1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích hình tượng nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân.

5 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 25,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích hình tượng nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân chi tiết, đầy đủ, sáng tạo, có vận dụng lý luận văn học. Bài phân tích của học sinh giỏi, tài liệu tham khảo cho học sinh ôn tập làm bài viết, thi đại học,...

Trang 1

Đề bài: Phân tích hình tượng nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm “Vợ nhặt” của nhà

văn Kim Lân

Tác giả: Nguyễn Ngọc Minh Thúy

Trong cuốn nhật ký của mình, nhà văn Nguyễn Văn Thạc đã viết “Cuốc sống còn tuyệt vời biết bao trong thực tế và trên trang sách Nhưng cuộc sống cũng bi thảm biết bao Cái đẹp còn trộn lẫn niềm sầu buồn cái nên thơ còn lóng lánh giọt nước mắt ở đời” Cuộc sống được tạo nên bởi sự kết hợp hài hòa của những tông màu khác nhau và

khi đi vào văn chương nghệ thuật cũng vậy Nhà văn Kim Lân dường như đã thấm nhuần những cung bậc cảm xúc của cuộcc sống để rồi trong tác phẩm của ông là một hiện thực cuộc sống đầy tối tăm của nạn đói nhưng đâu đó vẫn là những trái tim nhân hậu, tình

người tha thiết Trong “Vợ nhặt” cũng vậy, nhân vật bà cụ Tứ là hiện thân của người mẹ

với tấm lòng thương con, thương người làm bật sáng cả một bức tranh u tói của nạn đói năm Ất Dậu (1945) Được sáng tác vào năm 1945 nhưng tác phẩm vẫn giữ được sự mới

mẻ của mình, đi vào lòng người bằng tinh thần nhân đạo mà Kim Lân đac gửi gắm đến độc giả

“Vợ nhặt” trước hết là một thiên truyện về cái đói Không phải ngẫu nhiên mà nhà

văn lại miêu tả tình cảnh thê lương của nạn đói lúc bấy giờ “Cái đói đã tràn đến xóm ngụ

cư từ lúc nào” Nạn đói “tràn đến” như một cơn lũ mà chẳng biết bao giờ sẽ rút lui Một cõi dương như hòa vào cõi âm, cái sống bên mấp mé bên miệng vực của cái chết Dù vậy, nạn đói chỉ là cái phông nền mà Kim Lân tạo ra để làm tỏa sáng “chất thơ đặc biệt của hồn người” bức tranh hiện thực của nạn đói như một phép đòn bẩy cho mảng sáng tình người của một chủ nghĩa nhân văn sâu sắc Trong đó, nhân vật bà cụ Tứ xuất hiện như một ngọn đèn sưởi ấm cho số phận của cả Tràng, người vợ nhặt và gia đình của họ

Bà cụ Tứ, ngay từ những bước chân đầu tiên bước vào thiên truyện “Vợ nhặt”, người đọc đã bị ấn tượng bởi hình ảnh một người mẹ già yếu đã gần đất xa trời Dáng người lọng khọng, húng hắng ho, vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán gì đó trong miệng Nổi bật trong cách khắc họa chân dung bà cụ Tứ là gương mặt “bủng beo u ám” của bà Những câu văn ngắn nhưng cũng đủ để ghi dấu ấn trong lòng đọc giả về một con người lam lũ, vất vả, đau yếu, bệnh tật, nỗi lo hằn lên khuôn mặt Không chỉ thể xác mà tinh thần của bà cũng như bị vắt kiệt Nỗi lo, nỗi buồn hiện rõ trên khuôn mặt “bủng beo u ám” đó “Bà vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán gì trong miệng” Làm sao có thể không tính toán khi mà nạn đói đang quét qua, cảnh tượng “người chết như ngả rạ” ngày ngày hiện

ra trước mắt Nhưng dù khó khăn là thế, những nỗi lo cứ đè xuống đôi vai của người đàn

bà già yếu thì tình thương con tha thiết và tấm lòng trắc ẩn đã khiến cho bà trở nên cao cả biết bao

Bấy lâu nay hai mẹ con bà cụ Tứ nương tựa nhau mà sống, cho đến một ngày, số phận đưa đẩy cho Tràng kiếm được vợ có lẽ ngay từ khi bà lão phấp phỏng bước theo

Trang 2

con, bà dường như đã cảm nhận được điều gì đó đang thay đổi Sau đó, bà lão ngạc nhiên

