Trong xuất huyết dịch kính sẽ nhìn thấy màu đỏ bất thường của đám dịch kính đục.. Để khám được võng mạc và những phần khác của buồng dịch kính thì cần có những loại thấu kính đặc biệt nh
Trang 1Bệnh học dịch kính
I Khám dịch kính
Khám dịch kính khó và tốn thời gian vì vậy tổn hại dịch kính nhiều lúc bị các bác sĩ bỏ sót Sự khó khăn trong khám dịch kính là bởi một số lý do sau Thứ nhất: dịch kính nằm ở bán phần sau của mắt, không dễ đánh giá bằng quan sát thông thường Thứ hai: nó trong suốt, ít phản xạ nên đòi hỏi phải có những dụng cụ và kỹ thuật khám đặc biệt Thứ ba: dịch kính chiếm một khoảng không gian ba chiều nên khó thể hiện đầy đủ khi ta chỉ quan sát từ một phía Có ba phương pháp khám dịch kính là: Dùng máy soi đáy mắt, sinh hiển vi và siêu âm Để khám kỹ dịch kính cần:
- Giãn đồng tử tốt: Làm giãn đồng tử tối đa bằng tra mắt các dung dịch Tropicamide 1%, Phenyléphine 2,5% hoặc Cyclopentalate 1% Nếu đồng tử khó giãn, cần phối hợp Phenylephrine 2,5% với Cyclopentalate 1% Trong những trường hợp viêm mống mắt cũ, teo mống mắt hoặc đã tra thuốc co đồng tử, cần dùng Phenylephrine 10% để làm giãn
- Khám trong buồng tối: Giúp thầy thuốc dễ quan sát, thấy được cả những biến đổi tinh vi của lớp vỏ sát bề mặt võng mạc
1.1 Máy soi đáy mắy
1.1.1 Máy soi đáy mắt trực tiếp
Là dụng cụ cầm tay đơn giản, dễ sử dụng, giúp khám xét những tổn thương ở bán phần sau nhãn cầu, nó cho hình ảnh cùng chiều, được phóng đại gấp 10 – 16 lần Thầy thuốc thấy được chỗ dịch kính đục trên nền hồng phản xạ từ võng mạc; xoay hệ thống thấu kính của máy soi để xem rõ dịch kính và võng mạc Bằng cách này có thể thấy vùng đục xám như hình mạng nhện gợi ý một bong sau dịch kính Trong xuất huyết dịch kính sẽ nhìn thấy màu đỏ bất thường của đám dịch kính đục
1.1.2 Máy soi đáy mắt gián tiếp Schepens
Cho phép quan sát được một vùng rộng, với độ chiếu sáng mạnh, đặc biệt hình ảnh nổi, rõ nét (do xem được bằng 2 mắt) rõ được khoảng không gian 3 chiều của dịch kính
Trang 21.2 Soi sinh hiển vi (đèn khe)
Khám sinh hiển vi với ánh sáng có bước sóng ngắn (xanh lơ, xanh lục) cho phép thấy dịch kính ở phía trước và giữa
1.3 Kính soi đáy mắt với đèn khe
Công suất của giác mạc rất cao, vì vậy sinh hiển vi đèn khe chỉ cóthể quan sát được khoảng 1/3 đường vào nhãn cầu Để khám được võng mạc và những phần khác của buồng dịch kính thì cần có những loại thấu kính đặc biệt (như kính Goldmann, Zeiss, Hruby, Volk…)
1.4 Siêu âm
Siêu âm nhãn khoa đã trở thành một công cụ chẩn đoán ngày càng giá trị, cung cấp cho ta những thông tin hữu ích về dịch kính và các cấu trúc lân cận: như tình trạng đục dịch kính, dị vật nội nhãn, bong võng mạc
II Sự thay đổi của dịch kính
