1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đối chiếu giới từ chỉ không gian ‘aufin’ trong tiếng Đức với ‘trêntrong’ trong tiếng Việt

205 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đối Chiếu Giới Từ Chỉ Không Gian “Auf/ In” Trong Tiếng Đức Với “Trên/ Trong” Trong Tiếng Việt
Tác giả Nguyễn Thị Nương
Người hướng dẫn PGS.TS Vũ Kim Bảng
Trường học Học viện Khoa học xã hội
Chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 205
Dung lượng 2,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích các ý nghĩa cụ thể và ý nghĩa khái quát của nhóm giới từ định vị không gian chỉ địa điểm tĩnh, chuyển động auf/in trong tiếng Đức với trên/ trong trong tiếng Việt và cơ sở tri

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ NƯƠNG

ĐỐI CHIẾU GIỚI TỪ CHỈ KHÔNG GIAN “AUF/ IN”

TRONG TIẾNG ĐỨC VỚI “TRÊN/ TRONG” TRONG TIẾNG VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI, 2021

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ NƯƠNG

ĐỐI CHIẾU GIỚI TỪ CHỈ KHÔNG GIAN “AUF/ IN”

TRONG TIẾNG ĐỨC VỚI “TRÊN/ TRONG” TRONG TIẾNG VIỆT

Ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu

Mã số: 9.22.90.24

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS VŨ KIM BẢNG

HÀ NỘI, 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu, dẫn chứng nêu trong luận án là trung thực và không trùng khớp cũng như chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác

Hà Nội, ngày 22 tháng 07 năm 2021

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Nương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo Học viện, lãnh đạo Khoa Ngôn ngữ học, cùng toàn thể cán bộ, các thầy giáo, cô giáo của Học viện Khoa học xã hội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, triển khai thực hiện đề tài luận án

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Vũ Kim Bảng - tập thể các thầy giáo, cô giáo hướng dẫn khoa học đã luôn tận tình hướng dẫn, định hướng cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, để tôi có thể hoàn thành luận án của mình

Tôi trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Cao đẳng Y Tế Hà Đông đã quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu, hoàn thành nhiệm vụ được giao Cảm ơn gia đình thương yêu, bạn bè, đồng nghiệp quý mến đã luôn quan tâm, là điểm tựa, động viên và đồng hành với tôi, tạo điều kiện tốt để tôi hoàn thành luận án này

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 10

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 10

1.1.1 Những nghiên cứu nói chung trên thế giới về giới từ định vị không gian 10

1.1.2 Những nghiên cứu trong nước về giới từ định vị không gian trong tiếng Việt 13

1.2 Một số lý thuyết về không gian trong ngôn ngữ học tri nhận 15

1.2.1 Khái niệm cơ bản về tri nhận và về không gian 15

1.2.2 Sự định vị và các đặc điểm định vị không gian trong ngôn ngữ học 18 1.2.3 Vị trí, hướng và các trục định vị không gian 19

1.2.4 Những quan điểm đa nghĩa về không gian trong ngôn ngữ học tri nhận 20

1.2.5 Tri nhận nghiệm thân 21

1.2.6 Các mô hình của ngôn ngữ học tri nhận 24

1.2.7 Ẩn dụ ý niệm và sự ý niệm hóa không gian 25

1.2.8 Sự tri nhận không gian với “con người là trung tâm” vũ trụ 27

1.2.9 Những chiến lược định vị và định hướng trong không gian 28

1.3 Một số lý thuyết về giới từ trong tiếng Đức và tiếng Việt 29

1.3.1 Khái niệm “giới từ” trong tiếng Đức 29

1.3.2 Khái niệm “giới từ” trong tiếng Việt 34

1.3.3 Nghĩa của giới từ trong ngữ nghĩa học truyền thống và ngữ nghĩa học tri nhận 37

1.3.4 Hệ thống các giới từ chỉ không gian trong tiếng Đức và tiếng Việt 38

1.4 Một số cơ sở lý luận về ngôn ngữ học đối chiếu 50

1.4.1 Khái niệm ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu 50

Trang 6

1.4.2 Các bình diện đối chiếu ngôn ngữ 52 1.4.3 Về nghiên cứu đối chiếu ngữ nghĩa và tương đương về ngữ nghĩa của từ giữa các ngôn ngữ 53

53

1.5 Tiểu kết 55 Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CÁC GIỚI TỪ CHỈ KHÔNG GIAN “AUF/ IN” TRONG TIẾNG ĐỨC ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT 57

2.1 Giới từ chỉ không gian trong tiếng Đức 57

2.2 Giới từ “auf/in” trong tiếng Đức đối chiếu với tiếng Việt 58

2.2.1 Đặc điểm ngữ nghĩa giới từ định vị không gian “auf” đối chiếu với tiếng Việt 60 2.2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa giới từ tri nhận không gian “in” trong tiếng Đức đối chiếu với tiếng Việt 79

2.3 Nhận xét 95 2.4 Tiểu kết 97 Chương 3: ĐỐI CHIẾU CƠ SỞ TRI NHẬN KHÔNG GIAN CỦA GIỚI TỪ “AUF/IN” TRONG TIẾNG ĐỨC VỚI TIẾNG VIỆT 99 3.1 Sự đa dạng của tri nhận 99

3.1.1 Một vài biểu hiện của sự đa dạng tri nhận trong phạm vi không gian ngôn ngữ học 100 3.1.2 So sánh về tri nhận định vị không gian 101

3.2 Sự tri nhận không gian của giới từ “auf/ in ” trong tiếng Đức đối chiếu với tiếng Việt 105

3.2.1 Sự giống nhau 105 3.2.2 Sự khác nhau giữa giới từ “auf/ in” trong tiếng Đức với

“trên/trong” trong tiếng Việt 106

Trang 7

3.3 Đối chiếu giới từ auf/in với các giới từ tương đương trong tiếng

Việt nhìn từ góc độ tri nhận 115

3.3.1 Về nội dung định vị có tính tôpô 115

3.3.2 Sự khác biệt về nội dung định vị 116

3.3.3 Giới từ “auf” nhìn từ góc độ tri nhận đối chiếu với tiếng Việt 120

3.3.4 Giới từ “in” nhìn từ góc độ tri nhận đối chiếu với tiếng Việt 123

3.4 Nhận xét 126

3.5 Tiểu kết 128

Chương 4: KHẢO SÁT THỰC TIỄN SỬ DỤNG CÁC GIỚI TỪ “AUF” VÀ “IN” TRONG TÁC PHẨM “ĐO THẾ GIỚI” VỚI BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT 131

4.1 Nghiên cứu thực tiễn 131

4.1.1 Nghiên cứu định lượng 131

4.1.2 Phân tích bản dịch sang tiếng Việt của những giới từ chỉ địa điểm 133

4.2 Một số nhận xét 143

4.2.1 Ảnh hưởng của khái niệm “hình thái tiêu chuẩn” 143

4.2.2 Ảnh hưởng của đặc điểm địa lý 144

4.2.3 Ảnh hưởng của đặc điểm xã hội 145

4.2.4 Ảnh hưởng của khái niệm “đường bao” 145

4.2.5 Sự khác nhau chi tiết khi nhận thức về không gian 145

4.2.6 Thói quen khi sử dụng giới từ chỉ địa điểm 146

4.3 Tiểu kết 147

KẾT LUẬN 148

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU THỐNG KÊ TRONG LUẬN ÁN

Danh mục bảng

Bảng 4.1: Bản dịch bị ảnh hưởng bởi khái niệm “hình thái tiêu chuẩn” 135 Bảng 4.2: Bản dịch bị ảnh hưởng bởi đặc điểm địa lý 139 Bảng 4.3: Bản dịch bị ảnh hưởng bởi khái niệm “đường bao” 141

Danh mục biểu đồ

Biểu đồ 4.1: Tổng quan về giới từ địa điểm “auf - trên” và “in - trong” trong

văn thể 131 Biểu đồ 4.2: Tổng quan từ giới từ địa điểm “auf” trong văn bản 132 Biểu đồ 4.3: Tổng quan từ giới từ địa điểm “in” trong văn bản 132 Biểu đồ 4.4: Tổng quan về các bản dịch giới từ chỉ phương hướng chuyển động

“auf” trong văn bản 133 Biểu đồ 4.5: Tổng quan về các bản dịch giới từ chỉ phương hướng chuyển động

“in” trong văn bản 133 Biểu đồ 4.6: Tổng quan về các phần dịch giới từ chỉ địa điểm tĩnh tại “auf”

trong văn bản 134 Biểu đồ 4.7: Tổng quan về các phần dịch giới từ chỉ địa điểm tĩnh tại “in” trong văn bản 134

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1: Mô hình khối lập phương 38

Hình 2: a vor (trước) b hinter (sau) 39

Hình 3: c unter (dưới) d auf (trên) e über (trên, bên trên) 40

Hình 4: f in (trong) g an (sát cạnh) h neben (cạnh) 40

Hình 5: i zwischen (giữa) 40

Hình 6: vor - trước cái bàn 41

Hình 7: trước - vor 42

Hình 8: trước nhà - vor 42

Hình 9: sau gốc cây - hinter 42

Hình 10: trước gốc cây - vor 43

Hình 11: an - trên 43

Hình 12: an - vào tường 44

Hình 13: an - trên trần nhà 44

Hình 14: auf - trên bàn 44

Hình 15: über - trên bàn 45

Hình 16: über - trên chiếc bàn 45

Hình 17: unter - dưới bàn 45

Hình 18:unter - dưới cốc 45

Hình 19: unter - giữa những người bạn 46

Hình 20: unter - dưới bàn 46

Hình 22: neben- bên cạnh tôi 48

Hình 23: zwischen - ở giữa bố và con trai 49

Hình 24: zwischen - giữa đèn và máy tính 49

Hình 25: auf - trên 67

Hình 26: auf - trên bàn 71

Hình 27: unter - dưới bàn 72

Hình 28: unter - giữa khán giả 72

Hình 29: in - trong 80

Trang 11

Hình 30: Vandeloise, 1994: 172 83

Hình 31: “in” chuyển động từ ngoài vào trong 93

Hình 32: Mô hình định vị/ định hướng theo trực chỉ theo Bernd Heine (87 tr.129) 100

Hình 33: auf (trên) in (trong) 106

Hình 34: đường bao 113

Hình 35: “auf” và “über” - trên 114

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay trong bối cảnh hội nhập, hợp tác quốc tế, tiếng Đức trở thành một ngôn ngữ và phương tiện thật sự quan trọng và cần thiết Ngôn ngữ của mỗi quốc gia đều có những nét tương đồng và khác biệt với những ngôn ngữ khác và hàm chứa những nét văn hóa đặc trưng Chính những sự khác biệt về đặc điểm ngôn ngữ, đặc biệt khi chúng ta dùng các giới từ chỉ không gian để nói về sự vật sự việc là rào cản ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp hoặc trong văn bản và dịch thuật Vì vậy, việc chúng tôi nghiên cứu so sánh đặc điểm các ngôn ngữ nhằm mục đích chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt giữa chúng là việc làm cần thiết và có ý nghĩa góp phần nâng cao hiệu quả giao tiếp

Đồng thời, trong quá trình sử dụng ngôn ngữ, việc này giúp cho người đọc

và người học nhận thấy cách sử dụng đúng trong câu cũng như hiểu rõ được các loại hình giới từ, cấu trúc câu, cấu tạo từ, chức năng ngữ pháp và ngữ nghĩa của giới từ Qua đó, việc nghiên cứu về những nét tương đồng và khác biệt trong hai ngôn ngữ cũng giúp người dùng tránh dùng sai giới từ trong tiếng Đức và phân biệt được chúng một cách rõ ràng trong các trường hợp và ngữ cảnh khác nhau

