Ngày 10/12/2001 tại New York Mỹ đại diện hai Chính phủ đã trao đổi th phê chuẩn Hiệp định và Hiệp định Thơng mại Việt nam – Hoa Kỳ chínhthức có hiệu lực ; mở ra một thị trờng mới với quy
Trang 1Mục lục
Lời mở đầu 3
Chơng I Quan hệ thơng mại Việt Nam- Hoa Kỳ trớc khi ký kết hiệp định thơng mại 6
I Khái quát lịch sử thơng mại hai nớc 6
2 Quan hệ thơng mại Việt-Mỹ từ năm 1975- 1994 7
3 Quan hệ thơng mại Việt-Mỹ từ 1994 đến nay 8
II.Thực trạng thơng mại hai nớc trớc khi ký Hiệp định thơng mại 11
1 Giai đoạn trớc khi bỏ cấm vận 11
2 Giai đoạn sau khi bỏ cấm vận 12
2.1 Tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ 12
2.2 Tình hình nhập khẩu từ Mỹ của Việt Nam 28
Chơng II Thực trạng thơng mại Việt Nam – Hoa Kỳ một năm sau khi Hiệp định th-ơng mại có hiệu lực 37
I Những nội dung cơ bản của hiệp định thơng mại song phơng 37
1 Những nội dung cơ bản 37
2 Một số đánh giá về tác động của Hiệp định thơng mại Việt Nam – Hoa Kỳ đến sự phát triển thơng mại giữa hai nớc 44
II.Thực trạng thơng mại Việt Nam- Hoa Kỳ một năm sau khi hiệp định 48
1 Tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ 48
Bảng 20: kim ngạch xuất khẩu dầu thô 1999-2002 62
2 Tình hình nhập khẩu của Việt Nam từ Mỹ 63
3 Đánh giá tổng quát 68
Chơng III Một số Giải pháp thúc đẩy thơng mại Việt Nam-Hoa Kỳ 71
I Triển vọng thơng mại Việt Nam-Hoa Kỳ 71
II Các giải pháp thúc đẩy thơng mại hai nớc 74
1 Các giải pháp vĩ mô 74
1.1 Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực hiện minh bạch hoá các luật lệ 74
1.2 Hỗ trợ các doanh nghiệp về thông tin thị trờng và các hoạt động xúc tiến thơng mại, nghiên cứu thị trờng để cung cấp các sản phẩm phù hợp 76
1.3 Nâng cao hơn nữa vai trò của các Hiệp hội ngành hàng 78
1.4 Mở cửa hơn nữa các lĩnh vực thơng mại dịch vụ, đặc biệt là lĩnh vực tài chính 79
Trang 21.5 Đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện các cam kết về quyền sở hữu trí tuệ
80
2 Các giải pháp vi mô 80
2.1 Nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam 80
2.2 Nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác trên thị trờng Mỹ 81
2.3 Về vấn đề nhãn hiệu và thơng hiệu 83
2.4 Tìm kiếm thị trờng và đối tác tin cậy 83
Kết luận 86
Trang 3Lời mở đầu
Ngày 13 tháng 7 năm 2000, Hiệp định Thơng mại Việt nam-Hoa Kỳ
đ-ợc ký kết Ngày 8 tháng 6 năm 2001, Tổng thống Hoa Kỳ G Bush đã chínhthức trình Quốc hội Hoa Kỳ xem xét và phê chuẩn Hiệp định Theo luật định,các ủy ban Tài chính của Thợng viện và Hạ viện Hoa Kỳ xem xét Hiệp địnhtrong vòng 75 ngày, sau đó gửi lên Thợng viện và Hạ viện để bỏ phiếu thôngqua Ngày 10/12/2001 tại New York (Mỹ) đại diện hai Chính phủ đã trao đổi
th phê chuẩn Hiệp định và Hiệp định Thơng mại Việt nam – Hoa Kỳ chínhthức có hiệu lực ; mở ra một thị trờng mới với quy mô cực kỳ lớn, một cơ hộivàng cho Việt nam xuất khẩu hàng hóa của mình vào thị trờng Hoa Kỳ
Cho tới nay, Hiệp định thơng mại Việt nam - Hoa Kỳ đã có hiệu lực đợchơn 1 năm rỡi, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam vào Hoa Kỳ và ngợclại tăng trởng mạnh mẽ, hàng hóa của Việt nam khi xuất khẩu sang thị trờngHoa Kỳ đã đợc hởng quy chế tối huệ quốc, doanh nghiệp Việt nam có nhiềucơ hội để thâm nhập vào thị trờng Hoa Kỳ và ngợc lại Tuy nhiên, một điều rất
dễ nhận thấy là Hoa Kỳ và Việt nam có quá nhiều điểm khác biệt không chỉ
về chế độ chính trị, kinh tế, ngoại giao mà cả chính sách thơng mại Hoa Kỳ làmột siêu cờng có nền kinh tế thị trờng phát triển theo cơ chế thị trờng từ hàngtrăm năm nay với hệ thống pháp luật hoàn hảo, tơng ứng với các chuẩn mựcquốc tế Còn Việt nam, là một nớc đang phát triển có trình độ phát triển thấp
đang trong quá trình chuyển đổi sang cơ chế thị trờng với hệ thống pháp luậtcha đầy đủ, mang nặng ảnh hởng của thời kỳ bao cấp Hoa Kỳ là nớc xuấtkhẩu lớn nhất thế giới Vào đầu thế kỷ 21, Hoa Kỳ có 270 triệu dân, với nềnkinh tế mạnh nhất toàn cầu, tỷ lệ lạm phát và thất nghiệp thấp, mức sống ngờidân tiếp tục tăng, xuất hiện sự phồn vinh cha từng có trong lịch sử từ trớc tớinay của Hoa Kỳ Trong khi đó, Việt nam vẫn ở trong số những nớc nghèonhất thế giới Trong 10 năm tới, tức là từ 2001 đến 2010, Việt nam, trongchiến lợc phát triển kinh tế-xã hội của mình, đặt mục tiêu phải phấn đấu để đaViệt nam "ra khỏi tình trạng kém phát triển tạo nền tảng để đến năm 2020,Việt nam cơ bản trở thành một nớc công nghiệp theo hớng hiện đại" Nhữngkhác biệt này đã đặt ra biết bao thách thức đối với doanh nghiệp Việt nam khiphải thực hiện Hiệp định Thơng mại song phơng đã đợc ký kết và có hiệu lực.Chính vì vậy việc tìm hiểu về thực trạng thơng mại Việt Nam- Hoa Kỳ ra saosau khi Hiệp định thơng mại đã có hiệu lực hơn một năm qua, quan hệ hai nớc
đã đạt đợc những thành tựu gì,còn những gì hạn chế, cần khắc phục để việcthực thi Hiệp định thơng mại đạt hiệu quả cao và phát huy tốt nhất tiềm năng
