Ảnh hưởng của các mức thay thế một phần protein bột cá bằng protein bột nhân hạt cao su tới hệ số chuyển đổi thức ăn FCR của cá Rô phi ..... So sánh tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều
Trang 1CỦA CÁ RÔ PHI (OREOCHROMIS NILOTICUS )
NUÔI THƯƠNG PHẨM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
VINH - 2010
Trang 2CỦA CÁ RÔ PHI (OREOCHROMIS NILOTICUS )
Trang 3Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè, những người luôn sát cánh và ủng hộ em trong cuộc sống
Trong thời gian làm khóa luận do trình độ cũng như thời gian còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong được sự giúp đỡ của thầy, cô và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn !
Vinh, tháng 12 năm 2010
Sinh viên
Đinh Thị Hiên
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
PHẦN I TỔNG QUAN 3
1.1 Sơ lược về cây cao su và hạt cây cao su 3
1.1.1 Đặc điểm của cây cao su 3
1.1.2 Tình hình về trồng cao su ở Việt Nam và ở Nghệ An 4
1.1.2.1 Tình hình trồng cây cao su ở Việt Nam 4
1.1.2.2 Tình hình trồng cao su ở địa bàn Nghệ An 4
1.1.4 Sơ lược về độc tố HCN ( hydrocyanic acid) trong nhân hạt cao su 7
1.2 Một số đặc điểm của cá Rô Phi 10
1.2.1 Vị trí phân loại 10
1.2.2 Đặc điểm hình thái 11
1.2.3 Đặc điểm sinh học, sinh trưởng 11
1.2.3.1 Đặc điển sinh học 11
1.2.3.2 Đặc điểm sinh trưởng 12
1.2.3.3 Một số vấn đề về dinh dưỡng của cá Rô phi 12
1.2.3.4 Nhu cầu dinh dưỡng của cá Rô phi 12
1.2.4 Sơ lược tình hình nuôi cá Rô phi trong nước và ở Nghệ An 16
1.2.4.1 Tình hình nuôi cá Rô phi trong nước 16
1.2.4.2 Tình hình nuôi cá Rô phi tại Nghệ An 17
1.3 Tình hình sản xuất thức ăn thủy sản ở Việt Nam 17
1.4 Tình hình nghiên cứu về thức ăn thay thế bột cá 19
1.5 Tiêu chuẩn Việt Nam về thức ăn cho cá rô Phi: 28 TCN 189:2004 thức ăn hỗn hợp dạng viên cho cá Rô Phi 20
1.5.1 Ðối tượng và phạm vi áp dụng 20
1.5.2 Phân loại 20
1.5.3 Yêu cầu kỹ thuật 21
1.5.3.1 Các chỉ tiêu cảm quan của thức ăn viên cho cá Rô phi 21
Trang 51.5.3.2 Các chỉ tiêu lý, hóa của thức ăn viên cho cá Rô phi 22
1.5.4 Phương pháp thử 24
1.5.4.1 Lấy mẫu theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4325-86, chuẩn bị mẫu thử theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6952: 2001 24
1.5.4.2 Thử chỉ tiêu cảm quan theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1532-1993 24
1.5.4.3 Thử các chỉ tiêu lý, hóa 24
1.5.5 Bao gói, ghi nhãn, bảo quản và vận chuyển 25
1.5.5.1 Bao gói 25
1.5.5.2 Ghi nhãn 25
PHẦN II ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.2 Vật liệu nghiên cứu 27
2.2.1 Nguyên liệu chế biến thức ăn thực nghiệm 27
2.2.2 Công thức thức ăn thực nghiệm 27
2.2.3 Dụng cụ thí nghiệm 28
2.3 Phương pháp nghiên cứu 29
2.3.1 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu về giá trị dinh dưỡng của nguyên liệu và thức ăn 29
2.3.2 Phương pháp bố trí thực nghiệm 34
2.3.2.1 Sơ đồ khối nghiên cứu 34
2.3.2.2 Bố trí thực nghiệm 34
2.3.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 35
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 37
2.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 37
2.4.1 Thời gian nghiên cứu 37
2.4.2 Địa điểm nghiên cứu 37
PHẦN III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
3.1 Quy trình chế biến thức ăn cho cá Rô phi ở quy mô nhỏ 38
3.1.1 Chuẩn bị nguyên liệu 39
Trang 63.1.2 Quá trình sản xuất 39
3.1.2.1 Nghiền nguyên liệu 39
3.1.2.2 Cân nguyên liệu 39
3.1.2.3 Phối trộn nguyên liệu 39
3.1.2.4 Ép viên 39
3.1.2.5 Cắt các sợi thức ăn thành các mẫu ngắn, tuỳ thuộc vào kích thước đối tượng nuôi 40
3.1.2.6 Làm khô thức ăn 40
3.1.2.7 Bảo quản thức ăn 40
3.2 Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng 40
3.2.1 Kết quả phân tích nguyên liệu 40
3.2.2 Kết quả phân tích thức ăn thí nghiệm 41
3.3 Ảnh hưởng của các mức thay thế protein bột cá bằng protein bột nhân hạt cao su tới sự tăng trưởng của cá Rô phi 42
3.3.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trọng trung bình của cá Rô phi thí nghiệm ở 4 công thức 42
3.3.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng của cá Rô phi thí nghiệm ở 4 công thức thí nghiệm 43
3.3.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng của cá Rô phi thí nghiệm ở 4 công thức thí nghiệm 45
3.3.4 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài toàn phần của cá Rô phi ở 4 công thức thí nghiệm 47
3.3.5 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều dài toàn phần của cá Rô phi ở 4 công thức thí nghiệm 49
3.3.6 Ảnh hưởng của các mức thay thế một phần protein bột cá bằng protein bột nhân hạt cao su tới tỷ lệ sống của cá Rô phi 51
3.3.7 Ảnh hưởng của các mức thay thế một phần protein bột cá bằng protein bột nhân hạt cao su tới hệ số chuyển đổi thức ăn FCR của cá Rô phi 52
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng hạt cao su 5
Bảng 1.2 Thành phần các axitamin trong nhân hạt cao su 5
Bảng 1.3 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản đến thành phần nguyên liệu hạt cao su 7
Bảng 1.4 Nhu cầu các aa của cá Rô phi 14
Bảng 1.5 Tổng hợp tình hình sản xuất thức ăn từ 2005 đến 2009 18
Bảng 1.6 Chỉ tiêu cảm quan của thức ăn viên 21
Bảng 1.7 Chỉ tiêu lý, hóa của thức ăn viên 22
Bảng 1.8 Chỉ tiêu vi sinh và an toàn vệ sinh thú y của thức ăn viên 24
Bảng 2.1 Bảng dụng cụ, thiết bi, hóa chất dùng trong phân tích 28
Bảng 2.2 Bố trí thí nghiệm 35
Bảng 3.1 Bảng cân đối giữa khối lượng cá và kích thước lỗ 39
Bảng 3.2 Bảng cân đối giữa khối lượng cá và chiều dài viên thức ăn 40
Bảng 3.3 Thành phần của nhân hạt cao su 40