Tiếng Đức được đánh giá là một thứ tiếng có ngữ pháp khá khó học, đặc biệt

là phần giới từ Việc học và sử dụng giới từ sao cho chuẩn xác là một việc không

dễ Sử dụng giới từ trong các trường hợp khác nhau, sẽ mang ý nghĩa khác nhau Cùng một từ nếu được kết hợp với các giới từ khác nhau sẽ có nghĩa khác nhau và được người dùng áp dụng trong hoàn cảnh khác nhau Vì vậy, nắm chắc các giới từ

và cách sử dụng các giới từ trong tiếng Đức là một việc quan trọng mà ai học tiếng Đức cũng cần phải lưu ý Tiếng Đức khó học hơn các ngôn ngữ khác bởi danh từ

trong tiếng Đức có các giống (giống đực - der, giống cái - die, giống trung - das) và được đặt vào các cách (cách 1 - Nominativ, cách 2 - Genitiv, cách 3 - Dativ, cách 4

- Akkusativ) Mỗi giới từ đều đòi hỏi sử dụng với một cách nhất định, từ đó chúng ta

phải xác định các từ loại ngữ pháp và giống cho phù hợp Vì vậy, chỉ bằng cách chúng ta học thuộc để hiểu rõ và phân loại được các loại giới từ trong tiếng Đức

Giới từ là từ loại chỉ mối liên quan giữa các từ, cụm từ trong câu Giới từ trong tiếng Đức được phân loại và hệ thống thành các dạng bao gồm: giới từ chỉ địa

Trang 13

điểm, giới từ chỉ thời gian, giới từ chỉ cách thức, nguyên nhân hoặc mục đích, giới

từ dùng để chỉ sự tương quan về vị trí, thời gian, kiểu cách, nguyên nhân giữa các vật thể, sự vật, con người được nhắc đến trong câu

Nhưng ở đây, luận án chỉ tập trung nghiên cứu các đặc điểm ngữ nghĩa của

cặp giới từ không gian auf/ in trong tiếng Đức và đối chiếu với tiếng Việt

Một ngôn ngữ bao gồm từ vựng và ngữ pháp, nghĩa là bao gồm từ và mối liên hệ cũng như cấu trúc giữa các từ Điều quan trọng để nghiên cứu một ngôn ngữ

là phải hiểu được các mặt khác nhau như từ loại, cấu tạo từ, cú pháp Trong đó từ loại là phần quan trọng của ngôn ngữ vì thông qua từ loại ta sẽ thấy rõ một từ đơn lẻ

có thể đảm nhiệm vai trò hoặc chức năng gì và cách các từ tạo thành câu Bên cạnh động từ, danh từ và tính từ, giới từ là một từ loại quan trọng, nó không chỉ mang ý nghĩa, có chức năng ngữ pháp mà còn mang đặc điểm văn hóa Ngoài ra từ loại này đóng vai trò như là yếu tố kết nối, do vậy chúng ta có thể ghép các thành phần câu với nhau khi sử dụng giới từ Do đó, ta có thể khẳng định rằng giới từ góp phần quan trọng trong việc cấu tạo câu Trong tiếng Đức cũng như tiếng Việt, giới từ xuất hiện tương đối thường xuyên trong câu Tuy nhiên, do sự khác nhau về văn hóa

và các đặc điểm ngôn ngữ nên giới từ không được sử dụng giống nhau trong các ngôn ngữ Việc thiếu kiến thức sử dụng giới từ dẫn đến các tình huống hiểu nhầm

Ví dụ người Việt Nam nói: Bức tranh treo trên trường và thường được dịch sang tiếng Đức là Das Bild hängt auf der Wand (Bức tranh treo trên trường), trong khi câu này nên được viết là Das Bild hängt an der Wand (Bức tranh treo cạnh tường)

Lý do của những lỗi điển hình này là người nói chỉ dịch đơn giản từ trên thành từ auf mà không biết rằng trong trường hợp này người Đức sử dụng cách diễn

đạt khác Chính vì vậy việc hiểu chức năng cũng như ý nghĩa của các giới từ là rất quan trọng Khi tiếp nhận ngôn ngữ, người Việt học tiếng Đức thường gặp khó khăn khi sử dụng giới từ chỉ không gian hay địa điểm Tuy nhiên cho đến ngày nay vẫn

chưa có công trình nghiên cứu rõ ràng nào về chủ đề “giới từ chỉ không gian trong tiếng Đức trong sự so sánh với tiếng Việt”, và đây cũng chính là một trong những lý

do mà chúng tôi lựa chọn cho mình đề tài luận án tiến sĩ “Đối chiếu giới từ chỉ

không gian „auf/in‟ trong tiếng Đức với „trên/trong‟ trong tiếng Việt” Trong

khuôn khổ của luận án, chúng tôi đưa ra hệ thống một số giới từ chỉ không gian và

Trang 14

lựa chọn các giới từ auf/in trong tiếng Đức trong sự so sánh với tiếng Việt làm đối

tượng của công trình nghiên cứu

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án hướng tới mục đích chỉ rõ đặc điểm ngữ nghĩa giới từ chỉ không gian trong tiếng Đức (đối chiếu với tiếng Việt) Trên cở sở đó chúng tôi chỉ ra những đặc điểm về văn hóa, tư duy của người Đức trong sự so sánh với người Việt

Trong luận án này, chúng tôi tập trung nghiên cứu hai giới từ auf/ in trong

tiếng Đức đối chiếu với tiếng Việt với những mục đích chính sau:

1 Phân tích, mô tả và khái quát hóa về đặc điểm ngữ nghĩa của các giới từ định

vị không gian cơ bản của tiếng Đức, trong đó tập trung chủ yếu vào hai giới từ auf/ in

2 So sánh, đối chiếu những điểm tương đồng, sự khác biệt trong việc sử

dụng giới từ chỉ không gian auf/in trong tiếng Đức với trên/trong trong tiếng Việt

Trên cơ sở đó, có được những tổng kết cụ thể về mức độ tương đồng và khác biệt giữa các giới từ định vị không gian trong tiếng Đức và tiếng Việt

3 Làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt về ngữ nghĩa và cơ chế tri

nhận của các giới từ định vị không gian auf/in của người Đức và giới từ trên/trong

của người Việt

Để làm rõ những mục đích nghiên cứu trên, chúng tôi đưa ra cái nhìn tổng quan về giới từ, trong đó, luận án sẽ giải thích các khái niệm về giới từ trong tiếng Đức và tiếng Việt Sau đó việc sử dụng giới từ chỉ không gian trong cả hai ngôn ngữ được so sánh đối chiếu với nhau Ngoài ra, kết quả so sánh thông qua nghiên cứu thực tế cũng được kiểm tra

Với luận án này, chúng tôi muốn giới thiệu cụ thể về sự giống nhau và khác nhau khi sử dụng giới từ chỉ không gian trong tiếng Đức và tiếng Việt Qua đó có thể tìm ra sự giống nhau và khác nhau của hai ngôn ngữ và hai đất nước trong nhiều khía cạnh khác nhau, ví dụ như sự khác nhau về cơ chế tri nhận không gian, về văn hóa khi sử dụng giới từ chỉ không gian của người Đức và người Việt

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 15

Để tiến hành thực hiện được các mục tiêu trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Phân tích và miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa của giới từ chỉ không gian tiếng Đức và tiếng Việt

- So sánh và đối chiếu về mặt ngữ nghĩa của giới từ auf/ in (giới từ chỉ địa điểm tĩnh và giới từ chuyển động) trong tiếng Đức với trên/ trong trong tiếng Việt

nhằm chỉ ra nét giống và khác nhau về ngữ nghĩa của nhóm giới từ này

- Phát hiện những điểm giống nhau và khác nhau trong cơ chế, cách thức tri nhận về giới từ định vị không gian của người Đức và người Việt qua mối quan hệ

tư duy và ngôn ngữ

- Nghiên cứu thực tiễn với việc tìm kiếm và phân tích các giới từ chỉ địa điểm

auf và in trong cuốn tiểu thuyết “Die Vermessung der Welt” (Daniel Kehlmann) và

bản dịch “Đo thế giới” (Lê Quang)

3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu những giới từ chỉ không gian trong tiếng Đức và tiếng

Việt, đặc biệt tập trung nghiên cứu hai giới từ “auf/in”

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi ngữ liệu: Các tác phẩm nghiên cứu trong đề tài bao gồm các tác phẩm truyện ngắn bằng tiếng Đức như: Die Blechtrommel của Günter Grass (1959),

trong tiếng Đức hiện đại - Ấn bản được biên tập mới lần thứ 3 với sự hỗ trợ của Werner Hackel Sommerfeldt, K./Starke G (1998), Nhà xuất bản Max Niemeyer, Tübingen Ngữ pháp văn bản của ngôn ngữ Đức Ấn bản được chỉnh sửa lần thứ 3,Weinrich H (2005), nhà xuất bản Georg Olms, Hildesheim/ Zürich/ New York Trong luận án nhóm tác giả đặc biệt lựa chọn tác phẩm Đo thế giới, (bản dịch của

Lê Quang), Die Vermessung der Welt, Daniel Kehlmann (2006), nhà xuất bản

Rowohlt, Hamburg để khảo sát tại chương 4 là vì số lượng giới từ auf/in xuất hiện

Trang 16

nhiều trong tác phẩm và mang nhiều nghĩa khác nhau Số lượng giới từ, cụm giới từ

lặp đi lặp lại nhiều lần trong các ngữ cảnh khác nhau và mang nghĩa khác nhau

- Phạm vi nội dung: Các đặc điểm ngữ nghĩa, cơ sở tri nhận và khảo sát thực

tiễn về hai giới từ auf/in

- Phạm vi nghiên cứu: Đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa và cơ chế tri nhận giới

từ không gian auf/in trong tiếng Đức với trên/trong trong tiếng Việt

Chúng tôi lựa chọn những giới từ trên với các lý do sau: Trong tiếng Đức, các giới từ xuất hiện trong hầu hết mọi câu và chiếm tỷ lệ lớn trong khối lượng từ

của văn bản Và những giới từ auf/in xuất hiện với tần suất nhiều hơn so với các giới từ khác, cụ thể như giới từ in dẫn đầu trong việc sử dụng ở mọi văn bản với tần suất dùng chiếm 23%, và giới từ auf chiếm 6% nhiều hơn so với các giới từ khác

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến các khía cạnh

nghiên cứu của giới từ này Nhưng cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu

sâu về so sánh đối chiếu ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của những giới từ không gian

trong tiếng Đức: auf/ in với trên/ trong trong tiếng Việt

3.3 Nguồn ngữ liệu

Nguồn ngữ liệu của luận án được chúng tôi thu thập từ các báo, tạp chí, từ điển tiếng Đức, từ điển đối chiếu Đức-Việt, Anh-Việt, Việt-Đức, Việt Anh hoặc các từ điển tường giải tiếng Đức, tiếng Anh và tiếng Việt, sách ngữ pháp tiếng Đức, tiếng Anh, tiếng Việt, các nguồn trên mạng, sách tham khảo, công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài và các tác phẩm văn học nổi tiếng của Đức, Anh và Mỹ Riêng trong chương cuối - chương khảo sát về việc sử

dụng các giới từ tri nhận không gian “auf/ in”, chủ yếu việc khảo sát được thực hiện

từ tác phẩm văn học Die Vermessung der Welt của tác giả Daniel Kehlmann được tác giả Lê Quang dịch sang tiếng Việt (Đo thế giới)

Tài liệu tham khảo chủ yếu của luận án là các công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước về các vấn đề có liên quan đến đề tài luận án Số lượng tài liệu tham khảo là 146 gồm có 62 tư liệu tiếng Việt và 84 tư liệu tiếng nước ngoài

Trang 17

Những vấn đề được thảo luận và đánh giá của luận án được giới hạn trong phạm vi tư liệu mà chúng tôi thu thập được Ngoài ra, để đảm bảo tính khách quan của ngữ liệu nghiên cứu thì việc dịch tiếng Việt tương đương với ngữ liệu tiếng Đức lấy từ các tác phẩm văn học được giữ nguyên theo các bản dịch tiếng Việt đã được công bố và một phần nhỏ tư liệu tiếng Đức lấy từ các nguồn khác thì được dịch sát nghĩa để đảm bảo tính đặc thù và khách quan của ngôn ngữ

