Chính vì những lý do nh vậy nên tôi đã chọn đề tài: Việc vận dụng các“quy định pháp lý của Liên minh Châu Âu EU về chất lợng và nhãn hiệu sản phẩm trong xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam v
Trang 1Lời mở đầu
Thế kỉ 21 là thế kỉ của kinh tế tri thức, với xu hớng khu vực hoá và toàn cầuhoá đang đặt ra cho các hoạt động thơng mại quốc tế những cơ hội mới Chính vìvậy, đẩy mạnh xuất khẩu là phơng hớng chiến lợc đợc Đại hội Đảng IX xác định
và chỉ đạo thực hiện theo tinh thần : “Việt Nam sẵn sàng làm bạn, làm đối tác tincậy của tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình độc lậpdân tộc và phát triển” Để thực hiện chiến lợc và định hớng xuất khẩu là phấn
đấu đạt tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm tới đạt khoảng 114 tỷ USD, tăng16%/năm, các doanh nghiệp Việt Nam không thể không đẩy mạnh xuất khẩu.Vấn đề đặt ra là hàng hoá của Việt Nam xuất khẩu đi đâu là có lợi thế nhất Thị trờng Liên minh Châu Âu EU là một thị trờng tiệu thụ rộng lớn, đạidiện cho 6,5% dân số thế giới (382,5 triệu) nhng chiếm tới 1/5 thơng mại toàncầu EU là thị trờng nhập khẩu lớn thứ hai thế giới sau Mỹ, nhu cầu nhập khẩuhàng năm đa dạng và phong phú EU nhập rất nhiều các mặt hàng nông sản,khoáng sản, thuỷ hải sản và dệt may Đây là những mặt hàng xuất khẩu chủ lựccủa Việt Nam Hàng giày dép, dệt may, thuỷ hải sản, đồ gốm đồ gia dụng, càphê, chè và gia vị của Việt Nam đang là những mặt hàng đợc a chuộng tại thị tr-ờng Châu Âu và triển vọng phát triển các mặt hàng này rất khả quan Vì vậy, cóthể nói rằng EU là thị trờng xuất khẩu quan trọng và tiềm năng của Việt Nam
Đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá sang EU, Việt Nam đã phần nào có đợc sự tăngtrởng ổn định và tạo thuận lợi cho Việt Nam gia nhập tổ chức thơng mại thế giới(WTO)
Trong hơn 10 năm kể từ khi Việt Nam chính thức thiết lập quan hệ ngoạigiao với EU, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam sang EU khôngngừng tăng cả về chiều rộng và chiều sâu Tuy nhiên tỷ trọng xuất khẩu của ViệtNam trong kim ngạch ngoại thơng của EU còn khá khiêm tốn và cha tơng xứngvới tiềm năng và lợi ích của hai bên
Thực tế cho thấy, một trong những nguyên nhân quan trọng hạn chế cơ hộixuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam chính là hành lang pháp lý hết sứcchặt chẽ của EU Những quy định pháp lý này đã trở thành những rào cản đối vớicác mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam Nó hạn chế khả năng thâm nhập vàchiếm lĩnh thị trờng Việc nghiên cứu tìm hiểu những vấn đề pháp lý và thực tiễnvận dụng của Việt Nam khi thâm nhập thị trờng này là điều hết sức quan trọng
Trang 2Chính vì những lý do nh vậy nên tôi đã chọn đề tài: Việc vận dụng các“
quy định pháp lý của Liên minh Châu Âu EU về chất lợng và nhãn hiệu sản phẩm trong xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào thị trờng này” để viết
Khoá luận tốt nghiệp nhằm đi sâu tìm hiểu về thị trờng EU và các yêu cầu củathị trờng EU đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam cũng nh việc vận dụngcác quy định pháp lý của EU của các doanh nghiệp Việt Nam Để hoàn thànhKhoá luận tốt nghiệp, tác giả đã sử dụng phơng pháp phân tích, tổng hợp trên cơ
sở những thông tin thu thập đợc cùng các phơng pháp thốngkê, so sánh đểnghiên cứu những yêu cầu mà đề tài đặt ra Do thời gian nghiên cứu không dài
và việc thu thập tài liệu còn gặp nhiều hạn chế nên Khoá Luận Tốt Nghiệp nàykhông tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận đợc ý kiến đóng góp của cácthầy cô giáo, các bạn sinh viên để Khoá Luận đợc hoàn thiện hơn
Những nội dung của Khoá luận đợc trình bày trong 3 chơng sau:
Chơng 1: Tổng quan về Liên Minh Châu Âu và các quy định quy định về
chất lợng - nhãn hiệu sản phẩm xuất khẩu vào thị trờng này
Chơng 2: Thực tiễn vận dụng các quy định pháp lý về chất lợng và nhãn
hiệu sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu vào thị trờng EU
Chơng 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng các quy định
pháp lý của EU nhằm thúc đẩy xuất khẩu sang thị trờng này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban giám hiệu,Phòng Đào Tạo, Khoa KTNT và các Phòng Ban khác của trơng Đại Học NgoạiThơng đã tạo môi trờng thuận lợi cho tôi đợc học tập và rèn luyện 4 năm qua
Đặc biệt tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS –TS Lê ĐìnhTờng, ngời đã nhiệt tình hớng dẫn tôi và các bạn bè của tôi, đã giúp đỡ tôi hoànthành tốt Khoá luận này Qua KLTN này tôi cũng tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tớicha mẹ, các anh chị và những ngời thân của tôi, những ngời đã ủng hộ tôi cả vềvật chất lẫn tinh thần trong suốt 4 năm học vừa qua
Hà nội tháng 12 năm 2003
Sinh viên
Trang 3Chơng 1 Liên minh Châu Âu và những quy định pháp lý vềchất lợng - nhãn hiệu sản phẩm xuất khẩu vào thị tr-
ờng này
1.1.1 Tổng quan về liên minh Châu Âu
Liên minh Châu Âu là một tổ chức liên kết kinh tế khu vực lớn nhất, thànhcông nhất trên thế giới và đợc coi là sự mẫu mực của xu thế hợp tác kinh tế quốc
tế Một tổ chức thực hiện có kết quả quá trình hợp nhất về kinh tế giữa các quốcgia độc lập về chính trị theo thiết chế thị trờng thống nhất và chặt chẽ Hiện naycùng với Mỹ, Nhật Bản Liên minh Châu Âu đang là một trong ba trung tâm kinh
tế hùng mạnh trên thế giới
Để có đợc những thành tựu nh ngày nay, EU đã phải trải qua một thời giandài hình thành và phát triển với những bớc thăng trầm của nó, đặc biệt là cả quátrình nghiên cứu và những nỗ lực to lớn của các nớc thành viên trong liên kếtkinh tế
Sau khi chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, một mặt, trớc yêu cầu cấp thiếtphải khôi phục và phát triển nền kinh tế bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh, cácnớc Tây Âu nhận thấy cần phải có sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa các n ớc Tây Âuvới nhau để xây dựng và ngăn chặn chiến tranh sau này có thể nổ ra giữa các nớcChâu Âu, đặc biệt là phải đổi mới kinh tế, lấy sự hợp tác về sản xuất thay cho sự
đối địch về kinh tế Mặt khác, quá trình khách quan xuất phát từ đòi hỏi pháttriển của lực lợng sản xuất do đời sống kinh tế quốc tế hoá ngày càng rộng rãi
Trang 4cùng với sự phát triển nh vũ bão của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã ảnhhởng sâu sắc tới sự phát triển của lực lợng sản xuất và đời sống kinh tế Tây Âu.
Sự tiến triển nhanh chóng về công nghệ, kỹ thuật trên thế giới đã tác động mạnh
mẽ làm cho Tây Âu cảm thấy cần phải có sự thay đổi gắn liền với tiến bộ về kinhtế
Chính trong bối cảnh đó, việc tăng cờng quan hệ kinh tế giữa các nớc Tây
Âu với nhau và thiết lập một tổ chức siêu quốc gia có sứ mạng điều hành phốihợp hoạt động kinh tế của từng quốc gia càng trở nên bức xúc
Để thống nhất Châu Âu, lúc này có hai hớng vận động:
- Hợp tác: Các quốc gia hợp tác với nhau nhng mỗi quốc gia đều giữ trọnchủ quyền dân tộc
- Hoà nhập hay nhất thể hoá“ ”: Các quốc gia đều chấp nhận và tuân thủtheo một cơ quan quyền lực siêu quốc gia Cuối cùng nó sẽ dẫn tới việchình thành một tổ chức kiểu liên bang
Lịch sử của sự hình thành và phát triển của Cộng Đồng kinh tế Châu Âu đã
đợc đánh dấu bởi bản tuyên bố vào ngày 09/05/1950 mà lúc đó ít ngời đánh giá
đợc tầm quan trọng của nó Ngoại Trởng Pháp Robert Struman theo sáng kiếncủa nhà chính trị gia- nhà kinh tế học Pháp Jean Monet, đã đề xuất với Đức việcthành lập một tổ chức hợp tác Châu Âu trong một tổ chức “mở cửa” để các nớcChâu Âu khác nếu có nguyện vọng cùng tham gia để nhằm thống nhất việc sảnxuất cũng nh tiêu thụ các sản phẩm than-thép Bản tuyên bố nêu rõ đề nghị trên
đây của Pháp nhằm đặt nền móng đầu tiên cho một Liên bang Châu Âu“ ” đểgìn giữ hoà bình Sáng kiến này của Pháp có ý nghĩa to lớn đối với các nớc Tây
Âu, nó vừa mở ra một kiểu quan hệ hoàn toàn mới đối với lĩnh vực kinh tế (lấyhợp tác thay cho đối địch kinh tế), vừa bao hàm sự hoà giải giữa Pháp và Đức,tạo thành khung cho sự thống nhất Châu Âu trong tơng lai Các nớc Italia, Bỉ, HàLan cũng lên tiếng ủng hộ cho sáng kiến này Ngày 18/04/1951, tại Paris, sáu n-
ớc Châu Âu đã ký hiệp ớc thành lập Cộng đồng Than và Thép Châu Âu (ECSC)
mở ra một chơng mới trong lịch sử quan hệ giữa các nớc Tây Âu Những thànhtựu về kinh tế và chính trị mà ECSC mang lại đã dẫn đến việc ngày 25/3/1957,tại Rome sáu nớc thành viên đã cùng nhau kí kết hiệp ớc thiết lập Cộng đồngkinh tế Châu Âu (EEC) và cộng đồng năng lợng nguyên tử Châu Âu(EURATOM) với nhiệm vụ đẩy mạnh sáng tạo phát triển công nghiệp nguyên
Trang 5tử, đảm bảo cung cấp nguyên liêu và bảo vệ môi trờng, đảm bảo sự hoà nhậpkinh tế, tiến tới một thị trờng thống nhất tạo ra sự tự do lu thông hàng hoá vànguồn nhân lực trong toàn khối Năm 1967 các tổ chức trên hợp nhất thành một
tổ chức chung có tên là Cộng đồng Châu Âu (EC) Trên cơ sở những kết quả đã
đạt đợc cả về mặt kinh tế cũng nh chính trị, ngày 1/1/1973 EC “mở cửa” đón bathành viên mới: Anh, Ailen và Đan Mạch Sau lần “mở cửa” thứ nhất, với việcgia nhập của các nớc Tây Bắc Âu, Cộng đồng Châu Âu mở cửa lần thứ hai đónthêm ba nớc Nam Âu: Hy Lạp (1981), Tây Ban Nha (1986) và Bồ Đào Nha(1986) Nhờ những thành công đã đạt đợc trên phơng diện kinh tế và chính trị,Cộng đồng kinh tế Châu Âu tiếp tục mở rộng các quá trình liên kết rộng rãi giữacác nớc và các dân tộc Đỉnh cao những nỗ lực của quá trình thống nhất Châu Âu
đợc thể hiện qua cuộc họp thợng đỉnh các nớc thuộc cộng đồng kinh tế Châu Âu
tổ chức tại Maastricht (Hà Lan) tháng 12 năm 1991 Hội nghị đã thông qua hiệp
ớc Maastricht với những nội dung sau: xây dựng ngôi nhà chung Châu Âu, thànhlập liên minh kinh tế tiền tệ (EMU) và liên minh chính trị (EPU) Ngày1/1/1993,hiệp ớc Maastricht chính thức có hiệu lực EC gồm 12 nớc trở thành Liên MinhChâu Âu (EU) Cho đến nay, EU gồm 15 nớc thành viên, trong đó có 3 thànhviên mới là áo, Phần Lan và Thuỵ Điển (gia nhập năm 1995)
Có thể nói quá trình ra đời và phát triển của EU gần nửa thế kỷ qua là cảmột quá trình đấu tranh gay gắt, một quá trình tranh chấp và thoả hiệp Song với
nỗ lực to lớn và cam kết thống nhất về mục tiêu của các nớc thành viên, EU đãphát triển vợt bậc, xúc tiến liên kết trên nhiều lĩnh vực đặc biệt là trong lĩnh vựckinh tế, tiền tệ với việc tạo lập thị trờng chung và tiến đến thiết lập một khu vựctiền tệ ổn định nhằm cạnh tranh với đồng đôla Mỹ trên thị trờng quốc tế về lâu
về dài để hình thành một liên minh tiền tệ và kinh tế thống nhất tiến tới tăng c ờng liên kết về mặt chính trị Với tiềm năng to lớn về kinh tế, khoa học côngnghệ của mình, EU đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc chi phối các quan
-hệ kinh tế quốc tế
Liên minh Châu Âu ngay từ khi mới thành lập đã đặt vấn đề kinh tế lênhàng đầu, hớng đến xây dựng một thị trờng chung Thị trờng chung có thể đợchiểu là một không gian rộng lớn bao trùm lãnh thổ của tất cả các quốc gia thànhviên mà ở đó hàng hoá, lao động, dịch vụ và t bản đợc lu chuyển hoàn toàn tự do
Mở đầu cho việc dẫn đến một thị trờng chung là việc hoàn tất xây dựngLiên Minh thuế quan của 6 nớc vào tháng 07/1968 Liên minh thuế quan này bao
Trang 6hàm việc xoá bỏ hoàn toàn mọi loại thuế quan và những hạn chế về số lợng đốivới hoạt động thơng mại trong cộng đồng, đồng thời xây dựng một biểu thuếquan chung duy nhất cho toàn cộng đồng, giành cho nhau những u đãi trongquan hệ mậu dịch giữa các nớc thành viên Từ năm 1958 cho đến năm 1968, tỷ
lệ khối lợng xuất khẩu giữa các nớc trong cộng đồng đã tăng từ 37% lên 50%tồng xuất khẩu của cộng đồng, còn tỷ lệ nhập khẩu tăng từ 30% lên 47% Tuynhiên trong một thời gian dài tiếp sau đó tiến trình xây dựng thị trờng chung bịchậm lại do các nớc trong cộng đồng rơi vào cuộc khủng hoảng dầu lửa năm
1973 và sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ Bretton Woods Các nớc quá lo lắng giảiquyết vấn đề của riêng mình nên không còn thực sự quan tâm đến việc xây dựngthị trờng chung nữa
Phải đến giữa những năm 80, trớc sự suy yếu của kinh tế thế giới, các nớctrong cộng đồng buộc phải xem xét lại các hoạt động liên kết kinh tế của mìnhnhằm tìm cách khai thông tình trạng trì trệ và đem lại cho tiến trình nhất thể hoákinh tế một đà phát triển mới Các nớc này lại thấy đợc sự cần thiết phải có nỗlực mới để nhanh chóng hoàn tất việc xây dựng thị trờng chung EU Tháng07/1987, việc ký kết Định ớc Châu Âu thống nhất, tiến trình xây dựng thị trờngchung đã tiến thêm một bớc quan trọng Qua Định ớc này các nớc trong cộng
đồng đã nhấn mạnh đến việc xoá bỏ các đờng biên giới nội bộ, tạo thị trờngchung cho sự lu thông hàng hoá, lao động dịch vụ và vốn Ngày 01/01/1993, saubảy năm tích cực chuẩn bị, toàn thể cộng đồng Châu Âu chính thức trở thànhmột thị trờng chung đợc giải phóng khỏi các đờng biên giới nội bộ
Một bớc phát triển tất yếu trong tiến trình dẫn tới thị trờng chung là việcthống nhất các nớc trong EU ở lĩnh vực tiền tệ Nội dung chính ở đây là xâydựng một liên minh kinh tế và tiền tệ Châu Âu (EMU) và đồng tiền chung Châu