Bảng 3.4 Thành phần dinh dưỡng của một số nguyên liệu sử dụng trong sản xuất thức ăn thí nghiệm 41
Bảng 3.5 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm 41
Bảng 3.6 So sánh khối lượng trung bình giữa các công thức thí nghiệm 42
Bảng 3.7 So sánh tốc độ tăng trưởng tuyệt đối của cá thí nghiệm về khối lượng 44
Bảng 3.8 So sánh tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng của cá ở 4 công thức thí nghiệm 46
Bảng 3.9 So sánh tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài của cá thí nghiệm về chiều dài 47
Bảng 3.10 So sánh tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều dài toàn phần của cá trong các công thức thí nghiệm 49
Bảng 3.11 Tỷ lệ sống của cá qua các lần kiểm tra 51
Bảng 3.12 Hệ số FCR trong quá trình thực nghiệm của các công thức 52
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Hoa và quả của cây cao su 3
Hình 1.2 Hình dạng hạt cao su 3
Hình 1.3 Cá Rô phi vằn (Oreochromis niloticus) 11
Hình 2.1 Bột nhân hạt cao su 27
Hình 2.2 Cá Rô phi vằn (Oreochrominiloticus) 27
Hình 2.3 Thức ăn thí nghiệm 28
Hình 2.4 Viên thức ăn thì nghiệm 28
Hình 2.5 Sơ đố khối nghiên cứu 34
Hình 2.6 Sơ đồ bố trí thực nghiệm 35
Hình 2.7 Đo chiều dài toàn thân cá 36
Hình 2.8 Cân trọng lượng cá 36
Hình 3.1 Quy trình sản xuất thức ăn với quy mô nhỏ 38
Hình 3.2 Biểu đồ so sánh tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng của cá Rô phi ở 4 công thức 44
Hình 3.3 Biểu đồ tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng của cá thí nghiệm ở 4 công thức theo thời gian nuôi 46
Hình 3.4 Biểu đồ so sánh tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài thân toàn phần của cá Rô phi ở 4 công thức 48
Hình 3.5 Biểu đồ so sánh tăng trưởng tương đối về chiều dài thân toàn phần của cá Rô phi ở 4 công thức 50
Trang 10MỞ ĐẦU
Bột cá là nguồn dinh dưỡng phổ biến nhất được sử dụng trong chế biến thức ăn trong nuôi trồng thuỷ sản, đây là nguồn nguyên liệu có hàm lượng Protein cao có đầy đủ khoáng chất, vitamin, các axit amin thiết yếu Với xu thế khai thác như hiện nay thì nguồn cung cấp các sản phẩm thuỷ sản ngày càng ít đi, mà diện tích nuôi ngày càng được mở rộng, nhu cầu bột cá ngày càng tăng, sản lượng bột cá thiếu hụt trong tương lai là điều tất yếu Giá bột cá cao dẫn đến chi phí sản xuất tăng, gây áp lực cho ngành nuôi trồng thuỷ sản
Giải pháp bền vững cho vấn đề này là thay thế bột cá bằng các nguồn Protein thực vật sẵn có ở các địa phương Hiện nay, đã có nhiều hướng nghiên cứu hướng đến việc thay thế nguồn Protein có nguồn gốc từ động vật bằng Protein có nguồn gốc từ thực vật, nhằm giảm chi phí thức ăn cho nghề nuôi
Bột nhân hạt cao su có giá trị dinh dưỡng khá cao, các axit amin quan trọng trong protein nhân hạt cao su ở mức khá Mặt khác cây cao su là cây công nghiệp nhiệt đới có giá trị kinh tế cao được trồng rất nhiều ở các nước Mỹ La Tinh, Châu Á, Châu Phi Hơn nữa việc
sử dụng nhân hạt cao su hiện nay chủ yếu là tận dụng nhân để ép lấy dầu và một số ứng dụng khác Nên đây là nguồn protein thực vật lớn, giá rẻ có thể dùng để thay thế bột cá làm giảm áp lực về nhu cầu bột cá và giảm chi phí về thức ăn
Cá Rô phi vằn Oreochromis niloticus là đối tượng nuôi có nhiều đặc tính ưu việt
như tốc độ sinh trưởng nhanh, ít dịch bệnh, có phổ thức ăn rộng nên trong những năm gần đây đã nhanh chóng trở thành một đối tượng nuôi rất phổ biến trên thế giới Theo thống kê của ngành thuỷ sản, hiện nay cá Rô phi đang được nuôi trên hơn 140 quốc gia
và được xem là một trong những loài cá nuôi quan trọng nhất thế kỉ 21 Một trong những trở ngại để mở rộng diện tích nuôi cá Rô phi hiện nay là chi phí thức ăn quá cao, dẫn đến hiệu quả kinh tế đem lại còn hạn chế
Với những cơ sở lý luận và thực tiễn như trên, được sự đồng ý của khoa hóa học, bộ
môn hóa thực phẩm,chúng tôi thực hiện đề tài “Bước đầu nghiên cứu sử dụng nguồn
protein bột nhân hạt cao su thay thế một phần nguồn protein bột cá trong thức ăn viên
của cá Rô phi ( Oreochromis niloticus ) nuôi thương phẩm”
Trang 11Mục đích nghiên cứu
Đánh giá khả năng thay thế và mức thay thế protein bột cá bằng protein bột nhân hạt cao su trong thức ăn viên của cá Rô phi nuôi thương phẩm, thông qua các chỉ tiêu nghiên cứu sau đây:
- Phân tích thành phần dinh dưỡng của nguyên liệu và thức ăn
- Đánh giá tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống và hệ số chuyển đổi thức ăn của cá thí nghiệm
Trang 12
PHẦN I TỔNG QUAN
1.1 Sơ lược về cây cao su và hạt cây cao su
1.1.1 Đặc điểm của cây cao su
Trong thiên nhiên có rất nhiều loại cây cao su, thuộc nhiều loại thực vật khác nhau
Trong số đó, loại đặc biệt được ưu chuộng nhất là cây Hevea brasiliensis Loại cây này cung
cấp 95-97% lượng thiên nhiên trên thế giới
Cây cao su (Hevea brasiliensis) thuộc giống Hevea, họ Euphorbiccesae Đây là loại
cây cao su lớn, cho hoa đơn tính, màu vàng, không cánh, hình chuông nhỏ tập trung thành từng chùm, lá dài từ 20-30cm
Cây cao su phát triển tốt trên đất bazan, do vậy chúng được trồng nhiều ở các tỉnh Đông Nam Bộ, như Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, một số huyện tại thành phố Hồ Chí Minh, và phía tây Nghệ An như huyện Nghĩa Đàn.Theo viện nghiên cứu cao su Việt Nam tổng sản lượng cây cao su tính đến năm 2010 có thể lên đến 700.000ha
Cây cao su cho quả khi được 4 tuổi Quả cây cao su là một nang có 3 ngăn, mỗi ngăn chứa một hạt Khi chín, quả sẽ nổ ra, phóng thích ra hạt Một ha cây cao su cho khoảng 300-
400 kg hạt mỗi năm Tỷ lệ nhân chiếm 51% tổng khối lượng hạt.[1]