Trang 4kinh tế đất nớc là vấn đề rất cần thiết Đó là lý do để chọn đề tài "Thực trạng thơng mại Việt Nam – Hoa Kỳ một năm sau khi Hiệp định th ơng mại có hiệu lực”
Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá thực trạng xuất nhập khẩu hàng hóa Việt nam sang Hoa
Kỳ kể từ khi Hiệp định thơng mại có hiệu lực nêu bật những thuậnlợi, khó khăn, những tồn tại và những bất cập, cản trở việc xuất khẩuhàng hóa của Việt nam sang Hoa Kỳ cũng nh nhập khẩu hàng hoá từHoa Kỳ vào Việt Nam
- Nghiên cứu một cách hệ thống, cụ thể những thuân lợi khó khăntrong quan hệ thơng mại hai nớc sau khi Hiệp định đã có hiệu lực.Trên cơ sở đó, đề xuất các biện pháp , đối sách cụ thể của Chính phủcũng nh của doanh nghiệp Việt nam nhằm thúc đẩy hơn nữa quan
hệ thơng mại hai nớc, đặc biệt là biện pháp thúc đẩy xuất khẩu hàngViệt nam sang thị trờng Hoa Kỳ trong điều kiện Hiệp định Thơngmại đã có hiệu lực
Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tợng nghiên cứu chủ yếu là tình hình xuát nhập khẩu hàng hoácủa Việt Nam sang Hoa Kỳ và ngợc lại Nghiên cứu về kim ngạch cũng nh cơcấu các mặt hàng xuất nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam trong quan hệ thơngmại với Hoa Kỳ Tốc độ tăng trởng của kim ngạch buôn bán hai chiều cũng
nh sự thay đổi trong từng mặt hàng cụ thể trong điều kiện Hiệp định thơngmại có hiệu lực so với trớc khi ký kết Hiệp định song phơng là vấn đề đợc tậptrung nghiên cứu trong đề tài
- Phạm vi nghiên cứu đề tài giới hạn ở kim ngạch và cơ cấu xuất nhậpkhẩu, từ đó nêu bật những thành tựu cũng nh hạn chế trong thơng mại hai nớc
từ sau khi Hiệp định thơng mại có hiệu lực Những nghiên cứu khác chủ yếu
là để làm nổi bật hơn nội dung này
Phơng pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên phơng pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin về duy vậtbiện chứng và duy vật lịch sử; T tởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng vàNhà nớc ta về đờng lối phát triển kinh tế cũng nh kim chỉ nam cho phơng pháp
t duy Bên cạnh đó, đề tài sử dụng các phơng pháp nghiên cứu tổng hợp nh:phân tích, thống kê, hệ thống hóa và diễn giải
Bố cục của đề tài
Trang 5Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đềtài gồm 3 chơng:
Chơng I : Quan hệ thơng mại Việt Nam-Hoa Kỳ trớc khi ký kết Hiệp
định thơng mại Chơng II : Thực trạng thơng mại Việt Nam-Hoa Kỳ một năm sau Hiệp
định thơng mại có hiệu lực Chơng III :Một số giải pháp thúc đẩy thơng mại Việt Nam-Hoa Kỳ
Trang 6Chơng I Quan hệ thơng mại Việt Nam- Hoa Kỳ trớc khi ký kết
hiệp định thơng mại
I Khái quát lịch sử thơng mại hai nớc
Có thể nói quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ bắt đầu từ rất sớm Ngời đợc coi
là ngời đầu tiên đặt chân lên đất Việt Nam là thuyền trởng John White sứSalem, một nhà buôn bang Massachusets Vào thời điểm cách đây hơn 180năm, chính xác là vào năm 1820, ông này đã lần đầu tiên đa tàu đến bán hàngtại Vũng Tàu và sau đó là Sài Gòn Có nhiều ý kiến cho rằng chuyến viếngthăm của thuyền trởng White đã mở đờng cho quan hệ chính thức giữa hai nớc
12 năm sau Đó là vào năm 1832, Bộ trởng Edmund Roberts, đợc sự uỷ nhiệmcủa Tổng thống Andrew Jackson đã dẫn đầu đoàn ngoại giao chính thức đầutiên đến Việt Nam để đàn phán về một Hiệp định thơng mại song phơng Do
có một số bất đồng giữa hai nớc, cuộc đàm phán đã không thành công Tuynhiên có thể coi kể từ đây lịch sử quan hệ Việt-Mỹ đợc bắt đầu
1 Quan hệ thơng mại Việt-Mỹ trớc năm 1975
Mặc dù đã có sự viếng thăm của nguyên thủ quốc gia giữa hai nớc
nh-ng vào giai đoạn đầu thế kỷ 20, Việt Nam -Hoa Kỳ vẫn cha có quan hệ muabán chính thức nào Tuy nhiên, ngời Việt Nam đã sớm biết đến các sản phẩmcủa Mỹ do các hãng tàu buôn chở tới, trong đó trớc hết phải kể đến hãngCaltex với sản phẩm dầu hoả nổi tiếng của mình, đây là một trong những hãngbuôn đầu tiên của Mỹ thành lập đại lý tại Đông Dơng
Thời kỳ Pháp thuộc, thông qua chính quyền Pháp, Mỹ có mua của ViệtNam một số mặt hàng nh cao su, thiếc và các loại khoáng sản khác Vàonhững lúc cao điểm, Việt Nam đã xuất sang Mỹ tới 92000 tấn cao su chiếm39% giá trị xuất khẩu của Đông Dơng Đổi lại Mỹ viện trợ cho chính quyềnPháp tại Việt Nam khoảng 1700 triệu USD trị giá hàng tiêu dùng, vũ khí vàphơng tiện chiến tranh
Sau năm 1954, Mỹ chuyển sang buôn bán với chính quyền Sài Gòn cũ.Hình thức buôn bán chủ yếu là viện trợ từ Mỹ để phục vụ chiến tranh Kimngạch buôn bán do đó khá hạn chế, chủ yếu là quan hệ thơng mại một chiều.Trong giai đoạn 1954-1975, Mỹ viện trợ cho chính quyền Sài Gòn tổng cộng
26 tỷ USD trong đó gần 20 tỷ là viện trợ quân sự Khoảng 90% hàng hoá trên
Trang 7thị trờng miền Nam thời kỳ này là hàng nhập khẩu từ Mỹ Chính quyền SàiGòn cũng xuất khẩu sang Mỹ một số mặt hàng nh cao su, gỗ, hải sản, hàngthủ công mỹ nghệ, đồ gốm,…nh ng số lợng không đáng kể Do diễn biến chiếnnhtranh, từ năm 1973 hoạt động buôn bán song phơng giảm dần và chấm dứt vàonăm 1975.