Âu (EURO) Các hoạt động đáng kể trên góp phần thúc đẩy nền kinh tế của cácnớc phát triển đồng đều, tăng sức cạnh tranh với hàng hoá của các nớc khác Tuynhiên để đợc tham gia vào Liên minh kinh tế tiền tệ, các nớc trong khối EU phải
đạt đợc 5 tiêu chuẩn cơ bản sau:
- Thiếu hụt ngân sách không đợc cao quá 3% GDP của nớc mình;
- Nợ Nhà nớc không đợc cao quá 60% GDP của nớc mình;
- Lạm phát không đựợc cao quá 1,5% mức bình quân của các chỉ tiêu này
ở 3 nớc trong khối có nền kinh tế ổn định nhất;
Trang 7- Lãi suất tín dụng không cao quá mức bình quân của các chỉ tiêu này ở
ba nớc trong khối có nền kinh tế ổn định nhất;
- Trong hai năm gần đây đồng bản tệ không bị phá giá
Đối chiếu với các tiêu chuẩn trên thì hiện đã có 12 trong số 15 nớc thànhviên EU đạt đủ tiêu chuẩn EMU
Ngày 01/01/1999, đồng tiền chung Châu Âu đã chính thức có mặt trên thịtrờng Đồng EURO ra đời đã biến các nớc EU thành một thực thể thơng mại duynhất, một thị trờng rộng lớn, nền kinh tế của các nớc thành viên có thể ổn địnhhơn và phát triển một cách đồng đều hơn, khả năng cạnh tranh so với Mỹ vàNhật Bản cũng từ đó mà tăng lên Có thể nói việc thiết lập thị trờng chung là mộtthành quả lớn nhất trong quá trình liên kết kinh tế Châu Âu, là nền tảng quantrọng cho các giai đoạn tiếp theo của tiến trình nhất thể hoá EU
1.1.2 Đặc điểm chung của thị trờng EU
1.1.2.1 Những điểm tơng đồng
EU là một thị trờng rộng lớn, với dân số 382,5 triệu ngời tiêu dùng, năm
2002 thu nhập quốc dân khoảng 8.562 tỷ USD (khoảng 20% GDP toàn cầu), thunhập bình quân đầu ngời 32.028 USD/năm, hiện tại gồm 15 quốc gia thành viên.(Nguồn: Tạp chí Thơng mại số 31/2003) Thị trờng này còn mở rộng sang các n-
ớc thuộc Hiệp hội mậu dịch tự do Châu Âu“ ” (EFTA) tạo thành một thị trờngrộng lớn khoảng 390 triệu ngời EU là thị trờng có nhiều thành viên mặc dầu vậy
đây vẫn là thị trờng thống nhất trên nhiều khía cạnh
Ngay từ cuối những năm 60 của thế kỷ 20, EU đã là thị trờng có hệ thốnghải quan thống nhất trong cả khối với định mức chung ở các nớc thành viên
Từ khi hiệp định Maastricht có hiệu lực (01/01/1993), EU thành thị trờngchung thống nhất huỷ bỏ đờng biên giới nội bộ trong liên minh (biên giới lãnhthổ quốc gia và biên giới hải quan) Ngoài một thể chế thống nhất, liên minh còn
có cơ chế thống nhất trong việc ra quyết định và thực hiện trong phạm vi cộng
đồng Những quyết định của cộng đồng phải đợc tuân thủ nghiêm túc ở mỗi
quốc gia thành viên Điều này đựơc thể hiện trong nguyên tắc Luật cộng đồng“
luôn cao hơn luật quốc gia”
Gắn liền với sự ra đời của thị trờng chung Châu Âu là một chính sách thơngmại chung Nó điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu và lu thông hàng hoá dịch vụ
Trang 8trong nội bộ khối EU ngày nay đợc xem nh một đại quốc gia ở Châu Âu Bởivậy chính sách thơng mại chung của EU cũng giống nh chính sách thơng mạicủa một quốc gia Nó bao gồm chính sách thơng mại nội khối và chính sáchngoại thơng Chính sách thơng mại nội bộ khối tập trung vào việc xây dựng vàvận hành thị trờng chung Châu Âu nhằm xoá bỏ việc kiểm soát biên giới lãnhthổ quốc gia và hải quan (xoá bỏ các hàng rào thuế quan và phi quan thuế) để tự
do lu thông hàng hoá sức lao động, dịch vụ và vốn đồng thời điều hoà các chínhsách kinh tế và xã hội của các nớc thành viên Tất cả các nớc thành viên EU đều
áp dụng một chính sách ngoại thơng chung với các nớc ngoài khối Uỷ ban Châu
Âu (EC) là ngời đại diện duy nhất cho liên minh trong việc đàm phán ký kết cáchiệp định thơng mại và dàn xếp tranh chấp trong lĩnh vực này Các biện pháp đợc
áp dụng phổ biến trong chính sách ngoại thơng của EU là thuế quan, hạn ngạchhạn chế về chất lợng, hàng rào kỹ thuật, chống bán phá giá và trợ cấp xuất khẩu
Đối với hàng xuất khẩu theo hạn ngạch vào khối, mức thuế trung bình đánhvào hàng dệt may là 9%, hàng nông sản là 18% còn hàng công nghiệp là 2%.Chính sách ngoại thơng của EU từ 1951 đến nay phân thành những nhómchủ yếu sau: Nhóm chính sách khuyến khích xuất khẩu, nhóm chính sách thaythế nhập khẩu, nhóm chính sách tự do hoá thơng mại và nhóm chính sách hạnchế xuất khẩu tự nguyện
Để đảm bảo cạnh tranh công bằng trong thơng mại, EU đã thực hiện cácbiện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp xuất khẩu và chống hàng giả EU đã
ban hành chính sách chống bán phá giá và áp dụng thuế chống xuất khẩu bán“
phá giá” để đấu tranh với những trở ngại trong buôn bán với thế giới Có thể kể
đến việc đánh thuế 30% đối với những sản phẩm điện tử của Hàn Quốc vaSingapore, giày dép của Trung Quốc, đánh thuế 50%-100% đối với các xí nghiệpsản xuất camera truyền hình của Nhật Bản… trong khi đó các biện pháp chống trong khi đó các biện pháp chốnghàng giả của EU cho phép ngăn chặn không cho nhập khẩu những hàng hoá
đánh cắp bản quyền Bên cạnh việc áp dụng các biện pháp chống cạnh tranhkhông lành mạnh trong thơng mại, EU còn sử dụng một biện pháp để đẩy mạnhthơng mại với các nớc đang và chậm phát triển Đó là hệ thống u đãi thuế quanphổ cập (GSP) Bằng cách này, EU có thể làm cho nhóm các nớc đang phát triển(trong đó có Việt Nam) và nhóm nớc chậm phát triển dễ dàng thâm nhập vào thịtrờng của mình Sắp tới quốc hội EU sẽ thông qua hệ thống u đãi thuế quan phổcập mới, hệ thống này sẽ bao gồm 2 nhóm sản phẩm của các nớc đang phát triển
Trang 9đợc hởng u đãi thuế quan phổ cập của EU thay vì 4 nhóm sản phẩm nh đang ápdụng hiện nay, đó là sản phẩm nhạy cảm và sản phẩm không nhạy cảm Hàngcủa các nớc đang và chậm phát triển muốn đợc hởng GSP khi nhập khẩu vào EUthì phải tuân thủ các quy định của EU về xuất xứ hàng hoá và phải xuất trìnhgiấy chứng nhận xuất xứ mẫu A do cơ quan có thẩm quyền của các nớc đợc h-ởng GSP cấp
Ngoài ra để đảm bảo quyền lợi và an toàn cho ngời tiêu dùng trong khối,
EU còn ban hành rất nhiều các đạo luật chủ yếu cấm buôn bán các sản phẩm đợcsản xuất từ những nớc có điều kiện sản xuất cha đạt mức an toàn ngang với tiêuchuẩn của EU Chẳng hạn nh đạo luật 91/493/EC của hội đồng EC “những điềukiện đối với sức khỏe đối với việc nhập khẩu kinh doanh hàng thuỷ sản trên thịtrờng EU” Theo điều 10 của đạo luật này, các tiêu chuẩn áp dụng ít nhất là tơng
đơng với những tiêu chuẩn chỉ đạo đợc áp dụng trên thị trờng nội địa EU Kháiniệm tơng đơng ở đây đợc hiểu là, tơng đơng về tổ chức chức năng của cơ quannhà nớc có thẩm quyền kiểm tra chất lợng sản phẩm theo tiêu chuẩn HACCP(Hazard Analysis Critical Control Point- điểm giới hạn kiểm tra mức nguy hiểm)
đối với hàng thực phẩm EU cũng thông qua những quy định bảo vệ quyền lợingời tiêu dùng về độ an toàn chung của các sản phẩm đợc bán ra, các hợp đồngquảng cáo, nhãn hiệu… trong khi đó các biện pháp chống Các tổ chức chuyên nghiên cứu đại diện cho ngời tiêudùng sẽ đa ra các quy chế định chuẩn Quốc Gia hoặc Châu Âu Hiện nay ở Châu
Âu có 3 tổ chức định chuẩn: Uỷ ban Châu Âu về định chuẩn, Uỷ Ban Châu Âu
về Định chuẩn điện tử, Viện Định chuẩn viễn thông Châu Âu Đặc biệt EU cóquy chế về nhãn mác rất khắt khe nhất là đối với các hàng thực phẩm đồ uống,thuốc men và vải lụa Điều này chi phối rất lớn tới xuất khẩu thuỷ sản của ViệtNam
Nhờ ứng dụng thành tựu về công nghệ thông tin, EU đã thiết lập hệ thốngchống gian lận về hạn ngạch trong toàn khối Hải quan EU với những phơng tiệnhiện đại nắm rất chắc các số liệu nhập khẩu của từng nớc hàng ngày không chophép vợt số lợng giao hàng theo quy định dù chỉ là một đơn vị Để giải quyếtnhững trờng hợp này có khi phải thơng lợng rất khó khăn
EU có 15 thị trờng quốc gia Mỗi thị trờng lại có đặc điểm tiêu dùng riêng,
do vậy có thể thấy rằng thị trờng EU có nhu cầu rất đa dạng và phong phú vềhàng hoá Tuy có những khác biệt nhất định về tập quán và thị hiếu tiêu dùngnhng 15 nớc thành viên đều là những quốc gia nằm trong khu vực Tây và Bắc Âu
Trang 10nên có những đặc điểm tơng đồng về kinh tế, văn hóa Trình độ phát triển kinh tế– xã hội của các nớc khá đồng đều cho nên ngời dân thuộc khối EU có những
điểm chung về sở thích và thói quen tiêu dùng
Ngời tiêu dùng Châu Âu có sở thích và thói quen sử dụng các sản phẩm cónhãn hiệu nổi tiếng trên thế giới Họ cho rằng, những sản phẩm này gắn liền vớichất lợng sản phẩm và có uy tín lâu đời, cho nên dùng những sản phẩm mangnhãn hiệu nổi tiếng sẽ an tâm về mặt chất lợng và an toàn cho ngời sử dụng Vìvậy trong nhiều trờng hợp mặc dù sản phẩm giá rất đắt nhng họ vẫn mua màkhông thích chuyển sang tiêu dùng những sản phẩm không nổi tiếng khác cho dùgiá rẻ hơn nhiều
Ngời tiêu dùng EU thích sử dụng và có thói quen tiêu dùng một số hànghoá sau:
- Hàng may mặc và giày dép: Ngời dân áo, Đức, Hà Lan chỉ mua hàng may
mặc hoặc giày dép không chứa chất nhuộm có nguồn gốc hữu cơ (azo-dyes).Khách hàng EU đặc biệt quan tâm tới chất lợng và thời trang của hai loại sảnphẩm này Đối với hàng giày dép, ngời EU có xu hớng đi giầy vải Xu hớng nàycàng tăng lên tỷ lệ thuận với xu hớng tiêu dùng giày dép tăng hàng năm của EU
Đối với mặt hàng này nhu cầu thay đổi nhanh chóng, nhất là về mẫu mốt
- Thuỷ hải sản: Ngời tiêu dùng EU không mua những sản phẩm thuỷ hải
sản bị nhiễm độc do tác động của môi trờng hoặc do các chất phụ gia không đợcphép sử dụng Đối với những sản phẩm thuỷ hải sản qua chế biến, ngời Châu Âuchỉ dùng những sản phẩm đóng gói có ghi tên sản phẩm, nơi sản xuất, các điềukiện bảo quản và sử dụng, mã số và mã vạch Họ tẩy chay các loại thuỷ sản nhậpkhẩu có chứa khuẩn Salmonela, độc tố Lustamine, nhiễm V.Paraheamoliticus,nhiễm V Cholerea Ngời Châu Âu ăn ngày càng nhiều thuỷ sản vì họ cho rằng
sẽ giảm đợc béo mà vẫn khoẻ mạnh
EU là một trong những thị trờng lớn nhất trên thế giới cũng chỉ nh thị trờng
Mỹ nhng khác với thị trờng Mỹ ở chỗ EU là một cộng đồng kinh tế mạnh và làmột trung tâm văn minh lâu đời của nhân loại, do đó sở thích tiêu dùng của ngờidân rất cao sang Họ có thu nhập có mức sống khá đồng đều, yêu cầu khắt khe
về chất lợng và độ an toàn sản phẩm nói chung còn với thực phẩm thì chất lợng
và vệ sinh là hàng đầu Yếu tố quyết định tiêu dùng của ngời Châu Âu là chất ợng hàng hoá chứ không phải là giá cả đối với đại đa số các mặt hàng đợc tiêu
Trang 11l-thụ trên thị trờng này Trong khi đó Mỹ là một xã hội đa văn hoá, đa dân tộc nên
sở thích tiêu dùng của ngời Mỹ rất đa dạng về chủng loại hàng hoá và đòi hỏi vềchất lợng không khắt khe nh thị trờng EU
Xu hớng tiêu dùng trên thị trờng EU đang có những thay đổi nh: khôngthích dùng đồ nhựa mà thích dùng đồ gỗ, thích ăn thuỷ sản hơn ăn thịt, yêu cầu
về mẫu mốt và kiểu dáng thay đổi nhanh đặc biệt đối với những mặt hàng thờitrang (giày dép, quần áo… trong khi đó các biện pháp chống) Sở thích và thói quen tiêu dùng trên thị trờng này
đang thay đổi rất nhanh cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học côngnghệ Ngày nay ngời Châu Âu cần nhiều chủng loại hàng hoá với số lợng lớn vànhững hàng hoá có vòng đời ngắn Không nh trớc kia họ chỉ thích dùng nhữnghàng hoá có chất lợng cao, giá đắt, vòng đời sản phẩm dài, hiện nay sở thích tiêudùng lại là những sản phẩm có chu trình sống ngắn hơn giá rẻ hơn và phơng thứcdịch vụ tốt hơn Thói quen này đối với tất cả hàng hoá tiêu dùng, kể cả hàngcông nghệ cao Tuy có sự thay đổi về sở thích và thói quen tiêu dùng nh vậy nh-
ng chất lợng hàng hoá vẫn là yếu tố quyết định hàng đầu đối với phần lớn cáchàng hoá tiêu thụ trên thị trờng này
Một điểm tơng đồng nữa mà chúng ta phải kể đến đó là văn hoá trong kinhdoanh của các doanh nhân EU Với các đối tác trong khu vực này, nhiều khi đãthoả thuận xong về chất lợng giá cả, nhng họ vẫn đến tận nơi để xem xét tìnhhình sản xuất môi trờng rồi mới ký hợp đồng Trong giao dịch các doanh nhân
EU rất coi trọng chữ tín Họ không thể chấp nhận việc giao hàng không đúngthời hạn quy định, không thoả mãn các yêu cầu về chất lợng hợp đồng Các nhànhập khẩu Châu Âu rất cẩn trọng trong việc lựa chọn các nhà cung cấp, cácdoanh nghiệp thờng yêu cầu các nhà cung cấp ký quỹ 5% giá trị hợp đồng,khoản tiền này sẽ mất nếu không giao hàng
1.1.2.2 Những điểm khác biệt
EU một thị trờng chung thống nhất trong đó, hàng hoá dịch vụ, vốn và sứclao động đợc tự do lu thông giữa 15 nớc thành viên và đến nay đã lu hành đồngtiền chung Euro trong 12 trên 15 nớc thành viên Tuy nhiên dù không có rào cảngiữa các quốc gia thành viên, các quốc gia mở cửa cho các quốc gia thành viênkhác, các nền kinh tế thống nhất và hệ thống quy định, luật pháp hoà hợp, tuynhiên tính chất thị trờng của các nớc có những điểm khác biệt đáng kể do sựkhác biệt về dân số, diện tích tôn giáo, phong tục tập quán,văn hoá-xã hội, khíhậu, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng, hệ thống kinh tế chính trị khác nhau
Trang 12Mỗi quốc gia đều có nguồn gốc dân tộc cơ bản có những giá trị truyền thống vànhững đặc trng văn hoá của riêng mình Điều đó đã tạo nên những nét riêng biệttrong tính cách và thị hiếu tiêu dùng EU Vì vậy, chúng ta phải chú ý đến yếu tốnày khi làm ăn buôn bán với từng nớc trong khu vực này.