Hạt cao su có khối lượng trung bình từ 3,5-6g, hình trứng dài từ 2-3 cm, phần ở dưới bụng hơi phẳng Vỏ hạt thì cứng và bóng, màu nâu hay xám với nhiều vết đốm hay vết sọc trên phía lưng nhưng chỉ có một ít hay không có trên bề mặt phía bụng
Hình 1.1 Hoa và quả của cây cao su Hình 1.2 Hình dạng hạt cao su
Trang 131.1.2 Tình hình về trồng cao su ở Việt Nam và ở Nghệ An
1.1.2.1 Tình hình trồng cây cao su ở Việt Nam
Cây cao su được du nhập vào Việt Nam được trên 110 năm (năm 1897) Thờì kỳ 1920
- 1940 là thời kỳ cây cao su được trồng nhiều ở nước ta Năm 1930 đã khai thác trên 10.000
ha, sản xuất 11.000 tấn Năm 1950, sản xuất 92.000 tấn, trên diện tích khai thác gần 70.000
ha Nhờ chính sách khuyến khích của chính quyền thuộc địa (chính sách đất đai và chính sách cho vay lãi suất thấp), Pháp đã thiết lập các đồn điền lớn như Công ty Đất đỏ (Compagnie des Terres rouges), SIPH, Công ty đồn điền Michelin, ở các tỉnh miền Đông và Tây Nguyên Xuất khẩu cao su và gạo lúc đó là “hai vú sữa cho nền kinh tế Việt Nam”
Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2009 tổng diện tích cây cao su đạt 67.420 ha, tăng 4.270 ha (13,5%) so với năm 2008 Trong đó, diện tích cho khai thác là 42.160 ha (chiếm 62,5% tổng diện tích), với sản lượng đạt 72.370 tấn, tăng 9,70 % so năm 2008 Diện tích trồng cao su tập trung chủ yếu ở Đông Nam Bộ (64%), Tây Nguyên (24,5%) và duyên hải miền Trung (10 %) Diện tích cây cao su ở vùng Tây Bắc mới đạt khoảng 10.200 ha (chiếm 1,5%) [18]
Cây cao su phát triển tốt trên đất bazan, do vậy chúng được trồng nhiều ở các tỉnh Đông Nam Bộ, như Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, một số huyện tại thành phố Hồ Chí Minh, và phía tây Nghệ An như huyện Nghĩa Đàn Theo viện nghiên cứu cao su Việt Nam tổng sản lượng cây cao su tính đến năm 2010 là 715.000 ha Dự kiến diện tích cây cao su của Việt Nam năm 2015 là 800.000ha [18]
1.1.2.2 Tình hình trồng cao su ở địa bàn Nghệ An
Nghệ An là một trong những tỉnh có điều kiện đất đai khí hậu thuận lợi cho phát triển cây cao su, đặc biệt là các huyện miền núi phía tây Tại Nghệ An cây cao su được trồng tại các nông trường Phủ Quỳ từ những năm 1960, đến năm 1995 diện tích 1.560 ha Cuối năm
2005, toàn tỉnh có 3.383 ha cao su, trong đó 2.103 ha kinh doanh (chủ yếu cao su trồng từ vốn
dự án 327 (1992-1997) và được phân bố trên 3 huyện Nghĩa Đàn (2.094 ha), Quỳ Hợp (570 ha), Tân Kỳ (719 ha) Năm 2007 tổng diện tích cây cao su toàn tỉnh đạt trên 4.700 ha, diện tích cho sản phẩm gần 1.700 ha [18] Định hướng trước mắt của tỉnh Nghệ An là tập trung vào phát triển vùng đất thuộc các công ty nông lâm nghiệp, nông trường quốc doanh và một
số diện tích cao su tiêu điền thuộc các huyện Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Tân Kỳ Sự phát triển cây cao su ở Nghệ An có những thuận lơi: diện tích đất đai khí hậu thời tiết phù hợp với cây cao
Trang 14su, tương đồng với điều kiện khí hậu của các vùng trồng cao su tập trung ở Vân Nam - Trung Quốc Do cơ cấu cây trồng trên đất đồi núi còn chưa phát triển ổn định, hiệu quả chưa cao vì vậy cây cao su có lợi thế so sánh hơn Bên cạnh đó việc phát triển trồng cây cao su ở Nghệ
An còn có một số khó khăn như: Ngoại trừ khối kinh tế Quốc doanh, những vùng phát triển cao su tiểu điền kinh nghiệm chỉ đạo thực tiễn đối với cao su ở vùng này còn rất hạn chế, địa hình chia cắt, quy mô diện tích đất của nông hộ nhỏ, trình độ thâm canh còn hạn chế, cơ sở hạ tầng trong vùng nhất là giao thông phục vụ cho sản xuất và chế biến còn hạn chế [18]
1.1.3 Giá trị dinh dƣỡng của hạt cao su
Theo tiêu chuẩn của FAO hạt cao su có thành phần dinh dưỡng như sau:
Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng hạt cao su
Thành phần Hạt cao su đã sấy khô Bánh dầu hạt cao su
HCN (axid xyanhydric) (mg/kg) 330,00 3,40
Protein(%) 27,00 35,40 Lipit(%) 32,30 13,50
Khoáng(%) 3,60 5,70
Theo FAO, hạt cao su có thành phần các axitamin như sau:
Bảng 1.2 Thành phần các axitamin trong nhân hạt cao su
TT Aminoaxit Tiêu chuẩn FAO Bột nhân hạt cao su
Trang 15Qua bảng 1.2 nhận thấy, bột nhân hạt cao su có mặt 8 axit amin thiết yếu cho động vật nói chung đặc biệt là 7 axit amin tối cần thiết cho hoạt động của động vật gồm: Lysine, Phenylalanine, Isoleusine, Valanine, Threonine, Methionine, Leucine
Trong đó, Lysine là loại axit amin thường thiếu trong nhiều thực phẩm nhất là những thực phẩm từ ngũ cốc như gạo, ngô, khoai, sắn… nhưng trong bột nhân hạt cao su thì hàm lượng Lysine cao hơn tiêu chuẩn của FAO Đây là axit amin đóng vai trò quan trọng trong sinh tổng hợp hemoglobin, axit nucleic, ảnh hưởng đến tiêu hóa, thần kinh, sự hình thành mô xương cải thiện tốt chức năng của các cơ quan nội tạng, thiếu axit amin này gây thiếu máu và ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng của động vật [3]
Leucine tương đối quan trọng trong quá trình điều chỉnh hàm lượng đường trong máu nên sẽ tốt cho bệnh nhân mắc chứng “hyperglycemica”, hoặc những người mong muốn đốt cháy chất béo nhanh chóng Hơn nữa, loại axít amin này còn có chức năng duy trì lượng hormone tăng trưởng để thúc đẩy quá trình phát triển mô cơ
Nguồn thực phẩm chứa Leucine: Đậu tương, đậu lăng, lòng đỏ trứng, hạnh nhân, cá, lạc, tôm nhưng trong bột nhân hạt cao su thì hàm lượng Lysine cao hơn tiêu chuẩn của FAO Phenylalanine là tiền chất dẫn truyền thần kinh, kích thích hormon tăng trưởng, đẩy mạnh hoạt động miễn dịch Hàm lượng axit amin này trong bột nhân hạt cao su cũng khá cao so với tiêu chẩn của FAO [5]
Valanine ảnh hưởng đến hoạt động của tuyến tụy Nếu thiếu axit amin này trong thức
ăn sẽ gây rối loạn trong phối hợp hoạt động Hàm lượng của axit amin Valanine trong protein nhân hạt cao su cao hơn tiêu chuẩn của FAO