2.1 Biến đổi gel dịch kính
Biến đổi của gel dịch kính thường có liên quan đến tuổi và tật khúc xạ Dịch kính người già, người cận thị nặng > 6 Diopters xuất hiện sự hoá lỏng dịch kính, có những hốc ở trung tâm dịch kính, từ những hốc này có thể có hiện tượng xẹp hoặc
co khối dịch kính dẫn tới bong sau dịch kính
Thể tích dịch kính ở người trưởng thành lớn gấp 2 lần dịch kính ở trẻ sơ sinh do tăng tổng hợp axit hyaluronic
Trong 5 năm đầu của cuộc đời toàn bộ khối dịch kính là cấu trúc gel đặc, sau đó
sẽ xuất hiện những vùng dịch kính lỏng, sợi collagen thành sợi to hơn mà sinh hiển
vi có thể quan sát được
Sau 45 tuổi dịch kính sẽ giảm đông đặc, hoá lỏng dần, giảm khối lượng lưới collagen, khung collagen sẽ không giữ được hình thể nữa Trong thành phần của dịch kính hoá lỏng này, các sợi collagen cũng thay đổi
Lâm sàng bệnh nhân có hiện tượng ruồi bay di động theo hướng vận động của nhãn cầu
Khám sinh hiển vi, kết hợp kính Goldman
* ở vùng dịch kính thấy mảng cản quang đậm hơn bình thường
Trang 3* Vùng hoá lỏng trên đèn khe thấy khuyết quang học, giữa vùng dịch kính lành và vùng hoá lỏng có một ranh giới tựa như màng mỏng, vị trí thường ở cực trên và cực sau
* Bong sau dịch kính
Bong dịch kính cực sau phân ra hai loại:
- Bong nguyên phát: Gặp ở người cận thị, người già có thoái hoá võng mạc Lâm sàng: Xuất hiện đột ngột với triệu chứng ruồi bay và chớp sáng nhưng không khu trú rõ rệt ở một vùng nào
Khám đèn khe với kính Goldman có thể thấy:
+ Xẹp khối dịch kính
+ Thấy rõ màng hyaloid sau (vỏ dịch kính sau), màng này di động theo động tác của nhãn cầu
+ Có thể thấy vòng xơ trước đĩa thị (hình nhẫn, hình số 8, hình liềm) do chỗ dính phía sau bong ra, bong và xẹp khối dịch kính thường do co khối dịch kính, ngoài ra màng ngăn trong của võng mạc cũng dày lên làm cho các chỗ dính sau kém bền vững
Hậu quả của bong sau dịch kính cũng như xẹp khối dịch kính là gây rách và bong võng mạc, cho nên nếu thấy bong sau dịch kính và xuất huyết dịch kính cần soi kỹ để tìm chỗ rách võng mạc
- Bong sau dịch kính thứ phát
Là hậu quả của chấn thương, xuất huyết dịch kính… Triệu chứng tuỳ thuộc vào tác nhân gây bệnh Khối dịch kính tách ra khỏi võng mạc trừ ở vùng nền, đưa đến nguy cơ bong võng mạc không có vết rách hoặc tách lớp võng mạc
Điều trị: Không có chỉ định điều trị gì đối với bong dịch kính sau Nếu nhìn thấy chỗ rách võng mạc thì cho điều trị bằng laser hoặc lạnh đông trong vòng 24 – 72h để tránh phát triển thành bong võng mạc
2.2 Tồn lưu tăng sản dịch kính nguyên thuỷ
Thường thấy ở những trẻ đẻ đủ tháng, cân nặng bình thường Bệnh ở một mắt trong 90% các trường hợp và kèm theo nhãn cầu nhỏ, tiền phòng nông, nếp thể
mi dài