Để thiết lập đợc mối quan hệ với các thơng nhân EU cần lu ý một số tínhcách cá biệt: với thơng nhân Anh mặc dù có sự quen biết lâu nhng việc chọn bạnhàng rất chậm chạp theo kiểu “phớt ăng lê”, ngợc lại với các thơng nhân Đức,Tây Ban Nha thì ngay ở lần tiếp xúc đầu tiên cũng có thể thiết lập các mối quan
hệ buôn bán Tuy nhiên với thơng nhân Đức thì phải cung cấp cho họ đầy đủ cácthông tin về doanh nghiệp, về sản phẩm mà họ yêu cầu để họ nghiên cứu độngthái phát triển của doanh nghiệp một vài năm, còn đối với thơng nhân Tây BanNha chỉ cần đa mẫu hàng và nội dung giao dịch là có thể bàn việc buôn bán.Doanh nghiệp Pháp chủ yếu quan tâm đến giá cả và họ thích gán mác lên hànghoá theo kiểu Pháp Doanh nghiệp Đức không chấp nhận mua hàng theo catalôtrong khi các doanh nghiệp Anh lại rất quan tâm đến chất lợng và sòng phẳng,luôn tuân theo luật lệ một cách chính xác
Khác với doanh nghiệp Mỹ thờng hoạt động một mình, các doanh nghiệp
Đức đi đâu cũng có trợ lý đi cùng Nếu mời họ đến thăm xí nghiệp sản xuất củamình, họ thờng đọc các t liệu liên quan và xem xét sản phẩm Về thời gian đếnthăm xí nghiệp họ cũng rất thận trọng: nếu thảo luận những vấn đề quan trọng họthờng đến sớm hơn một chút Kết thúc cuộc trao đổi “chúng tôi sẽ đến” thì nhất
định họ sẽ đến Nếu hẹn gặp họ thì phải xác định ngày giờ cho chính xác
Khi tranh luận mà đút tay vào túi quần hay túi áo sẽ gây ấn t ợng không tốt
đối với ngời Pháp, Bỉ, Thuỵ Điển và Phần Lan; văn hoá ở các nớc Phơng Đôngcoi việc sờ mó vào ngời khác là suồng sã, xúc phạm riêng t trong khi đó các nớcNam Âu hành động nh vậy đợc coi là chứng tỏ sự nhiệt tình và bạn hữu Các nhànhân chủng học tổng kết rằng: ngời Đức, Thuỵ Sỹ thờng ăn nói thận trọng chínhxác, vừa đủ coi trọng tính lôgic khách quan, dựa vào nguyên văn nguyên bản;ngời Italia thích nói nhiều, tranh luận bàn cãi một cách hiếu thắng
Văn hóa mặc cũng cần phải chú ý: nhiều doanh nhân Pháp có quan niệmphân tầng xã hội khi nhìn cách ăn mặc của ngời khác, họ có ấn tợng tốt, có cảmtình đối với ngời ăn mặc sang trọng hợp mốt Ngời Đức mến mộ trang phục vảilanh mềm, cà vạt trang nhã, đồ trang sức sáng màu với các nhãn mác nổi tiếng,coi đó là biểu hiện của sự cởi mở, nghiêm túc thông minh Doanh nhân Hà Lan
Trang 13lại không chú trọng đến cách ăn mặc cầu kì mà thích tự nhiên, tiện lợi… trong khi đó các biện pháp chốngDoanhnhân Anh không thích khi trò chuyện hoặc nói những lời đàm tiếu về Hoàng GiaAnh, đối với ngời Pháp và đa số các nớc Châu Âu khác không nên hỏi về đời t vàchuyện gia đình vì coi đây là tọc mạch- trong khi đó ở Việt Nam lại coi là quantâm đến ngời khác Doanh nhân Thuỵ Sỹ rất chú ý đến năm tháng ra đời củadoanh nghiệp đối tác và mối quan hệ với các doanh nghiệp khác trên thị trờngquốc tế, coi đó là thớc đo tài năng, uy tín của chủ doanh nghiệp và công ty đốitác Ngời Bắc Âu rất thích nói đến chức vụ của mình trong quá trình đàm phán,thơng thuyết Doanh nhân Đức, áo, hơi lạnh ít cời có thể bỏ qua một số nghithức xã giao thăm hỏi mà đi thẳng vào vấn đề, công việc.
Trong giao dịch quốc tế quan hệ cá nhân có tác dụng khá quan trọng, xuấtphát từ thiện cảm các bạn hàng EU có thể mời đối tác về nhà dự tiệc Nhng nênnhớ: ở Đan Mạch, một nhà buôn đợc mời đến nhà đồng nghiệp thì nên nhớ mangtheo hoa tơi hoặc quà tặng; ở Na Uy nếu muốn đợc đối xử thật tốt thì ngay hômbữa tiệc ngời đợc mời nên tặng chủ nhà một món quà; ở Pháp trớc hôm nhận lời
dự tiệc hay đến thăm cũng phải tặng hoa trớc cho ngời chủ Thơng nhân Pháp rấtthích sau mỗi đợt buôn bán kết hợp tổ chức một cuộc vui đặc biệt, thậm chí ngaycả trớc khi đàm phán công việc
Khi tặng hoa cũng cần chú ý đến ngôn ngữ văn hoá của hoa đối với phongtục từng nớc Châu Âu: ở Anh và Pháp, hoa loa kèn trắng chỉ dùng trong tang lễ;hoa hồng đỏ thắm rất đợc u chuộng đối với phụ nữ Pháp và Italia nhng ở Tây BanNha thì ngợc lại; ở Pháp hoa màu vàng gợi nên sự không chung thuỷ và khôngdùng để tặng hoa ai cả; ở Châu Âu nên tặng hoa bông lẻ và nên tránh con số 13
Đối với ngời tiêu dùng Châu Âu khác với Mỹ họ rất miễn cỡng phải sửdụng bằng thẻ tín dụng, họ cố gắng trả hết tiền sau một thời gian Thói quen ngờitiêu dùng EU đối với một số sản phẩm lu thông trên thị trờng cũng có phân biệt.Chẳng hạn đối với sản phẩm thuỷ hải sản, những ngời tiêu dùng ở những quốcgia Bắc Âu (Na Uy, Thuỵ Điển, Đan Mạch ) a thích các loại thuỷ hải sản vùng n-
ớc lạnh hơn các loại thuỷ hải sản ở vùng nớc ấm, vốn là sở thích tiêu dùng ở cácnớc Nam Âu và vùng Địa Trung Hải, những sản phẩm dệt may đối với ngời tiêudùng EU, yếu tố mốt đợc đặt lên hàng đầu Họ coi phần giá trị về mẫu mốt vàthời trang là chính
Về hệ thống phân phối sản phẩm, trên thị trờng EU cũng có những nét đặcthù đối với từng nhóm quốc gia Ví dụ ở Bắc Âu việc phân phối các sản phẩm
Trang 14tiêu dùng có xu hớng tập trung cao, giảm bớt trung gian, rút ngắn đờng đi củasản phẩm tới ngời tiêu dùng, tập trung vào các cửa hàng bán lẻ lớn, các siêu thị.Ngợc lại ở các quốc gia Nam Âu, việc phân phối các sản phẩm tiêu dùng chủyếu vẫn do các cửa hàng bán lẻ nhỏ truyền thống thực hiện (Italia, Hy Lạp, TâyBan Nha )
Để xuất khẩu đựơc hàng hoá vào thị trờng EU, các doanh nghiệp Việt Namkhông những cần phải nắm nhu cầu thị trờng, thị hiếu tiêu dùng và đảm bảo sảnphẩm có cạnh tranh về chất lợng cũng nh giá cả mà còn phải thành thạo kênhphân phối, hệ thống luật pháp của EU và hệ thống quản lý xuất nhập khẩu
1.1.3 Quan hệ kinh tế Việt Nam-EU:
Hiện nay, EU có thể coi là một tổ chức có tiềm năng to lớn để hợp tác vềmọi mặt, đặc biệt trong lĩnh vực thơng mại và đầu t
Do hoàn cảnh lịch sử nên đến trớc 1975 quan hệ kinh tế-thơng mại giữaViệt Nam và EU còn rất hạn chế Trong giai đoạn 1975-1979, EU đã giành choViệt Nam khoản viện trợ lên tới 109 triệu USD trong đó viện trợ trực tiếp là 68triệu USD Song từ tháng 7 năm 1979, do vấn đề Campuchia nên EU đã ngừngviện trợ cho Việt Nam, kể cả khoản viện trợ 36 triệu USD đã đợc phê chuẩn Từcuối năm 1984, EU bắt đầu nối lại viện trợ nhân đạo cho Việt Nam
Quan hệ Việt EU bắt đầu ngay khi nớc ta thống nhất hai miền Bắc năm 1975, tuy nhiên mãi đến năm 1990 mối quan hệ hợp tác mới mở ra mộttrang mới bắt đầu bằng Hội nghị Ngoại trởng 12 nớc thành viên Cộng đồng ECquyết định lập quan hệ ngoại giao với chính thức với Việt Nam cấp đại sứ ngày
Nam-22 tháng 10 năm 1990 Từ đó đến nay các mối quan hệ song phơng đã từng bớcphát triển cả về chất và về lợng Các nớc thành viên EU đã tăng cờng hơn nữaquan hệ hợp tác, đầu t thơng mại và viện trợ cho Việt Nam Tháng 12 năm 1990,
đại diện Uỷ ban Châu Âu và Chính phủ Việt Nam đã kí thoả thuận về chơngtrình giúp đỡ những ngời Việt Nam ra đi bất hợp pháp trở về tái hoà nhập trênnguyên tắc hồi hơng tự nguyện với khoản cho vay tín dụng lên tới 47 triệu USD.Ngoài ra, EU còn giúp đào tạo nghề (mộc, may mặc, quản lý kinh tế… trong khi đó các biện pháp chống), cảithiện các vùng nông thôn (làm đờng giao thông, cải tạo môi trờng, trồng rừng,lấn biển… trong khi đó các biện pháp chống) và phát triển y tế (cấp thuốc, cải tạo bệnh viện, đào tạo cán bộ) EUcũng quan tâm đến tăng cờng quan hệ kinh tế-thơng mại, biểu hiện cụ thể là hiệp
định về buôn bán dệt may ngày 15/12/1992 tại Brucxen và có hiệu lực 5 năm bắt
đầu từ 1/1/1993 đến nay đã qua hai lần gia hạn và điều chỉnh tăng hạn ngạch
Trang 15Hiệp định đánh dấu một bớc chuyển biến tích cực trong mối quan hệ giữa haibên Đây cũng là tiền đề cho việc kí kết các hiệp định về hợp tác kinh tế- thơngmại, khoa học- kỹ thuật sau này
Cũng cần nhắc lại rằng các nớc thành viên EU (Bỉ, Pháp, Hà Lan, Thuỵ
Điển… trong khi đó các biện pháp chống) cũng tăng cờng giúp đỡ Việt Nam trong các lĩnh vực hợp tác khoa
học-kỹ thuật, đào tạo cán bộ chuyên gia cũng nh tài trợ cho các sự án phát triển nôngthôn Đỉnh cao của sự phát triển quan hệ giữa Việt Nam và EU đợc đánh dấubằng sự kiện trọng đại diễn ra vào ngày 17 tháng 7 năm 1995 tại Brucxen (Bỉ).Hiệp định khung về hợp tác kinh tế có hiệu lực vào 01/01/1996 trong đó có quy
định hai bên dành cho nhau chế độ tối huệ quốc (MFN), cam kết mở cửa thị ờng hàng hoá của nhau tới mức tối đa có tính đến điều kiện đặc thù của mỗi bên,
tr-EU cũng cam kết dành cho hàng hoá xuất xứ từ Việt Nam u đãi thuế quan phổcập (GSP) Trên cơ sở khai thác các điều kiện thuận lợi trong quan hệ hợp tácgiữa hai bên, kết quả hoạt động thơng mại giữa Việt Nam và các nớc trong khối
đã đạt đợc nhiều thành tựu đáng kể, chỉ tính riêng trong giai đoạn 1991-1997,tổng kim ngạch 2 chiều Việt Nam và EU đã tăng gấp 10 lần, trong đó thặng dmậu dịch của Việt Nam ngày càng lớn Năm 1998, tổng kim ngạch xuất nhậpkhẩu của Việt Nam với EU đạt trên 4 tỷ USD; năm 1999 đạt 4,5 tỷ USD; năm
2000 đạt gần 5 tỷ USD và năm 2001 đã vợt trên 5 tỷ USD Tuy nhiên xuất nhậpkhẩu Việt Nam-EU có sự tăng trởng đều đặn, nhng đến nay mới chỉ chiếmkhoảng 0,12% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của EU và chiếm 14 % tổng kimngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam, trong đó từ năm 1998 Việt Nam luôn xuấtsiêu cho EU Năm 2002, nhiều nớc mở rộng nhập khẩu với Việt Nam Hầu hếtcác nớc trong khối đều có quan hệ xuất nhập khẩu với Việt Nam (13 trên tổng số
15 nớc) Đức là nớc dẫn đầu, chiếm 28,5 % tổng kim ngạch xuất nhập khẩu củaViệt Nam với EU năm 2002, Pháp (20,7%), Anh (12,7%), Italia (9,6%) Thực tếnhìn một cách tổng quan thì quan hệ thơng mại Việt Nam-EU cha tơng xứng vớitiềm năng của hai bên Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang EU
là những mặt hàng mà thị trờng này có nhu cầu nhập khẩu hàng năm với khối ợng lớn là giày dép, hàng may mặc, hàng nông sản, hàng thuỷ hải sản, cao su,than đá Các mặt hàng này chiếm từ 72-76% xuất khẩu của Việt Nam sang EU.Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng trung bình 50%/năm Có thểnói EU là thị trờng xuất khẩu hàng hoá quan trọng hàng đầu của Việt Nam Cácmặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam từ EU là máy móc thiết bị công nghệcao nh linh kiện điện tử và máy vi tính, máy móc thiết bị phụ liệu dệt may, da,
Trang 16l-sắt thép các loại, phơng tiện vận tải nh ô tô và phụ tùng ô tô và hoá chất, tân dợc.Nhìn chung quan hệ thơng mại giữa Việt Nam và EU ngày càng phát triển cả vềchiều rộng lẫn chiều sâu.
