồng, phân bổ không đồng đều cho các hoạt động xúc tiến du lịch và còn rất nhỏ bé so yêu cầu thực tế
Bảng 2.8 Tổng hợp kinh phí xúc tiến du lịch cấp từ nguồn
ngân sách tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006 - 2010
Nguồn: Trung tâm xúc tiến du lịch Nghệ An
Trang 352.5 Thực trạng sử dụng các công cụ xúc tiến điểm đến du lịch Nghệ An
2.5.1 Hoạt động quảng cáo du lịch
Quảng cáo có thể được xem là một phương tiện truyền thông truyền thống được sử dụng phổ biến trong xúc tiến quảng bá hình ảnh, thương hiệu một điểm đến du lịch Trong thời gian vừa qua, ngành du lịch Nghệ An cũng
đã rất chú trọng đến hoạt động quảng cáo, như hợp đồng thuê quảng cáo trên mạng internet, thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp (website), xây dựng các bộ phim, chương trình du lịch Nghệ An giới thiệu trên báo, đài truyền hình địa phương và trung ương, biển quảng cáo tấm lớn, biển chỉ dẫn du lịch, pano áp phích, băng rôn khẩu hiệu, cờ phướn…
2.5.1.1 Quảng cáo trên ấn phẩm
Hệ thống ấn phẩm, tài liệu thông tin du lịch tỉnh Nghệ An tương đối phong phú và đầy đủ các loại từ sách hướng dẫn du lịch, tập gấp các loại, cẩm nang du lịch, đĩa CD room, đĩa phim VCD, DVD đến các loại tranh ảnh, pano
áp phích, bản đồ du lịch Các ấn phẩm truyền thông này chủ yếu giới thiệu bằng các thứ tiếng Việt Nam, Anh, Trung Quốc, Thái Lan, Lào Từ năm 2006 đến năm 2010, chỉ tính riêng Trung tâm xúc tiến du lịch đã biên tập, in ấn, phát hành và cung cấp cho các công ty du lịch, lữ hành và khách du lịch gần 2.000.000 ấn phẩm và tài liệu quảng bá du lịch Nghệ An
Ngoài Bản tin nội bộ định kỳ hàng tháng, TTXTDL đã phát hành
20.000 tập gấp “Văn minh du lịch”, 5.000 tập gấp “Ba quốc gia một điểm đến”, 40.000 tập gấp “Một ngày ăn cơm ba nước” bằng tiếng anh, 30.000 tập gấp “Du lịch Nghệ An” với 6 thứ tiếng, 4000 ấn phẩm sách “Cẩm nang du lịch Nghệ An” (Song ngữ Anh – Việt), 9000 ấn phẩm “Bản đồ du lịch Nghệ An” (phát hành quý 4/2010), 30.000 ấn phẩm “Dự án đầu tư du lịch” (trong
đó có 1000 ấn phẩm bằng song ngữ Anh – Trung, chỉnh sửa và tái bản 40.000 đĩa phim giới thiệu về du lịch Nghệ An (3 thứ tiếng Anh, Trung, Việt), 4000
cuốn sách “Hướng dẫn du lịch Nghệ An”, 5.000 bản đồ du lịch 3 tỉnh Nghệ
An, Xiêng Khoảng, Luôngphrabăng theo tuyến đường 7, hơn 1000 tờ gấp giới
Trang 36thiệu tiềm năng du lịch Nghệ An, 2000 cuốn sách du lịch bỏ túi, hàng vạn tờ gấp quảng cáo của các khách sạn, trung tâm lữ hành, hàng vạn tờ gấp chuyên
đề, sách hướng dẫn, đĩa phim du lịch, hàng ngàn băng rôn, cờ phướn các loại
Bảng 2.9 Tổng hợp ấn phẩm, tài liệu quảng bá du lịch Nghệ An
phát hành trong giai đoạn 2003-2009
Nguồn: Trung tâm xúc tiến du lịch Nghệ An
2.5.1.2 Quảng cáo trên website
Quảng cáo trên website được ngành du lịch Nghệ An xác định là một trong những công cụ hiệu quả để xúc tiến quảng bá du lịch Xác định internet
là một phương tiện hữu hiệu kết nối toàn cầu, trong đó trang tin điện tử (website) là nơi đăng tải, lưu giữ, cung cấp thông tin du lịch, tư vấn du lịch, dịch vụ trực tuyến, người sử dụng internet, khách du lịch có thể truy cập, tìm kiếm thông tin nhanh chóng, không phụ thuộc vào không gian, thời gian Sở
Du lịch Nghệ An (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã nghiên cứu, thiết lập trang thông tin điện tử du lịch Nghệ An với tên miền: http://www.ngheantourism.com.vn; để quảng cáo du lịch của tỉnh Với thông tin hình ảnh cập nhật, trung thực, phong phú về chương trình du lịch, điểm du
Trang 37lịch, sản phẩm dịch vụ, tốc độ truy cập nhanh, giao diện dễ sử dụng, website
du lịch Nghệ An đã trở thành địa chỉ tin cậy của nhiều công ty lữ hành, khách
du lịch truy cập tìm hiểu, phản hồi các thông tin về du lịch Nghệ An