Luận án chọn giới từ định vị không gian auf/ in trong tiếng Đức làm đối tượng

so sánh đối chiếu với giới từ định vị không gian trên/ trong trong tiếng Việt

4 Phương pháp luận và nghiên cứu

Để triển khai nhiệm vụ nghiên cứu, một số phương pháp chính được sử dụng

trong luận án bao gồm: phương pháp miêu tả, phân tích, thu thập; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp phân tích ngữ nghĩa và thủ pháp thống kê phân loại

- Phương pháp miêu tả, phân tích, thu thập được sử dụng kết hợp phương

pháp định lượng và định tính nhằm tạo nên cơ sở thực tiễn để chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt giữa giới từ chỉ không gian trong tiếng Đức và tiếng Việt và tăng thêm tính thuyết phục của các nhận xét, đánh giá và tổng kết của luận án Phân tích các ý nghĩa cụ thể và ý nghĩa khái quát của nhóm giới từ định vị không gian chỉ địa

điểm tĩnh, chuyển động auf/in trong tiếng Đức với trên/ trong trong tiếng Việt và

cơ sở tri nhận của chúng Ngoài ra, tác giả sử dụng phương pháp thu thập để giúp lấy thông tin thông qua các bài viết xuất bản bằng tiếng Đức và các cơ sở của điều tra mà chủ yếu là các tài liệu nghiên cứu và sách về giới từ Qua đó, luận án có thể khái quát được các nghĩa cũng như cơ sở tri nhận của giới từ định vị không gian trong tiếng Đức và tiếng Việt

- Phương pháp so sánh, đối chiếu được sử dụng trong hầu hết các phần của

luận án, từ khâu khảo sát, thống kê, phân loại, phân tích, miêu tả, kết luận… giúp cho việc liên hệ những đặc điểm về khái niệm giới từ không gian, nhằm chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa các giới từ chỉ không gian trong tiếng Đức và tiếng Việt theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận, so sánh đối chiếu

đặc điểm ngữ nghĩa, đặc điểm tri nhận luận không gian các giới từ auf/in trong tiếng Đức với tiếng Việt Đối chiếu mối quan hệ giữa auf/ in với trên/ trong từ hai góc độ tri nhận khác nhau của người Đức và người Việt và so sánh về tri nhận định

Trang 18

vị không gian Phương pháp so sánh đối chiếu mà tác giả sử dụng là đối chiếu một chiều: xuất phát từ việc miêu tả, phân tích sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa trên cơ

sở nghiệm thân của giới từ auf/in trong tiếng Đức để tiến hành miêu tả, phân tích sự

mở rộng, phát triển đặc điểm ngữ nghĩa của từ tương đương trong tiếng Việt Từ đó, luận án tiến hành đối chiếu để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt được thể hiện trong hai ngôn ngữ

- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa được sử dụng để:

Phân tích các ngữ cảnh trong câu tiếng Đức đối chiếu với tiếng Việt, phát hiện các nghĩa tố cần yếu trong cấu trúc nghĩa của từ

Phân tích đặc điểm ngữ nghĩa của các giới từ không gian auf/in trong tiếng

Đức đối chiếu với tiếng Việt

- Thủ pháp thống kê phân loại được sử dụng để thống kê phân loại các giới

từ định vị không gian auf/in căn cứ trên ngữ liệu bằng tiếng Đức và tiếng Việt được

tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau để tìm ra các nghĩa và cơ sở tri nhận của giới từ định vị không gian của người Đức và người Việt Thủ pháp này đặc biệt được sử dụng nhiều ở chương cuối - chương khảo sát việc sử dụng các giới từ không gian trong tác phẩm văn học tiếng Đức được dịch sang tiếng Việt nhằm xem xét sự phong phú của các giới từ được sử dụng, xem xét sự chênh nhau về tần suất xuất hiện của các giới từ có trong nguyên bản và bản dịch, xem xét tần số các của các lỗi dịch v.v Qua đó, luận án tìm ra các nguyên nhân để có thể có những kết luận về cách sử dụng khác nhau các giới từ mang tính chất đặc trưng văn hóa dân tộc trong hai thứ tiếng

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Nghiên cứu về giới từ trong tiếng Đức không nhiều Vì vậy qua việc nghiên cứu này, luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ lý luận về đặc điểm giới từ định vị

không gian trong tiếng Đức cụ thể là các giới từ auf/in đối chiếu với tiếng Việt và

cơ sở tri nhận của nhóm giới từ này

Luận án đã tập trung phân tích ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của giới từ không

gian auf/in trong tiếng Đức đối chiếu với tiếng Việt nhằm làm rõ sự tương đồng và khác biệt về tri nhận không gian trên/ trong của người bản ngữ và người Việt

Trang 19

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lý luận

Có thể nói luận án là thử nghiệm đầu tiên, khảo sát, nghiên cứu lý luận về

đặc điểm giới từ định vị không gian auf/in (trên/ trong) trong tiếng Đức đối chiếu

với tiếng Việt tổng hợp từ nhiều góc độ: nghĩa học, ngôn ngữ học tri nhận và sự

hành chức của chúng (qua cuốn tiểu thuyết Die Vermessung der Welt và bản dịch

Đo thế giới) Bằng cách vận dụng những thành tựu ngôn ngữ học trong và ngoài

nước ở cả 3 lĩnh vực kể trên, đặc biệt là ngữ nghĩa học tri nhận, luận án đã làm rõ được những sự giống nhau và khác nhau về nội dung ngữ nghĩa và các chế định tri nhận trong việc sử dụng của các giới từ không gian trong tiếng Đức và tiếng Việt, quyết định các đặc điểm ngữ pháp của chúng Từ đó luận án góp phần làm sáng tỏ các luận điểm lý thuyết, lý luận và bổ sung tư liệu cho việc nghiên cứu về đặc điểm

giới từ định vị không gian auf/ in (trên/ trong) theo các quan điểm của ngôn ngữ

học tri nhận Ngoài ra luận án cũng tập trung nghiên cứu cặp giới từ định vị không

gian auf/in (trên/ trong) trong tiếng Đức so sánh đối chiếu với tiếng Việt

Kết quả khảo sát về các đặc điểm ngữ nghĩa của giới từ tri nhận không gian này góp phần giúp cho các nhà nghiên cứu có thêm luận chứng để đi sâu nghiên cứu thêm về ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của chúng Ngoài ra, luận án còn góp phần khẳng định một trong những hướng đi mới của ngành ngôn ngữ hiện đại

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Việc phân tích ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của giới từ định vị không gian

auf/ in (trên/ trong) có ý nghĩa thực tiễn vì nó giúp cho việc dạy và học giới từ này

hiệu quả hơn Trong quá trình dạy và học tiếng Đức, có những sự nhầm lẫn mà nhiều người chưa hiểu rõ nghĩa của chúng do có sự khác nhau về tri nhận không gian giữa người bản ngữ và người Việt Do đó, kết quả nghiên cứu của luận án góp phần giúp người dạy và học sử dụng và hiểu dễ dàng hơn về nhóm giới từ này

Ngoài ra, kết quả nghiên cứu đặc điểm giới từ định vị không gian trong tiếng Đức so sánh đối chiếu với tiếng Việt sẽ giúp người học hiểu sâu và rõ hơn về những

sự tương đồng và khác biệt giữa chúng, cũng như đóng góp thêm một hướng nghiên cứu mới với một màu sắc riêng về đặc điểm giới từ định vị không gian trong hai ngôn ngữ

Trang 20

Kết quả nghiên cứu của luận án cũng cung cấp một khối ngữ liệu Đức – Việt

về giới từ này giúp ích cho công tác dịch thuật trong hai ngôn ngữ, việc biên soạn tài liệu tham khảo, giáo trình, từ điển giải thích tiếng Việt hoặc từ điển đối chiếu Đức - Việt và Việt - Đức cũng như có thể là đóng góp thêm ý kiến vào việc đổi mới

giáo trình phục vụ cho việc dạy và học giới từ auf/in nói riêng và tiếng Đức nói

chung

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, phần Nội dung

nghiên cứu của luận án gồm 3 chương như sau:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương 2 Đặc điểm ngữ nghĩa các giới từ chỉ không gian auf/ in trong tiếng Đức

đối chiếu với tiếng Việt

Chương 3 Đối chiếu cơ sở tri nhận không gian của giới từ auf/ in trong tiếng Đức

với tiếng Việt

Chương 4 Khảo sát thực tiễn sử dụng các giới từ auf và in trong tác phẩm “Đo thế

giới” với bản dịch tiếng Việt

Trang 21

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Những nghiên cứu nói chung trên thế giới về giới từ định vị không gian

Trong ngữ pháp, giới từ (tiếng Đức: Präposition) là một bộ phận lời nói giới thiệu một giới ngữ Một giới từ được đặt vào câu sẽ chỉ ra mối quan hệ giữa

những điều được đề cập trong câu ấy Ví dụ, trong câu Die Katze schläft auf dem Sofa (Con mèo ngủ trên ghế sofa), từ auf là một giới từ chỉ địa điểm, giới thiệu giới ngữ “auf dem Sofa” Trong tiếng Đức, các giới từ không gian được dùng phổ biến

như: in, an, auf, … Các giới từ chỉ không giann này được rất nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu, theo A Herskovits (1986), mỗi giới từ đều có một nghĩa lý tưởng

(ideal meaning), có tính hình học tồn tại trong một thế giới lý tưởng của các đường, điểm, bề mặt và của các mối quan hệ như: bao hàm, tiếp xúc, giao nhau Khi nói về

vị trí của giới từ thì Sommerfeldt/ Starke (1998) giải thích theo nghĩa khác: “Theo vị trí của chúng, giới từ được xếp vào các nhóm khác nhau: giới từ luôn ở vị trí đứng trước danh từ hoặc cụm từ như: in, an, auf, .” [121], và “nhóm giới từ thường đứng sau danh từ hoặc cụm từ như: zuliebe, zuwider, những giới từ vừa có thể đứng trước vừa có thể đứng sau danh từ hoặc cụm từ là: nach, zu ” [121] Phân

loại từ loại về giới từ, chúng ta có thể tìm xem các tác giải như Wöllstein- Leisten, A./ Heilmann, A./ Stepan, P./ Vikner, S (2006) [145]; Musan, R (2009) [114, tr.16]; Pafel, J (2011) [115] Theo Helbig/ Buscha (2001) thì hầu hết giới từ thứ

yếu đi với thuộc cách hay sở hữu cách (Genitiv - chủ sở hữu của một vật hoặc trong trường hợp danh từ đi kèm với những giới từ được quy định dùng với Genitiv), chỉ rất ít đi với tặng cách (Dativ - tân ngữ gián tiếp, danh từ đi kèm với những giới từ được quy định dùng với Dativ) hoặc đối cách (Tân ngữ trực tiếp, danh từ đi kèm với những giới từ được quy định dùng với Akkusativ) [88, tr.353] Trong tiếng Đức có

ba giống: đực (männlich/Maskulinum - der), cái (weiblich/Femininum - die) và trung (sächlich/Neutrum - das) “Có 20 giới từ chính yếu, những giới từ này ngắn

có một đến hai hình vị và được sử dụng với tần số rất cao trong ngôn ngữ, trong khi

đó giới từ thứ yếu chỉ xuất hiện trong những cấu trúc tranh luận và xã hội phức tạp”[142, tr.614] Tác giả Wolfgang Boettcher (2009) cũng đề cập đến nguồn gốc

của giới từ, ông cho rằng “theo đó giới từ phát triển từ danh từ, động từ, trạng từ và