Trang 4* Triệu chứng: Đồng tử trắng từ khi sinh ra, khám thấy có tồn tại động mạch dịch kính và một màng xơ mạch màu trắng ở sau thể thủy tinh (hình thái trước) có một tổ chức xuất phát từ đĩa thị đi đến mặt sau thể thủy tinh (hình thái sau)
* Điều trị: Phẫu thuật cắt thể thủy tinh và màng xơ mạch sau thể thủy tinh sẽ ngăn ngừa glôcôm góc đóng và tránh nhược thị
2.3 Vẩn đục dịch kính hình sao (asteroid hyalosis)
Thường ở một mắt (75%) xuất hiện ở những người cao tuổi, nam hay gặp hơn nữ Khám thấy vô số những chấm đục nhỏ màu trắng, phân bố đều khắp buồng dịch kính, những tổ chức này là stearate và palmitate của canxi Bệnh ít khi gây giảm thị lực đáng kể Nếu gây giảm thị lực nhiều cần điều trị bằng cắt dịch kính
2.4 Thể lấp lánh ( Synchysis scintillans)
Còn gọi là nhiễm cholesterol dịch kính, xuất hiện rất nhiều tinh thể cholesterol màu vàng hoặc trắng vàng óng ánh trong buồng dịch kính, do thường kèm hoá lỏng và bong sau dịch kính nên những chất này có xu hướng lắng xuống dưới Thuật ngữ Synchysis scintillans dùng để chỉ biểu hiện rất óng ánh của các tinh thể cholesterol Bệnh có thể là nguyên phát hay thứ phát sau chấn thương, phẫu thuật, xuất huyết dịch kính…
2.5 Xuất huyết dịch kính
* Bệnh căn:
- Các bệnh mạch máu võng mạc:
+ ở nước ngoài: Nguyên nhân chủ yếu nhất gây xuất huyết dịch kính là bệnh võng mạc tăng sinh do đái tháo đường
+ ở Việt Nam: Bệnh Eales (viêm thành tĩnh mạch tái phát trên người trẻ) là nguyên nhân thường gặp nhất
+ Tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc
+ Các bệnh khác: Bệnh hồng cầu hình liềm, hội chứng tăng độ quánh của máu, bệnh võng mạc trẻ đẻ non
- Bong sau dịch kính: Xuất huyết là do đứt mạch máu xảy ra vào lúc bong sau dịch kính
- Chấn thương
Trang 5* Lâm sàng:
- Triệu chứng cơ năng: Phụ thuộc vào lượng máu và vị trí chảy máu:
Lúc đầu bệnh nhân cảm thấy có dấu hiệu ruồi bay trước mắt trong trường hợp xuất huyết nhẹ hoặc cảm thấy những vết đen di động từng lúc trong những trường hợp xuất huyết trung bình Trường hợp nặng, có giảm thị lực đột ngột, đôi khi trước đó thấy một tấm màn đen trong khi đó mắt không hề đỏ hoặc đau
- Khám mắt:
+ Cần đo nhãn áp và soi góc tiền phòng để phát hiện mống mắt đỏ hoặc những tổn thương của góc tiền phòng do chấn thương
+ Khám phản xạ đồng tử với ánh sáng vẫn còn
+ Soi ánh đồng tử: ánh đồng tử xám hoặc mất
+ Khám dịch kính và đáy mắt: Máu đỏ tươi khu trú hoặc lan rộng trong buồng dịch kính Nếu xuất huyết cũ thì máu sẫm màu và có thể xuất hiện xơ hóa dịch kính Cần phải khám cả võng mạc mắt kia vì nhiều khi có thể có được những
dữ liệu tốt cho việc tìm căn nguyên xuất huyết
Khám nghiệm bổ sung: Cần làm siêu âm mắt để đánh giá mức độ chảy máu