Như vậy hạt cao su có thành phần dinh dưỡng khá cao so với những nguyên liệu khác, đặc biệt là thành phần Protein Các axit amin trong nhân hạt cao su cũng khá cao, các axit amin quan trọng khác ở mức chấp nhận được Do vậy bột nhân hạt cao su có thành phần các loại axit amin phù hợp và có khả năng thay thế bột cá trong khẩu phần ăn của cá Rô phi với một lượng phù hợp
Narahari và Kothandara (1983) thấy rằng các nhân hạt cao su có chứa 749 mg HCN
kg -1 và lưu trữ của hạt giống ở nhiệt độ phòng trong một thời gian tối thiểu là 2 tháng là một phương pháp hiệu quả của việc giảm nồng độ độc tố đến mức an toàn Hơn
nữa, hàm lượng xianua giảm đáng kể dưới nhiệt độ cao trong quá trình sấy (FAO 1997)
Trang 16Bảng 1.3 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản đến thành phần nguyên liệu hạt cao su
Loại
Nguyên liệu
Hàm lượng ẩm(%)
Hàm lượng Dầu (%)
Hàm lượng Protein thô(%)
Hàm lượng HCN (mg/kg) Ngay sau khi thu hoạch 27,30 20,10 24,40 749,00 Bảo quản 20-40 ngày 22,70 29,80 25,30 361,00 Bảo quản 60-80 ngày 19,40 31,20 26,10 273,00
1.1.4 Sơ lược về độc tố HCN ( hydrocyanic acid) trong nhân hạt cao su
- Tính chất lý học của hydrocyanic acid
Hydrocyanic acid có công thức hóa học là HCN trọng lượng phân tử là 27, ở thể khan là chất lỏng rất linh động, tỷ trọng d = 0.696 Nhiệt độ sôi ở 35-400C, đông đặc ở nhiệt độ -140C, có mùi hạnh nhân, vị rất đắng, hòa tan dễ dàng vào trong nước
và rượu là một chất acid yếu có pk = 9,4 Hơi của HCN có tỷ trọng d= 0.968
Các muối cyanua kiềm như NaCN, KCN là các muối tinh thể trắng, dễ bị phân hủy trong không khí bởi nước, CO2, SO2 … tan tốt trong nước, ít tan trong rượu, tan trong dung dịch rượu nước Dung dịch nước của các muối này có tính kiềm mạnh
Muối cyanua của các kim loại kiềm thổ tan nhiều trong nước, cyanua của các kim loại khác tan ít hơn
Muối cyanua thủy phân Hg(CN)2 tan trong nước nhưng mà điện ly yếu
Dicyan (CN)2 là chất khí độc không màu, mùi hạnh nhân, tan tốt trong nước và rượu, (CN)2, hình thành do nhiệt phân một số muối cyanua như Hg(CN)2 hay oxy hóa CuCN bằng FeCl3, (CN)2 kém bền, do bị thủy phân Nguồn[19]
- Tính chất hóa học của hydrocyanic acid
Hydrocyanic acid và các cyanua bị oxy hóa bởi oxy không khí chuyển thành cyanat
Các muối cyanua kim loại kiềm bị dioxid carbon trong không khí phân hủy tạo thành HCN Vì vậy phải bảo quản muối kim loại cyanua trong thùng kín, để ở chỗ mát
Các muối cyanua tan trong nước dễ tạo với các cyanua không tan thành các ion phức
Trang 17Acid nitric tác dụng với các chất hữu cơ như acid mailic, citric, amkaloid, tannin cũng tạo nên HCN Qua đó cắt nghĩa việc tạo nên các glucoside cyanhdric ở một số thực vật
Các aldehyde, đường cũng phá hủy được HCN
Trong một số các cây cối, thực vật có chứa các dẫn xuất hữu cơ của hydroyanic acid, ví dụ hạnh nhân đắng, nhân quả mận, lá trúc anh đào, rễ sắn, măng tre nứa, nấm, các hạt lá và cành loại đậu phaseolus lunatus
Thông thường, HCN (hydrocyanic acid) không tồn tại ở dạng tự do mà ở dạng hợp chất thường được gọi là cyanogenic glucoside có chứa ion cyanide (CN) và chỉ tạo thành hydrocyanic acid khi bị phân hủy bởi những enzyme linamarase hay glucosidase Các mô thực vật sống có thể chứa cả cyanogenic glucoside và enzyme trong những tế bào riêng lẻ
Khi mô thực vật bị phá hủy, các enzyme có thể tiếp xúc với cyanogenic glucoside và sinh ra HCN
Trong nhân tươi của hạt cao su có chứa linamarin, một loại cyanogenic glucoside, đóng vai trò như một nhân tố phản dinh dưỡng (anti-nutrition factor), được tìm thấy trong khoai mì và đậu lima Bản chất linamarin chất không độc nhưng nó phân hủy thành hydrocyanic acid (HCN) rất độc dưới tác dụng của enzyme nội sinh hay môi trường hơi acid Nguồn[19]
- Độc tính của hydroxyanic acid
Tùy theo liều lượng hấp thụ và mức độ cảm nhiễm hydrocyanic acid mà có 2 cấp ngộ độc như sau:
Ngộ độc cấp tính:gốc CN
khi vào cơ thể sẽ liền kết chặt chẽ với hemoglobin (Hb) Ức chế quá trình vận chuyển Oxy làm cho cơ thể thiếu oxy, ngạt thở, các niêm mạc, da tím bầm và chết rất nhanh nếu ăn phải một lượng lớn
Việc bắt giữ CN của Hb trong hồng cầu là phản ứng tự
vệ để ngăn chặn không cho ion CN xâm nhập, khi Hb không còn đủ khả năng phòng
vệ được nữa, thì CN vào bên trong tế bào liên kết chặt chẽ với nhân Fe2+,Cu2+ trong hệ thống enzyme hô hấp cytochrome, không cho hệ thống này thực hiện chức năng
chuyển điện tử trong chuổi phản ứng hô hấp trong tế bào, lúc này tình trạng ngộ độc
trở nên tồi tệ, khó có khả năng cứu chữa được
Trang 18Ngộ độc mãn tính: trường hợp ăn với một lượng ít, thường xuyên thì trong cơ thể, chủ yếu là ở gan sẽ xảy ra quá trình oxy hóa khử chất HCN nhờ vào lưu huỳnh trong methionine để tạo ra chất thiocyanate ít độc hơn để thải ra ngoài Nhưng thiocyanate lại có khuynh hướng gây bướu cổ, góp phần làm bội triển tuyến giáp, nếu như iod có giới hạn trong thức ăn thì rất dễ sinh ra bệnh bướu cổ
Khi tiếp nhận một lượng lớn là HCN, trong cơ thể động vật có thể giải độc cyanide bằng nhiều cách, trong đó có 2 cách chủ yếu là phản ứng với thiosulfate (amino acid có chứa sulfur) tạo ra thiocyanate không độc với sự xúc tác của 2 enzym
là -mesercatopyruvat-cyanide transulphurase và hodanese Thiocyanate được thải ra ngoài qua đường nước tiểu Sự trao đổi chuyển hóa của cyanogensis và cyanide trong
cơ thể được biểu diễn theo sơ đồ sau:
N
N + CN-
Trang 19Vì sulfur cần thiết cho quá trình khử độc cyanide trong khi nó nhận được từ chế
độ ăn methionie nên sự hiện diện của cyanogennic glucoside có thể dẫn đến thiếu hụt