Về tài chính, các nớc Pháp, Bỉ, Đức… trong khi đó các biện pháp chống tích cực xoá nợ, giảm nợ cho ViệtNam Pháp tích cực kêu gọi các nớc khác cùng với mình giúp Việt Nam trả nợ
quốc tế trong khuôn khổ Câu lạc bộ Paris“ ”; và giúp nối lại mối quan hệ giữaViệt Nam với các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế Đồng thời các nớc EU cònviện trợ phát triển (ODA) với lãi suất u đãi đặc biệt cho Việt Nam Đến hết năm
1999, EU đã viện trợ cho Việt Nam 2,1 tỉ EURO đợc tập trung vào 4 lĩnh vựcquan trọng nhất của nền kinh tế: nông nghiệp, phát triển xã hội, y tế và giaothông Chơng trình viện trợ cho hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Namsang EU rất đa dạng, bao gồm tất cả các lĩnh vực nh nghiên cứu thị trờng(nghiên cứu thị hiếu, sản phẩm, hỗ trợ tham gia các hội chợ triển lãm, phổ biếnngôn ngữ và văn hoá Châu Âu… trong khi đó các biện pháp chống), phát triển thông tin, cấp tín dụng, cung cấpcác dịch vụ hỗ trợ chuyên môn nh lập kế hoạch, kinh doanh, marketing… trong khi đó các biện pháp chống Một
số chơng trình đặc biệt nh đầu t châu á, chơng trình hỗ trợ doanh nghiệp vừa vànhỏ (SMEDEF), Trung tâm thông tin thơng mại Châu Âu (EBIC) có vai trò bổtrợ cho các chính sách và hoạt động thơng mại giữa hai bên
Về đầu t, cho đến nay, EU có tổng dự án là trên 400 dự án với tổng số vốn
đăng kí lên đến 6 tỷ USD Hiện nay số vốn còn đang hoạt động là 288 dự ánchiếm 9% tổng số dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài vào Việt Nam với số vốn đăng
kí đạt 5,8 tỷ USD chiếm 15,26% tổng số vốn đăng kí vào Việt Nam Đầu t của
EU mang một ý nghĩa hết sức quan trọng đối với công cuộc hiện đại hoá củaViệt Nam, nhiều dự án tập trung vào lĩnh vực then chốt nh thăm dò và khai thácdầu khí, chế tạo ôtô, sản xuất hàng tiêu dùng, phát triển cơ sở hạ tầng, nôngnghiệp Hiện nay đã có 11 trên 15 nớc có các nhà đầu t trực tiếp nớc ngoài tạiViệt Nam Đứng đầu là Pháp (với 104 dự án, tổng số vốn đăng kí là 1,789 tỷUSD), Anh (29 dự án, tổng số vốn đăng kí 1,047 tỷ USD), Hà Lan (36 dự án, 578triệu USD), Thuỵ Điển (8 dự án, 37 triệu USD)
Có thể nói rằng quan hệ kinh tế- thơng mại giữa Việt Nam và EU tuy chadài nhng những kết quả đạt đợc trong hơn 10 năm qua kể từ khi kí hiệp địnhkhung hợp tác Việt Nam-EU là hết sức quan trọng và có ý nghĩa thiết thực đốivới cả hai bên Cùng với nỗ lực của cả hai phía và những yếu tố thuận lợi bênngoài, chúng ta có thể hoàn toàn tin tởng rằng trong tơng lai, quan hệ kinh tế-th-
ơng mại Việt Nam-EU sẽ tiếp tục đẩy mạnh và phát triển lên một tầm cao mới
Trang 171.2 Các quy định pháp lý của EU về chất lợng và nhãn hiệu sản phẩm xuất khẩu vào thị trờng EU
1.2.1 Các quy định về chất lợng
1.2.1.1 Hệ thống quản lý chất lợng sản phẩm ISO 9000
Liên minh Châu Âu áp dụng hệ thống quản lý ISO 9000 và hệ thống quản
lý 14000 Đối với tiêu chuẩn chất lợng, hệ thống quản lý chất lợng ISO 9000 gần
nh là yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu sangthị trờng EU thuộc các nớc đang phát triển Thực tế cho thấy, ở các nớc đangphát triển Châu á và Việt Nam, hàng của các doanh nghiệp có giấy chứng nhậnchất lợng ISO 9000 thâm nhập vào thị trờng EU dễ dàng hơn nhiều so với cácdoanh nghiệp không có giấy chứng nhận này Có thể nói hệ thống quản lý chất l-ợng đã trở thành giấy thông hành cho các doanh nghiệp thâm nhập vào thị trờngthế giới nói chung và thị trờng không mấy “dễ tính” này nói riêng
ISO 9000 là hệ thống quản lý chất lợng gồm các quy trình kỹ thuật và kiểmtra, kiểm soát toàn bộ quá trình sản xuất ra sản phẩm chứ không phải là một tiêuchuẩn chất lợng sản phẩm nh một số doanh nghiệp và cá nhân lầm tởng ISO làtập hợp các có hệ thống các kinh nghiệm quản lý chất lợng tốt nhất do Tổ Chứctiêu chuẩn quốc tế (International Standard Organization) đặt ra để giúp cácdoanh nghiệp cải tiến các hệ thống quản lý nhằm đạt đợc các mục tiêu về năngsuất và chất lợng sản phẩm, giảm lãng phí và tỷ lệ phế phẩm để duy trì một dạngsản phẩm luôn có chất lợng đồng nhất phù hợp với giá thành Khi doanh nghiệp
áp dụng Hệ thống quản lý chất lợng ISO 9000, ngời tiêu dùng có thể an tâm vớichất lợng sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra Nói cách khác, có thể coi việc
áp dụng Hệ thống quản lý chất lợng nh một “dấu hiệu” xác định chữ tín giữadoanh nghiệp và khách hàng, là sự khẳng định cam kết cung ứng sản phẩm cóchất lợng tin cậy
Trong hai thập kỉ qua vấn đề chất l“ ợng” nổi lên nh là một trong những
yếu tố quan trọng nhất của thơng mại và công nghiệp Khách hàng EU nóiriêng và thế giới nói chung ngày càng có những yêu cầu khắt khe hơn về chất l -ợng hàng hoá và dịch vụ cũng nh việc chấp hành đầy đủ và nhanh chóng các
điều kiện khác trong hợp đồng Thông thờng, khách hàng không chỉ muốn có
đ-ợc sản phẩm thích hợp với khả năng thanh toán của họ mà còn muốn các yêu cầucủa họ phải đợc giải quyết nhanh chóng và doanh nghiệp phải tìm ra căn nguyêncủa vấn đề để ngăn chặn tái diễn ở các lần tiếp sau Sự ra đời của Bộ Tiêu chuẩn
Trang 18ISO 9000 đã trợ giúp một cách có hiệu quả cho các nhà cung cấp các loại hànghoá và dịch vụ xây dựng các hệ thống quản lý chất lợng toàn bộ để công ty kiểmtra đợc chất lợng sản phẩm ở mọi khâu của quá trình sản xuất và nhờ đó sẽ tránh
đợc những sai sót đáng kể, tiết kiệm đợc chi phí sản xuất và thời gian
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 của Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO) là hệ thống
đảm bảo chất lợng đợc áp dụng rộng rãi trong sản xuất kinh doanh hàng hoá vàdịch vụ ISO đa ra 20 yêu cầu chính đối với doanh nghiệp áp dụng bao gồm:Trách nhiệm lãnh đạo, hệ thống chất lợng, xem xét hợp đồng, kiểm soát tài liệu,mua sản phẩm, kiểm tra sản phẩm do khách hàng cung cấp, nhận biết và xác
định nguồn gốc sản phẩm, kiểm soát quá trình sản xuất, kiểm tra và thử nghiệm,kiểm soát thiết bị đo lờng và thử nghiệm, tình trạng kiểm tra và thử nghiệm,kiểm soát sản phẩm không phù hợp, hành động khắc phục và ngăn ngừa, xếp dỡ
lu kho, bao gói, bảo quản giao hàng, kiểm soát hồ sơ chất lợng, đào tạo, dịch vụ
kỹ thuật, kỹ thuật thống kê
Cấu trúc của Bộ tiêu chuẩn ISO 9000
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2000 bao gồm nhiều tiêu chuẩn Trong đó tiêuchuẩn chính ISO 9001- Hệ thống chất lợng, nêu ra các yêu cầu đối với hệ thốngquản lý chất lợng mà doanh nghiệp cần đáp ứng Ngoài ra còn có các tiêu chuẩn
hỗ trợ và hớng dẫn thực hiện nh : ISO 9000- thuật ngữ và định nghĩa; ISO hớng dẫn cải tiến hiệu quả
9004-Trong quá trình thực hiện, doanh nghiệp có thể áp dụng một trong ba môhình sau trong bộ tiêu chuẩn này:
- ISO 9001: áp dụng cho doanh nghiệp từ khâu thiết kế, triển khai, sảnxuất, lắp đặt và dịch vụ
- ISO 9002: áp dụng cho doanh nghiệp sản xuất, lắp đặt dịch vụ (khôngbao gồm khâu thiết kế)
- ISO 9003: áp dụng cho doanh nghiệp trong quy trình kiểm tra thửnghiệm cuối cùng đối với sản phẩm
Để cho bộ ISO 9000 duy trì tính hiệu lực, những tiêu chuẩn này đợc xemxét định kì (khoảng 5 năm một lần) nhằm cập nhập những phát triển mới nhấttrong lĩnh vực quản lý chất lợng, và thông tin phản hồi từ ngời sử dụng Ban kỹthuật của Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO/TC/176 bao gồm nhiều chuyên gia từcác doanh nghiệp và tổ chức trên toàn thế giới theo dõi việc áp dụng các tiêu
Trang 19chuẩn để xác định những cải tiến cần thiết nhằm thoả mãn những đòi hỏi vàmong muốn của ngời sử dụng và đa vào phiên bản mới.
1.2.1.2 Bộ tiêu chuẩn về quản lý môi trờng ISO 14000
Đối với tiêu chuẩn bảo vệ môi trờng, thị trờng EU yêu cầu hàng hoá có liênquan đến môi trờng phải dán nhãn theo quy định (nhãn sinh thái, nhãn tái sinh)
và có chứng chỉ đợc quốc tế công nhận Ví dụ, tiêu chuẩn GAP (goodagricultural Practice ) và các nhãn hiệu sinh thái (Ecolabels) đang ngày càng đợcphổ biến, chứng tỏ các cấp độ khác nhau về môi trờng tốt Ngoài ra công ty cònphải tuân thủ hệ thống quản lý môi trờng ISO 14000 và các bộ luật mang tính
đạo đức
ISO 14000 là Bộ tiêu chuẩn về quản lý môi trờng, đợc xây dựng trên cơ sởthoả thuận quốc tế bao gồm các yêu cầu đối với các yếu tố cơ bản có thể điềuchỉnh đợc để thiết lập hệ thống quản lý môi trờng có khả năng cải thiện môi tr-ờng một cách liên tục tại các tổ chức cơ sở Bộ tiêu chuẩn ISO 14000 đem đếncách tiếp cận hệ thống cho việc quản lý môi trờng và cung cấp các công cụ hỗtrợ có liên quan nh đánh giá môi trờng, nhãn môi trờng, phân tích môi trờngsống của sản phẩm… trong khi đó các biện pháp chống cho các doanh nghiệp và các tổ chức cơ sở khác để quản lý
sự tác động của họ tới môi trờng, ngăn ngừa sự ô nhiễm và liên tục cải thiện môitrờng với sự cam kết của lãnh đạo và sự tham gia có ý thức của mọi thành viên từngời sản xuất trực tiếp đến các cán bộ quản lý
ISO 14000 đề cập đến 5 lãnh vực sau đây: Hệ thống quản lý môi trờng;
Đánh giá kết quả hoạt động môi trờng; Ghi nhãn môi trờng; Đánh giá chu trìnhsống của sản phẩm; Các khía cạnh môi trờng trong chu trình sống của sản phẩm.Lợi ích cuả việc áp dụng ISO 14000:
Quản lý có hiệu quả nguồn tài nguyên và giảm thiểu chất thải, giảm tiêuthụ năng lợng
Trang 20Khác với ISO 9000, đối tợng quản lý là chất lợng thì đối tợng quản lý củaISO 14000 là môi trờng ở các quốc gia đã có sức ép về yêu cầu bảo vệ môi tr-ờng nh Hoa Kì, EU, Canada… trong khi đó các biện pháp chốngthì việc áp dụng ISO 14000 đã trở thành một đòihỏi mang tính bắt buộc Việc áp dụng ISO 14000 sẽ giúp khách hàng EU yêntâm về khía cạnh bảo vệ môi trờng của sản phẩm, dịch vụ mà họ mong muốn.