2 Quan hệ thơng mại Việt-Mỹ từ năm 1975- 1994
Sau khi chiến tranh kết thúc, do chính sách cấm vận của Mỹ, quan hệthơng mại giữa Việt Nam –Hoa Kỳ hầu nh chấm dứt Tuy nhiên, với tinhthần yêu hoà bình và thiện chí khép lại quá khứ để hớng tới tơng lai, ngay saumùa xuân năm 1975, Việt Nam đã có những bớc đi để thiết lập quan hệ với
Mỹ Kết quả bớc đầu là chính quyền Mỹ đã thực hiện việc nghiên cứu, tìmhiểu để cải thiện quan hệ với Việt Nam Song sang đến năm 1978, do nhữngdiễn biến phức tạp của tình hình và Mỹ “lúc đó đã có một canh bạc khác”nênsợi chỉ mỏng manh trong quan hệ hai nớc bị đứt đoạn Từ đó, chính quyền củaTổng thống Carter và sau đó là Reagan đã tuyên bố chỉ gắn việc cải thiện quan
hệ với Việt Nam với việc giải quyết vấn đề Campuchia và POW/ MIA
Từ năm 1988, quan hệ hai bên có sự tiến bộ, do việc chủ động cải thiệntình hình từ phía Việt Nam bằng việc đặt trọng tâm cố gắng vào việc giảiquyết vấn đề nói trên theo hớng phù hợp với đòi hỏi của Mỹ lúc đó Tháng 5năm 1988, ta rút 5 vạn quân tình nguyện cùng Bộ t lệnh lùi xa khỏi biên giớiThái Lan 30 Km Cũng năm đó, trong văn kiện Đại hội Đảng Việt Nam thôikhông gọi Mỹ là kẻ thù Chính phủ Việt Nam xác định giải quyết cơ bản vấn
đề MIA, đồng thời cũng tạo điều kiện cho những ngời đã từng hợp tác với Mỹdới chính quyền cũ di c sang Mỹ một cách dễ dàng Trong thời gian này, một
số công ty Mỹ thông qua con đờng gián tiếp đã tìm cách xuất khẩu sang ViệtNam Năm 1987, giá trị hàng xuất khẩu của Mỹ nhập vào Việt Nam đạt 23triệu USD, đến năm 1988 đạt 15 triệu USD và năm 1989 là 11 triệu USD
Năm 1992 đánh dấu mốc phát triển quan trọng trong quan hệ thơng mạiViệt Nam –Hoa Kỳ bằng ba quyết định của chính quyền Bush :
Ngày 13/4/1992: Mỹ mở quan hệ bu chính viễn thông với Việt Nam
Ngày 30/4/1992 : chính quyền Mỹ cho phép các công ty xuất khẩu cácmặt hàng phục vụ nhu cầu cơ bản của con ngời sang Việt Nam và bỏ cáchạn chế đối với các tổ chức phi chính phủ giúp nhân đạo cho Việt Nam.Nhờ vậy, Việt Nam đã nhận đợc 3 triệu USD viện trợ trong năm 1992
Trang 8Ngày 14/12/1992: Tổng thống Bush tuyên bố cho phép các công ty Mỹ
đợc thành lập văn phòng đại diện ở Việt Nam nhng chỉ đợc thực hiện saukhi bỏ cấm vận
Tháng 7 năm 1993, chính quyền Mỹ tuyên bố không ngăn cản ViệtNam đặt quan hệ với các tổ chức quốc tế nh : Quỹ tiền tệ thế giới (IMF), Ngânhàng thế giới (WB) và Ngân hàng phát triển Châu á (ADB) Tháng 11 năm
1993, Mỹ đã tham dự hội nghị lần th hai về việc viện trợ phát triển cho ViệtNam với t cách là quan sát viên Tháng 12 năm 1998, tại hội nghị lần thứ 6 ởParis, Mỹ đã chính thức gia nhập nhóm các nhà tài trợ cho Việt Nam
3 Quan hệ thơng mại Việt-Mỹ từ 1994 đến nay
Ngày 3 tháng 2 năm 1994, căn cứ vào khuyến nghị của thợng nghị viện
Mỹ và những kết quả rõ ràng trong việc giải quyết vấn đề POW/MIA, Tổngthống Mỹ Bill Clinton đã tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận thơng mại đối vớiViệt Nam và đề nghị mở cơ quan đại diện ở hai nớc Tiếp đến, ngày 12 tháng
7 năm 1995, Mỹ tuyên bố bình thờng hoá quan hệ với Việt Nam và thiết lậpquan hệ ngoại giao hai nớc Sự kiện này không chỉ mở ra một chơng mới trong
sự hợp tác giao lu giữa hai trên “một lộ trình mới” hữu nghị, bình đẳng và đôibên cùng có lợi mà còn thúc đẩy sự hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tếkhu vực và thế giới Và đây cũng chính là năm Việt Nam gia nhập Hiệp hộicác Quốc gia Đông Nam á (ASEAN)
Sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao, hai bên đã coi việc thúc đẩy quan