amino acid thiết yếu này khi sự cung cấp methionine kém hoặc gần giới hạn
Hydro cyanic acid gây độc nhanh qua đường hô hấp, với liều lượng 0,3mg/kg trọng lượng cơ thể đã có thể gây chết ngay
Nồng độ từ 0,12-0,15mg/kg trọng lượng cơ thể có thể gây chết trong khoảng thời gian 30 phút đến 1 giờ
Qua đường tiêu hóa: liều lượng gây tử vong là 1mg/1kg trọng lượng cơ thể đối với các muối như KCN, NaCN
Hydrocyanic acid còn có thể rồi gây ngô độc bằng cách thấm qua các vết thương ngoài da
Nồng độ cho phép tiếp xúc nhiều nhiều lần trong không khí là 10ml/m3
hoặc 11mg/m3 không khí ở 200C Nguồn[2]
1.2 Một số đặc điểm của cá Rô Phi
1.2.1 Vị trí phân loại
Cá Rô phi vằn dòng GIFT được tập hợp từ đàn cá Rô phi bố mẹ ngoài tự nhiên
và được chọn lọc qua nhiều thế hệ với sự trợ giúp của chương trình GIFT Foundation, theo Smith (1945) cá thuộc:
Loài Oreochromis niloticus
Cá Rô phi vằn (Oreochromis niloticus) dòng GIFT được Philipine lai tạo và
chọn lọc từ 8 dòng cá khác nhau trong đó có dòng cá châu Phi (Egipt, Ghana, Kenya, and Senegan) và 4 dòng cá Rô phi thuần từ các nước Israel, Singapore, Taiwan và Tháiland Năm 1993 cá Rô phi vằn dòng GIFT được nhập vào Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1 từ Philippine Là kết quả của dự án ”Nâng cao phẩm giống di truyền
cá Rô phi nuôi” thông qua lai tạo và chọn lọc từ các dòng cá khác nhau [17]
Trang 201.2.2 Đặc điểm hình thái
Cá Rô phi vằn (Oreochromis niloticus) có thân ngắn mình cao, vẩy lớn dày và
cứng Màu sắc thân thay đổi theo môi trường và giai đoạn phát triển của cá Thân cá có màu hơi sẫm, trên thân có 7 - 9 sọc đen từ gốc đuôi đến vây ngực, ở đuôi và vây có chấm hoa xếp theo thứ tự thành vạch đen đều đặn, cá đực cũng như cá cái nhưng màu sắc của cá đực sặc sỡ hơn Miệng cá có nhiều hàm răng nhỏ và sắc, dạ dày bé, đặc biệt
cá Rô phi có ruột dài gấp 6 - 7 lần chiều dài của cơ thể
Hình 1.3 Cá Rô phi vằn (Oreochromis niloticus)
1.2.3 Đặc điểm sinh học, sinh trưởng
1.2.3.1 Đặc điển sinh học
Cá sinh trưởng và phát triển trong nước ngọt, nước lợ và có thể phát triển ở biển
có độ mặn 32‰ Phát triển tối ưu ở độ mặn dưới 5‰ Cá sống ở tầng nước dưới và đáy Có thể chịu đựng được ở vùng nước có hàm lượng oxy hoà tan thấp 1 mg/l,
ngưỡng gây chết cho cá khoảng 0,3 - 1 mg/l Giới hạn pH: 5 - 11 và có khả năng chịu
được khí NH3 tới 2,4 mg/l Cá có nguồn gốc nhiệt đới, nhiệt độ thích hợp để phát triển
là 200C - 350C và tối ưu từ 28 - 300C, song chịu đựng kém với nhiệt độ thấp, nhiệt độ gây chết cho cá là 110
C - 120C Cá ăn tạp, thức ăn gồm các tảo dạng sợi, các loại động thực vật phù du, mùn bã hữu cơ, ấu trùng các loại côn trùng, động vật sống ở nước, cỏ bèo, rau và cả phân hữu cơ Ngoài ra chúng có khả năng ăn thức ăn bổ sung như cám gạo, bột ngô, bánh dầu lạc, các phế phụ phẩm khác và thức ăn viên Ở giai đoạn cá hương chúng ăn sinh vật phù du, chủ yếu là động vật phù du, một ít thực vật phù du Giai đoạn cá giống đến cá trưởng thành chúng chủ yếu ăn mùn bã hữu cơ và thực vật
Trang 21phù du Đặc biệt chúng có khả năng hấp phụ 70% - 80% tảo lục, tảo lam mà một số loài cá khác khó có khả năng tiêu hoá [ 20]
1.2.3.2 Đặc điểm sinh trưởng
Cá Rô phi lớn nhanh, tuy nhiên tốc độ lớn phụ thuộc vào tác động của nhiều yếu tố như: nhiệt độ, thức ăn, mật độ nuôi, di truyền, giới tính Vì vậy trong quá trình nuôi chúng ta nên chú ý tới các điều kiện cụ thể và tác động của các yếu tố này nhằm đảm bảo cho cá đạt tốc độ tăng trưởng tốt nhất Cá ở giai đoạn nhỏ có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn và giảm dần khi lớn Cá sau 1 tháng tuổi đạt 2 - 3 g/con Sau 2 tháng tuổi đạt 15 - 20 g/con Nuôi thương phẩm sau 5 - 6 tháng nuôi có thể đạt 400 - 500
g/con [20]
1.2.3.3 Một số vấn đề về dinh dưỡng của cá Rô phi
Cá Rô phi có bộ máy tiêu hoá được cấu tạo thích nghi với việc ăn tạp Miệng khá rộng hướng lên trên và có thể ăn được những mồi lớn Răng hàm ngắn và nhiều được sắp xếp lộn xộn giúp bắt và giữ mồi rất tốt Lược mang ngắn, dày giúp cho việc lọc tảo rất hiệu quả Cá Rô phi có hai tấm răng hầu ở trên và một tấm ở dưới làm nhiệm vụ nghiền thức ăn Cá Rô phi có thực quản ngắn, dạ dày nhỏ, thành dạ dày mỏng Ruột cá dài và xoắn nhiều vòng, là đặc điểm của loài ăn thực vật (Jauncey, 1998) [4]
Tính ăn của cá Rô phi thay đổi tuỳ thuộc theo loài, giai đoạn phát triển và môi trường nuôi Khi còn nhỏ, thức ăn chủ yếu của cá Rô phi là sinh vật phù du, sau khi nở
20 ngày chúng chuyển dần sang ăn như cá trưởng thành (Philipart và Ruweb, 1982) Theo Trewavas (1982) ở giai đoạn sớm của cá hương chúng ăn động vật phù du, chất cặn vẩn và những ấu trùng dưới nước, cho tới khi đạt 6 cm thì chuyển sang ăn thực vật phù du nhiều hơn Tới tuổi trưởng thành, cá Rô phi có phổ thức ăn khá rộng: Tảo, mùn
bã hữu cơ, động vật phù du, ấu trùng, côn trùng, những thực vật thượng đẳng mềm và
cả thức ăn viên khi nuôi trong ao, lồng bè [9]
1.2.3.4 Nhu cầu dinh dưỡng của cá Rô phi
Để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng, sinh sản và các chức năng sinh lý của cá thì cần đáp ứng đầy đủ các chất dinh dưỡng như protein, lipid, năng lượng, vitamin và khoáng Nhu cầu này cũng thay đổi tuỳ thuộc từng loài cá và từng giai đoạn phát triển của nó Tuy nhiên protein là vật chất đóng nhiều vai trò quan trọng cho sự sống và
Trang 22sinh trưởng của cá đặc biệt là vai trò xây dựng cơ thể và một số vai trò khác cũng không kém phần quan trọng như điều hòa (hoormon), xúc tác (enzim), bảo vệ (chất kháng thể),
Nhu cầu protein
Protein là thành phần quan trọng nhất dùng để xây dựng các tổ chức và sản xuất các enzyme cho cơ thể Protein là hợp chất cao phân tử có 50% cacbon, 22% oxy, 7% hydrô, 16% nitơ và 5% các thành phần khác [11]