1.2.1.3 Hệ thống an toàn vệ sinh thực phẩm
Đối với tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, các công ty chế biến thực phẩm phảituân thủ các tiêu chuẩn vệ sinh chặt chẽ Về phơng diện này, viêc áp dụng hệthống HACCP (Hazard Analysis Critical Control Point) là rất quan trọng và gần
nh là yêu cầu bắt buộc đối với các xí nghiệp chế biến thuỷ sản của các nớc đangphát triển muốn xuất khẩu vào thị trờng EU
HACCP là hệ thống phân tích nguy cơ và kiểm soát các khâu trọng yếutrong quá trình chế biến thực phẩm HACCP không phải là hệ thống quản lý ápdụng đại trà nh ISO 9000 hoặc ISO 14000 HACCP đợc thiết kế riêng cho côngnghiệp chế biến thực phẩm và các ngành có liên quan đến thực phẩm (chăn nuôitrồng trọt… trong khi đó các biện pháp chống) tập trung vào vấn đề vệ sinh và đa ra một cách tiếp cận có hệ thống
để phòng ngừa và giảm thiểu nguy cơ Hệ thống có tính bắt buộc đối với công tychế biến thực phẩm tại EU Các công ty thực phẩm nớc ngoài không có nghĩa vụphải tuân thủ các quy định của EU về HACCP Tuy nhiên điều đó chỉ đúng trêndanh nghĩa Nếu nhà nhập khẩu của EU mua nguyên liệu từ nớc ngoài thì họphải chịu trách nhiệm về nguyên liệu đó theo các nguyên tắc HACCP kể từ khihàng vào đến cửa khẩu Cơ chế này buộc họ phải đòi hỏi các nhà xuất khẩu nớcngoài tuân thủ theo nguyên tắc HACCP Và nh vậy, HACCP trở thành đòi hỏichung Các nhà xuất khẩu của các nớc đang phát triển, nếu không muốn mất thịtrờng, chỉ còn cách ứng dụng hệ thống này trong sản xuất và thuyết phục các nhànhập khẩu EU (bằng chứng chỉ hoặc bằng báo cáo kiểm tra) rằng họ đã đi theo
đúng các nguyên tắc của hệ thống phòng ngừa này áp dụng HACCP có nhữngthuận lợi sau:
+ Nó tập trung vào nhận biết và ngăn ngừa mối nguy từ nhiễm bẩn thựcphẩm và tìm cách vợt xa giới hạn của phơng pháp kiểm soát an toàn thực phẩmtruyền thống (phơng pháp chỉ phát hiện ra thay vì phòng ngừa vấn đề an toànthực phẩm)
Trang 21+ Trớc tiên nó cho phép giảm sự giám sát của chính quyền một cách cóhiệu quả và có lợi nhuận hơn, bởi vì biên bản giữ lại cho phép ngời điều tra biếtcông ty đang tuân theo luật an toàn thực phẩm trong toàn bộ thời gian tốt hơn
nh thế nào so với khi công ty thực hiện trong một số ngày quy định nào đó; nó
có thể giúp cho đỡ việc kiểm tra bởi những chuyên gia điều khiển
+ Nó chú ý đến nhận biết những mối nguy có lý do, có thể tởng tợng đợcthậm chí cả trong những thất bại không có trong kinh nghiệm trớc đây Vì vậy,
nó đặc biệt có ích cho quá trình hoạt động mới
+ Nó đủ mềm dẻo để làm phù hợp những thay đổi mở đầu, nh tiến bộ trong
đề cơng trang bị, cải tiến trong thủ tục chế biến và sự phát triển kỹ thuật liênquan đến sản phẩm
+ Nó có thể sẵn sàng hợp nhất vào các hệ thống quản lý chất lợng
1.2.2 Quy định về bao bì, xuất xứ, kí mã hiệu
1.2.2.1 Quy định về bao bì
Các sản phẩm khi xuất khẩu sang thị trờng EU phải đợc đóng gói, dán nhãnmác, bao gồm các thông tin về chất phụ gia, mã số mã vạch, cách sử dụng và cácthao tác bằng tay cần thiết EU quy định một số phơng pháp chất lợng của bao bìxuất khẩu nh sau: Bao bì phải phù hợp với phơng thức vận tải đó Bao bì đónggói vận chuyển, xử lý Ngoài ra bao bì còn phải chống đỡ lại các thay đổi củathời tiết, thay đổi nhiệt độ, xử lý không cẩn thận và chống lại mất mát Với lý domôi trờng trong một số trờng hợp các loại bao bì bằng PVC không đợc các chínhphủ cho phép Các nhà xuất khẩu của Việt Nam cần phải thảo luận với kháchhàng của mình và cần phải dự đoán trớc chi phí đóng gói đặc biệt trong chi phí
bán của họ nếu có yêu cầu (Nguồn: Trung tâm xúc tiến thơng mại và đầu t Thành phố Hồ Chí Minh).
1.2.2.2 Quy định về xuất xứ, nhãn mác sản phẩm
* Quy định về xuất xứ: Đối với hàng hoá nhập khẩu, xuất khẩu, trên nhãn
hàng hoá phải ghi cụ thể và rõ ràng tên nớc xuất xứ Phải ghi thật cụ thể để tránhgây hiểu lầm về nguồn gốc của sản phẩm
Trang 22*Quy định về nhãn mác sản phẩm: Với mục đích dảm bảo an toàn cho
ng-ời sử dụng, nhãn mác trở nên rất quan trọng trong việc lu thông hàng hoá trên thịtrờng EU Nhãn hàng hoá ở EU phải tuân theo các yêu cầu cơ bản sau:
- Tên sản phẩm (điều kiện vật chất hoặc cách xử lý cụ thể)
- Tên/địa chỉ của nhà sản xuất, đóng bao, ngời bán hoặc ngời nhập khẩubằng ngôn ngữ địa phơng của EU
- Nớc xuất xứ
- Thành phần theo thứ tự giảm dần về trọng lợng
- Trọng lợng và khối lợng theo hệ đo lờng mét
- Chất phụ gia theo tên các loại
- Điều kiện bảo quản đặc biệt
- Thời gian sử dụng
- Hớng dẫn cách sử dụng đặc biệt
Cụ thể đối với từng loại hàng hoá nh sau:
Các loại thực phẩm, đồ uống đóng gói phải ghi rõ tên sản phẩm, nhãn mác,thành phần trọng lợng tịnh, thời gian sử dụng, cách sử dụng, điạ chỉ của nớc sảnxuất hoặc nơi bán, nơi sản xuất, các điều kiện đặc biệt để bảo quản, chuẩn bị sửdụng hoặc các thao tác bằng tay
Đối với vải lụa, EU lập ra một hệ thống thống nhất về mã hiệu cho biết các
loại sợi cấu thành nên loại vải lụa đợc bán trên thị trờng EU Bất cứ loại vải lụanào đợc sản xuất ra trên cơ sở hai hay nhiều loại sợi mà một trong các loại ấychiếm tối thiểu 85% tổng trọng lợng thì trên mã hiệu có thể đề tên loại sợi đókèm tỉ lệ tối thiểu 85% hoặc ghi cấu thành chi tiết của sản phẩm Nếu sản phẩmgồm hai hay nhiều loại sợi mà không loại sợi nào đạt tỉ lệ 85% thì trên mã hiệu ítnhất cũng phải ghi tỉ lệ của hai loại sợi quan trọng nhất, kèm theo tên các loại sợi
đã đợc sử dụng
Đối với hàng may mặc, nhìn chung có hai loại nội dung trên nhãn của sản
phẩm gồm yêu cầu bắt buộc nh xuất xứ, tỉ lệ sợi, khả năng dễ cháy và yêu cầukhông bắt buộc nh hớng dẫn giặt tẩy, kích cỡ
Đối với hàng thủ công mỹ nghệ và quà tặng, nhãn cộng đồng CE có thể đợc
áp dụng cho từng sản phẩm
Trang 23Nhãn mác hàng hoá của các loại thực phẩm và đồ uống có chứa chất kýninh hoặc cafein phải đợc ghi rõ thành phần trên bao bì, và phải ghi rõ hàm lợngcafein.
Các sản phẩm có liên quan đến sức khoẻ của ngời tiêu dùng phải có ký mãhiệu theo quy định cuả EU nh đồ chơi trẻ em, đồ uống có chứa cafein, thiết bị
điện áp thấp, thiết bị y tế, nguyên vật liệu xây dựng, cấm dùng những hoá chất
mà thuộc danh mục EU cấm sử dụng trong nuôi trồng hay bảo quản thực phẩm.Ngoài ra các mặt hàng sau đây phải tuân thủ quy chế về nhãn mác đặc biệt:vôi, ximăng, và chất gắn kết tơng tự, đàn piano, kèn acmônica và những nhạc cụtơng tự, cặp nhiệt độ, thuốc bán theo đơn, mỹ phẩm
Việc nhập khẩu một số mặt hàng nh thức ăn đóng gói, rợu mạnh chng cấtbia, rợu vang, dấm và thực phẩm phải tuân theo những quy định đặc biệt, theo đónhững mặt hàng này phải có nhãn thể hiện nhà sản xuất, thành phần, dungtích/khối lợng, nớc xuất xứ Do tính phức tạp của quy định này và việc thay đổiyêu cầu về nhãn mác nên cần phải nắm đợc thông tin từ nhà nhập khẩu trớc khichuyển hàng
1.2.3 Quy định về nhãn hiệu hàng hoá và bảo hộ sở hữu công nghiệp
* Quy định về nhãn hiệu hàng hoá: Nhãn hiệu là tên gọi, thuật ngữ, dấu
hiệu biểu tợng, thiết kế hay tổng hợp những điều này nhằm xác định nhữnghàng hoá và dịch vụ mà ngời bán cố gắng phân biệt với hàng của đối thủcạnh tranh (Định nghĩa cuả Hiệp Hội Marketing Mỹ) Nếu không có nhãnhiệu, ngời tiêu dùng không thể phân biệt hàng hoá này với hàng hoá khác
EU quy định nhãn hiệu cơ bản có thể hình thành bằng chữ, bằng hình vẽ lẫnchữ với nhiều màu sắc khác nhau Dùng những phơng tiện này nhà sản xuất cóthể tạo nên rất nhiều loại hình nhãn hiệu khác nhau phù hợp với từng mặt hàngcủa từng đối tợng tiêu thụ EU không dùng các loại nhãn hiệu sau đây:
- Giống quốc kỳ, quốc huy hay quân huy của nớc nào đó,
- Huy hiệu hay giống huy hiệu vủa một đoàn thể xã hội nào đó,
- Trùng hoặc giống hệt một nhãn hiệu đã đợc đăng ký hay đã đợc dùng,
- Chân dung ngời khác mà cha đợc sự đồng ý của ngời đó,
- Chân dung hay tên lãnh tụ,
- Dùng tên địa lý… trong khi đó các biện pháp chống
Trang 24Nhãn hiệu hàng hoá muốn đăng kí ở các nớc tham gia công ớc quốc tế vềbảo vệ quyền sở hữu công nghiệp thì phải đăng kí trớc ở trong nớc hội viên vàkhi đã đợc đăng kí ở một nớc hội viên thì chỉ cần thông báo cho các nớc thànhviên khác biết là coi nh đã đợc đăng kí ở tất cả các nớc hội viên khác.
* Các quy định về bảo hộ sở hữu công nghiệp
EU đã tham gia Công ớc Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp Đối tợng bảo
hộ bao gồm patent, mẫu hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu dịch vụ, tênthơng mại, chỉ dẫn nguồn gốc hoặc tên gọi xuất xứ và chống cạnh tranh lànhmạnh Sở hữu công nghiệp ở đây đợc hiểu theo nghĩa rộng nhất không chỉ ápdụng cho công nghiệp và thơng mại theo đúng nghĩa của chúng mà cho cácngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp khai thác và tất cả các sản phẩm côngnghiệp tự nhiên và sản phẩm tự nhiên nh rợu ngũ cốc, thuốc lá, gia súc, hoa quả,khoáng sản, nớc ngọt bia, hoa và bột
Để giúp các chủ sở hữu nhãn hiệu tiến hành đăng kí nhãn hiệu hàng hoácủa mình vào các nớc Châu âu thuận lợi, nhanh chóng và đỡ tốn kém hơn, Cộng
đồng Châu Âu đã lập ra một hệ thống đăng kí nhãn hiệu hàng hoá riêng, độc lậpvới các nớc thuộc cộng đồng Nhãn hiệu hàng hoá đợc đăng kí thông qua hệthống này đợc gọi là nhãn hiệu cộng đồng hay còn gọi là CTM là các chữ cái đầu
của tên tiếng Anh "Community Trade Mark" Khi đăng kí nhãn hiệu hàng hoá
qua hệ thống đăng ký CTM, chủ sở hữu nhãn hiệu chỉ phải nộp một đơn duynhất cho một cơ quan đợc đăng kí đợc thành lập riêng, độc lập với hệ thống đăng
kí quốc gia của mỗi nớc thành viên Để đợc đăng kí CTM, nhãn hiệu phải đợc cả
15 nớc trong cộng đồng đồng ý Sau khi đợc đăng kí tại cơ quan đăng kí này,nhãn hiệu đó sẽ có hiệu lực ở tất cả các nớc thành viên Cộng Đồng Châu Âu.Ngợc lại, nếu nhãn hiệu bị huỷ bỏ hay mất hiệu lực ở một nớc thành viên thì đ-
ơng nhiên bị mất hiệu lực trong cả Cộng Đồng
Vì hệ thống đăng kí CTM là độc lập và không có ảnh hởng đối với hệ thống
đăng kí quốc gia của mỗi nớc thành viên cộng đồng, nên chủ sở hữu nhãn hiệuhoàn toàn tự do nộp đơn đăng kí nhãn hiệu CTM, hoặc nộp đơn quốc gia, hoặccả hai Điều này có nghĩa là nhãn hiệu CTM và nhãn hiệu đăng ký quốc gia đều
có thể song song tồn tại
Trang 25Đơn đăng kí CTM đợc nộp cho cơ quan đăng ký có tên là "The Office forHarmonization in the Internal Market" có tên viết tắt là OHIM có trụ sở đóng tạiTây Ban Nha Văn phòng này chính thức hoạt động từ 1/4/1996.