Trang 22

tính từ” [143, tr.142] Weinrich, H (2005) cho rằng “đối với những cách cụ thể thì giới từ xuất hiện bằng cách đi kèm với mạo từ, trong một vài trường hợp thì nó có thể được rút ngắn” [142, tr.614]

Khi đề cập đến giới từ chỉ không gian liên quan đến vấn đề tri nhận, ngôn

ngữ học tri nhận (Cognitive linguistic) trong những thập niên trở lại đây đã nổi lên

như một khuynh hướng ngôn ngữ học độc đáo, đầy triển vọng với những tên tuổi lớn như Langacker, Fauconnier, Herskovits, Jackendoff, Lakoff, Talmy, Taylor,

Weizbicka Năm 1957, Chomsky trong cuốn Các cấu trúc cú pháp (Syntactic structures) đã kêu gọi ngôn ngữ học phải trở thành một bộ phận của khoa học tri nhận

Các tác giả đã có những công trình viết về giới từ định vị không gian trong ngôn ngữ học tri nhận

Nhà ngữ pháp chức năng nổi tiếng Halliday [86] cho rằng “giới từ không tách rời khỏi các từ loại khác mà luôn được xếp đặt, kết hợp, sử dụng trong tình huống, ngữ cảnh, trong mối quan hệ tầng bậc gồm ngữ cảnh ngữ nghĩa, từ vựng- ngữ pháp”

Tiếp theo, đáng chú ý là các công trình nghiên cứu của Leech [106], Leech

và Svartvit [105] trình bày rất nhiều vấn đề liên quan đến giới từ chỉ không gian Hai tác giả đã chỉ ra một điều thú vị là việc lựa chọn một giới từ chỉ nơi chốn nào

đó phụ thuộc vào cái cách thức chúng ta nhìn sự vật theo các chiều không gian (một chiều, hai chiều hay ba chiều)

Nghiên cứu chuyên sâu hơn về giới từ không gian, phải kể đến những công nghiên cứu của Talmy [130], [134] và Herskovits [90], [91] chú trọng đến việc miêu tả ý nghĩa và cách dùng của các giới từ không gian và các biểu đạt không gian,

cả từ góc nhìn ngôn ngữ và tri nhận Talmy [130] nói đến các sơ đồ không gian (tức

là các kiểu hình học hóa) các đối tượng định vị, phân loại các thuộc tính không gian thành các loại nhỏ hơn như: vật lý, hình học, tôpô, Talmy [134] thảo luận kỹ về hình học của các vật thể trong mối quan hệ không gian và hình thành các phân loại cấu trúc không gian của ngôn ngữ Herskovits [90], [91] bàn về các vấn đề: các tình huống, các nghĩa lý tưởng, các yếu tố ngữ dụng liên quan đến giới từ và các miêu tả hình học của các vật thể trong các mối quan hệ không gian, trong đó hai cách thức tri nhận và miêu tả không gian được gọi là hai cách nhìn cơ bản, chính tắc

Trang 23

(fundamental/canonical) và cách nhìn ý niệm hóa hình học (geometrical conceptualization)

Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm giới từ không gian trong tiếng Anh như một số tác giả Brugman, Brenda, Svorou với các tác phẩm

như The Story of over (1988); The cognitive Perspective on the Polysemy of the English Spatial Preposition Over (2014); The grammar of space (1994) Về sau

này, đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Tyler and Evans (2003) trình bày một

phân tích lý thuyết cơ bản về ngữ nghĩa của giới từ tiếng Anh [140] The Semantics

of English prepositions: Spatial senses, embodied meaning and cognition, Cambridge University Press Hoặc bản dịch Tyler, A & Evan, V (2003), The Semantics of English prepositions: Spatial senses, embodied meaning and cognition, Cambridge University Press (Bản dịch của Lâm Quang Đông và Nguyễn Minh Hà (2017), Ngữ nghĩa giới từ tiếng Anh: Khung cảnh không gian, nghĩa nghiệm thân và tri nhận, Nxb ĐHQG.)

Hai tác giả Tyler and Evans cho rằng tất cả các giới từ trong tiếng Anh đều được mã hoá trong các mối quan hệ không gian giữa hai thực thể vật lý Ngoài nghĩa gốc không gian của chúng, các giới từ còn có nhiều nghĩa khác không chỉ về không gian, nhưng được gắn với sự tri nhận vật lý - không gian của con người Các tác giả nhấn mạnh đến một khái niệm rất quan trọng trong ngữ nghĩa của các giới từ

là “kịch cảnh không gian” (spatial scene) biểu hiện một quan hệ được ý niệm hóa (a conceptualized relation) dựa trên sự tương tác và trải nghiệm không gian của các

thực thể Các thực thể có quan hệ với nhau theo một cách thức hình thể - không gian

(spatio-configurational) nào đó

Một trong những nghiên cứu gần đây nhất đó là nghiên cứu của Brenda [70] cũng đã trình bày rất kỹ về mạng lưới nghĩa của giới từ không gian dựa trên các nghĩa đã được Tyler và Evans [140] trình bày nhưng có sự phân tích kỹ hơn và so sánh với các giới từ tương đương được sử dụng bởi người Ba Lan Nghiên cứu cũng

đã cung cấp cho độc giả một cách nhìn rõ nét hơn về sự khác biệt trong tri nhận không gian giữa người Anh và người Ba Lan

Ngoài ra, Conventry và Garrod‟s [76] đã đóng góp thêm cho mảng nghiên cứu này thông qua việc đưa ra các yếu tố để phân biệt các thành tố chức năng trong các nghĩa không gian Trong việc định vị trong không gian, việc xác định nghĩa

Trang 24

hình (Figure) và nền (Ground) rất quan trọng Nó đóng vai trò xác định hệ quy

chiếu để định vị sự vật trong không gian

1.1.2 Những nghiên cứu trong nước về giới từ định vị không gian trong tiếng Việt

Trong bất kỳ ngôn ngữ nào cũng có một lớp từ thể hiện không gian Chúng phản ánh cách nhận thức về thế giới xung quanh của dân tộc nói thứ tiếng đó Sự nhận thức này liên quan đến đặt trưng văn hoá – tâm lý của họ Trong khi nhận thức

về thế giới, trước hết là thế giới khách quan: con người luôn nhận biết các vật thể

trong không gian và trong thời gian Do đó, không gian và thời gian là hai phạm trù

được đặc biệt chú ý nghiên cứu trong ngôn ngữ học

Ngôn ngữ học truyền thống coi không gian và thời gian có vai trò như nhau,

do đó trong Việt ngữ học mới hình thành nên thuật ngữ “thời vị ngữ” Thế nhưng trong những năm gần đây các nhà ngôn ngữ đã có nhiều nghiên cứu về hai phạm trù

này và đã đi đến nhận xét rằng không gian có vai trò quan trọng hơn thời gian trong

việc tổ chức ngôn ngữ Các hình ảnh trong thế giới được phản ánh qua ngôn ngữ

trước hết là sự phản ánh về sự nhận thức không gian rồi mới tới thời gian Từ đó

trong ngôn ngữ học hiện đại hình thành nên một ngành khoa học mới gọi là khoa

học tri nhận Điều này một lần nữa cho thấy không gian có vai trò rất quan trọng

trong ngôn ngữ Và nó cũng là đối tượng được dùng để nghiên cứu của các ngành khoa học khác như toán học, vật lý học, triết học…

Có thể nói lịch sử nghiên cứu về giới từ tiếng Việt được bắt nguồn từ khá sớm nhưng vẫn còn ít công trình nghiên cứu mang tính chuyên sâu Những nghiên cứu ban đầu làm việc theo phương thức ngữ pháp dịch, cụ thể là đối chiếu với các bản dịch tương ứng giữa các ngôn ngữ với tiếng Việt để phân loại giới từ Và những nghiên cứu này được nhóm các tác giả như Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm, Trần Trọng Kim, đã làm trong suốt những năm đầu thế kỉ XX và là người đưa ra tên gọi “giới từ” khi xác định chúng là “tiếng dùng để liên lạc” Trong những nghiên cứu của các tác giả như Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Tài Cẩn đã dựa vào các đặc điểm từ vựng - ngữ pháp của từ trong hoạt động ngôn ngữ để phân loại chúng nên đã khắc phục được những nhược điểm của nhiều tác giả đi trước nghiên cứu về chúng Theo

Nguyễn Kim Thản [39, tr.330] thì “giới từ là một loại hư từ (trong nhóm quan hệ từ) có tác dụng nối liền từ phụ (hoặc từ tổ phụ) với từ chính (hoặc từ tổ chính) biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa hai đơn vị đó”

Trang 25

Nhưng về sau này đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến giới từ của một số tác giả như Nguyễn Lai (1990), Nguyễn Cảnh Hoa (2001), Lý Toàn Thắng, Trần Quang Hải, Dương Kỳ Đức (2001) nghiên cứu sâu hơn đến phương diện ngữ nghĩa của những giới từ Tuy nhiên không một ai trong những tác giả này nghiên cứu độc lập về giới từ và sử dụng chúng như là một đối tượng nghiên cứu chủ đạo Với Nguyễn Lai thì đối tượng mà ông quan tâm đến là nhóm từ chỉ hướng

vận động: “ra, vào, lên, xuống, qua, đến, đi, ” Còn với Lý Toàn Thắng lại là cơ

chế tri nhận không gian của người Việt và những đặc trưng của tri nhận không gian trong định vị không gian

Nguyễn Minh Thuyết (1986) khi bàn về vấn đề xác định hư từ trong

tiếng Việt cho rằng giới từ là một từ loại nằm trong hư từ chân chính, nó “(1) không có ý nghĩa chân thực; (2) không có khả năng làm thành phần câu và khả năng một mình làm nên một câu độc lập” [62, tr.39]

Ngoài ra, đi theo hướng nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận, chúng ta không thể không kể đến tác giả Lý Toàn Thắng với một số công trình nghiên cứu tiêu biểu

về sự tri nhận không gian như luận án TSKH của tác giả (bằng tiếng Nga) với đề tài

“Mô hình không gian của thế giới: sự tri nhận, văn hoá và tâm lí học tộc người” [51], từ luận án này, ông đã hoàn thành công trình nghiên cứu “Ngôn ngữ học tri nhận: Từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt” [54] tiếp tục phân tích sâu về

các vấn đề liên quan đến sự tri nhận không gian, trong đó ông dành nhiều trang viết

về các từ “trên – trong” Chú ý hơn nữa là, trong lần tái bản [55], ông đã dành gần hết chương 8 để bàn về các ý niệm “trên - trong” và bình diện nghĩa của câu; và gần đây ông còn có bài khảo sát riêng về Định vị không gian “trên - dưới” trong tiếng Việt [56] Nghiên cứu đã cung cấp cho người đọc một cách nhìn về ý niệm “trên”

trong tiếng Việt, khái niệm “định hướng tuyệt đối” và đặc điểm tri nhận trong cách

dùng từ định vị “trên” Tác giả đã so sánh, đối chiếu tiếng Việt với các ngôn ngữ

khác như tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Nga và tiếng Pháp, để làm nổi bật lên nét đặc

thù trong sự định vị “trên” của tiếng Việt, tuy nhiên ông chưa đề cập đến từ “dưới”

Tiếp đến là một nghiên cứu gần đây của Đinh Văn Đức [15] cũng đề cập đến cách dùng của các giới từ chỉ địa điểm Ông cũng cho rằng chỉ có người Việt mới

hiểu đúng được cách dùng thế nào là “trên” và “dưới” được minh họa trong các ví

dụ sau: Bóng đèn ở trên trần, Ngồi dưới đất Ông cũng đưa ra thêm các ví dụ khác

Trang 26

về giới từ “trên” Ví dụ câu “Trên bàn có cuốn sách” thì khác với câu “Trên vấn đề

này còn nhiều thắc mắc” Ở đây, ông muốn minh chứng rõ ràng từ “trên” đã có một sự chuyển dịch trong quá trình ý niệm hóa vì “trên bàn” là quy ước với một sự vật cụ thể, còn “trên vấn đề” lại là một khái niệm trừ tượng Giá trị tuyệt đối của từ