và tìm bong võng mạc và điện thị giác kích thích tuỳ thuộc vào bệnh và có giá trị trong trường hợp xuất huyết toàn bộ không có xu hướng tiêu
Tiến triển:
Máu trong dịch kính được tiêu nhờ vào:
- Tiêu Fibrin (fibrinolyse), hiện tượng này rất chậm
- Thực bào: Do những thực bào từ mạch máu và tế bào Hyalocytes
Nếu máu không trộn lẫn với gel dịch kính, sẽ tiêu nhanh; nếu trộn lẫn với gel dịch kính sẽ tiêu lâu Hemoglobin sẽ thoái hoá thành Bilirubin và sắt Bilirubin làm biến màu dịch kính, sắt ở trong dịch kính gây phân huỷ axít Hyalunonic làm mất chỗ dựa cho các khung sợi collagen, nó còn gây hiện tượng siderose võng mạc dẫn đến thoái hoá tế bào thị giác Máu dịch kính chu biên sẽ tiêu nhanh, ngược lại máu
ở trung tâm sẽ tiêu lâu, tạo nên tổ chức hoá dịch kính Trong một số trường hợp có thể xảy ra viêm võng mạc phồn thịnh, xơ hóa dịch kính gây co kéo võng mạc dẫn đến bong võng mạc
* Điều trị:
Trang 6- Cho bệnh nhân nằm nghỉ, kê đầu cao trong tuần đầu, để máu lắng xuống phần dưới dịch kính Băng 2 mắt trong 2 – 3 ngày, những ngày sau cho đeo kính lỗ, uống nhiều nước để tăng tiêu máu
- Không được dùng Aspirin, thuốc chống đông, các thuốc chống viêm không steroid
- Dùng thuốc đông máu, cầm máu như vitamin K, C
- Thuốc đông y tiêu máu: Tam thất
- Sử dụng quang đông hoặc lạnh đông đối với các bệnh võng mạc tăng sinh,
xử lý bong võng mạc và rách võng mạc nếu có
- Cắt dịch kính: chỉ định trong các trường hợp
+ Xuất huyết dịch kính kèm theo bong võng mạc
+ Xuất huyết dịch kính đã lâu (trên 6 tháng)
+ Xuất huyết dịch kính có cả tân mạch ở mống mắt
+ Glôcôm xuất huyết./
Bệnh mi mắt
Mi mắt có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ nhãn cầu chống lại các yếu tố bên ngoài như: ánh sáng, sức nóng, bụi bặm và các dị vật khác, nhờ động tác nhắm mắt do cơ vòng cung mi thực hiện dưới sự điều khiển của thần kinh VII Ngoài ra nhờ những động tác chớp mi, mi mắt dàn đều nước mắt lên giác mạc và kết mạc, đảm bảo độ ướt cần thiết cho các tổ chức này Bình thường mi trên được nâng lên trong động tác mở mắt nhờ sự hợp lực của 3 cơ: cơ trán, cơ Muller và đặc biệt là cơ nâng mi trên Cơ Muller do thần kinh giao cảm chi phối và tham gia nâng mi khoảng 2mm, cơ trán nâng mi khoảng 3mm Riêng cơ nâng mi trên do thần kinh III điều khiển, đóng vai trò quan trọng nhất vì nó có thể nâng mi lên được 10 – 12mm
I Bệnh sụp mi
1.1 Định nghĩa
Sụp mi là sự sa của mi mắt trên xuống thấp hơn vị trí bình thường của nó (bình thường mi trên phủ rìa giác mạc cực trên khoảng 1 - 2mm)
Trang 71.2 Phân loại
Vấn đề phân loại sụp mi rất quan trọng vì nó hướng chúng ta tới sự điều trị thích hợp Có nhiều cách phân loại sụp mi Tuy nhiên, theo đa số các tác giả, sụp mi được chia làm hai nhóm chính: sụp mi bẩm sinh và sụp mi mắc phải