* Chủ thể nộp đơn CTM bao gồm :
- Cá nhân, pháp nhân thuộc các nớc thành viên Cộng đồng Châu Âu ;
- Cá nhân, pháp nhân thuộc các nớc thành viên Công Ước Paris hay Hiệp
để sử dụng khi tiến hành các thủ tục, ví dụ nh phản đối đơn, khiếu nại, huỷ bỏhiệu lực… trong khi đó các biện pháp chống
Loại nhãn hiệu đợc đăng kí là: nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, nhãnhiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận
*Thủ tục nộp đơn :
Tài liệu thông tin cần cung cấp :
- Tên đầy đủ, địa chỉ, số điện thoại, số fax (nếu có) và quốc tịch củangời nộp đơn ;
- Giấy uỷ quyền của ngời nộp đơn ;
- 5 mẫu nhãn hiệu cần đăng ký ;
- Danh mục hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu ;
- Phân loại quốc tế hàng hoá, dịch vụ (nếu biết)
*Xét nghiệm đơn :
Trang 26Đơn sau khi nộp ở OHIM sẽ đợc cơ quan này xét nghiệm về hình thức Nếu
đơn có đủ các thông tin và các tài liệu nêu trên, ngày nộp đơn đợc ghi nhận Sau
đó đơn đợc chuyển sang xét nghiệm nội dung
Trong giai đoạn xét nghiệm nội dung, nhãn hiệu ghi trong đơn chỉ đợc xétnghiệm trên cơ sở tuyệt đối tức là đánh giá về khả năng phân biệt của nhãn hiệu,
ví dụ nhãn hiệu thuộc các dấu hiệu loại trừ theo quy định của pháp luật haykhông; có trái với trật tự công cộng và đạo đức xã hội hay không; nhãn hiệu cógây nhầm lẫn với công chúng về bản chất, nguồn gốc địa lý của hàng hóa và dịch
vụ mang nhãn hiệu hay không
*Phản đối đơn
Sau khi đơn đợc công bố trên công báo CTM, các bên thứ 3 có quyền lợi vàlợi ích liên quan nếu có căn cứ rằng việc đăng ký nhãn hiệu trong đơn sẽ gâythiệt hại đến quyền và lợi ích của mình có thể tiến hành thủ tục phản đối đơntrong vòng 3 tháng kể từ ngày công bố đơn Các lý do để phản đối đơn bao gồmnhng không giới hạn ở những lý do chính sau :
Nhãn hiệu trong đơn trùng hoặc tơng tự gây nhầm lẫn với CTM đã đợc
đăng ký trớc hoặc nộp trớc;
Nhãn hiệu trong đơn trùng lặp hoặc tơng tự với nhãn hiệu trong đơn quốcgia hoặc đã đợc đăng ký quốc gia hoặc nộp đơn quốc gia trớc, hoặcnhãn hiệu đăng kí quốc tế đang có hiệu lực ở các nớc thành viên cộng
* Thời hạn bảo hộ và gia hạn hiệu lực
Nhãn hiệu CTM sau khi đợc đăng ký sẽ có hiệu lực 10 năm kể từ ngày nộp
đơn và có thể đợc gia hạn nhiều lần liên tục, mỗi lần 10 năm, và chủ sở hữu phảinộp lệ phí gia hạn Khi gia hạn, chủ sở hữu không phải nộp bằng chứng sử dụngnhãn hiệu
Nh vậy, các doanh nghiệp muốn xuất khẩu sang thị trờng EU thì có thể
đăng kí thơng hiệu vào thị trờng này thông qua hệ thống CTM CTM không yêu
Trang 27cầu nớc xuất xứ của doanh nghiệp có nhu cầu đăng kí thơng hiệu phải gia nhậpvào hệ thống này Chi phi cho một lần đăng kí là 4000 USD nộp trực tiếp đơncho văn phòng OHIM không cần qua Cục sở hữu công nghiệp Nh vậy ở mỗi nớcdoanh nghiệp chỉ tốn vài trăm USD CTM không yêu cầu doanh nghiệp phải cóhàng hoá ở tất cả các nớc trong EU mà chỉ cần tại một nớc Và doanh nghiệpcũng không cần phải đăng kí tại Việt Nam trớc khi đăng kí vào EU.
ở Việt Nam đa số là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, việc đăng ký thơng hiệuvào từng nớc chiếm một chi phí khá lớn trong khi doanh nghiệp xuất khẩu vớimột số lợng nhỏ Do đó hệ thống này giúp doanh nghiệp mở rộng đợc thị trờng,
đồng thời bảo vệ đợc thị phần của mình ở các nớc khác
EU ngày nay đợc coi là một đại quốc gia ở Châu Âu Cùng với các chínhsách thơng mại và chính sách ngoại thơng, các quy định pháp lý đợc xây dựngnhằm tạo cơ hội kinh doanh cho mọi đối tợng trong thị trờng chung và ngănngừa cạnh tranh không lành mạnh bắt nguồn từ sự méo mó về thơng mại Một thịtrờng lành mạnh không thể vận hành một cách suôn sẻ nếu không thống nhất cácquy định và điều kiện cạnh tranh áp dụng Đối với các quốc gia có quan hệ thơngmại với Liên Minh Châu Âu EU, việc nghiên cứu và áp dụng các quy định pháp
lý nêu trên có ý nghĩa hết sức quan trọng Trong xu thế hội nhập mở cửa hiệnnay, nắm bắt thời cơ và hiểu rõ thị trờng sẽ giúp các quốc gia có thể định hớngchính sách phát triển, thúc đẩy quan hệ buôn bán và hoà nhập với nền kinh tế thếgiới Với thị trờng EU, việc quan hệ với khối liên minh này sẽ đem lại cho cácquốc gia nhiều cơ hội cũng nh cả những thách thức
Về phía Việt Nam, kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao với EU năm 1990,quan hệ kinh tế thơng mại ngày càng phát triển và đợc củng cố về mọi mặt Đặcbiệt trong những năm gần đây, Việt Nam đang xúc tiến, khai thông, hoà nhậpvào thị trờng EU Trên thực tế vấn đề hoà nhập này không phải dễ dàng khinhững quy định pháp lý và những rào cản thơng mại luôn gây trở ngại cho phíadoanh nghiệp Việt Nam Mặc dù đứng trớc những thử thách lớn nh vậy nhngViệt Nam cũng đã xác định EU là thị trờng có thể thâm nhập đợc Để tìm hiểu rõhơn điều đó, nội dung của chơng tiếp theo sẽ trình bày cụ thể thực tiễn vận dụngcác quy định pháp lý của doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trờngEU
Chơng 2Thực trạng việc áp dụng các quy định pháp lý vềchất lợng và nhãn hiệu sản phẩm của EU ở các doanhnghiệp Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trờng này
Trang 282.1 Tổng quan về hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang thị trờng EU
2.1.1 Giá trị kim ngạch xuất khẩu
Ngay sau khi chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1990, việc buôn
bán giữa Việt Nam và EU phát triển khá mạnh Hiệp định dệt may“ ” kí kết năm
1993 và Hiệp định hợp tác giữa Cộng Hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và“
Cộng Đồng Châu Âu” năm 1995 đã đánh dấu bớc đột phá trong mối quan hệ
giữa Việt Nam và EU Việc kí kết các hiệp định này đã mở ra những triển vọngmới trong quan hệ hợp tác và tạo cơ sở pháp lý cho sự phát triển các mối quan hệbền chặt lâu dài giữa Việt Nam-EU cũng nh các nớc thành viên Kể từ sau khiHiệp định đợc kí kết, các cơ hội kinh doanh, xuất khẩu mở ra đối với các doanhnghiệp Việt Nam Trên cơ sở khai thác các điều kiện thuận lợi trong quan hệ, kếtquả xuất khẩu của Việt Nam đã tăng trởng đáng kể Tốc độ tăng kim ngạch xuấtkhẩu sang thị trờng EU giai đọan 1991-2002 đạt trung bình trên 50% (xem bảng1) Theo báo cáo của Tổng Cục Hải Quan thì ở giai đoạn 1991-1994, kim ngạchxuất khẩu của Việt Nam sang EU cha cao, trung bình tăng 38,67% do hai bêncha kí đợc hiệp định hợp tác nên buôn bán vẫn do từng bên đơn phơng quyết
định Phía EU xếp Việt Nam vào hàng cuối trong thứ tự phát triển u tiên buônbán, hàng xuất khẩu của Việt Nam đều là đối tợng có hạn ngạch Tuy nhiên từnăm 1995 trở lại đây, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trờng này tănglên nhanh Nếu năm 1995, kim ngạch xuất khẩu đạt 720 triệu USD, gấp 6 lầnkim ngạch năm 1991 thì năm 1999 tăng lên 2506,3 triệu USD gấp 22,3 lần kimngạch xuất khẩu năm 1991, năm 2000 tăng lên 2636,9 triệu, gấp hơn 23,5 lầnkim ngạch xuất khẩu của năm 1991 Năm 2002, kim ngạch xuất khẩu mà ViệtNam đạt đợc sang thị trờng EU là 2801,2 triệu USD gấp hơn 25,6 lần kim ngạchxuất khẩu của năm 1991
Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU giai đoạn 1991-2002
Trang 294 Tốc độ
tăngtrởng% -20,8 87,6 87,6 78,6 32,2 17,9 13,2 12,9 14,5
Nguồn: Báo cáo của Tổng Cục Hải Quan, Bộ Thơng Mại
Rõ ràng, trị giá xuất khẩu của Việt Nam sang thị trờng tăng lên nhanhchóng nhng tốc độ hàng năm không ổn định và lên xuống thất thờng Năm 1995,kim ngạch xuất khẩu tăng 87,6% so với năm 1991, năm 1996 tăng 25,15% sovới năm 1995 Năm 1997 tăng 78,6% sơ với năm 1996, năm 1998 chỉ tăng32,2% so với năm 1997 Bên cạnh đó, nếu so sánh tốc độ gia tăng kim ngạchxuất khẩu cả nớc và xuất khẩu sang EU ta thấy tỷ trọng nhập khẩu của EU từViệt Nam tăng không nhanh bằng tỷ trọng xuất khẩu của cả nớc
Nguyên nhân dẫn đến tốc độ tăng trởng xuất khẩu của Việt Nam sang EUgiảm vào năm 1996 là do hai mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam bị giảmmạnh:
- Đối với hàng thuỷ sản: do ở nhiều khu vực trong nớc tôm bị bệnh dịch
chết hàng loạt (tôm chiếm 50% giá trị thuỷ sản xuất khẩu)
- Đối với mặt hàng cà phê: cũng giảm do giá thị trờng thế giới giảm
nhiều (cà phê xuất khẩu vào EU chiếm 44,9% tổng kim ngạch xuất khẩumặt hàng này)
Trong khi đó nguyên nhân làm cho kim ngạch xuất khẩu của Việt Namsang EU năm 1998 tăng trởng thấp hơn nhiều so với mức tăng trởng năm 1997 là
do tất cả các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đều gặp trở ngại trên thịtrờng EU do các quy định quản lý nhập khẩu của EU gây ra Cụ thể là: mặt hànggiày dép có nguy cơ bị ấn định hạn ngạch Mặt hàng thuỷ sản có khó khăn do
EU cha nhập khẩu nhuyễn thể và cha chấp nhận các nhà máy chế biến thuỷ sảnxuất khẩu của Việt Nam vào danh sách 1 (đợc xuất khẩu thẳng vào EU) ViệtNam lại không đợc coi là nớc có nền kinh tế thị trờng nên các loại hàng hoá củaViệt Nam còn phải chịu sự phân biệt đối xử so với hàng hoá các nớc khác khi
EU xem xét áp dụng các biện pháp chống bán phá giá Nh vậy, những nội dungpháp lý về chất lợng sản phẩm đã ảnh hởng đáng kể đến việc xuất khẩu hàng hoátrong nớc
Từ năm 1999 thì mức tăng trởng lại giảm xuống còn 17,9% so với năm
1998 và giảm xuống 13,2% vào năm 2000, mức này vẫn tiếp tục giảm khi bớcsang năm 2001 Điều này thể hiện việc xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang
Trang 30EU suy giảm Đặc biệt, một số hàng hoá xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang
EU nh giày dép, dệt may giảm 30% sản lợng Nếu so với 6 tháng đầu năm 2001với cùng thời gian năm 2000 cho thấy hàng hoá xuất khẩu cuả Việt Nam sangTây Ban Nha bằng 80%, Hà Lan bằng 85%, Anh bằng 90%, chỉ có riêng Pháp,
Đức, Thuỵ Điển là không giảm (tăng ít hơn 2%) Nguyên nhân của hiện tợng nàychính là do đồng tiền chung Châu Âu (EURO) cha thật ổn định Thực tế, trongthời gian quý I năm 2001, đồng EURO đã giảm giá 20% so với đồng USD, dẫn
đến mức tiêu dùng cũng giảm theo Điều này là một tác động quan trọng làmcho hàng hoá của Việt Nam giảm mạnh ở thị trờng EU Tuy nhiên, hiện nay
đồng EURO đã tăng giá và khá ổn định so với đồng USD Điều này cũng khiếncác nhà kinh doanh tin tởng vào triển vọng xuất khẩu của Việt Nam năm 2003 sẽtăng lên đáng kể Do đồng Việt Nam sẽ tơng đối rẻ đi tơng đối so với đồngEURO, Việt Nam sẽ khai thác đợc lợi thế của một đồng ngoại tệ mạnh và thếmạnh của tỷ giá hối đoái có lợi cho xuất khẩu từ đó khuyến khích xuất khẩuhàng hoá vào EU
Về bạn hàng của Việt Nam, hiện cả 15 nớc thành viên EU đều có quan hệbuôn bán với Việt Nam Trong số các nớc bạn hàng EU của Việt Nam đứng đầu
là Đức sau đó đến Pháp, Anh, Hà Lan, Bỉ, Italia Trong đó kim ngạch xuất khẩucủa Việt Nam sang Pháp tuy tăng giảm không ổn định nhng vẫn chiếm tỷ trọnglớn trong trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.Tỷ trọng xuất khẩu sang
Đức tới 28,4%, Pháp (20,7%), Anh (12,7%), Italia (9,6%), Bỉ- Luxembourg(8,1%) và Hà Lan (7,6%),Tây Ban Nha (4,2%), Thuỵ Điển (2,8%), Đan Mạch(2,2%), áo (1,4%), Phần Lan (0,9%), Hy Lạp và Bồ Đào Nha (0,4%)
2.1.2 Mặt hàng
Mặc dù EU là một thị trờng “khó tính”, khó thâm nhập, nhng Việt Nam đã
có những điểm thuận lợi để có thể chen chân vào trong thị trờng này Cơ cấuhàng xuất khẩu có sự thay đổi tuỳ từng giai đoạn nhất định Trong những năm1991-1992, mặt hàng chủ lực của Việt Nam là gạo, nông sản (gạo chủ yếu xuấtsang nớc thứ 3) Từ khi hai bên kí kết Hiệp định hàng dệt may thì trong các năm
từ 1992 đến 1997, mặt hàng chủ lực của Việt Nam chủ là hàng dệt may, giàydép, thuỷ hải sản Hiện nay, cơ cấu mặt hàng của Việt Nam sang EU chủ yếu tậptrung vào các mặt hàng truyền thống: Giày dép, dệt may, cà phê, gạo, cao su,than đá, điều nhân, rau quả, hàng thủ công mỹ nghệ và thuỷ hải sản Những mặthàng này chiếm 79% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào EU Trong đó
Trang 31riêng giày dép chiếm 30%, dệt may chiếm 25% cà phê và hải sản chiếm trên dới14% Từ năm 1996 đến nay, trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam xuấthiện thêm một số mặt hàng nh: đồ chơi trẻ em, đồ thể thao, đồ gỗ nội thất và cácsản phẩm gốm Kim ngạch các mặt hàng này đã không ngừng tăng lên đặc biệt
K.lợng (ngàn tấn)
Giá trị (Tr USD)
K.lợng (ngàn tấn)
Giá trị (Tr USD)
Nguồn : Vụ kế hoạch- Thống kê- Bộ Thơng mại
Ngoài những mặt hàng truyền thống, hàng xuất khẩu của Việt Nam cònxuất hiện những mặt hàng mới, phù hợp với nhu cầu của thị trờng EU và khaithác đợc thế mạnh của Việt Nam nh hàng điện tử, linh kiện vi tính, chỉ tính riêngkim ngạch xuất khẩu hai mặt hàng này đã đạt 78,6 triệu USD chiếm tỷ trọng17% trong tổng kim ngạch xuất khẩu Bớc đầu hoạt động xuất khẩu các mặthàng trên đã gặt hái đợc những thành công và thâm nhập đợc vào thị trờng tiềmnăng này
Xét theo ngành có thể thấy: các mặt hàng chế biến chiếm 65,5%, thựcphẩm:19,7%; nguyên liệu thô: 7,8%; nhiên liệu và khoáng sản: 2,9%; trong đóhai mặt hàng giữ vai trò chính là giày dép: 38,6% và dệt may 21,3% Sở dĩ cótình hình này là do đây là những mặt hàng mà Việt Nam có lợi thế về lao động
rẻ, đợc phía EU đặt hàng dới hình thức gia công; đợc EU cấp hạn ngạch và giành
u đãi GSP đối với nhóm nớc kém phát triển Tuy nhiên trong những năm gần
đây, một số mặt hàng chế biến có hàm lợng kỹ thuật cao (nh hàng điện tử) đã cókim ngạch tăng lên đáng kể, góp phần đa tỷ trọng hàng xuất khẩu của Việt Nam
Trang 32sang EU tăng lên, với khoảng 70% tổng kim ngạch và tỷ trọng hàng nguyên liệuthô giảm xuống còn 30%.