“trên” trong hai câu trên là giống nhau, đó là giá trị tuyệt đối của cái nghĩa ngữ

pháp, nó hình thức hóa bởi vị trí của giới từ ở trước danh từ [15, tr.260]

Đáng chú ý hơn nữa là cuốn sách “Các bài giảng về từ pháp học tiếng Việt” của tác giả Đinh Văn Đức [15], ông đã chỉ ra rằng các giới từ chỉ vị trí như:

“trên, dưới, trước, sau, trong, ngoài, cạnh, bên, …” (ở chương 7 về liên từ và giới từ) là kết quả của quá trình tri nhận, ý niệm hóa và tạo nghĩa

Ngoài ra, nói về đặc điểm giới từ chỉ không gian và thời gian, tác giả có thể tìm thấy trong các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sỹ, báo cáo khoa học có đề tài liên

quan đến giới từ tiếng Đức như luận án của tác giả Lê Thị Lệ Thanh “Trường từ vựng - ngữ nghĩa các từ ngữ biểu thị thời gian của tiếng Việt (trong sự so sánh với tiếng Đức)” (2001) Liên quan đến đối chiếu về giới từ không gian trong tiếng Anh

và tiếng Việt, có luận án của Đặng Thị Hương Thảo “Ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của các giới từ định vị không gian theo chiều “trên-dưới” trong tiếng Anh, đối chiếu với tiếng Việt.” (2019)

1.2 Một số lý thuyết về không gian trong ngôn ngữ học tri nhận

1.2.1 Khái niệm cơ bản về tri nhận và về không gian

Tri nhận (cognition) – là khái niệm trung tâm của khoa học tri nhận Nó

chứa đựng hai nghĩa của những từ La Tinh kết hợp lại: cognitio có nghĩa là nhận thức và cogitatio có nghĩa là tư duy, suy nghĩ và gọi chung là tri nhận (cognition)

Trần Văn Cơ [9] cho rằng tri nhận biểu hiện một quá trình nhận thức hoặc là tổng thể những quá trình tâm lí (tinh thần, tư duy) – tri giác, phạm trù hoá, tư duy, lời nói v.v… phục vụ cho việc xử lí và chế biến thông tin Theo ông thì tri nhận là tất cả những quá trình trong đó những dữ liệu cảm tính được сải biến khi truyền vào trong não dưới dạng những biểu tượng tinh thần (hình ảnh, mệnh đề, khung, cảnh v.v.) để

có thể lưu lại trong trí nhớ con người

Lý Toàn Thắng [57, tr.14] đã nhận xét: “Tri nhận được hiểu như là một quá trình xử lí thông tin diễn ra trong tâm trí mỗi cá nhân con người Khảo sát quá trình đó tức là tìm hiểu xem những thông tin mà người tiếp nhận được trình bày, xử

Trang 27

lí và cải biến như thế nào trong những khả năng và quá trình tinh thần/tri nhận khác nhau của con người, cũng như các quá trình tri nhận sử dụng các tri nhận hiện hữu và tạo sinh các tri thức mới ra sao Nói một cách khác, mục đích xử lí thông tin, các hệ thống biểu hiện tri thức cũng như nghiên cứu những nguyên lí tổ chức khả năng tri nhận của con người trong một cơ chế thống nhất và xác lập các mối quan hệ qua lại giữa chúng”

Ngoài ra, ông cũng nhấn mạnh: Đối với khoa học tri nhận, trên đại thể tri nhận được hiểu như sau: đó là một hệ thống những khả năng và quá trình tinh thần của con người liên quan tới tri thức như: tri giác, ngôn ngữ, chú ý, ký ức, suy lí, quyết định, giải quyết vấn đề tư duy, học tập, đôi khi tùy theo tác giả, cũng có thể

kể thêm vào đây cả: cảm xúc là một cái mà bình thường ra tâm lí học vốn không coi thuộc vào số các quá trình tinh thần/tri nhận

N Chomsky (1980) khẳng định rằng động từ tiếng Anh to cognize vừa biểu

hiện những hành động có mục đích, có ý thức, vừa biểu hiện những quá trình diễn

ra một cách vô thức Đó là cơ sở để ông đối lập động từ to cognize “tri nhận” với động từ to know “biết”

Cấu trúc và quá trình tri nhận đã được các nhà tri nhận luận nghiên cứu dưới nhiều dạng rất phong phú, chẳng hạn, dưới dạng những kiến tạo mô hình kiểu khung (frame) của M Minsky, kiểu cấu hình ứng dụng của Ch Fillmore, kiểu mô hình tri nhận lí tưởng của G Lakoff, kiểu không gian tinh thần của R Jackendoff, kiểu siêu phạm trù ngữ nghĩa-ngữ pháp của L Talmy hoặc kiểu bức tranh ngây thơ

về thế giới của Ju Aprexian v.v…

Không gian là một mô hình mở rộng ba chiều không biên giới trong đó các

vật thể và sự kiện có vị trí và hướng tương đối với nhau Theo quan điểm của Isaac Newton thì không gian là tuyệt đối - theo nghĩa nó tồn tại vĩnh viễn và độc lập với sự có mặt hay không của vật chất trong không gian Không gian vật lý thường được hiểu trong ba chiều tuyến tính, mặc dù các nhà vật lý thường xem nó, cùng với thời gian, là một thực thể chung của continum bốn chiều không biên giới gọi là không thời gian Khái niệm không gian được coi là quan trọng cơ bản để hiểu các tính chất vật lý và quá trình của vũ trụ Tuy nhiên, vẫn có những tranh luận từ các nhà triết học về liệu không gian là một thực thể, là mối liên hệ giữa các thực thể, hay là một khái niệm định nghĩa trong khuôn khổ của ý thức

Trang 28

Theo tác giả Frawley [84] thì khi nghiên cứu về không gian và cách biểu hiện nó trong ngôn ngữ chúng ta cần hiểu rõ những khái niệm cơ bản như sau:

- Không gian là một khái niệm quan hệ;

- Không gian đó được tri nhận dựa trên những nhận thức kinh điển và ngây thơ của chúng ta về thế giới

Muốn nắm được và hiểu rõ hơn về các mối quan hệ trong không gian, chúng

ta cần phải biết đến khái niệm khung cảnh không gian Các tác giả Tyler và Evans

[140, tr.28] đã đưa ra nhận xét như sau: “Như vậy, khung cảnh không gian và sự ý niệm hóa khung cảnh không gian của chúng ta bao gồm các thực thể trên thế giới

có quan hệ với nhau theo những cách lặp đi lặp lại Cái quan hệ được ý niệm hóa phụ thuộc vào hiểu biết độc đáo của con người chúng ta cũng như trải nghiệm của chúng ta về thế giới vật chất” và các tác giả cũng nêu rõ: “Khi một khung cảnh không gian đã được kiến tạo, trong đó thực thể được ý niệm hóa là có quan hệ với nhau theo những cách thức nhất định, sự ý niệm hóa này là có ý nghĩa; nó cung cấp những khái niệm như sự nâng đỡ và sự bao chứa Một khái niệm như sự nâng đỡ xuất phát từ trải nghiệm không gian - vật lý; đến lượt nó, nó có thể được mở rộng một cách có hệ thống sang các lĩnh vực phi không gian” Nếu muốn giải thích các

nghĩa không gian và phi không gian thì chúng ta cần hiểu rõ khái niệm về không gian cũng như khung cảnh không gian

Ngoài ra, theo Maria và Elsa [112] chúng ta cũng cần phải nhắc tới không gian tinh thần vì nó được kiến tạo nên bởi các khung và các mô hình tri nhận Khi chúng ta nghĩ và nói sẽ hình thành nên không gian tinh thần

Khi xác định mối quan hệ trong không gian, chúng ta không chỉ xác định vị trí tĩnh tại của chủ thể mà còn xác định cả quan hệ động của chủ thể khi chủ thể chuyển động từ vị trí này đến vị trí khác Để xác định rõ được mối quan hệ của chủ thể trong không gian thì chúng ta cần xác định rõ vị trí không gian như là vị trí gốc (xuất phát) hay là vị trí đích (cần hướng đến) Điều này được chứng minh qua mô hình chia cắt không gian của Frawley [84] và mô hình tầng bậc quan hệ không gian của Trujillo [139, tr.171]

Như vậy có thể nói rằng, những khái niệm và định nghĩa của các tác giả về tri nhận và không gian là rất đa dạng, phong phú, có nhiều cách nhìn đa chiều về không gian trong ngôn ngữ học tri nhận Nhờ đó mà nhóm tác giả khi nghiên cứu về

Trang 29

đề tài đã dựa trên khung lý thuyết tri nhận và không gian của các tác giả đi trước để làm tiền đề nghiên cứu cho luận án của mình

1.2.2 Sự định vị và các đặc điểm định vị không gian trong ngôn ngữ học

Tác giả Levinson đã mở đầu cho phần tri nhận không gian trong khoa học tri

nhận như sau: “Nhân loại tư duy theo không gian” (Human beings think spatially) Tác giả viết tiếp “Không có ngoại lệ - nhưng cũng không có bất kỳ sự hoài nghi nào

về một trong những trò lừa gạt cố hữu của sự tri nhận có tính nhân bản” [107, tr

357] Ở đây tác giả muốn nói đến như là một lời cảnh báo rất nghiêm túc vì khái niệm không gian trong ngôn ngữ học là một cái gì đó rất khác với không gian vật lý khách quan trong nhận thức khoa học, cũng như không gian chủ quan tồn tại trong đầu óc con người với tính cách như là một chủ thể nhận thức về không gian

Theo như Levinson đã viết “Không gian tuyệt đối là vô nghĩa, nó chỉ cần cho chúng ta để bắt đầu bằng sự quy chiếu không gian đến một hệ thống của các trục (đối xứng) được giới hạn một cách cố định cho cơ chế” (108, tr.5)

Cũng theo Stacey “Chúng ta trải nghiệm thế giới này bằng những cách thức

mà sự thành tạo sinh học của chúng ta đã xác định Chúng ta được cho biết rằng có một thế giới bên ngoài với những chi phối của các quy tắc vật lý, nhưng những gì

mà chúng ta trải nghiệm lại không nhất thiết là một thế giới có luật lệ về mọi phương diện Chúng ta được biết rằng có các nguyên tử, nhưng chúng ta chẳng bao giờ nhìn thấy chúng, chúng ta được dạy rằng có trọng lực nhưng chúng ta chỉ thấy

có các quả táo rơi từ trên cây xuống, chúng ta được dạy rằng trái đất thì tròn và chuyển động không ngừng, nhưng hình như là nó đứng yên và bằng phẳng dưới chân ta; chúng ta được dạy rằng trái đất chuyển động quanh mặt trời, nhưng sáng nào chúng ta cũng thấy mặt trời mọc lên từ đường chân trời, và tối nào cũng lặn xuống, chẳng phải là trái đất chuyển động” [122, tr.8] Cũng theo như những lời trích dẫn từ công trình nghiên cứu The Grammar of Space (Ngữ pháp không gian)

của Svorou (1994) đã chỉ ra cho thấy một sự khác biệt lớn lao giữa không gian vật

lý và không gian nhận thức Một cách tiên nghiệm, có thể nói rằng không gian trong ngôn ngữ không phản ánh toàn bộ không gian nhận thức, mà là một sự phản ánh có chọn lọc và chịu sự chi phối của hệ thống ngôn ngữ, đặc biệt là sự chi phối xuất phát từ những khả năng hạn chế của ngôn ngữ