hệ kinh tế thơng mại là trọng tâm của mối quan hệ và đã đạt đợc những kếtquả tích cực Hai bên cũng đã ký kết các Hiệp định nh Hiệp định về thiết lậpquan hệ quyền tác giả, Hiệp định về hoạt động của tổ chức đầu t t nhân nớcngoài (OPIC) tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai những hoạt động khác cóliên quan Quan hệ thơng mại giữa hai nớc cũng có những bớc tiến vợt bậc.Nếu nh kim ngạch ngoại thơng giữa hai nớc năm 1993 là 7,46 triệu USD thìnăm 1994, con số này là 222,3 triệu USD, tăng 31 lần so với năm 1993 Sangnăm 1995, con số này tăng lên 454,4 triệu USD, gấp 2 lần so với năm 1994.Năm 1996, tổng kim ngạch xuất khẩu hai chiều Việt Nam –Hoa Kỳ là 948triệu USD, tăng hơn hai lần so với năm 1995 Đây là tốc độ phát triển nhanhnhất trong quan hệ buôn bán của Việt Nam với các nớc
Từ năm 1996, dựa trên các kết quả tích cực trong việc cải thiện quan hệsong phơng từ phía Việt nam cùng với sức ép của các công ty Mỹ, những ngờichiếm một vị trí quan trọng trong bộ máy chính phủ Mỹ; luôn nhận thức đợc
Trang 9tầm quan trọng trong quan hệ với Việt nam và mong muốn thúc đẩy quan hệViệt - Mỹ, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, thơng mại, Chính phủ Mỹ đã bắt
đầu đàm phán với Việt nam về Hiệp định thơng mại song phơng nhằm tăng ờng các cơ hội thơng mại và bảo vệ quyền lợi cho các công ty Mỹ
c-Sang năm 1997, hai nớc bắt đầu trao đổi Đại sứ Tổng thống Clinton bổnhiệm cựu Nghị sĩ Quốc hội, cựu tù binh chiến tranh Douglas Pete Petersonlàm Đại sứ Mỹ đầu tiên tại Việt Nam Ngợc lại Việt nam cũng bổ nhiệm đại
sứ của mình tại Mỹ Sự kiện này đánh dấu một bớc tiến quan trọng trong quan
hệ ngoại giao giữa hai nớc
Ngày 10 tháng 3 năm 1998, tổng thống Mỹ Clinton đã ký quyết địnhbãi miễn việc áp dụng Điều sửa đổi Jackson - Vanik đối với Việt nam cùngviệc bãi bỏ Đạo luật Viện trợ nớc ngoài và Đạo luật ngân hàng xuất nhậpkhẩu, điều này cho phép Việt nam tham gia vào các chơng trình khuyến khíchxuất khẩu và hỗ trợ đầu t của Mỹ, bao gồm các chơng trình liên quan tới Ngânhàng xuất nhập khẩu (EXIM), Công ty đầu t t nhân ở nớc ngoài (OPIC), cơquan phát triển quốc tế AID Các cơ quan này sẽ giúp các công ty Mỹ đanghoạt động ở Việt nam có thể cạnh tranh hiệu quả hơn Việc miễn áp dụng này
đã đợc gia hạn vào năm 1999 và 2000 Ngày 10/4/1998 Ngân hàng EXIMbank đã thông báo họ bắt đầu xem xét việc cấp tài chính hỗ trợ xuất khẩuhàng hoá và dịch vụ của Mỹ sang Việt nam, đồng thời cho biết có một chínhsách đảm bảo hỗ trợ tài chính ngắn hạn và trung hạn thúc đẩy xuất khẩu sangkhu vực quốc doanh của Việt nam Bên cạnh đó, OPIC và các tổ chức hữuquan khác cũng đã có những hoạt động chuẩn bị theo hớng có lợi cho cáccông ty Mỹ hoạt động ở Việt nam Nh vậy, với việc bãi bỏ điều sửa đổiJackson-Vanik đối với Việt nam, tổng thống Mỹ đã gỡ bỏ một trong nhữnghàng rào thể chế quan trọng để thúc đẩy quan hệ Việt - Mỹ, cho thấy một cáchnhìn mới mẻ của Mỹ đối với Việt nam và là nền tảng cho việc đàm phán kýkết Hiệp định thơng mại song phơng và việc áp dụng quy chế Tối huệ quốccủa Mỹ đối với Việt nam
Năm 1999, sau ba năm đàm phán Mỹ và Việt Nam đạt đợc những thoảthuận nguyên tắc về các điều khoản chủ chốt trong Hiệp định Thơng mại Songphơng
Sang năm 2000: Mỹ và Việt Nam đạt đợc thoả thuận cuối cùng về Hiệp
định Thơng mại này, Hiệp định thơng mại Việt - Mỹ đã đợc ký kết vào ngày
13 tháng 7 năm 2000 tại Washington, đánh dấu một bớc tiến chủ chốt trong
Trang 10quá trình tái hoà giải lịch sử giữa Mỹ và Việt Nam Có thể nói bản Hiệp địnhThơng mại Song phơng ký ngày 13/7/2000 đã hoàn tất quá trình bình thờnghóa quan hệ hai nớc, đặt nền móng cho một mối quan hệ mới giữa Mỹ và ViệtNam
Ngày 4/10/2001 với đa số phiếu, Hiệp định thơng mại Việt- Mỹ đã đợcThợng viện Mỹ đã thông qua Ngày 10/12/2001 Hiệp định thơng mại ViệtNam-Hoa Kỳ chính thức có hiệu lực, mở ra những cơ hội vô cùng to lớn chocả hai nớc Đây chính là điều mà nhiều ngời dân Mỹ cũng nh Việt Nam chờ
đợi từ nhiều năm qua, đặc biệt là các công ty Mỹ muốn làm ăn với Việt nam.Chính họ là động lực thúc đẩy mạnh mẽ quá trình bình thờng hoá quan hệ vớiViệt nam và tiến tới ký kết Hiệp định thơng mại
II.Thực trạng thơng mại hai nớc trớc khi ký Hiệp định thơng mại
1 Giai đoạn trớc khi bỏ cấm vận