Có thể nói các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào thị trờng EUhiện nay là những mặt hàng mà chúng ta đang có tiềm năng, lợi thế về nguồn lực
để sản xuất khai thác và phát triển để xuất khẩu
2.2 Thực tiễn việc áp dụng các quy định pháp lý về chất lợng và nhãn hiệu sản phẩm với các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trờng EU không ngừng tăng cả
về lợng và về chất Tuy nhiên tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu còn nhỏ bé cha tơngxứng với tiềm năng của hai bên Thực tế cho thấy, một trong những nguyên nhânquan trọng hạn chế cơ hội xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam chính làhành lang pháp lý của liên minh này Để quản lý chất lợng, EU đã áp dụng Bộtiêu chuẩn ISO 9000 và ISO 14000 cùng với những quy định rất khắt khe về tiêuchuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm và môi trờng Ngoài ra EU cũng đa ra các quy
định cụ thể về nhãn hiệu và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với mỗi mặthàng Nhận thức đợc điều đó, các doanh nghiệp cũng đã cố gắng tuân thủ cácquy định pháp lý để tạo nền tảng, từng bớc mở rộng mặt hàng xuất khẩu Hơnnữa các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đang hớng tới tiêu chí làm ngời tiêudùng Châu Âu quen dần với nhãn mác của hàng hoá Việt Nam, từng bớc hìnhthành tập quán và thói quen tiêu dùng hàng Việt Nam Tuy nhiên, căn cứ vào khảnăng của Việt Nam thì tốc độ tăng vào thị trờng EU vẫn cha tơng xứng Mộtnguyên nhân quan trọng ở đây là do việc vận dụng các quy định về nhãn hiệu vàchất lợng sản phẩm của từng mặt hàng Ta xem xét thực tiễn xuất khẩu một sốmặt hàng chủ yếu để rút ra một số vấn đề cần xúc tiến đồng thời giải quyếtnhững vấn đề còn tồn tại liên quan đến các quy định pháp lý của Liên minh Châu
Âu EU nhằm tăng kim ngạch xuất khẩu của hàng hoá Việt Nam sang thị trờngnày
2.2.1 Hàng dệt may
Đây là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sau dầu thô vì vậy kết quảxuất khẩu của mặt hàng này có ảnh hởng rất lớn đến tổng kim ngạch Hơn nữa,việc đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng này còn có ý nghĩa rất lớn do ngành dệt maythu hút đợc khá nhiều lao động và với điều kiện ở Việt Nam thì việc khai tháctiềm năng lao động dồi dào này là hết sức quan trọng
Trang 33Theo số liệu thống kê của Vụ kế hoạch thống kê- Bộ Thơng Mại, năm 1993giá trị xuất khẩu sang thị trờng EU lớn, chiếm tới 75,6% kim ngạch xuất khẩudệt may cả nớc do đây là năm đầu tiên áp dụng hạn ngạch Vào năm 1996, Hiệp
Định buôn bán hàng dệt may Việt Nam-EU chính thức có hiệu lực và 450 triệuUSD là kết quả đạt đợc, có mức tăng gần 30 % so với năm 1995 Năm 1997,Hiệp định dệt may mới đợc kí kết cho giai đoạn 1998-2000 Nếu so với hạnngạch năm 1993 thì hạn ngạch năm 1998 tăng khoảng 80% và có đến 25 chủngloại hàng đã ra khỏi danh mục quản lý bằng hạn ngạch Giai đoạn 2000-2002,
EU tăng hạn ngạch cho Việt Nam với 16 mã hàng may mặc xuất khẩu sang EU
Điều này tạo điều kiện xuất khẩu cho các mặt hàng này vào thị trờng EU Vìvậy, giá trị xuất khẩu năm 2002 đạt hơn 750 triệu USD bằng 300% giá trị năm
1993 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào EU tăng liên tục với tỷ lệ bìnhquân là 40% thời kì 1993-2002 Điều đáng nói ở đây là tỷ trọng dệt may vào EUchiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nớc Kết quả này rất
đáng khích lệ Chỉ sau 10 năm hợp tác, EU đã trở thành thị trờng chính trongxuất khẩu dệt may của Việt Nam
Hiện cả nớc có trên 440 doanh nghiệp trực tiếp xuất khẩu hàng dệt may đi
EU So với năm 1993 mới chỉ có 148 doanh nghiệp thì đó là một bớc phát triểntốt đẹp Các quốc gia nhập hàng dệt may của Việt Nam là Cộng hoà Liên Bang
Đức, tiếp sau là Pháp, Hà Lan, Anh, Italia, Tây Ban Nha, Thuỵ Điển, Hy Lạp, Bồ
Đào Nha Nh vậy có tổng số 10 trên 15 quốc gia thành viên EU đã tiếp nhận mặthàng dệt may của Việt Nam Nhng chúng ta cũng phải thấy rằng, quy mô xuấtkhẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU còn thấp so với tiềm năng kinh tế củaViệt Nam và nhu cầu nhập khẩu của EU Do bị hạn chế bởi hạn ngạch và thuếsuất nhập khẩu cao, đồng thời phải đáp ứng các đòi hỏi khắt khe của ngời tiêudùng về mẫu mã, chất lợng cũng nh gặp phải sự cạnh tranh gay gắt từ TrungQuốc và các nớc trong khu vực nh ấn Độ, Philippines, Đài Loan nên tỷ trọnghàng dệt may xuất khẩu chỉ chiếm 0,5% giá trị hàng dệt may của EU Mặc dùvậy, hàng hoá của chúng ta cũng đã đợc các nớc EU đánh giá cao về chất lợngsản phẩm, đảm bảo tiêu chuẩn hàng xuất khẩu nhập vào EU
Trong số các chủng loại hàng may mặc xuất khẩu sang EU, hầu hết cácdoanh nghiệp may mới chỉ tập trung vào các sản phẩm dễ làm, các mã hàngnóng nh áo Jacket 2 lớp hoặc 3 lớp, áo váy sơ mi áo Jacket chiếm vị trí hàng
đầu trong cơ cấu hàng dệt may xuất khẩu sang EU, tuy vậy 90% nguyên liệu củamặt hàng này là ngoại nhập, thậm chí còn do bên đặt hàng cung cấp cho ta Do
Trang 34vậy kim ngạch xuất khẩu cao nhng lợi nhuận cha tơng xứng Hình thức xuấtkhẩu chủ yếu của hàng Việt Nam sang thị trờng này là gia công, chiếm tỷ trọngtrên 80% trong tổng kim ngạch xuất khẩu 70% hàng dệt may xuất khẩu sang
EU thông qua các thị trờng Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Singapore Các
n-ớc này nhập khẩu hoặc thuê Việt Nam gia công rồi tái xuất sang EU Do vậyhàng của Việt Nam chỉ đạt đợc 30-40% yêu cầu về xuất xứ Điều này làm suygiảm đáng kể giá trị xuất khẩu của nớc ta, thậm chí còn gây nên những phức tạptrong việc kiểm soát xuất xứ và tuân thủ quy định về kiểm soát xuất xứ hàng hoácủa EU
Vì vậy, để mở rộng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trờng EUchúng ta phải tuân thủ chặt chẽ các quy định pháp lý của EU, mặt khác cũngphải đề ra các biện pháp để tăng sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị trờng này
2.2.2 Hàng giày dép
Giày dép là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam sang thị trờng EUhiện nay, trớc đây xuất khẩu giày dép của Việt Nam phải chịu sự giám sát (xinphép trớc), nhng sau khi kí hiệp định hợp tác vào ngày 17/7/1995 nhóm hàngnày đợc nhập khẩu tự do vào EU Chính vì vậy kim ngạch xuất khẩu của mặthàng này liên tục tăng nhanh, là một trong những nhóm dẫn đầu trong giá trị kimngạch xuất khẩu của Việt Nam nói chung và sang thị trờng EU nói riêng (Bảng3) Khả năng xuất khẩu mặt hàng này vào EU sẽ còn tiếp tục tăng vì chúng takhông phải chịu hạn ngạch nh hàng dệt may và hệ thống u đãi thuế quan phổ cậpGSP áp dụng từ 01/07/1999 cho phép mặt hàng này hởng mức thuế nhập khẩuthấp hơn các nớc khác chỉ bằng 70% mức thuế thông thờng
Chỉ trong thời gian ngắn gần đây, giày của các hãng nổi tiếng nh Nike,Adidas, Reebook, Fiki… trong khi đó các biện pháp chốngsản xuất tại nớc ta đã đợc tiêu thụ tại các nớc Tây Âu,Canada, Bắc Mỹ
Việt Nam là một trong 5 nớc có khối lợng giày dép xuất khẩu lớn nhất vàothị trờng EU với lý do là : giá rẻ, chất lợng và mẫu mã đợc thị trờng này chấpnhận Nếu năm 1996, theo EU thì Việt Nam đứng thứ 3 khu vực Châu á sauTrung Quốc và Inđônêxia với số lợng đạt khoảng 92,8 triệu đôi, về giày vải thìViệt Nam đứng hàng thứ 2 sau Trung Quốc thì hiện nay Việt Nam là nớc đứngthứ 2 chỉ đứng sau có Trung Quốc EU là thị trờng lớn nhất của giày dép xuấtkhẩu của Việt Nam, chiếm 74% kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của ViệtNam Tình hình xuất khẩu giày dép vào thị trờng này cụ thể nh sau :
Trang 35Bảng 3 : Kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang thị trờng EU
Đơn vị : TriệuUSD
Năm 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 Kim
ngạch 271 380 520 457,3 625,8 933,3 1225,5 1431,5 1524,5
Nguồn: Báo cáo thờng niên của Tổng cục Hải Quan
Năm 1994, trong 10 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn sang thị trờng
EU, giày dép vẫn giữ vị trí thứ 5 nhng trong những năm gần đây tăng nhanh vợtcả dệt may Năm 1997, xuất khẩu giày dép đứng thứ 2 sau gạo với kim ngạchtăng 454,3 triệu USD Đặc biệt trong năm 1998, 1999 mặt hàng này có sự bứtphá ngoạn mục với giá trị kim ngạch xuất khẩu chiếm tới 30 % tổng kim ngạchxuất khẩu sang EU, vợt qua cả dệt may để chiếm vị trí số 1 Để có đợc thànhcông này, các doanh nghiệp đã chủ động thiết kế mẫu mã, triển khai sản xuất,nhanh chóng đáp ứng đợc nhu cầu khách hàng Bên cạnh đó, họ cũng chủ độngtìm kiếm bạn hàng, kí kết đợc các hiệp định trực tiếp, tích cực đầu t thêm máymóc thiết bị mới với quy mô hợp lý cũng nh việc làm tốt công tác xúc tiến mậudịch
Các sản phẩm giày dép của Việt Nam chủ yếu xuất sang EU chủ yếu làgiày thể thao chiếm trên 40% kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang
EU, giày vải chiếm gần 20%, giầy nữ chiếm xấp xỉ 15%, dép khoảng 17%, giày
da chiếm hơn 1,5% Thị trờng xuất khẩu giày dép lớn trong Liên minh Châu Âu
là Đức (25,3%), Anh (20,1%), Pháp (14,3%), Bỉ (12,3%), Italia (8,1%), Hà Lan(37,9%), Tây Ban Nha (4,6%), Thuỵ Điển (2,2%), Đan Mạch (1,3%), Hy Lạp,Phần Lan và áo (0,8%), Ailen (0,6%), Bồ Đào Nha (0,2%) và Lucxambua(0,1%)
Tuy nhiên hiện nay EU đang nghi ngờ trong số các sản phẩm giày dép củaViệt Nam xuất sang EU có một số lợng lớn xuất xứ từ các nớc khác Trớc tìnhhình đó, Việt Nam và EU đã kí bản ghi nhớ về chống hiện tợng gian lận thơngmại đó Phía Việt Nam đã cấp giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) mặt hàng giày dép
từ 01/01/2000 còn EU đã không áp dụng hạn ngạch đối với mặt hàng này củaViệt Nam Mặc dù vậy giày dép xuất khẩu của Việt Nam vẫn phải lo đối phó với
Trang 36đối thủ cạnh tranh chính là Trung Quốc Trung Quốc đợc đánh giá có lợi thế vềngành giày da vì nguồn nguyên liệu đáp ứng đợc một cách chủ động và giá rẻcho ngành giày da và sản xuất phụ kiện trong nớc Còn Việt Nam kém lợi thế vềmặt hàng này so với Trung Quốc do nguồn nguyên liệu trong nớc không đáp ứng
đợc sản xuất trong nớc Phần lớn mặt hàng giày dép xuất khẩu của Việt Nam làcác loại giầy thể thao theo các hợp đồng sản xuất hay gia công theo mẫu của nớcngoài Vì vậy việc xuất hàng của Việt Nam thiếu tính chủ động cả về nguyênliệu, giá cả và phơng thức hoạt động Các doanh nghiệp không nắm bắt đợc kịpthời những yêu cầu về chất lợng, giá cả và mẫu mã của thị trờng Do thờng chủyếu xuất khẩu theo hình thức gia công nên không có cơ sở nào quan tâm đến đadạng hoá và nâng cao chất lợng và cải tiến mẫu mã cho sản phẩm cho xuất khẩunên chất lợng sản phẩm của Việt Nam cha cao, mẫu mã đơn điệu kém khả năngcạnh tranh so với sản phẩm của một số nớc trong khu vực