Trang 30

Trong giao tiếp hàng ngày, con người trao đổi, giao tiếp với nhau về các sự việc đồng thời cũng định vị chúng trong không gian, các diễn biến của các sự việc được trao đổi cùng với các yếu tố cấu thành tạo nên chúng cũng như các đặc trưng của chúng, ấn định thời gian cho chúng xuất hiện Cũng theo Svorou (1994) thì mỗi một biểu đạt định vị không gian có một mức độ minh bạch hay tường minh khác nhau Tính minh bạch tham gia vào các sự tình với những yếu tố được hình dung khác nhau trong mối quan hệ với ý muốn của người nói Tuy nhiên, các mức độ minh bạch cũng phụ thuộc vào ý định giao tiếp của người nói, vào chính diện người nghe và vào ngữ cảnh giao tiếp xung quanh mà họ đang tham dự Theo tác giả Lê

Văn Thanh “Nếu người nói và người nghe cùng biết mốc trực chỉ “(tại) đây” và

“(trong) lúc này” và đang nói về các thực thể trong phạm vi ngữ cảnh ấy, họ có thể

sử dụng những cách diễn đạt có độ tường minh thấp (như: “(ở) đây, (ở) đó, (ở) kia”), và như thế là đủ và thỏa đáng [48, tr.42] Khi người nói và người nghe ít nhiều có sự hiểu biết khác biệt về mốc trực chỉ thì thường xảy ra những cách diễn đạt có độ tường minh cao

1.2.3 Vị trí, hướng và các trục định vị không gian

Theo tác giả Frawley [84] thì có những vị trí phụ thuộc vào góc độ (vị trí) của người nói, người nghe và có những vị trí mang tính độc lập riêng Ông đã đưa

ra sự định vị có tính chia cắt không gian qua sơ đồ như sau:

Trang 31

được phân bổ theo các trục được áp đặt một cách tri nhận vào ĐTQC với tư cách như là một thực thể không gian ba chiều Các vị trí (a, b, c) là những vị trí mang tính tôpô, đứng độc lập khách quan Bên cạnh khái niệm vị trí định vị không gian thì còn có một khái niệm quan trọng cũng tham gia vào mối quan hệ định vị không

gian đó là “hướng” Theo Frawley thì “Hướng cấu thành sự trải nghiệm không gian của con người như là đường chuyển động và đường nhìn” [84, tr.24] Một hướng có

thể cho là không gian Lyons [111] đã đưa ra nhận xét rằng trong không gian nhận thức, tồn tại ba hướng ưu tiên đến vị thế gồm các hướng như: hướng trên - dưới (trục thẳng đứng), hướng trước - sau (trục thiên tuyến) và hướng phải - trái (trục đối lập bên) Do vậy mà nhận xét của ông được nhiều người đồng tình, ủng hộ, xuất phát từ những nguyên do mang tính nhân bản đó là lấy con người làm gốc rễ, làm trung tâm như hai tác giả Becker và Carrol (1997) và những tác giả khác cũng từng

nêu rõ: “Hình dáng đứng thẳng của con người, sự phi cân xứng giữa phần trên và phần dưới của cá thể và sự trải nghiệm các hệ quả của trọng lực cho phép nhận biết chiều thẳng đứng Chiều thiên tuyến có thể được phái sinh từ đường chuẩn của chuyển động và đường nhìn và từ sự phi cân xứng của mặt trước và mặt sau của cơ thể con người Không có một sự phi cân xứng thị giác nào thuộc kiểu dạng đã nói đối với trục bên ở trong tập quán phân chia trái và phải Bên trái được xác định theo phía trái tim theo đó con người là một ứng viên lý tưởng trong hệ thuật ngữ hình học: một điểm không cho việc thiết lập một hệ thống nhân hình ba chiều của các trục đồng hiện Một hệ thống như vậy có thể áp dụng cho một đối tượng bất kì nào ” [68, tr.25]

1.2.4 Những quan điểm đa nghĩa về không gian trong ngôn ngữ học tri nhận

Theo hai tác giả Tyler và Evans [140, tr.37] đã đúc kết hai quan điểm để giải

thích quan hệ giữa các nghĩa khác biệt của các giới không gian: đồng âm và đơn nghĩa Với quan điểm đồng âm thì cho rằng các nghĩa gắn với một hình thức cụ thể nào đó được lưu trữ đơn giản trong vốn từ vựng tinh thần với tư cách là các mục từ đơn nhất Từ đồng âm hay bị nhầm lẫn với từ nhiều nghĩa vì từ nhiều nghĩa là từ có nhiều nghĩa khác nhau Còn với quan điểm đơn nghĩa thì cho rằng có một nghĩa rất trừu tượng duy nhất và các nghĩa khác chỉ là những biến thể theo ngữ cảnh Tuy nhiên, các tác giả cho rằng nếu dựa trên hai quan điểm trên để phân biệt các nghĩa thì có thể không có lý giải thỏa đáng cho các nghĩa khác nhau Do đó, tác giả đưa ra

Trang 32

một quan điểm khác là đa nghĩa có nguyên tắc nhằm hạn chế các nhược điểm của hai quan điểm trên Vì vậy dựa trên quan điểm này các tác giả đã đưa ra được những lý giải cho việc các nghĩa của các giới từ có mối quan hệ với nhau một cách

hệ thống và có lý do

Thêm nữa, quan điểm đa nghĩa cũng như cách thức xác định nghĩa riêng biệt

và nghĩa “nguyên thủy” của Tyler và Evans đã giúp cho việc phân tích các nghĩa trở

lên rõ ràng và hợp lý Theo các tác giả thì chúng ta cần có tiêu chí để xác định nghĩa

“nguyên thủy” Và sau khi phân tích các cách xác định nghĩa “nguyên thủy” của

các nhà nghiên cứu đi trước, các tác giả đã đưa ra hai loại bằng chứng để hạn chế

bớt tính võ đoán trong việc lựa chọn nghĩa “nguyên thủy” đó là: bằng chứng ngôn

ngữ và bằng chứng thực tế Về bằng chứng về ngôn ngữ, các tác giả đưa ra 5 tiêu

chí như sau: (1) nghĩa được kiểm chứng sớm nhất, (2) chiếm ưu thế trong mạng ngữ nghĩa, (3) sử dụng trong các dạng thức tổ hợp, (4) mối quan hệ với các giới từ không gian khác, (5) dự đoán ngữ pháp

1.2.5 Tri nhận nghiệm thân

Do bản chất cơ thể của mình, bao gồm cả kiến trúc giải phẫu thần kinh, chúng ta có một cách nhìn riêng về thế giới Nói cách khác, phân tích của chúng ta

về “hiện thực” được điều đình, ở mức độ lớn, bằng bản chất sự nghiệm thân của chúng ta Trí não của con người, thông qua những trải nghiệm hoặc có tính cá nhân hoặc dựa vào hệ thống ý niệm của cộng đồng diễn ngôn, dung nạp, xử lý, lưu trữ, phục hồi và cả truy xuất tri thức không hoàn toàn thụ động mà có tính tương tác theo những phương thức tri nhận nhất định

Tương tác dễ quan sát nhất là với chính cơ thể của con người, coi con người

là trung tâm, tất cả các sự tình đều xuất phát từ con người mà ngôn ngữ học gọi là

những trải nghiệm nghiệm thân Trước hết, xuất phát từ thân xác con người (nghiệm thân sinh lý) Thân xác - một thực thể gần gũi, nơi thu nhận thông tin đầu vào, nơi

khởi phát những ý niệm cụ thể nhưng tầm bao quát và ảnh hưởng của nó trong tri nhận không chỉ có thế Những trải nghiệm tinh thần như nhận thức, cảm xúc và cả trải nghiệm vật chất như tư thế của con người tách biệt với mặt phẳng, vận động

trên mặt phẳng, đứng/ nằm; các hướng di chuyển như lên/ xuống, trước/ sau, phải / trái; cách cảm nhận ở đây/ ở đó/ đằng kia, bây giờ/ sau này/ lúc đó/ lúc khác… của

con người đều có thể là nguồn gốc của sự phóng chiếu

Trang 33

Tri nhận nghiệm thân không chỉ phụ thuộc vào thân thể mà còn cả sự tương

tác giữa con người với môi trường xung quanh (nghiệm thân (với) tự nhiên) Tại

đây, quá trình tương tác, chủ thể không thể không tác động đến môi trường tri nhận

và đến lượt nó, môi trường tri nhận không thể không ảnh hưởng ngược trở lại Sự hoạt động của trí óc con người là có cội rễ trong các cơ chế (được tiến hóa để tương tác với môi trường xung quanh) như là các cơ chế về cảm giác, cảm xúc và sự vận động Chúng ta chỉ có thể nói về cái chúng ta có thể nhận thức và cảm nhận, và những thứ mà chúng ta có thể nhận thức và thụ cảm phái sinh từ trải nghiệm được nghiệm thân Từ cách nhìn này, tư duy con người cần phải ảnh hưởng sâu đến trải nghiệm được nghiệm thân. Về mặt này có thể xem tri nhận nghiệm thân như là sự hồi âm giữa con người là chủ thể và môi trường

Tiếp theo, là tương tác giữa những người này với người khác (nghiệm thân

xã hội), trong mối quan hệ liên nhân, trước hết là các ràng buộc gắn liền với tri thức

nền, với niềm tin, với những chia sẻ chung trong một nền văn hóa chủ đạo

(mainstream culture) nhưng không thể không kể đến còn có các giá trị của các văn hóa nhóm (subculture)

Tác giả Lý Toàn Thắng [57, tr.16] đã đúc kết rằng các nhà ngôn ngữ học tri nhận khi sử dụng thuật ngữ này thường nhấn mạnh một số phương diện như sau:

“Thứ nhất, tri nhận phụ thuộc vào nhiều thứ của kinh nghiệm do chỗ con người có thân xác với nhiều khả năng cảm nhận- vận động Những khả năng này tự thân chúng ở mỗi cá nhân được “nghiệm thân” trong những bối cảnh bao quanh về sinh học, tâm lí và văn hóa

Thứ hai, mọi phương diện của tri nhận đều được tạo hình bởi các bình diện của thân thể Tri nhận nói ở đây bao gồm những phương diện khác nhau như: các kết cấu tinh thần bậc cao (như ý niệm và phạm trù) và sự thực thi nhiệm vụ tri nhận khác nhau (suy lí và phán đoán) Còn thân thể bao gồm các phương diện như thống động (motor) và hệ thống tri giác, cũng như là sự tương tác của thân thể với môi trường xung quanh”

Có rất nhiều cách hiểu về “nghiệm thân” khác nhau, Johnson [96], Johnson

và Tim Rohrer [97] đã tổng kết có 12 cách hiểu khác nhau về khái niệm nghiệm thân và dù là nghiệm thân hay trải nghiệm thân thể thì đều mang tính vật lí, tri nhận

và xã hội Ngoài ra, tác giả cũng nhấn mạnh hai quan niệm phổ biến rộng rãi, đó là:

Trang 34

nghiệm thân là trải nghiệm chung và nghiệm thân như là cơ tầng mang tính thân thể Theo Brenda [70, tr.10], một trong những yếu tố quan trọng của ngôn ngữ học tri nhận là khái niệm nghiệm thân vì nó nhấn mạnh vai trò trung tâm của thân thể con người trong sự trải nghiệm về thế giới khách quan xung quanh chúng ta