Bắt đầu từ tháng 5/1964 Hoa Kỳ tuyên bố lệnh cấm vận đối với miềnBắc Việt nam Trong thời gian này, hàng hoá của Việt nam chủ yếu phục vụnhu cầu trong nớc, đặc biệt phục vụ cho cuộc chiến đấu của nhân dân ViệtNam chống lại đế quốc Mỹ xâm lợc Nhu cầu này vẫn cha đợc đáp ứng đủ,nhất là trong điều kiện sản xuất khó khăn, giao thông liên lạc bị ngăn cách,không có giao thơng với bên ngoài
Đến tháng 5/1975, sau khi bị thất bại hoàn toàn trong cuôc chiến tranhchống lại Việt nam và phải rút quân về nớc, Hoa Kỳ đã thi hành lệnh cấm vận
đối với Việt nam trong tất cả các lĩnh vực: thơng mại, tài chính, tín dụng, ngânhàng Về ngoại thơng, Việt nam chỉ xuất nhập khẩu một số mặt hàng theohình thức viện trợ, hay nghị định th với chính phủ của các nớc xã hội chủnghĩa
Chính vì vậy tính đến hết năm 1993, không có một tấn hàng hoá nàocủa Việt nam xuất đợc vào thị trờng Hoa kỳ theo con đờng chính ngạch ViệtNam có nhập khẩu từ Mỹ, tuy nhiên với số lợng không đáng kể Năm 1992 th-
ơng mại hai chiều chỉ đạt khoảng 4,5 triệu USD Năm 1993, con số này là7,46 triệu USD, trong đó xuất khẩu chỉ đạt 0,53 triệu USD so với 6,93 triệunhập khẩu từ Mỹ
Trang 112 Giai đoạn sau khi bỏ cấm vận
2.1 Tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ
a Kim ngạch và cơ cấu xuất khẩu
Ngày 3/2/1994, Mỹ chính thức tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận đối vớiViệt nam và cho phép các công ty Mỹ xuất khẩu sang Việt nam để giành giậtcác cơ hội làm ăn ở Việt nam, một đất nớc rất nhiều tiềm năng cha đợc khaithác do chính chính sách cấm vận của Mỹ Việc bình thờng hoá quan hệ đãtạo ra những cơ hội vô cùng to lớn cũng nh những chuyển biến tích cực đối vớithơng mại hai nớc Việt Nam và Hoa Kỳ Cụ thể, ngay trong năm 1994, mộtnăm sau khi bỏ lệnh cấm vận kim ngạch xuất nhập khẩu hai nớc đạt 222,4triệu USD tăng gần 31 lần so với năm 1993 và luôn tăng với tốc độ cao trongnhững năm tiếp theo (xem Biểu đồ 1)
Xuất khẩu từ Việt Nam sang Hoa Kỳ thời gian này cũng tăng với tốc độrất cao (xem Biểu đồ 1) Năm 1994 kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam sangHoa Kỳ đạt 50,4 triệu USD, trong đó chủ yếu là hàng nông nghiệp đạt 38,3triệu USD, chiếm 76% tổng trị giá hàng xuất khẩu sang Hoa kỳ và hàng phinông nghiệp là 12,15 triệu USD, chiếm 24% Tuy nhiên, trong thời gian nàymặt hàng xuất khẩu của Việt nam còn rất hạn chế về nhiều mặt nh chủng loạihàng hoá, số lợng cũng nh chất lợng Trong số những mặt hàng xuất khẩu củaViệt nam sang thị trờng Mỹ nổi lên một số mặt hàng chính nh thuỷ sản, hàngmay mặc, cà phê, giầy dép Hàng nông nghiệp tuy chiếm tỷ trọng lớn nhấtnhng kim ngạch thu đợc so với tiềm năng của mặt hàng này thì còn chênh lệchnhiều do hàng nông nghiệp của ta khi xuất sang thị trờng Mỹ còn hầu hết ởdạng sơ chế hoặc nguyên liệu thô
Sang đến năm 1995, con số này đã là 200 triệu USD, gấp 4 lần so vớinăm 1994, trong đó hàng nông nghiệp vẫn là mặt hàng xuất khẩu chủ yếu củaViệt nam, đạt 152 triệu USD - chiếm 76% giá trị hàng xuất khẩu sang thị tr-ờng Mỹ và hàng phi nông nghiệp đạt 48 triệu USD chiếm 24% Năm này cũng
là năm đầu tiên tỷ trọng xuất khẩu từ Việt Nam sang Mỹ cao hơn nhập khẩu
từ Mỹ (xem biểu đồ 2)
Năm 1996, do việc Mỹ bắt đầu xúc tiến ký kết Hiệp định thơng mại vớiViệt Nam và tới năm 1997, hai nớc đã có trao đổi đại sứ, kim ngạch ngoại th-
ơng hai nớc đợc thúc đẩy mạnh mẽ Xuất khẩu năm 1996 đạt 308 triệu USD
và tăng lên 372 triệu USD năm 1997 Riêng năm 1997, tuy kim ngạch haichiều có giảm so với năm 1996 nhng đây lại là lần đầu tiên trong quan hệ
Trang 12buôn bán với Mỹ, Việt Nam xuất siêu Giá trị xuất siêu năm 1997 là 94 triệuUSD (xem biểu đồ 3) Năm 1997, tỷ trong xuất khẩu sang Mỹ của Việt Namcũng vợt cao hơn nhiều so với nhập khẩu và liên tục tăng cao trong những nămtiếp theo Năm 1998, xuất khẩu đạt 519.5 triệu USD và tăng lên 601.9 triệuUSD năm 1999.