1.2.1 Sụp mi bẩm sinh: Chiếm khoảng 55% - 75% các trường hợp sụp mi
a Sụp mi đơn thuần:
- Thường gặp nhất, một hoặc hai bên
- Có thể kết hợp với tật khúc xạ
- Không gây nhược thị
b Sụp mi bẩm sinh phối hợp với những bất thường bẩm sinh khác
* Sụp mi bẩm sinh phối hợp bất thường vận nhãn
* Sụp mi bẩm sinh phối hợp với những dị dạng ở mặt (3 – 6%)
1.2.2 Sụp mi mắc phải:
Sụp mi mắc phải có thể xuất hiện lúc sinh và do đó có thể bị nhầm với sụp
mi bẩm sinh Tỷ lệ sụp mi mắc phải chiếm khoảng 25% tổng số trường hợp sụp mi
và được chia làm 5 nhóm:
a Sụp mi do tổn thương thần kinh (nguồn gốc trung tâm hoặc ngoại biên)
- Nguồn gốc trung tâm: Liệt vận nhãn với mức độ khác nhau (tổn thương nhân)
- Nguồn gốc ngoại biên:
+ Liệt thần kinh III thường kèm theo liệt vận nhãn Nhiều khi không can thiệp phẫu thuật loại sụp mi này vì mi bị sụp lại che chở tốt cho giác mạc, thường mất cảm giác do tổn thương dây V
+ Hội chứng khe giơi: Liệt các dây III, IV, V, Vi cùng bên làm cho nhãn cầu bên tổn thương bất thường bất động nhìn thẳng, mi mắt sụp, giãn đồng tử, mất cảm giác mạc, tê bì vùng dây V chi phối
+ Hội chứng đỉnh hố mắt: Là hội chứng khe giơi kèm theo tổn thương thị thần kinh
+ Hội chứng xoang hang: Sụp mi, nhãn cầu đứng yên, đồng tử giãn, mất cảm giác mạc, tê bì trên vùng thuộc nhánh dây V, lồi mắt thẳng trục, không đẩy thụt nhãn cầu vào được, nghe ở vùng mắt và thái dương có tiếng thổi
Trang 8+ Hội chứng cuống não:
Hội chứng Weber: Liệt dây thần kinh III cùng bên, liệt nửa người đối diện (thường do tổn hại ở chân cuống não)
Hội chứng Benedick: Liệt dây thần kinh III cùng bên, run chân tay bên đối diện (thường do tổn hại vùng chỏm của cuống não)
- Hội chứng Claude Bernard – Horner:
+ Sụp mi, co đồng tử, nhãn cầu thụt + Làm test Néosynéphrine (+)
b Sụp mi do cơ
- Nhược cơ thường gặp ở những bệnh nhân nữ, trẻ tuổi:
+ Lúc đầu sụp mi một bên, là dấu hiệu phát hiện bệnh
+ Thay đổi, tăng lên khi mệt mỏi, buổi chiều sụp nhiều hơn buổi sáng + Rối loạn vận nhãn (song thị)
+ Test Prostigmine hoặc Tensilon (+)
+ Điện cơ thấy biên độ hoạt động cơ giảm và cơ chóng mệt
- Bệnh cơ do ti lạp thể:
+ Bệnh di truyền (50%)
+ Bắt đầu khác nhau, nặng dần
+ Sụp mi hai bên với mức độ khác nhau nhưng thường nặng
+ Liệt vận nhãn không toàn bộ
- Bệnh Steinert:
+ Sụp mi hai bên
+ Hở mi (tổn thương cơ vòng)
c Sụp mi do cân:
+ ở người lớn tuổi
+ Chức năng cơ gần như bình thường
+ Khi nhìn xuống mi sụp
+ Nếp gấp da mi cao hơn bình thường, mi mỏng
+ Sụp mi nặng hoặc nhẹ
d Sụp mi do chấn thương