Cá Rô phi không có nhu cầu protein cố định song đòi hỏi một sự phối hợp của
20 axit amin chính thiết yếu và không thiết yếu để tạo nên các protein Tiêu hoá protein xảy ra trước hết dưới tác dụng của các enzyme, thức ăn được tiêu hoá để tạo thành các axít amin tự do rồi được hấp thụ qua ống tiêu hoá vào máu, chúng được máu vận chuyển tới các tổ chức mô khác nhau để tham gia vào quá trình sinh tổng hợp hoặc oxy hoá để giải phóng năng lượng [20]
Nhu cầu protein giảm theo sự tăng về tuổi và kích thước cơ thể về mặt giá trị tương đối (%), nhưng vẫn tăng về giá trị tuyệt đối Theo Bularin và Haller (1982) cho biết cá Rô phi thay đổi nhu cầu về protein như sau: Nhỏ hơn 5kg: 30-50%, từ 1-5g: 30-40%, từ 5-20 g: 20-30%
Ở giai đoạn giống cá cần 56% (Winfree và Stukney, 1981), đến giai đoạn trưởng thành là 20-50% (mức tối ưu là 30%) Ở giai đoạn cá bố mẹ thì nhu cầu về protein là rất cần thiết cho sự tạo các sản phẩm sinh dục như noãn sào, tinh sào Theo kết quả nghiên cứu thì đối với cá được cung cấp 20-30% protein thì cá đạt tốc độ sinh trưởng lớn hơn và sức sinh sản, số lần sinh và số trứng là nhiều hơn Khi nhiệt độ môi trường tăng lên thì nhu cầu về protein cũng tăng lên do quá trình trao đổi chất tăng lên
cá cần cung cấp nhiều năng lượng hơn Nói đến nhu cầu protein là nói đến nhu cầu về
các amino acid thiết yếu Theo nghiên cứu của Santiago (1985) trên O niloticus cho
biết một số nhu cầu các amino acid của cá Rô phi như sau:
Trang 23Bảng 1.4 Nhu cầu các aa của cá Rô phi
Các loại axit amin Santiago (1985)
Arginine 3,5-4,4% (1-1,2/28) Histidine 1,3-1,4% (0,4-0,5/28) Isoleusine 3,2% (0,9/28) Leucine 2,8-3,6 (0,8-1/28) Valine 2,3-3% (0,6-0,8/28) Phenylalanine 3,2% (1,3/28) Methionine 3,2% (0,9/28) Threonine 3,6% (1/28) Lysine 2,3-3% (0,6-0,8/28) Tryptophan 0.7-1.3% (0.2-0.4/28)
(Nguồn: Dinh dưỡng và thức ăn trong nuôi trồng thủy sản
TS Lại Văn Hùng, năm 2004) [5]
Bột cá vẫn là nguồn protein động vật chủ yếu trong thức ăn của cá Rô phi, ngoài
ra có thể lựa chọn các loại khác như thịt gia cầm, cá ủ xilô, bột tôm, nhuyễn thể,…Những protein thực vật được sử nhiều nhất trong thức ăn cá Rô phi là đỗ tương, lạc, hạt bông, hạt hướng dương, bột gạo, bột bắp…Tuy nhiên những protein động vật và thực vật trên chỉ có thể thay thế một phần bột cá trong thức ăn của cá Rô phi Điều này
có thể do sự thiếu cân bằng của các chất dinh dưỡng thiết yếu như các axit amin và các chất khoáng, do sự hiện diện của các nhân tố phi dinh dưỡng làm giảm tính hấp dẫn của thức ăn, giảm tính ổn định của thức ăn trong nước và độ tiêu hoá thức ăn kém [20]
Nhu cầu Lipid
Lipid là một trong những thành phần quan trọng của thức ăn cung cấp nguồn năng lượng cho động vật Lipid là este của glyceryl và axit béo, tuỳ thuộc vào axit
Trang 24béo cấu trúc no hay không no mà lipid ở dạng rắn hay dạng lỏng Số lượng Cacbon,
số lượng nối đôi và vị trí của nối đôi thứ nhất sẽ có ảnh hưởng lớn tới chất lượng của axit béo không no vì vậy người ta thường dùng axit béo không no để đánh giá chất lượng lipid
Lipid trong cơ thể cá dự trữ dưới dạng mô mỡ, khi thiếu thức ăn mô mỡ này sẽ được sử dụng để cung cấp năng lượng cho cá Lipid cũng được tìm thấy trong não, tế bào thần kinh là tiền thân của hormon giới tính và các hormon khác trong cá (new, 1987) [7] Theo Jauncey (1982) cho biết cá Rô phi không sử dụng mức cao của khẩu phần lipid như cá hồi và cá chép, cá Rô phi cỡ 25g nên sử dụng mức lipid là 10% và
giảm xuống 6% đối với cá lớn [7] Khi nghiên cứu nhu cầu lipid cho cá Rô phi O
niloticus cái với các khẩu phần ăn chứa 5%, 9% và 12% lipid Hanley (1991) kết luận
việc tăng hàm lượng lipid trong khẩu phần ăn không làm tăng tốc độ tăng trưởng nhưng lại làm tích luỹ lipid trong cơ thể cá Rô phi [7]
Nhu cầu Vitamin
Vitamin là những hợp chất hữu cơ có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo các hoạt động sống, sinh trưởng và phát triển của cá Cá không có khả năng tự tổng hợp các loại vitamin và phải cung cấp thông qua thức ăn
Có thể chia vitamin thành hai nhóm, nhóm vitamin hoà tan trong nước và nhóm vitamin hoà tan trong dầu Nhóm vitamin hoà tan trong nước bao gồm các bitamin nhóm B, cholin, inositol, folic acid, biotin và vitamin C (ascorbic acid) Trong đó vitamin C có vai trò quan trọng nhất nhờ khả năng chống oxy hoá và hỗ trợ hệ miễn dịch của cá
Nhóm vitamin hoà tan trong dầu bao gồm vitamin A, retinol (tăng cường chức năng của mắt), vitamin D, cholecaciferol (chức năng tạo xương), vitamin E như tocopherol có vai trò chống oxy hoá khử Trong nhóm các vitamin hoà tan trong dầu thì vitamin E được đề cập nhiều nhất và có vai trò quan trọng trong khả năng chống ôxy hoá
Vai trò của vitamin rất quan trọng, nếu thiếu 1 trong các vitamin đều có thể dẫn đến những bất thường của cơ thể, trong đó sinh trưởng chậm là hiện tượng phổ biến nhất ở cá Thiếu vitamin C có thể dẫn đến dị hình ở cá; thiếu acid folic tạo nên những đốm đen trên da…
Trang 25Cá Rô Phi có nhu cầu Vitamin tương tự như các loài cá nước ấm khác, nhưng chúng không tự tổng hợp được vitamin mà phải lấy từ khẩu phần thức ăn, đặc biệt khi nuôi thâm canh cần phải cung cấp đủ 15 vitamin thiết yếu để đề phòng các dấu hiệu suy dinh dưỡng (Schmittou và ctv,1998) Lovell & Límuwan (1982) cho rằng
O.Niloticus sản xuất vitamin B12 trong ống tiêu hóa thông qua hoạt động của vi khuẩn
và không cần bổ sung trong khẩu phần thức ăn [7]
Nhu cầu khoáng