“đến giữa sân bà lão đứng sững lại, bà lão càng ngạc nhiên hơn” Rồi hàng loạt câu hỏi tu

từ đặt ra trong đầu bà “Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong đấy nhỉ?” Một người

mẹ vốn nhạy cảm trước hạnh phúc của con mình nhưng có lẽ chính sự túng quẫn đã đánh mất đi sự nhạy bén của người mẹ khi con mình có vợ Bà lão dường như bị động trong chính căn nhà của mình: “Ô hay, thế là thế nào nhỉ?” Và rồi khi hiểu ra mọi chuyện, bà lão “cúi đầu nín lặng” bà lão hiểu ra với tâm trạng “vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình” Cái cúi đầu của bà thể hiện sự bất lực, tự trách khi không làm tròn bổn phận của người mẹ với con mình Và như Nadimetlicmet đã nói: “Con hãy lắng nghe nỗi buồn của cành cây héo khô, của chiêm muông què quạt, của hành tinh lạnh ngắt Nhưng trước hết con hãy lắng nghe nỗi buồn của con người” Kim Lân đã nghe thấy nỗi đau của những số phận đầy bi kịch và rồi ông cho nhân vật của mình được khóc “Trong

kĩ mắt lèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt” Nước mắt xót thương cho số phận con người và những nỗi lo day dứt trong lòng người mẹ Đằng sau những suy nghĩ bộn bề thì bà cụ Tứ vẫn nhớ về hiện thực cuộc sống không thể không nghĩ đến: “Biết rằng chúng

nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không” Nạn đói được nhắc lại một lần nữa trong suy nghĩ của nhân vật cũng là lời nhắc nhở của tác giả đây là hiện thực cuộc sống lúc bấy giờ Nạn đói tàn khốc đã giết chết hơn hai triệu đồng bào ta Nhà văn viết văn nhưng không hề xa rời hiện thực cuộc sống mà gắn liền với thời đại mà nó ra đời Ở đây ta bắt gặp sự đồng điệu trong hồn văn của Kim Lân với Thạch Lam: “Đối với tôi, văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên; trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có để vừa tố cáo

và thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch

và phong phú hơn” Bằng việc nhắc lại nạn đói đã một lần nữa tố cáo tội ác của bọn thực dân phát xít và ca ngợi vẻ đẹp trong tâm hoòn của những người nông dân dưới cùng của

xã hộị

Nạn đói như một lưỡi dao treo lơ lửng trước mặt, bà hiểu rằng thêm một người là thêm một nỗi lo Dù vậy, bà vẫn đồng ý và chấp nhận cô con dâu mới bằng cả tấm long Hành động của bà không chỉ xuất phát từ tình thương con mà cfon từ tấm long nhân hậu, yêu thương, đùm bọc đồng loại Bà đã vượt qua các lễ giáo, định kiến xã hội để chấp nhận người người đàn bà đói Quả thật đúng như lời Nguyễn Minh Châu đã từng nói:

“Nhà văn phải là người đi tìm những hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người” Nhà văn Kim Lân đã tìm thấy điều tốt đẹp nhất của người nông dân ngay cả trong nạn đói bằng sự đồng cảm và tinh thần nhân đạo của mình

Sau đó, bà lão đón nhận nàng dâu bừng cách nói rõ gia cành nhà mình “Nhà mình thì nghèo con ạ” và động viên các con “ai giàu ba họ, ai khó ba đời” Bà vui mừng vì con lấy được vợ và vì thị đã chấp nhận gia cảnh của gia đình bà Qủa thật không sai khi nói rằng bà cụ Tứ là ngọn lửa niềm tin của cả gia đình vì bà đã thắp lên niềm tin, niệm lạc quan trước cuộc sống để từ đó giúp cho các con quên đi cái đói, cái khổ, có bản lĩnh, nghị

Trang 3

lực, niềm tin vào cuộc sống Bà lão thân thiện khi mời người đàn bà ngồi: “Con ngồi xuống đây Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân” nhưng thái độ của thị đã làm bà lão hiểu ra tất cả: “Kể ra có làm được dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo, cũng chả có

ai người ta chấp nhặt chi cái lúc này Cốt sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi” Nói đến đây, “bà cụ nghẹn lời không nói dược nữa, nước mắt cứ chảy ròng ròng” Lần này không phải chỉ là hai dong nước mắt chảy xuống nữa mà bà cụ đã khóc bằng cả tấm lòng mình sau khi đã chấp nhận cô con dâu