Trang 9Chấn thương đụng dập hoặc đâm xuyên vào cân cơ cũng có thể gây sụp mi vĩnh viễn Tổn thương mô bệnh học có thể phối hợp cân cơ và sẹo Cần nghĩ đến tổn hại cân cơ nâng mi nếu rách mi có lộ lớp mỡ trước cân cơ Phẫu thuật hốc mắt
và phẫu thuật thần kinh cũng có thể gây sụp mi Thường theo dõi 6 tháng hoặc lâu dài vì trong giai đoạn này vẫn có khả năng tự phục hồi
e Sụp mi do tác nhân cơ giới
- Cơ chế của cân (u, sa da mi)
- Bệnh lý sẹo (xơ hoá cơ, mắt hột, bỏng)
Cần phân biệt sụp mi thực sự với giả sụp mi
1.2.3 Giả sụp mi
Là tình trạng mi mắt trông có vẻ thấp hơn bình thường, nguyên nhân gồm:
- Lõm mắt hoặc lồi mắt bên đối diện
- Thừa da mi trên quá mức
- Nhãn cầu nhỏ
- Không có nhãn cầu, teo nhãn cầu
- Lác lên hoặc xuống đối bên
- Co rút mi trên ở một mắt có thể làm cho mắt bên kia có vẻ sụp
- Lõm mắt hoặc lồi mắt bên đối diện
- Epicanthus và sự không cân đối của khuôn mặt
- Hẹp khe mi phối hợp với hội chứng Duanés
1.3 Thăm khám và đánh giá
Trong sụp mi bẩm sinh cần xác định tiền sử của gia đình, dị dạng mi và hốc mắt, chấn thương sản khoa
Khi thăm khám cần xem sụp mi ở một hay hai bên, mức độ sụp mi, chức năng cơ nâng mi và các dấu hiệu kèm theo
Theo Hội nhãn khoa Mỹ, ở mỗi bệnh nhân sụp mi cần đo 4 yếu tố lâm sàng:
1 Độ cao khe mi
2 Khoảng cách bờ mi – tâm đồng tử
3 Vị trí nếp gấp da mi trên
4 Chức năng cơ nâng mi
1.4.1 Phân loại mức độ sụp mi
Trang 10Có nhiều cách đo mức độ sụp mi
* Theo Phan Dẫn dựa vào hai yếu tố:
- Đo độ rộng của khe mi khi mắt ở tư thế nhìn thẳng Bình thường khoảng 9 – 10mm
- Vị trí tự do mi so với vùng rìa và đồng tử Bình thường bờ tự do mi trên nằm ở điểm giữa khoảng cách nối giữa vùng rìa giác mạc cực trên với bờ trên của đồng tử Sụp mi có thể phân độ như sau:
+ Nhẹ: Khi bờ tự do ở trên đồng tử (2mm)
+ Vừa: Khi bờ tự do ở sát ngay bờ trên đồng tử (3mm)
+ Nặng: Khi bờ tự do phủ lên đồng tử một phần hay toàn bộ đồng tử (4mm hay hơn nữa)
1.4.2 Đánh giá chức năng cơ nâng mi
Đánh giá chức năng cơ nâng mi bằng cách đo khoảng cách bờ tự do mi trên khi nhãn cầu vận động từ tư thế liếc hết sức xuống dưới rồi liếc hết sức lên trên Dùng ngón cái ấn lên cung mày để loại trừ sự tham gia của cơ trán
Bình thường khoảng cách này từ 12 – 17mm
Tốt : ≥ 8mm
Trung bình : 5 – 7mm
Yếu : ≤ 4mm
1.4.3 Các dấu hiệu khác kèm theo: Các dấu hiệu này chứng tỏ sụp mi nặng
- Lông mi hướng xuống dưới
- Mất nếp gấp mi trên
- Co rút cơ trán biểu thị bằng rướn lông mày
- Ngửa cổ ra sau
- Giảm thị lực
- Thử nghiệm lật mi, nếu mi trên luôn ở tư thế đã bị lật chứng tỏ cơ nâng mi yếu hay không còn hoạt động
1.4.4 Các dấu hiệu bất thường khác có thể ảnh hưởng đến kết quả điều trị
a Bất thường vận nhãn
Cần đánh giá mức độ liếc mắt lên trên hay có dấu hiệu Charles – Bell không,
vì nếu không rất dễ bị viêm giác mạc sau mổ