Hai tác giả Tyler và Evans [140, tr.32-35] cũng bàn về “thế giới vật chất của

sự trải nghiệm không gian có ý nghĩa như thế nào đối với con người chúng ta” Với mục đích đó, các ông đã đưa ra khái niệm “tương quan trải nghiệm” nhằm chứng

minh: “Những loại trải nghiệm có tương quan với nhau trong trải nghiệm của chúng ta là hệ quả tất yếu của bản chất trải nghiệm của chúng ta hay nói cách khác đây là sự tương tác giữa thế giới khách quan bên ngoài với cơ thể chúng ta Thực

tế, đôi khi chúng ta tổ chức trải nghiệm của ta một cách vô thức nhưng chúng ta vẫn bị ảnh hưởng lớn bởi chính những cái nguyên thủy nhất (với nghĩa là sớm nhất

và nền tảng nhất) đó là các trải nghiệm không gian và lực vật lý của chúng ta và là những trải nghiệm mà hệ ý niệm của chúng ta dựa vào” Điều này giúp chúng ta

giải thích sự khác biệt về cách sử dụng từ ngữ trong các ngôn ngữ

Thêm một khái niệm nữa cũng được hai tác giả Tyler và Evans [140, tr.35] nhắc đến đó là “tương đồng tri giác” Theo các ông, tương đồng tri giác xác lập các mối liên hệ giữa những ý niệm không dựa vào trải nghiệm đã có (như mối tương quan), hay nói đúng hơn đó là kết quả của tổ chức và nhận thức Thực tế, hai ý niệm được nhận thức là giống nhau về một phương diện nào đó (như sự giống nhau về vật lý nhận thức, hoặc nhận thức về những phẩm chất hoặc đặc điểm trừu tượng chung) sẽ được gắn kết ở cấp độ ý niệm

Tyler và Evans [140] đã dựa vào hai khái niệm trên là “tương quan trải nghiệm” và “tương đồng tri giác” để giải thích các nghĩa của các giới từ trong nghiên cứu của mình Những khái niệm này cũng giúp chúng ta có thể hiểu và giải thích rõ sự tương đồng cũng như sự khác biệt về tri nhận giữa các dân tộc mình

Trên đây là một trong những nguyên lý chỉ đường của Nghĩa học Tri nhận và

là trái tim của nhiều nghiên cứu trong ngôn ngữ học tri nhận Các học giả luôn kiên định bảo vệ điều này gồm có Lakoff và Johnson (1980) trong các công trình của họ bàn về ẩn dụ và lược đồ hình ảnh, Langacker (1987, 1991, 2008) trong sự phát triển

mô hình Ngữ pháp Tri nhận của ông, và Talmy (2000) trong những nghiên cứu sâu

Trang 35

của ông về cách thức ngôn ngữ mã hóa cấu trúc ý niệm và nghĩa học ý niệm (Dương, 2016b)

1.2.6 Các mô hình của ngôn ngữ học tri nhận

Trong văn liệu ngôn ngữ học hiện thời, thuật ngữ Ngôn ngữ học Tri nhận

thường có hai cách hiểu: Thứ nhất, theo cách hiểu rộng, bất cứ cách tiếp cận nào coi ngôn ngữ chủ yếu như một hiện tượng tinh thần, được định vị trong óc của những

người nói ngôn ngữ, đều có thể được coi là Ngôn ngữ học Tri nhận Với cách hiểu

này, bất cứ nhà ngôn ngữ học nào nhấn mạnh các thuộc tính hình thức của ngôn ngữ, hoặc cách dùng của chúng trong các ngôn cảnh tương tác, và thừa nhận những thuộc tính này bắt nguồn một cách sau cùng từ cách hành xử của những người nói

cá nhân Thứ hai, theo cách hiểu hẹp, thuật ngữ này tham chiếu đến một phong trào vốn có gốc gác ở bờ Tây nước Mỹ vào những thập niên cuối của thế kỷ XX như là

sự phản ứng lại một số xu hướng về lý thuyết đang thịnh hành vào thời đó, ấy là Ngữ pháp Sản sinh - Cải biến của Chomsky (2006)

Vì thế ngôn ngữ học tri nhận đã ứng dụng những mô hình khác nhau để lí giải về những sự vật hiện tượng tồn tại và xảy ra ở thế giới xung quanh chúng ta Điều này cho thấy ngôn ngữ học tri nhận không chỉ khác ngôn ngữ học truyền thống

ở cách tiếp cận đối tượng mà còn cả ở hệ phương pháp Chúng ta có thể kể đến các

mô hình của ngôn ngữ học tri nhận như: các mô hình về kí ức (gồm các “khung” và các “miền”), “chú ý”, “tri giác” và “phạm trù hóa”

Lý Toàn Thắng [57, tr.92-93], trong giới ngôn ngữ học tri nhận có những cách phân loại khác nhau về các quá trình ý niệm hóa hay các thao tác thuyết giải; trong

số đó có hai sự phân loại đáng chú ý nhất, của Langacker [102] và Talmy [134]

Theo Langacker [102] có các loại quá trình ý niệm hóa mà ông gọi là những

“điều chỉnh tiêu điểm” bao gồm:

a Lựa chọn (Selection)

b Phối cảnh (Perspective)

Hình (Figure): là đối tượng chuyển động

Nền (Ground): thực thể hoặc những thực thể mà hình đang di chuyển liên quan đến Chuyển động (Motion): sự hiện diện của chuyển động

Đường dẫn (Path): quỹ đạo của hình

Cách thức (manner): cách thức thực hiện chuyển động

Trang 36

Điểm nhìn (Viewpoint)

Chỉ xuất (Deixis)

Chủ quan (Subjectivity) / Khách quan (Objectivity)

Còn theo tác giả Talmy [134], có các loại quá trình ý niệm hóa mà ông gọi là những “hệ thống tạo hình ảnh” hay “hệ thống sơ đồ”

Sơ đồ hóa cấu trúc (Structural Schematization)

Phối cảnh (Deployment of Perspective)

Phân bổ Chú ý (Distribution of Attention)

Động lực (Force Dynamics)

Trừu tượng (Abstraction)

1.2.7 Ẩn dụ ý niệm và sự ý niệm hóa không gian

Ẩn dụ tri nhận (hay còn gọi là ẩn dụ ý niệm – cognitive/conceptual metaphor) – đó là một trong những hình thức ý niệm hoá, một quá trình tri nhận biểu hiện và hình thành những khái niệm mới và không có nó thì không thể nhận được tri thức mới Về nguồn gốc ẩn dụ tri nhận đáp ứng năng lực của con người nắm bắt và tạo

ra sự giống nhau giữa những cá thể và những lớp đối tượng khác nhau

Với cách tiếp cận chung nhất ẩn dụ được xem như là cách nhìn một đối tượng này thông qua một đối tượng khác, và với ý nghĩa đó ẩn dụ là một trong những phương thức biểu tượng tri thức dưới dạng ngôn ngữ Ẩn dụ thường có quan

hệ không phải với những đối tượng cô lập riêng lẻ, mà với những không gian tư duy phức tạp (những miền kinh nghiệm cảm tính và xã hội) Trong quá trình nhận thức, những không gian tư duy không thể quan sát trực tiếp này thông qua ẩn dụ xác lập mối tương quan với những không gian tư duy đơn giản hơn hoặc với những không gian tư duy có thể quan sát được cụ thể (chẳng hạn, cảm xúc của con người có thể

so sánh với lửa, các lĩnh vực kinh tế và chính trị có thể so sánh với các trò chơi, với các cuộc thi thể thao v.v.) Trong những biểu tượng ẩn dụ tương tự diễn ra việc chuyển ý niệm hoá không gian tư duy quan sát được sang không gian không quan sát trực tiếp được Đồng thời cùng một không gian tư duy có thể được biểu tượng nhờ một hoặc một số ẩn dụ ý niệm

Theo các tác giả Lakoff (1987); Lakoff, Johnson (1980); Langacker (1991) thì có những loại ẩn dụ chính sau đây xác lập sự tương tự và liên tưởng giữa những

hệ thống khái niệm khác nhau và sinh ra những ẩn dụ riêng biệt như: Ẩn dụ cấu trúc

Trang 37

(structural) ý niệm hoá từng miền riêng lẻ bằng cách chuyển sang chúng sự cấu trúc hoá một miền khác; Ẩn dụ bản thể (ontological) phạm trù hoá những bản thể trừu

tượng bằng cách vạch ranh giới của chúng trong không gian; Ẩn dụ “kênh liên lạc/

truyền thông tin” (conduit metaphor) là quá trình giao tiếp như sự vận động của nghĩa “làm đầy” các biểu thức ngôn ngữ (vật chứa) theo “kênh” nối người nói và người nghe; Ẩn dụ định hướng (orientational) liên quan đến việc định hướng trong không gian với những đối lập kiểu như “lên - xuống”, “vào - ra”, “sâu - cạn”,

“trung tâm - ngoại vi” v.v; Ẩn dụ “container” (container metaphor) biểu tượng cho những ý được hiểu như “sự làm đầy những container” - những đơn vị ngôn ngữ cụ thể; Ẩn dụ “kiến tạo” (blockbuilding metaphor) biểu tượng ý của những sản phẩm lời nói lớn như sự “kiến tạo” từ những ý nhỏ hơn

Theo tác giả Lý Toàn Thắng [57, tr.100] “Trong các quá trình ý niệm hóa thì

ẩn dụ ý niệm có nhiều sự thú vị và hấp dẫn nhất, vì thế không phải ngẫu nhiên nó lại được nghiên cứu đầu tiên và sâu sắc nhất trong các quá trình ý niệm hóa Trong ngôn ngữ học truyền thống, như chúng ta đã biết, ẩn dụ thường được coi là cách thức chuyển đổi tên gọi dựa trên sự so sánh ngầm giữa hai hiện tượng sự vật tương đồng; là phép chuyển đổi nghĩa phổ biến nhất trong các ngôn ngữ Ẩn dụ bao giờ cũng mang tính quy ước do được tạo thành trong một cộng đồng văn hoá- ngôn ngữ

và được “từ vựng hoá” trong các hình thức từ ngữ Ngôn ngữ học tri nhận xem ẩn

dụ ý niệm là các “công cụ tri nhận”, là “hiện tượng ý niệm”, và là các “quá trình ý niệm”

Tác giả Lý Toàn Thắng [57, tr.106-107] cũng cho rằng ẩn dụ là một một quá

trình tri nhận, một cơ chế tri nhận, bao gồm hai miền nguồn (Source) và đích (Target), trong đó những thuộc tính của miền nguồn được “chiếu xạ” (ánh xạ, phóng chiếu) lên miền đích Như vậy, ẩn dụ ý niệm là một phương thức để ý niệm hóa một miền tâm trí này (miền nguồn) qua một miền tâm trí khác (miền đích), hình

thành và biểu hiện những ý niệm mới, tri thức mới Thông thường, các phạm trù ở

mô hình nguồn sẽ cụ thể hơn, các phạm trù ở mô hình đích sẽ trừu tượng hơn

Tác giả Lý Toàn Thắng cũng nhấn mạnh: ngôn ngữ nào cũng có sự định hướng không gian chỉ xuất liên quan đến người nói hay liên quan đến sự vật hiện tượng xung quanh chúng ta, nhưng hệ thống và chiến lược của những sự định hướng này thì có thể khác nhau Heine [87, tr.12-14] Ngoài ra, tác giả cũng đúc kết

Trang 38

lại quan điểm của Svorou [125]: trong sự ý niệm hoá về định hướng không gian con người chủ yếu sử dụng ba Miền Nguồn như sau:

Thứ nhất đối với các bộ phận cơ thể người (trong tư thế thẳng đứng chuẩn tắc) là lĩnh vực quan trọng, thường dùng nhất; vì thế người ta thường nói rằng: sự ý

niệm hoá là dĩ nhân vi trung (anthropocentric)

Thứ hai là các vật mốc (Landmarks) của môi trường xung quanh, như “trời”,

“đất”, “phương”, “hướng” là lĩnh vực quan trọng thứ hai

Thứ ba là các ý niệm động, bao gồm chủ yếu là các hoạt động và hành động

như “đi”, “về”, “đứng”, “ngồi”, “chạy”, “nhảy”, “lên”, “xuống” là lĩnh vực ít

được dùng hơn cả

Ngoài ra cũng theo Lý Toàn Thắng [57, tr.123-125]: Trong những sự ý niệm hoá thì đặc sắc nhất có lẽ là sự ý niệm hoá không gian và trong đó cụ thể hơn là cái cách thức mà một sự định hướng không gian được ý niệm hoá cũng như những quá trình ý niệm hoá diễn ra ở địa hạt này Những cứ liệu mới sưu tầm được của các ngôn ngữ trên thế giới cho thấy các mô hình tri nhận ở đây rất đa dạng và tương đối về một phía, nhưng đồng thời lại cũng đồng nhất và phổ quát về một phía khác, nhất là xét về phương diện những giải pháp lựa chọn cho sự ý niệm hoá không gian