Hiện nay mặc dù Trung Quốc đã gia nhập Tổ Chức Thơng mại Thế giới(WTO) nhng EU vẫn quyết định duy trì hạn ngạch với hàng giày dép của TrungQuốc đến năm 2005 Còn về phía Việt Nam lại đợc hởng thuế quan u đãi phổcập GSP=70% thuế suất thông thờng MFN và không bị áp dụng hạn ngạch, lợithế trong cạnh tranh này một mặt tạo thuận lợi lớn cho hàng Việt Nam, mặt kháccũng buộc Việt Nam phải đa ra các chiến lợc cạnh tranh cho sản phẩm này đặcbiệt là từ nay đến năm 2005 để làm cho hàng Việt Nam có vị thế và chỗ đứngvững chắc trên thị trờng EU Trong chiến lợc đó chúng ta cần:
- Tuân thủ tuyệt đối những quy định pháp lý và chất lợng và nhãn hiệu sảnphẩm do EU quy định
- Đổi mới thiết bị công nghệ đáp ứng nhu cầu sản xuất, gia công hàng xuấtkhẩu
- Phát triển công nghệ thiết kế nhạy bén với thị hiếu ngời tiêu dùng Châu
Âu
2.2.3 Hàng thuỷ sản
Hiện nay, Việt Nam đã và đang trở thành một trong những nớc xuất khẩuthuỷ sản đáng kể trên thế giới Nếu nh đầu những năm 90, thuỷ sản xuất khẩucủa Việt Nam có mặt ở 20 thị trờng trong đó thị trờng Nhật Bản chiếm tới 70-80% thì đến nay sản phẩm của Việt Nam đã xuất hiện tại hơn 60 thị trờng khácnhau ở khắp các châu lục
Trang 37Hàng thuỷ sản của Việt Nam đã có đợc những vị thế khá vững vàng tại cácthị trờng lớn với các yêu cầu rất cao về chất lợng nh ở thị trờng Nhật Bản, Bắc
Mỹ… trong khi đó các biện pháp chốngvà đặc biệt là hàng thuỷ sản đã tiếp cận ngày càng sâu vào thị trờng EU.Tuy vậy theo số liệu của Tổng cục thống kê, tốc độ tăng trởng trung bìnhxuất khẩu thuỷ sản của giai đoạn 1999-2002 đạt mức thấp Năm 1999, kimngạch xuất khẩu ngành thuỷ sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trờng EU đạt106,466 triệu USD chiếm 12,4% tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của ViệtNam Nhng sang năm 2000, kim ngạch xuất khẩu lại có sự giảm sút so với năm
1999 chỉ đạt 93,216 triệu (Bảng 4) Nguyên nhân của tình trạng này là do một số
điều kiện khách quan không thuận lợi mang lại nh thiên tai trong nớc xảy ra, thịtrờng nhập khẩu có quy định hạn chế tạm thời… trong khi đó các biện pháp chống
Đến năm 2001, hàng thuỷ sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trờng EU chiếm9% tổng lợng hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam Năm 2001, con số này lêntới 15,1%
Năm 2002 là năm ngành thuỷ sản gặp trở ngại lớn liên quan đến vụ bán phágiá cá basa Đồng thời phía EU cũng tăng cờng khâu kiểm tra vệ sinh chất lợngthuỷ sản không đợc khả quan Tỷ trọng xuất khẩu tăng không đáng kể so vớinăm 2001
Bảng 4: Tỷ trọng thị trờng nhập khẩu thuỷ sản theo giá trị (1999-2002)
Thị trờng
Giá trị (Tr $)
Tỷ trọng (%)
Giá trị (Tr $)
Tỷ trọng (%)
Giá trị (Tr $)
Tỷ trọng (%)
Giá trị (Tr $)
Tỷ trọng (%)
Mỹ 99,598 11,6 133,998 13,8 307,23 20,9 459,003 27,8 Nhật Bản 363,168 42,3 395,197 40,80 482,160 32,8 421,439 26,14 Trung Quốc
Nhận xét : Có thể thấy rằng sang năm 2001, trong bối cảnh tình hình kinh
tế thế giới sa sút, thị trờng thế giới có nhiều biến động lớn, mức độ cạnh tranhngày càng gay gắt, dẫn đến giá cả sụt giảm nghiêm trọng khiến cho các nhà sảnxuất, chế biến và xuất khẩu thuỷ sản sang EU gặp nhiều khó khăn song giá trị
Trang 38xuất khẩu vẫn tiếp tục tăng so với năm 2000 đã chứng tỏ hàng thuỷ sản của ViệtNam đã có đợc chỗ đứng khá vững chắc trên thị trờng EU.
Hiện nay mỗi năm Việt Nam xuất sang EU hàng chục ngàn tấn thuỷ sảntrong đó chủ yếu là các loại tôm đông lạnh, mực cá đông lạnh, cá hộp, thịt tômhỗn hợp và một số loại thuỷ sản khác nh nhuyễn thể hai mảnh vỏ Hiện EU là thịtrờng lớn thứ ba nhập khẩu hàng thuỷ sản của Việt Nam Cá biệt trong các nămNhật Bản và Đông Nam á khủng hoảng, thị trờng EU là giải pháp hữu hiệu chocác doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam
Tuy nhiên với trình độ phát triển công nghiệp và đời sống tiêu dùng chất l ợng cao, EU cũng đặt ra nhiều quy định tơng đối khắt khe đối với hàng nhậpkhẩu EU kiểm tra sản phẩm ngay từ nơi sản xuất và có các hệ thống báo độnggiữa các nớc thành viên Cùng với các quy định pháp lý về hàng nhập khẩu đợc
-đa ra nhằm hạn chế các sản phẩm đợc sản xuất với điều kiện cha đạt tiêu chuẩn.Năm 2002, một lô lớn hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam đã bị loại bỏ dokhông thực hiện đúng các quy cách ký mã hiệu, thời hạn sử dụng, nơi sản xuất
và điều kiện bảo quản đặc biệt Những điều kiện khắt khe là các thách thức rấtlớn đối với Việt Nam
Bộ Thuỷ Sản đang tiếp tục đổi mới không ngừng trang thiết bị kỹ thuật hiện
đại, đồng thời kêu gọi đầu t vào lĩnh vực quan trọng nhằm tăng cờng khả năngcạnh tranh cho hàng thuỷ sản Việt Nam trên thị trờng EU nói riêng và thị trờngthế giới nói chung Ngày 18/11/1999, EU đã chính thức công nhận Trung tâmkiểm tra chất lợng và vệ sinh thuỷ sản NAFIQACEN thuộc Bộ Thuỷ Sản ViệtNam là cơ quan kiểm soát điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm trong sản xuất vàtiêu thụ thuỷ sản của Việt Nam, đủ điều kiện để EU uỷ quyền kiểm soát hàngthuỷ sản vào EU Đồng thời EU đa hàng thuỷ sản của Việt Nam vào danh sách utiên loại 1 với đợt đầu với 18 doanh nghiệp đủ điều kiện xuất thẳng vào EU màkhông cần phải có những thoả thuận song phơng với từng nớc trong liên minhChâu Âu Điều này cho phép giảm bớt các hàng rào kỹ thuật đối với hàng thuỷsản của Việt Nam xuất vào các nớc EU, đồng thời mở ra một thị trờng đầy hứahẹn cho ngành thuỷ sản
Đầu năm 2002, EU đã có quyết định công nhận mới 32 doanh nghiệp vàodanh sách 1 đợc phép xuất khẩu thuỷ sản vào thị trờng này Tiếp đó, ngày1/8/2003, EU cũng đã có quyết định công nhận thêm 6 doanh nghiệp nữa đủ tiêu
Trang 39chuẩn xuất khẩu thuỷ sản sang EU (đây là các doanh nghiệp trớc đây bị loại khỏidanh sách 1) đa tổng số doanh nghiệp có code vào EU lên 100
Uỷ ban Châu Âu đã công nhận 5 vùng nhuyễn thể của nớc ta ở Tiền Giang
và Bến Tre Mới gần đây, phía EU cũng đã thông báo là chấp nhận thêm 5 vùngnuôi nhuyễn thể khác ở Cần Giờ (TP.HCM) và vùng biển Kiên Giang đạt điềukiện an toàn vệ sinh, làm nguyên liệu để sản xuất và xuất khẩu vào EU Nhờ đó
mà toàn bộ vùng nhuyễn thể của tất cả các vùng nuôi này đều có thể bán đợc vàothị trờng EU
Nh vậy có thể khẳng định rằng hàng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam đãdần dần đợc chấp nhận vào thị trờng khắt khe này Có thể dễ dàng nhận thấy thịtrờng EU vừa mang các yếu tố của một thị trờng tiêu thụ, vừa mang yếu tố giúpnâng cao uy tín cho hàng thuỷ sản trên thị trờng quốc tế Thị trờng EU ngày càng
đợc phát triển và tự khẳng định là một trung tâm kinh tế của thế giới Hơn nữa,
EU sang năm 2004 sẽ kết nạp thêm thành viên mới, tạo điều kiện để Việt Nam
mở rộng thêm thị trờng và nhu cầu tiêu thụ Chính vì vậy, ngành thuỷ sản ViệtNam cần nỗ lực hơn nữa để nâng cao chất lợng hàng hóa Bởi một khi đã đợc EUchấp nhận thì cũng không khó khăn gì cho các doanh nghiệp Việt Nam khi thâmnhập thị trờng lớn khác do tiêu chuẩn của EU đợc đánh giá rất cao trên thị trờngthế giới
Tuy nhiên có một vấn đề quan trọng đặt ra cho Việt Nam khi xuất khẩuthuỷ sản vào thị trờng EU đó là có rất nhiều đối thủ cạnh tranh nh Trung Quốc,các nớc ASEAN v.v… trong khi đó các biện pháp chống với các u đãi đợc hởng tại thị trờng giống Việt Nam.Nhiều nớc nh Thái Lan, ấn Độ… trong khi đó các biện pháp chống có những sản phẩm có chất lợng cao hơn,chủng loại phong phú hơn, mẫu mã đẹp hơn Nh vậy việc cải thiện năng lực cạnhtranh hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam sẽ đóng vai trò quyết định trongviệc chiếm lĩnh thị trờng EU
Trong giai đoạn từ nay đến năm 2004, khi Việt Nam vẫn còn đợc hởng chế
độ u đãi thuế quan phổ cập GSP của EU thì một số nớc thuộc ASEAN và TrungQuốc đã có trình độ phát triển cao hơn Việt Nam sẽ bị loại khỏi danh sách đợchởng GSP Đây chính là cơ hội để Việt Nam tăng nhanh đợc kim ngạch xuấtkhẩu của mình khi lợi thế cạnh tranh tơng đối tạm thời thuộc về nớc ta Nhng sau
đó khi EU huỷ hoàn toàn chế độ hạn ngạch và GSP đối với hàng hoá của các nớc
đang phát triển thì thách thức đến với Việt Nam sẽ nhiều hơn Tuy vậy, vẫn cóthể đánh giá triển vọng xuất khẩu của ngành thuỷ sản Việt Nam là hết sức khả
Trang 40quan vì đây là ngành mà Việt Nam chủ động đợc cả về khâu nguyên liệu và chếbiến.
2.2.4 Hàng nông sản
Mặt hàng nông sản xuất khẩu sang EU chủ yếu là cà phê, cao su, gạo, gia
vị, và một số rau quả Do đã và đang tập trung thành các khu vực sản xuất và chếbiến lớn, mang tính công nghiệp nên các mặt hàng cao su, cà phê, chè xuất khẩusang thị trờng EU khá ổn định với tốc độ tăng trởng cao (trong đó nhóm hàngchủ yếu là cà phê)
*Mặt hàng gạo
Việt Nam là nớc xuất khẩu gạo lớn trên thị trờng thế giới Tuy nhiên kimngạch xuất khẩu gạo sang EU không nhiều và có xu hớng giảm mạnh vì có 2mức thuế nhập khẩu đánh vào gạo rất cao: gạo nguyên hạt 100% và hạt gạo gãy100% Hơn nữa, chất lợng gạo Việt Nam cha cao, không kể đến phải cạnh tranhvới gạo Thái Lan do khâu giống, trình độ bảo quản, phơi sấy hay xát gạo còn rấtthấp nên gạo thờng gẫy và độ bóng không cao Chính vì vậy, kim ngạch xuấtkhẩu gạo sang EU năm 1998, 1999 và năm 2000 đều giảm so với năm 1997
Bảng 5: Kim ngạch xuất khẩu gạo Việt Nam sang EU
Đơn vị: ngàn tấn
Nguồn: Báo cáo Bộ Thơng Mại
Thị trờng nhập khẩu gạo chủ yếu của Việt Nam chủ yếu là Đức, Anh, Pháp,
Hà Lan, Tây Ban Nha, Thuỵ Điển… trong khi đó các biện pháp chốngTrong thời gian tới, mặt hàng gạo vẫn tíchcực xuất khẩu sang khu vực này, đặc biệt là các nớc Tây Âu
* Mặt hàng cà phê
Đây là một trong những mặt hàng xuất khẩu dẫn đầu sang EU Cà phê xuấtkhẩu của Việt Nam vào thị trờng EU chiếm 44,9% tổng kim ngạch xuất khẩumặt hàng này Theo quy định của EU thì đây là nhóm hàng bán nhạy cảm Vìvậy mức thuế của nhóm hàng này có lợi thế về thuế quan và nhu cầu thị trờngnày vẫn tơng đối ổn định, có xu hớng mở rộng Thị trờng nhập khẩu chính làAnh, Đức, Hà Lan, Italia, Pháp, Tây Ban Nha
Năm 1992 và năm 1993, cà phê đứng thứ 2 trong số 10 mặt hàng xuất khẩusang EU Tuy nhiên, do ảnh hởng của sự biến động của sự biến động về giá cả cà