Về mặt cơ cấu xuất khẩu , có thể nhận thấy một điều là hàng xuất khẩucủa Việt Nam sang Hoa Kỳ chủ yếu là hàng nông lâm sản, nguyên vật liệu,hàng thủ công mỹ nghệ hoặc những mặt hàng truyền thống nh cà phê, dầu thô,hàng may mặc, giày dép, hải sản tơi sống, rau quả, ngũ cốc, gạo, cao su, đồgốm Đây cũng là mặt hàng trong danh mục hàng xuất khẩu thờng xuyên củaViệt Nam và cũng là thế mạnh của Việt Nam trong những năm qua (bảng 1)
Trang 13Biểu đồ 1: (Nguồn: Bộ thơng mại Hoa Kỳ)
(Nguồn: Bộ thơng mại Hoa Kỳ)
Biểu đồ 3:
Trang 14so với xuất khẩu (%)
Nguồn: Bộ Thơng mại Hoa Kỳ
Nh vậy, nhóm hàng nông sản, gia công dệt, may chiến tỷ lệ lớn trongcơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ Trong khi nhóm hàng có hàmlợng giá trị gia tăng cao nh điện tử, thực phẩm chế biến ít xuất hiện trong cơcấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ Cơ cấu mặt hàng xuấtkhẩu nh hiện nay bắt nguồn từ thực trạng Việt Nam vẫn còn sử dụng sức lao
động nhiều và rẻ nh là lợi thế cạnh tranh của mình khi tham gia vào thị trờngxuất khẩu thế giới Đây không chỉ là vấn đề riêng đối với thị trờng Mỹ màcòn là vấn đề mà xuất khẩu của Việt Nam phải giải quyết đối vơí tất cả cácthị trờng xuất khẩu của mình
Từ năm 1996, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ
đã có sự biến chuyển Đó là sự giảm đi của các mặt hàng nông sản và sự tănglên của nhóm hàng phi nông nghiệp Năm 1994, trong số 50.45 triệu USDViệt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ có đến 38.3 triệu USD là các sản phẩmnông nghiệp, chiếm 76% Năm 1995,tuy kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳtăng 4 lần so với năm 1994 nhng tỷ trọng hàng nông nghiệp vẫn là 76% Nhng
từ năm 1996, tỷ trọng hàng phi nông nghiệp đã tăng lên đáng kể, chiếm tới54% Nguyên nhân là vì từ năm 1996, Việt Nam đã bắt đầu xuất khẩu dầu thôsang thị trờng Mỹ
Nh vậy, chỉ hai năm sau khi quan hệ thơng mại bình thờng đợc thiết lậpgiữa hai nớc, xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Mỹ không chỉ có sự tăng lên
đáng kể về mặt kim ngạch mà còn có sự biến chuyển tích cực về mặt cơ cấu Tuy
Trang 15nói rằng cơ cấu hàng hoá xuất khẩu sang Mỹ đã có sự biến đổi nhng các mặthàng nông nghiệp vẫn chiếm vị trí quan trọng trong số những mặt hàng xuấtkhẩu đạt kim ngạch cao sang thị trờng Mỹ Hơn nữa, trong số những mặt hàngnông nghiệp, Việt Nam lại chỉ tập trung xuất khẩu một số ít các mặt hàng nh:gạo, cao su, cà phê, thuỷ sản, hạt điều…nh
Bảng 1: Kim ngạch các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam
sang thị trờng Mỹ ( đơn vị triệu USD )
( Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam )
Nhìn chung, xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ sau khi dỡ bỏ cấmvận tăng với tốc độ cao Đây là tín hiệu rất đáng mừng đối với các doanhnghiệp xuất khẩu của Việt Nam đồng thời cũng chứng tỏ Mỹ là một đối tác
đầy tiềm năng đối với nền ngoại thơng Việt Nam Đó cũng là động lực thúc
đẩy hai nớc Việt Nam Hoa Kỳ tiến tới ký kết một Hiệp định thơng mại
b Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng chính
Mặt hàng thuỷ sảnMặt hàng thuỷ sản là mặt hàng xâm nhập thị trờng Mỹ khá nhanh vớithuận lợi là chịu thuế xuất 0% Mỹ là thị trờng thuỷ sản lớn thứ hai sau Nhật
Trang 16Bản Hàng năm Mỹ nhập khoảng 5,6 tới 6,2 tỷ USD (chiếm khoảng 13-14%hàng thuỷ sản nhập khẩu thế giới Riêng năm 1999, hàng thuỷ sản nhập khẩuvào Mỹ đạt mức kỷ lục là 9,3 tỷ USD những nớc dẫn đầu trong kim ngạchxuất khẩu thuỷ sản vào Hoa Kỳ là các nớc trong khu vực Châu á, đặc biệt làkhu vực Đông Nam á Hàng năm Hoa Kỳ nhập một lợng thuỷ sản trị giákhoảng 2.5 đến 3.5 tỷ USD từ các nớc Châu á, trong đó nhập khẩu từ TháiLan chiếm tỷ lệ cao nhất – 46%, sau đó lần lợt là Trung Quốc – 12%, NhậtBản – 6%, ấn Độ – 4%,…nhViệt Nam mới chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trongtổng lợng hàng thuỷ sản nhập khẩu của Mỹ : khoảng trên dới 50 triệu USD.