Với các lý thuyết trên giúp chúng ta hiểu rõ hơn về các ý niệm cũng như ý niệm hóa không gian trong ngôn ngữ học tri nhận Từ đó, chúng ta có thể hiểu thêm

và nhận thức rõ được cái bản sắc, sự đặc thù trong cách nhìn, cách nghĩ về thế giới nói chung, về các quá trình tinh thần/tri nhận của các dân tộc nói riêng

1.2.8 Sự tri nhận không gian với “con người là trung tâm” vũ trụ

Từ xa xưa quan niệm coi con người là trung tâm đã trở thành cách nhìn, cách

nghĩ có sức hấp dẫn, thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà lý luận và các nhà

hoạt động chính trị - xã hội Quan điểm này chính là thái độ đề cao vai trò chi phối, quyết định của con người đối với xã hội, đối với thế giới (bên trong và bên ngoài con người) và đối với vũ trụ Đó là thái độ thừa nhận nguyên tắc "hoạt động cải tạo

không có giới hạn của con người"

Theo Trần Văn Cơ [9], mọi quá trình phạm trù hóa, điển dạng hóa, khuôn mẫu hóa, biểu trưng hóa đều không thoát ra khỏi mối quan hệ của hoạt động tri nhận trong mối quan hệ với con người mà là trung tâm của vũ trụ, hoạt động này

Trang 39

dựa trên một nguyên lí mang tính phương pháp luận chủ đạo là nguyên lí “dĩ nhân

vi trung”, dù trong bất cứ lĩnh vực nào thì con người vẫn đóng vai trò chủ đạo

Còn tác giả Lý Toàn Thắng [55, tr.83-84] cho rằng vấn đề “con người” trong

sự tri nhận không gian có liên hệ sâu xa với ba phương diện như sau:

Thứ nhất, cấu tạo cơ thể người, trong đó dáng đứng thẳng là điểm xuất phát

của hệ tọa động không gian mà con người sử dụng để định vị và định hướng trong

không gian, với ba chiều “trước – sau”, “trên – dưới”, “phải – trái” Điểm đáng chú

ý nhất là “trên – dưới” vì nó liên quan đến tư thế thẳng đứng của con người, theo

hướng từ đầu đến chân và theo hướng này (hướng sinh học) lại trùng với hướng vật

lí của sức hút trái đất (từ trên xuống)

Thứ hai, môi trường tự nhiên xung quanh con người, trong đó mặt đất đóng

vai trò của mặt phẳng góc, cố định trong hệ toạ độ không gian Dưới tác động của trọng lực và tư thế thẳng đứng mà con người có thể cảm nhận và ý thức được Ví dụ trời thì ở trên và đất thì ở dưới (trong khi đó nhiều ngôn ngữ chỉ dùng một từ để chỉ

hai khái niệm “trời” và “trên”, “đất” và “dưới”)

Thứ ba, các chuẩn mực và cách thức hoạt động của con người, trong đó đáng

chú ý nhất là khi giao tiếp con người thông thường đối diện nhau, còn khi vận động thì con người di chuyển theo hướng nhìn của mắt, về phía trước Sự định vị và định hướng trong không gian thường được thực hiện trong một khoảng cách nhìn thấy được và chủ yếu là ở trên mặt đất Nhân tố này có vai trò rất quan trọng trong cách dùng các từ chỉ không gian

1.2.9 Những chiến lược định vị và định hướng trong không gian

Những năm đầu của thế kỉ XX, E.Sapir đã từng nêu rằng có thể có “những ngôn ngữ hoàn toàn không có quan hệ có thể cùng chung một văn hóa, và những ngôn ngữ có quan hệ chặt chẽ với nhau - thậm chí một ngôn ngữ duy nhất - lại thuộc vào những thế giới văn hóa khác nhau” [117, tr.263] Điều này có nghĩa là

người nghiên cứu cần lưu ý thận trọng trong việc xử lý những vấn đề liên quan đến

bộ ba đó là: “Ngôn ngữ - văn hóa - nhận thức” khi cố gắng đi tìm kiếm những “nét riêng biệt” hay nói cụ thể hơn chính là “lối nghĩ riêng”, “cách tư duy riêng” [53, tr.159] của một dân tộc được phản ánh vào trong hệ thống ngôn ngữ thông qua quá trình so sánh đối chiếu giữa các ngôn ngữ với nhau trong bản sắc văn hóa Vì vậy có thể nói rằng, ở phạm vi nghiên cứu định vị không gian, bất cứ nội dung nào thì

Trang 40

người ta cũng có thể tìm ra những nhân tố, những “nét riêng biệt” có tính tri nhận theo những chiến lược và định hướng khác nhau

Tác giả Lý Toàn Thắng [56, tr.62-63] đã nêu rằng: “Về nguyên tắc người ta

có thể sử dụng những chiến lược khác nhau để định vị, định hướng (cho mình hay cho sự vật khác) trong một không gian nào đó và tuỳ ngôn ngữ mà một chiến lược này hay một chiến lược khác có được vai trò quan trọng hay thứ yếu” Ngoài ra,

ông cũng khẳng định là có hai chiến lược định vị định hướng không gian: một là trực tiếp dựa vào quan hệ không gian giữa hai tham tố (kẻ định vị định hướng – kẻ được định vị định hướng) và hai là gián tiếp thông qua quan hệ của một tham tố (kẻ định vị định hướng) với một kẻ thứ ba tàng ẩn (không có tư cách là tham tố của sự tình nơi chốn hay vận động) để xác định vị trí và phương hướng của tham tố còn lại (kẻ được định vị định hướng)

Cũng theo Lý Toàn Thắng [55, tr.228] nhận xét rằng trong tiếng Việt có sử dụng hai chiến lược định vị như sau:

Thứ nhất là chiến lược trực tiếp: trong đó vật X được quan niệm là ở TRÊN vật Y, nếu X được định vị cao hơn Y trên trục thẳng đứng

(1) Sách ở trên bàn [55]

Thứ hai là chiến lược gián tiếp: trong đó vật X được quan niệm là ở TRÊN vật Y (mặc dù thực tế X có thể không được định vị cao hơn Y trên trục thẳng đứng), nếu vị trí của X được chiếu theo hướng tuyệt đối của Y hoặc theo điểm nhìn của người quan sát (thường là người nói)

(2) Đèn ở trên trần (nhà) [55]

1.3 Một số lý thuyết về giới từ trong tiếng Đức và tiếng Việt

1.3.1 Khái niệm “giới từ” trong tiếng Đức

Ludger Hoffmann cho rằng khái niệm “Präposition” (giới từ) bắt nguồn từ tiếng Latinh, Prä- trong tiếng Đức có nghĩa là trước.[110, tr 629] Theo đó, vị trí của giới từ đã được giải thích Giới từ thường đứng trước một từ, ví dụ đứng trước

danh từ “an der Tisch”, giới từ “an” đứng trước danh từ “der Tisch” và xác định đặc

tính ngữ pháp của các từ đó Ngoài ra giới từ đứng trước một loại từ khác thể hiện bản chất của ngữ pháp (cách 3 và cách 4) Thông qua giới từ thì mối tương quan của

hai đối tượng được thể hiện vì vậy có một tên gọi nữa là “từ chỉ quan hệ” Còn

Ngày đăng: 07/10/2021, 19:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (1989), Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông, Nxb Đại học & Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Đại học & Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1989
2. Diệp Quang Ban và Hoàng Hữu Thung (1998), Ngữ pháp tiếng Việt, Tập 1&2 Nxb ĐHTHCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban và Hoàng Hữu Thung
Nhà XB: Nxb ĐHTHCN
Năm: 1998
3. Nguyễn Tài Cẩn (1989), Về việc dùng hai động từ “vào” “ra” để chỉ sự di chuyển đến một địa điểm ở phía Nam hay phía Bắc, Báo đại đoàn kết số 410, Tập san của hội người Việt tại Pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc dùng hai động từ “vào” “ra” để chỉ sự di chuyển đến một địa điểm ở phía Nam hay phía Bắc
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Năm: 1989
4. Đỗ Hữu Châu (1980), Mấy vấn đề tổng quát trong việc chuẩn mực hóa và giữ gìn trong sáng của tiếng Việt về mặt từ vựng – ngữ nghĩa, Tạp chí Ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề tổng quát trong việc chuẩn mực hóa và giữ gìn trong sáng của tiếng Việt về mặt từ vựng – ngữ nghĩa, "Tạp chí "Ngôn ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1980
5. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1998
6. Đỗ Hữu Châu (1998), Các bình diện của từ và tiếng Việt, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1998
7. Nguyễn Văn Chiến (1992), Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ Đông Nam Á, Nxb ĐHSPNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ Đông Nam Á
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Nhà XB: Nxb ĐHSPNN
Năm: 1992
8. Trần Văn Cơ (2007, 2009), Ngôn ngữ học tri nhận (Ghi chép và suy nghĩ) vào năm 2007 và cuốn Khảo luận ẩn dụ tri nhận vào năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận (Ghi chép và suy nghĩ)" vào năm 2007 và cuốn "Khảo luận ẩn dụ tri nhận
9. Trần Văn Cơ (2011), Ngôn ngữ học tri nhận: Từ điển, tường giải và đối chiếu, Nxb Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận: Từ điển, tường giải và đối chiếu
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: Nxb Phương Đông
Năm: 2011
10. Nguyễn Đức Dân (1984), Ngữ nghĩa các từ hư, Tạp chí Ngôn ngữ, số 2&4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 1984
11. Nguyễn Đức Dân (1998), Logic và tiếng Việt, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logic và tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1998
12. Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, Tập 1, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1998
14. Lê Đông (1991), Ngữ nghĩa – ngữ dụng của hư từ tiếng Việt, Tạp chí Ngôn Ngữ, số 2/1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn Ngữ
Tác giả: Lê Đông
Năm: 1991
15. Đinh Văn Đức (2010a), Các bài giảng về từ pháp học Tiếng Việt. Từ loại nhìn từ bình diện chức năng, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bài giảng về từ pháp học Tiếng Việt. Từ loại nhìn từ bình diện chức năng
Nhà XB: Nxb ĐHQG
16. Đinh Văn Đức (2010b), Ngữ pháp tiếng Việt. Từ loại, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt. Từ loại
Nhà XB: Nxb ĐHQG
17. Trần Quang Hải (2001), Nghiên cứu giới từ định vị theo hướng ngữ dụng (trên cứ liệu tiếng Anh – tiếng Việt), Luận án tiến sĩ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giới từ định vị theo hướng ngữ dụng (trên cứ liệu tiếng Anh – tiếng Việt
Tác giả: Trần Quang Hải
Năm: 2001
18. Cao Xuân Hạo (1991), Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Tập 1, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1991
19. Cao Xuân Hạo (1998), Tiếng Việt - Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt - Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1998
20. Cao Xuân Hạo (Chủ biên)- Nguyễn Văn Bằng – Hoàng Xuân Tâm – Bùi Tất Tươm (2005), Ngữ pháp chức năng tiếng Việt quyển 2, Ngữ đoạn và Từ loại, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng tiếng Việt" quyển 2, "Ngữ đoạn và Từ loại
Tác giả: Cao Xuân Hạo (Chủ biên)- Nguyễn Văn Bằng – Hoàng Xuân Tâm – Bùi Tất Tươm
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2005
21. Nguyễn Văn Hiệp (2013), Ngữ nghĩa của “RA” “VÀO” trong tiếng Việt nhìn từ góc độ nghiệm thân, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế, tại National Cheng Kung University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa của “RA” “VÀO” trong tiếng Việt nhìn từ góc độ nghiệm thân
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w