Khoáng là thành phần quan trọng để tạo mô, các quá trình trao đổi chất giữ cân bằng thẩm thấu giữa nội dịch và môi trường Cá Rô phi cần 22 loại khoáng trong
đó một số loại khoáng thiết yếu trong khẩu phần và một số khoáng hoà tan có sẵn trong nước như canxi nên cá có thể trao đổi dịch giữa cơ thể và môi trường nước thông qua mang
Sự thiếu hụt khoáng có thể làm giảm tăng trưởng của cá, thiếu máu kém ăn, khung xương biến dạng, cá lờ đờ Bệnh nặng thì da vây mòn, đục thuỷ tinh thể, cơ thoái hoá, tỷ lệ chết cao
1.2.4 Sơ lược tình hình nuôi cá Rô phi trong nước và ở Nghệ An
1.2.4.1 Tình hình nuôi cá Rô phi trong nước
Năm 1973, loài cá Rô phi vằn (O niloticus) đã được nhập vào miền Nam nước
ta từ Đài Loan, sau đó nó được mở rộng nuôi trong cả nước vào những năm 1970 -
1980 Tuy nhiên do sự lai tạp các loài cá Rô phi đen (Oreochromis mossambicus)
trong các hệ thống nuôi, khiến cho chất lượng di truyền của loài cá Rô phi vằn này bị thoái hóa, kéo theo sản lượng cá Rô phi của nước ta trong những năm cuối 1980 đầu
1990 bị giảm sút nghiệm trọng Để góp phần khôi phục và phát triển nghề nuôi cá Rô phi ở nước, trong những năm 1994 - 1007, Viện nghiên cứu NTTS 1 (Viện I) đã nhập
nội và thuần hóa 3 dòng cá Rô phi vằn (Oreochromis niloticus) từ Philippinnes và
Thái Lan Trong đó, dòng GIFT là dòng có sức sống cao nhất, nó được tiếp nhận và phát triển ở nhiều nơi, đặc biệt là các tỉnh đồng bằng sông Hồng [9] Để ổn định và nâng cao phẩm chất giống của cá Rô phi dòng GIFT mới nhập, từ năm 1998 đến nay, Viện nghiên cứu NTTS 1 đã tiến hành chương trình chọn giống dòng cá này nhằm tăng sức sinh trưởng và khả năng chịu lạnh Sau 3 năm thực hiện, đến năm 2000 đã chọn được đàn cá Rô phi có sức sinh trưởng cao hơn 16% so với đàn cá Rô phi dòng
Trang 26GIFT thường [9] Chương trình chọn giống này đã được tiến hành ở Viện nghiên cứu NTTS 1 với nguồn kinh phí của dự án NORAD Từ năm 2000 đến nay, cá Rô phi dòng GIFT đã được công nhận là ưu việt và phát tán nuôi trong cả nước Tình hình nuôi cá
Rô phi ở nước ta trong những năm vừa qua đã bắt đầu phát triển do cá Rô phi được xác định là loài cá chủ yếu trong cơ cấu đàn cá nuôi nước ngọt và nước lợ, trong đó cá
Rô phi vằn (O niloticus) là đối tượng nuôi chủ yếu Ở miền Bắc, cá Rô phi vằn (O
niloticus) được nuôi ở một số tỉnh như Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên và Bắc Ninh,
Nghệ An Ở miền Nam, cá Rô phi vằn (O niloticus) được nuôi chủ yếu trong lồng bè
trên sông Tiền và sông Hậu Các tỉnh có sản lượng lớn về cá Rô phi vằn nuôi là An Giang, Vĩnh Long và Tiền Giang
1.2.4.2 Tình hình nuôi cá Rô phi tại Nghệ An
Năm 1998, Trung tâm Khuyến ngư tỉnh Nghệ An đã liên kết với Viện nghiên cứu NTTS 1 chuyển cá bột đã qua xử lý 21 ngày tuổi về nuôi mỗi năm lên tới 3 - 5 triệu con, chưa tính lượng cá nhập theo con đường tư nhân Phong trào nuôi cá Rô phi
đã được tỉnh và trực tiếp là Sở Thủy sản Nghệ An tập trung phát triển, cá được nuôi phổ biến ở vùng ven biển tới vùng đồng bằng [17] Năm 2003 tỉnh có chủ trương nuôi
cá Rô phi đơn tính trở thành vùng nguyên liệu phục vụ cho xuất khẩu đạt 1.500 tấn Hình thức nuôi cá Rô phi đang ở mức độ thấp, chủ yếu là nuôi xen với các loài cá khác, năng suất thấp chủ yếu đạt
2 - 3tấn/ha Hiện nay ở các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, vùng phụ cận thành phố Vinh có diện tích nuôi tôm khoảng 1.630ha Sau vụ tôm sẽ nuôi tiếp cá Rô phi thời gian từ tháng 8 - 11 nhằm cải tạo lại ao và cho ao nghỉ trong thời gian nuôi cá
để đảm bảo tôm vụ sau đạt năng suất và chất lượng tốt hơn Các ao nuôi tôm bị bệnh nên chuyển sang nuôi cá Rô phi đơn tính với năng suất 10 tấn/ha [20]
1.3 Tình hình sản xuất thức ăn thủy sản ở Việt Nam
Theo số liệu khảo sát năm 2009, nhu cầu thức ăn cho các đối tượng chủ lực là 2.484.000 (100%) tấn trong đó tôm nước lợ khoảng 384.00 tấn, cá tra là hơn 2.100.000 tấn, trong đó các nhà máy trong nước sản xuất được 1.920.000 tấn (chiếm 77,3%), nhập khẩu 435.000 tấn là thức ăn tự chế biến ( chiếm 5,2%) Thức ăn nhập khẩu chủ yếu là thức ăn nuôi tôm sứ, tôm he chân trắng ( 42 cơ sở )
Trang 27Nhu cầu thức ăn cho cá tra hơn 2.100.000 tấn (100%), trong đó các nhà máy trong nước sản xuất được 1.650.000 tấn ( chiếm 78,6%), nhập khẩu 80.000 tấn ( chiếm 3,8%), thức ăn tự chế khoảng 370.000 tấn (chiếm 17,6%)
Thức ăn nuôi đối tượng nhập nội như cá tầm, cá hồi phải nhập khẩu 100% từ Phần Lan, Pháp,…
Theo thống kê năm 2005, Việt Nam có 38 cơ sở sản xuất thức ăn nuôi trồng thủy sản, sản lượng thức ăn ước đạt 410 nghìn tấn, đáp ứng khoảng 42% nhu cầu, còn lại phải nhập khẩu và sử dụng thức ăn tự chế biến
Tháng 12 năm 2009, cả nước có 106 nhà máy sản xuất thức ăn phục vụ nuôi trồng thủy sản; trong đó sản xuất thức ăn cá tra là 88 cơ sở, tôm sứ là 63, tôm thẻ là 28,
cá rô phi là 65, tôm càng xanh là 11, các cơ sở có công xuất lớn, sản xuất thức ăn đa đối tượng chủ yếu là các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài và tập trung chủ yếu
Khả năng đáp ứng
Tự cung cấp Nhập khẩu Tự chế
Nguồn: Báo cáo các tỉnh và số liệu tổng hợp Danh mục
Công nghệ sản xuất thức ăn ngày càng được cải tiến, người nuôi thủy sản ngày càng sử dụng thức ăn viên và giảm dần thức ăn tự chế Theo số liệu điều tra nổi Chất lượng thức ăn đang được cải thiện, hệ số chuyển đổi thức ăn với tôm sứ, tôm he chân trắng giảm từ 1,5-1,7 xuống 1,1- 1,3 kg thức ăn /kg tôm; cá tra giảm từ 1,8- 2,0 kg thức ăn /kg xuống 1,5-1,6kg thức ăn/kg cá
Trang 28Hiện nay, một số doanh nghiệp sản xuất thức ăn đã sản xuất thành công thức ăn cho cá kèo, cá chẽm và đang nghiên cứu thức ăn cho một số đối tượng mới có giá trị kinh tế khác [12]