Hàng năm, ngành du lịch Nghệ An phối hợp với Trung tâm Công nghệ thông tin – Tổng cục du lịch nâng cấp, hoàn thiện một số nội dung trên website du lịch Nghệ An; quản trị, cập nhật thông tin và vận hành website du lịch Nghệ An bằng tiếng Việt và tiếng Anh một cách hiệu quả Hỗ trợ du lịch Cửa Lò, Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh kết nối đường link nhằm quảng bá rộng rãi điểm đến du lịch Nghệ An đến du khách trong và ngoài nước Riêng năm
2010, có khoảng trên 2 triệu lượt người truy cập website du lịch Nghệ An
Cuối năm 2009, Hiệp hội Du lịch Nghệ An đã chính thức ra mắt Trang thông tin điện tử Du lịch ngày nay Nhiều địa phương như Cửa Lò, Thành phố Vinh và nhiều doanh nghiệp du lịch đã lập website của mình giới thiệu tiềm năng du lịch của mình đến với du khách
Website du lịch Nghệ An đã cung cấp thông tin, giới thiệu các dự án đầu tư về du lịch của tỉnh tại các sự kiện, hội nghị, hội thảo, hội chợ du lịch trong nước, cập nhật thông tin về các dự án đầu tư du lịch Nghệ An
Với định hướng chính là phục vụ khách du lịch, các công ty du lịch, lữ hành, các nhà đầu tư trong nước, ban đầu, trang tin điện tử chỉ sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt, được phát triển khá chuyên nghiệp, với nội dung phong phú, giao diện đơn giản, dễ sử dụng, nên bước đầu đã thu hút được nhiều người truy cập Tuy nhiên, do tốc độ truy cập còn hạn chế, chưa có ngôn ngữ nước ngoài và đặc biệt là còn thiếu phần quản trị nội dung Qua các lần nâng cấp và
mở rộng trang tin, phiên bản tiếng Anh đã được bổ sung, phần mềm quản trị nội dung tin bài, hình ảnh đã được hoàn thiện, giao diện được thiết kế mới, đơn giản và dễ sử dụng Dung lượng lưu trữ được tăng lên khoảng 1.000 MB, dung lượng băng thông lên gần 30.000 MB đã nâng cao tốc độ truy cập, truy xuất tài liệu của người sử dụng Từ đó, trang tin điện tử du lịch Nghệ An đã thường xuyên được cập nhật tin bài, hình ảnh phản ánh hoạt động du lịch, giới
Trang 38thiệu quảng bá kịp thời tiềm năng thế mạnh du lịch Nghệ An với du khách trong và ngoài nước Số lượt truy cập tăng liên tục, bình quân trên 2 triệu lượt/năm
Hiện nay, trang thông tin điện tử tổng hợp du lịch Nghệ An (website)
là cổng thông tin chính thức của ngành văn hóa, thể thao và du lịch Nghệ An,
là nơi cung cấp và cập nhật thông tin, tin cậy cho du khách, các hãng lữ hành, các nhà nghiên cứu và các nhà đầu tư, đồng thời còn là cầu nối trung gian, hỗ trợ, quảng bá các sản phẩm dịch vụ cho trên 50 doanh nghiệp kinh doanh du lịch, dịch vụ trong tỉnh Số lượng người truy cập liên tục tăng, trung bình có
từ 20.000 – 25.000 lượt truy cập/tháng, chưa kể số lần click view vào các trang trong
Việc quảng bá và marketing website cũng đã được thực hiện khá hiệu quả Hiện địa chỉ website đã được in trên toàn bộ hệ thống ấn phẩm, tài liệu quảng cáo du lịch của tỉnh, đăng ký từ khóa „„ngheantourism‟‟,
„„dulichnghean‟‟ trên hệ thống tìm kiếm search engine của google và yahoo
Mặc dù hoạt động quảng bá du lịch trên trang thông tin điện tử du lịch Nghệ An đã được nhiều chuyên gia, cơ quan quản lý du lịch, hãng lữ hành đánh giá cao về số lượt truy cập, số liên kết trực tiếp, chất lượng website Tuy nhiên kết quả hoạt động quảng cáo du lịch trên mạng internet và website
du lịch Nghệ An vẫn còn khá khiêm tốn Cần tiếp tục mở rộng liên kết với các tỉnh bạn và Tổng cục Du lịch để tăng cường hoạt động quảng cáo
2.5.1.3 Quảng cáo trên báo, tạp chí và truyền hình
Ngành du lịch Nghệ An đã phố hợp chặt chẽ với các cơ quan báo chí địa phương và Trung Ương xây dựng và thực hiện các chuyên mục, phóng sự quảng bá giới thiệu tiềm năng du lịch, đồng thời tuyên truyền nâng cao nhận thức, kiến thức phát triển du lịch cho cộng đồng cư dân địa phương
- Quảng cáo trên báo, tạp chí địa phương và Trung Ương
Các báo, tạp chí đều duy trì thường xuyên các chuyên trang, chuyên mục, các phóng sự chuyên đề về du lịch Các báo điện tử cập nhật thông tin