Từ trớc tới nay, Nhật Bản luôn là thị trờng nhập khẩu thuỷ sản lớn nhất củaViệt Nam, với tỷ trọng năm 1996 : 20%, năm 1997: 46%, năm 1998: 60%, cácnớc EU chiếm khoảng 13%, Mỹ chỉ chiếm khoảng 6-8% Tuy nhiên, từ saukhi bỏ cấm vận, hàng thuỷ sản của Việt Nam sang Mỹ đã liên tục tăng và hiệnnay Mỹ đã trở thành thị trờng xuất khẩu thuỷ sản lớn thứ hai của Việt Nam,sau NHật Bản Đây chính là kết quả từ sự nỗ lực vợt bậc của ngành thuỷ sảnViệt Nam
Do bị hạn chế bởi lệnh cấm vận kinh tế, hàng thuỷ sản Việt Nam mớichỉ bắt đầu đợc xuất khẩu sang Mỹ từ năm 1994, với kim ngạch rất nhỏ là 6triệu USD Nhng ngay sau đó, năm 1995, con số này đã tăng lên gần 3 lần, đạt16,8 triệu USD (xem bảng 2) Và các năm sau đó, kim ngạch xuất khẩu thuỷsản của Việt Nam sang Mỹ luôn tăng với tốc độ rất cao, khoảng trên dới 70%một năm Tới năm 2000, mặt hàng thuỷ sản đã giữ vị trí thứ nhất trong danhsách các mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch cao nhất của Việt Nam vào thị tr-ờng Mỹ (bảng 3)
Bảng 2 : Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang Mỹ
Năm 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Kim ngạch
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
Có thể nói, nếu xét về tốc độ tăng trởng, trong giai đoạn 1994-1999,thuỷ sản là mặt hàng có tôc độ tăng trởng cao nhất trong nhóm các mặt hàng
có khả năng xuất khẩu sang Hoa Kỳ Mức gia tăng của kim ngạch xuất khẩunhóm mặt hàng thuỷ sản vào thị trờng Mỹ còn cao hơn rất nhiều so với thị tr-ờng Nhật Bản (89,4% so với 62,4%) Tuy nhiên, xét về số tuyệt đối, kim
Trang 17ngạch xuất khẩu thuỷ sản sang Mỹ mới chỉ bằng 60% kim ngạch xuất khẩuthuỷ sản sang Nhật Bản Mặc dù vậy, với mức kim ngạch này, Việt Nam đã đ-
ợc tổ chức nông lơng thế giới (FAO) đánh giá là một trong những nớc xuấtkhẩu thuỷ sản, đặc biệt là tôm, hàng đầu vào Hoa Kỳ Năm 2000, Việt Nam
đã đợc xếp thứ 8 trên 50 nớc xuất khẩu thuỷ sản lớn nhất vào Hoa Kỳ Và ViệtNam hoàn toàn vẫn còn cơ hội để có đợc vị trí cao hơn nữa
Xét về cơ cấu mặt hàng, Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ chủ yếu làtôm và cá Từ một xuất phát điểm rất thấp, Việt Nam đã nhanh chóng vơn lên
và hiện nay đã trở thành một đối tác nhập khẩu tôm quan trọng của Hoa Kỳ.Năm 1999, Việt Nam đứng thứ 9 trong số 50 nớc xuất khẩu tôm vào Hoa Kỳ,
đạt khối lợng xuất khẩu là 8081 tấn, ngang bằng với Bănglades và TrungQuốc Tuy nhiên, so với 114,503 tấn của Thái lan thì lợng xuất khẩu của ViệtNam quả là còn khá khiêm tốn
Nhóm cá đã tạo bất ngờ lớn nhất trong các sản phẩm xuất khẩu vào Hoa
Kỳ Trong năm 2000, kim ngạch xuất khẩu của nhóm này đã tăng hơn 10 lần
so với năm 1997 ( 56.1 triệu USD so với 5.2 triệu USD ) Các sản phẩm cá ba
sa, cá tra của vùng đồng bằng sông Cửu long đã đa Việt Nam trở thành nớccung cấp lớn nhất cho thị trờng Mỹ, chiếm trên 80% tổng lợng hàng nhậpkhẩu mặt hàng này Mỗi năm, thị trờng Mỹ tiêu thụ khoảng 272 triệukilogram cá ba sa, trị giá khoảng 500 triệu USD Những
Bảng3: Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trờng Mỹ, so sánh với tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam và Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ
xuất khẩu sang Mỹ 9.9 13.95 15.9 17.2 21.6 33.2
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
năm trớc, gần nh toàn bộ sản lợng này đều do các doanh nghiệp nội địa cungcấp, đặc biệt là các doanh nghiệp ở các bang Louisiana, Mississipi, Albama,
và Arkansas Nhng từ năm 2000, sản lợng cá ba sa Việt Nam xuất khẩu sangHoa Kỳ tăng đột biến, khoảng 3.5 triệu tấn so với 1 triệu tấn năm 1999 và
Trang 18250000 tấn năm 1998 Cá ba sa Việt Nam có chất lợng không thua kém sảnphẩm của Hoa Kỳ, giá lại rẻ hơn hơn 1 USD trên một kilo nên đã thu hút đợc
sự quan tâm của đông đảo ngời tiêu dùng Điều này gây không ít khó khăncho các doanh nghiệp kinh doanh cá ba sa của Mỹ Hiệp hội những nhà kinhdoanh thuỷ sản Hoa Kỳ đã có những phản ứng gay gắt trớc sự việc này Họcho rằng Việt Nam đang sử dụng những biện pháp cạnh tranh không lànhmạnh nh bán phá giá sản phẩm cá ba sa để xâm nhập thị trờng thuỷ sản củaHoa Kỳ Từ đây đã diễn ra vụ kiện dai rẳng về việc bán phá giá cá ba sa giữacác doanh nghiệp Mỹ và Việt Nam Chi tiết về vụ kiện này xin đợc nói rõtrong phần sau của Luận văn
Nh vậy, hàng thuỷ sản Việt Nam đã đạt đợc không ít những thành côngtrong giai đoạn đầu tiên làm ăn với Mỹ Tuy nhiên cũng phải kể tới một sốnhững hạn chế của ngành hàng này Đó là, chất lợng của hàng thuỷ sản ViệtNam còn thấp, chế biến thô sơ, bao bì kém thẩm mỹ trong khi thị trờng Mỹ
đòi hỏi hàng thuỷ sản cao cấp, có công nghệ chế biến cao Ngoài ra hàng ràophi thuế quan của Mỹ lại tỏ ra khắt khe hơn so với nhiều thị trờng khác Đặcbiệt, từ sau ngày 18/12/1997, Mỹ áp dụng tiêu chuẩn HACCP cho việc nhậpkhẩu thuỷ sản đã gây không ít khó khăn cho hàng thuỷ sản Việt Nam
Hàng cà phê:
Cà phê là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị trờng Mỹtrong giai đoạn 1994-1999, 25% tổng lợng hàng cà phê xuất khẩu của ViệtNam trong giai đoạn này đợc tiêu thụ tại Mỹ Đây là mặt hàng nằm trongnhóm mặt hàng 09-0111 đợc Mỹ khuyến khích nhập khẩu nên có mức thuếnhập khẩu là 0%, không phân biệt xuất xứ do đó các doanh nghiệp Việt Nam
đã sớm gặt hái đợc khá nhiều thành công
Ngay năm đầu tiên xuất khẩu cà phê sang Mỹ, năm 1994, giá trị xuấtkhẩu đã lên tới gần 30 triệu USD, trở thành mặt hàng xuất khẩu có kim ngạchcao trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trờng Hoa Kỳ,chiếm 59,4% Không chỉ dừng lại ở đó, sang năm 1995, kim ngạch xuất khẩu
đã tăng vọt lên 146 triệu USD chiếm tới 72, 6% trong tổng hàng xuất khẩusang Mỹ Tuy nhiên trong những năm sau này mặt hàng này không bao giờcòn chiếm tỷ trọng cao nh vậy nữa (Bảng 4)
Trang 19Bảng 4: kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang Mỹ.