Có thể thấy, xuyên suôt dòng chảy văn học, ta vẫn luôn bắt gặp hình ảnh những người mẹ tần tảo, hy sinh tất cả vì con Không chỉ ở bà cụ Tứ mà còn ở người đàn bà hang chài trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu Nếu như người đàn bà hàng chai vì lo cho tương lai của con mà cam chịu sống với người chông vũ phu, đợi đến lúc con cái trưởng thành cả Mụ chỉ tìm đến những hạnh phúc giản dị khi gia đình hòa thuận, những đứa con của bà được ăn no Bà cụ Tứ cũng vậy, vì thương con mà

bà chấp nhận người đàn bà đói, lo cho con qua khỏi nạn đói và hạnh phúc trước niềm vui của con Có lẽ, cả cuộc đời của bà đều tần tảo vì con, nay con lập gia đình , bà cũng vui mừng, hạnh phúc Hình tượng bà cụ Tứ đã được Kim Lân khắc họa thật tài tình “Bà xăm xăm” thu dọn, quét tước Dường như niềm vui, niềm hạnh phúc mỏng manh ngay giữa cái đói và cái chết nhưng cũng đủ làm cho “khuôn mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ lên hẳn lên”

Đón nàng dâu mới mà chẳng có được một mâm cơm tươm tất, cũng chỉ có gì làm của hồi môn cho con, chỉ còn lại niềm tin, niềm lạc quan vào cuộc sống trong tương lai

“Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, một đĩa muối ăn với cháo” Dù vậy “cả nhà đều ăn rất ngon lành” có lẽ là vì không khí gia đình vui vẻ, đàm ấm mà bà cụ Tứ tạo ra Bà nói toàn chuyện vui vẻ sau này, mở

ra cho con một con đường làm ăn Khát vọng sống , khát vọng hạnh phúc của con người

đã được Kim Lân khắc họa tài tình đến thế “Những người đói họ không nghĩ đến cái chết

mà nghĩ đến cái sống” Không chỉ bà cụ Tứ mà cả Thị cũng vậy Khi cái đói đã làm thị mất hết nhân cách thì “trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt” Đôi mắt của khát vọng sống mãnh liệt vẫn còn đó dù cho cái đói có hủy hoại nhân cách một cin người

Chi tiết nồi cháo cấm là hiện thực của cái đói, cái nghèo, của số phần đầy đau khổ Nhưng chính tình yêu thương, cái cách bà tuoi cười “chè khoán đây, ngon đáo để” đã mang lạii giá trị nhaan văn sâu sắc đọc đến đây, nhười đọc có thể cảm nhận được vị đắng chat của miếng cảm nhưng trong long lại tỏa ra vị ngọt của tình người, của tình mẫu tử thiêng liêng

Bà cụ Tứ mang nét đẹp của đạo lí truyền thống Bà là hiện thân của những ngời

mẹ yêu thương con, chăm lo cho gia đình Trong cái thân hình khẳng khiu ấy lại là một ý chí, khát vọng mãnh liệt về sự sống và hạnh phúc Dù xuất hiện sau cùng trong tác phẩm

Trang 4

nhưng bà cụ Tứ đã lưu lại cho người đọc nhiều kí ức Từ dáng người lọng khọng, khuôn mặt bủng beo u ám, hai dòng nước mắt rỉ xuống đã cho thấy tài phân tích diễn biến tâm lí sâu sắc cảu Kim Lân Bằng phong cách sáng tác giản dị, mộc mạc, gần gũi, Kim Lân đã miêu tả diễn biến tâm lí bà cụ Tứ một cách chân thật, đầy cảm xúc và tràn đầy lòng nhân ái

Truyên ngắn “Vợ nhặt” viết về số phận của con người trong nạn đói năm Ất Dậu Cỏ thể nói, đây không phải là một đề tài mới mẻ đặt trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ Nhưng vì sao tác phẩm lại in được dấu ấn to lớn đến vậy trong nền văn học dân tộc? Có

lẽ giống như lời nhà văn Nga Gamzatop đã khuyên các nhà văn trẻ: “Đừng nói “Trao cho tôi đề tài”, hãy nói” TRao cho tôi đôi mắt”” Một đề tài quen thuộc nhưng qua lăng kính của mỗi nhà văn thì sẽ đến trái tim người đọc theo những cách khác nahu Cùng một đề tài nhưng nổi bật ở “Vợ nhặt” là giá trị nhân đạo sâu sắc Nếu một tác phẩm văn học mà không chứa đựng giá trị hân đạo thì nó sẽ trở thành tác phẩm nghệ thuật chết bởi :“Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ dể tiêu tả, nếu nó không phải là tiếng thét khổ đau hay lời ca tụng hân hoan, nếu nó không đặt câu hỏi hoặc trả lời cho câu hỏi đó” (Beelinxi)