1.4 Tình hình nghiên cứu về thức ăn thay thế bột cá
Xây dựng khẩu phần ăn hợp lý vừa đảm bảo các nhu cầu dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể như protein, lipit, gluxit, chất khoáng đảm bảo nhu cầu về năng lượng đồng thời giá thành hợp lý là rất quan trọng đối với NTTS nói chung và nuôi cá Rô phi nói riêng [8]
Tập trung vào việc nghiên cứu hiệu quả của việc thay thế protein bột cá bằng các nguồn protein khác là giải pháp đặc biệt có ý nghĩa hiện nay Chính vì vậy việc nghiên cứu thay thế protein bột cá trong khẩu phần ăn của cá nói chung và cá Rô phi nói riêng
đã được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới cũng như ở Việt Nam
Cá Rô phi là loài có phổ thức ăn rộng Bột cá là nguồn nguyên liệu đang ngày một khan hiếm, giá thành cao Nên trong xu hướng phát triển nuôi cá Rô phi có nhiều nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu tìm các nguyên liệu làm thức ăn thay thế bột cá bằng các nguồn protein thực vật và đã thu được những thành công
Wee và Shu (1989) nghiên cứu dùng khẩu phần chứa 58% đậu tương nấu chín
để nuôi cá Rô phi cho tốc độ tăng trưởng và hệ số chuyển hoá thức ăn tốt Năm 1992, Lim và Aligna đã dùng bột đậu nành không béo và bột đậu nành giàu chất béo để thay thế một phần nguồn prôtêin từ bột cá Nhiều nghiên cứu đã sử dụng nuôi cá Rô phi với khẩu phần 30-60% bột sắn vẫn cho sinh trưởng tốt (new, 1987)
Tại Việt Nam, trường Đại học Cần Thơ (1995) sử dụng cám gạo ủ men và không ủ men phồi trộn vào thức ăn nhân tạo với tỷ lệ 30%, 40%, 50%, 60% Kết quả nghiện cứu cho thấy hệ số chuyển đổi thức ăn của cá Rô phi vằn ăn cám gạo ủ men cao hơn và trong công thức ăn chỉ nên phối trộn cám ở mức 30-40% [20]
Lê Công Tuấn,(2007) sử dụng 50% bột hạt bông thay thế bột cá cho hiệu quả tốt, hạt bông có qua xử lý nhiệt cho tăng trọng cá tương đương loại thức ăn không thay thế hạt bông sử dụng 100% bột cá , Nguyễn Công Dân, (2003) đậu tương không cung cấp về thành phần dinh dưỡng tốt hơn nguyên liệu từ các động vật biển, nhưng sử dụng đậu tương thay thế bột cá cho hiệu quả hơn về chi phí sản xuất Việc thay thế
Trang 29nguồn prôtêin từ bột cá bằng nguồn prôtêin thực vật không chỉ làm giảm chi phí thức
ăn mà cá sử dụng nguồn prôtêin từ thức vật thì cho thịt thơm ngon hơn
Từ năm 2001 - 2003, đề tài "Nghiên cứu sử dụng bã dầu cao su, nguồn protein
rẻ tiền và sẵn có trong thâm canh cá nước ngọt" do SUFA tài trợ đã được trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh triển khai Kết quả nghiên cứu cho thấy, bã dầu cao
su có hàm lượng protein khá cao (20-30%) Trong bã dầu cao su chứa một lượng axit HCN nhất định có khả năng gây độc nên phải loại bỏ độc tố này và chỉ có thể sử dụng được một phần bã dầu cao su (dưới 10%) trong phối chế thức ăn để nuôi cá trong các
hệ thống thâm canh và bán t hâm canh [6] Năm nay, nhận thấy bột nhân hạt cao su đã
có nhiều đề tài nghiên cứu về giá trị dinh dưỡng, cho thấy nhân bột hạt cao su có thành phần các axit amin khá cao, các axit amin thiết yếu trong protein chứa lưu huỳnh (đặc biệt là methyonin), các axit amin quan trọng khác ở mức chấp nhận được ( FAO ) , nhưng chưa có nghiên cứu nào hướng về thức ăn cho động vật thủy sản chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu thay thế cho bột cá trên đối tượng cá Rô phi
1.5 Tiêu chuẩn Việt Nam về thức ăn cho cá rô Phi: 28 TCN 189:2004 thức ăn hỗn hợp dạng viên cho cá Rô Phi
1.5.1 Ðối tượng và phạm vi áp dụng
Tiêu chuẩn này quy định các yêu cầu về chất lượng và an toàn vệ sinh thú y của thức ăn hỗn hợp dạng viên (gọi tắt là thức ăn viên); được phối chế từ nhiều loại nguyên liệu đảm bảo có đủ các chất dinh dưỡng; sử dụng để ương giống và nuôi cá Rô
phi thương phẩm
Tiêu chuẩn được áp dụng trong phạm vi cả nước đối với các cơ sở sản xuất và kinh doanh thức ăn viên cho cá Rô phi
1.5.2 Phân loại
Thức ăn viên cho cá Rô phi gồm 6 loại sử dụng cho các giai đoạn phát triển của
cá với các số hiệu như sau:
Số 1: Loại dạng mảnh (hoặc viên) sử dụng cho cỡ cá có khối lượng: nhỏ hơn 5,0 g/con
Số 2: Loại dạng viên sử dụng cho cỡ cá có khối lượng: 5,0 -10,0 g/con
Trang 30Số 3: Loại dạng viên sử dụng cho cỡ cá có khối lượng: 10,0 - 20,0 g/con
Số 4: Loại dạng viên sử dụng cho cỡ cá có khối lượng: 20,0 - 200,0 g/con
Số 5: Loại dạng viên sử dụng cho cỡ cá có khối lượng: 200,0 - 500,0 g/con
Số 6: Loại dạng viên sử dụng cho cỡ cá có khối lượng: lớn hơn 500,0 g/con
1.5.3 Yêu cầu kỹ thuật
1.5.3.1 Các chỉ tiêu cảm quan của thức ăn viên cho cá Rô phi phải theo đúng yêu cầu quy định trong Bảng 1.6
Bảng 1.6 - Chỉ tiêu cảm quan của thức ăn viên
1 Hình dạng bên ngoài Viên hình trụ/hình tròn (hoặc mảnh), đều nhau, bề mặt
mịn, kích cỡ theo đúng số hiệu của từng loại thức ăn quy định trong Bảng 2
2 Màu sắc Nâu vàng đến nâu, đặc trưng của nguyên liệu phối chế
3 Mùi vị Ðặc trưng của nguyên liệu phối chế, không có mùi men
mốc và mùi lạ khác
Trang 311.5.3.2 Các chỉ tiêu lý, hóa của thức ăn viên cho cá Rô phi phải theo đúng mức được quy định trong Bảng 1.7
Bảng 1.7- Chỉ tiêu lý, hóa của thức ăn viên
- Chiều dài so với đường kính
viên (lần) nằm trong khoảng
4 Năng lượng thô, tính bằng kcal
cho 1 kg thức ăn, không nhỏ hơn
3200 3000 2860 2800 2750 2700
5 Ðộ ẩm, tính bằng tỷ lệ % khối
lượng, không lớn hơn
11
6 Hàm lượng protein thô, tính bằng
tỷ lệ % khối lượng, không nhỏ
hơn
40 35 30 27 25 20
7 Hàm lượng lipid thô, tính bằng tỷ
lệ % khối lượng, không nhỏ hơn
6 6 5 5 4 4
8 Hàm lượng xơ thô, tính bằng tỷ
lệ % khối lượng, không lớn hơn
5 5 6 6 7 7
Trang 3213 Hàm lượng natri clorua, tính
bằng tỷ lệ % khối lượng, không