Với “Vợ nhặt”, giá trị nhân đạo được thể hiện qua việc nhà văn đã phát hiện và ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người Bà cụ Tứ-một người mẹ hết lòng vì con, luôn cảm thông, thương xót cho số phận đồng loại Đồng thời, những phầm chất tốt đẹp: cưu mang, đùm bọc, khát khao hạnh phúc và niềm tin vào cuộc sống đều được Kim Lân nhìn thấy và trân quý Chính niềm cảm thương sâu sắc đối với nỗi đau của kiếp người mà tác phẩm càng có sức tố cáo mạnh mẽ hơn các thể lực chà đạp con người “Vợ nhặt” đã hội tụ đủ những giá trị tốt đẹp để trở thành một bài ca về người nghèo khổ đã “biết sống

cả khi cuộc đờii trở nên không thể chịu nổi nữa” (“Thép đã tôi thế đấy”-Oxtropxki) Và Kim Lân cũng chính là một “nhà nhân đạo từ trong cốt tủy”(Sê khốp) khi đã cho nhân vật của mình một con đường để đến với cuộc sông mới Đó là ánh sáng của Đảng, của niềm tin và tình thương Có thể thấy một cái nhìn mới mẻ, tư tưởng đỏi mới của tác giả khi được soi sáng bởi lý tưởng của Cách mạng khác với những tác phẩm văn học hiện thực phê phán trước đó Khi “Trong óc của Tràng vẫn thấy đám người đói và là cờ đỏ bay phấp phới” cũng chính là lúc tìm ra một sự giải thoát cho gia đình Tràng khỏi cuộc sống tối tăm, mù mịt Khác với cái vòng luẩn quẩn trong “Chí Phèo”: “Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra cái lò gạch cũ bỏ hoang, xa nhà cửa và vắng người qua lại.” hay số phần tăm tối trong “Tắt Đèn”: “Chị Dậu chạy ra ngoài trời, trời tối đén như mực, như cái tiền

đồ của chị”

Nếu như “Anđecxen đã lượm nhặt những hạt thơ trên luống đất của người dân cày, áp

ủ chúng nơi trái tinm ông rồi gieo vào những túp lều, từ đó lớn lên và nảy nở những đóa hoa tuyệt đẹp, chúng an ủi trái tim những người cùng khổ”(Pauxtopxki) thì Kim Lân đã

về với thế giớ của cảnh quê, người quê, của hương đồng gió nội để tạo nên những trang

Trang 5

viết sâu sắc, cảm động, sưởi ấm những số phận bi thương Trong cái tình huống truyện éo

le, độc đáo cùnh cách kể chuyện hấp dẫn, nhân vật được khắc họa đầy ấn tượng, sinh động ngôn ngữ của nhà văn mộc mạc, giản dị nhưng giàu sức gợi và chắt lọc Kim Lân quả thật là nhà văn “một lòng đi về với đất, với người, với thuần hậu nguyên thủy của cuộc sống”(Nguyên Hồng)

“Vợ nhặt” đã vượt ra khỏi cái khuôn khổ của văn học hiện thực để đến với một thế giới tươi đẹp, giàu niềm tin và khát vọng sống, thể hiện rõ phong cách nghệ thuật của nhà văn Từ đấy, cho thấy giá trị nhân đạo của tác phẩm được thể hiện rõ nét qua hình ảnh bà cụ Tứ Tác giả tôn lên vẻ đẹp của người Việt Nam trong hoàn cảnh khốn cùng, nghiệt ngã của cuộc sống Dù rằng ngày nay, cuộc sống không còn nhiều những mảnh đợi bi kịch như Tràng, bà cụ Tứ hay người đàn bà đói nữa nhưng vẫn luôn sáng ấm vẻ đẹp của tình đời, tình người bởi “Yêu thương là cái gì đó vĩnh cửu” (Vincenl Van Gohg)

Ngày đăng: 07/10/2021, 21:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w