(Nguồn: tổng cục thống kê Việt Nam )
Năm 1996, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu cà phê không còn cao nh hainăm trớc, chỉ còn 34%, một mặt là do giá cà phê trên thế giới trong năm 1996giảm mạnh so với năm 1995, mặt khác là do từ năm 1996 Việt Nam tăng cờngxuất khẩu nhóm hàng nhiên liệu khoáng và dầu thô sang thị trờng Mỹ và bắt
đầu thu đợc nhiều kết quả tốt
Nh vậy, kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt nam sang Mỹ phụ thuộcnhiều vào giá cà phê trên thị trờng thế giới Sang năm 1997, 1998 do giá càphê trên Thế giới phục hồi đợc phần nào, kim ngạch xuất khẩu cà phê của ViệtNam nói chung và kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trờng
Mỹ nói riêng lại tăng lên Trong hai năm này, tốc độ tăng trởng của kim ngạchxuất khẩu cà phê của Việt Nam vào thị trờng Mỹ là 4.7 và 17.9% Nhng bắt
đầu từ năm 1999, giá cà phê trên Thế giới lại suy giảm trong một thời gian dài
và không có dấu hiệu phục hồi rõ rệt Do đó, lợng cà phê xuất khẩu giảm31.4% và chỉ chiếm 12% trong tổng lợng hàng xuất khẩu sang Mỹ Sang năm
2000, lợng cà phê sang Mỹ có tăng song vẫn chiếm một tỷ trọng nhỏ hơnnhiều so với các năm trớc
Tuy nhiên, trong giai đoạn này các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu chỉxuất khẩu cà phê thô: cha loại chất caffein và cha xay rang, hoặc loại chấtcaffein nhng cha xay rang để tránh mức thuế cao đánh vào cà phê tinh chế.Nguyên nhân là do trong giai đoạn này Việt Nam cha đợc hởng quy chế tối hệquốc do Việt Nam và Hoa Kỳ cha ký kết Hiệp định thơng mại Mặc dù vậy,xuất khẩu cà phê vào thị trờng Mỹ bớc đầu cũng đã thu đợc những kết quả khảquan, báo hiệu những triển vọng tốt đẹp Trong vòng hai năm tới đây, sản xuất
cà phê của các nớc Nam Mỹ sẽ có sự suy giảm nặng nề Đây là cơ hội tốt choxuất khẩu cà phê vào Hoa Kỳ Trong tơng lai lâu dài, thị trờng Mỹ có khả
Trang 20năng sẽ trở thành một thị trờng chủ yếu của xuất khẩu cà phê Việt Nam, vợtqua cả Châu âu và Nhật Bản, đặc biệt là sau khi hai nớc ký kết Hiệp định th-
ơng mại song phơng Vấn đề trớc mắt là phải nâng cao chất lợng cà phê xuấtkhẩu, áp dụng những tiêu chuẩn khắt khe đối với chất lợng cà phê xuất khẩu
Đây là một vấn đề cấp thiết cần có sự nỗ lực cả của doanh nghiệp và sự hỗ trợcủa các cơ quan chính phủ
Mặt hàng dệt may:
Mỹ luôn là một trong những thị trờng nhập khẩu hàng dệt may lớn nhấtthế giới với kim ngạch vợt xa con số 40 tỷ USD mỗi năm và ngày cang có xuhớng gia tăng Nhu cầu về hàng dệt may của Mỹ cũng rất phong phú về chủngloại và giá cả Trong khi đó, Việt Nam lại là nớc có thế mạnh về ngành dệtmay do tận dụng đợc lực lợng lao động dồi dào với giá nhân công rẻ Hàngnăm Việt Nam xuất khẩu gần 1.5 tỷ USD hàng dệt may ra nớc ngoài Do vậy,ngay sau khi dỡ bỏ cấm vận, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của ViệtNam vào Mỹ tăng vọt, từ 2.56 triệu USD năm 1994 lên 16.87 triệu USD năm
1995 Các năm sau kim ngạch vẫn tiếp tục tăng nhng tốc độ không cao, trungbình khoảng trên 10% một năm (bảng 5)
Bảng5: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ
( đơn vị triệu USD )
Năm 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Kim ngạch 2,56 16,87 23,60 25,92 28,44 36,40 46,70
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam )
Trong hàng dệt may thì Việt Nam chủ yếu xuất khẩu quần áo may mặc.Nguyên nhân một phần do ngành dệt là ngành đòi hỏi nhiều vốn trong khiViệt Nam lại chỉ có lợi thế với các ngành cần nhiều sức lao động Tuy nhiên,trong ngành hàng may mặc của Việt Nam vào thị trờng Mỹ chủ yếu vẫn làhàng gia công cho các công ty nớc ngoài Nguyên liệu là do bên nớc ngoàicung cấp, sản phẩm khi bán ra sẽ gắn với thơng hiệu của bên đặt hàng Phầnnày chiếm tới 70% số sản phẩm dệt may xuất khẩu của Việt Nam
Có thể thấy, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Mỹsau khi hai nớc bình thờng hoá quan hệ tăng lên rất nhanh, 5 năm sau khi bỏcấm vận kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đã tăng 14,2 lần, chiếm 6% trongtổng kim ngạch xuất khẩu tất cả các mặt hàng của Việt nam sang thị trờng Mỹnăm 1999 Tuy nhiên nếu nhìn vào tỷ lệ giữa kim ngạch xuất khẩu hàng dệtmay của Việt Nam sang Mỹ và tổng kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của
Trang 21Mỹ mới thấy rằng hàng dệt may nhập khẩu từ Việt Nam là quá nhỏ bé Vậy
là vẫn cha thể nói rằng thị trờng Hoa Kỳ đã trở thành một thị trờng quan trọng
đối với ngành dệt may Việt Nam Hay một cách khách quan hơn, vẫn cha thểnói rằng hàng dệt may Việt Nam đã tiếp cận đợc thị trờng Hoa Kỳ Điều này
đợc giải thích là do hàng dệt may Việt Nam cha đợc hởng thuế suất NTR(trung bình là 10,3% với hàng dệt, 13,4% đối với quần áo may mặc) Trongkhi đó thuế suất không có NTR trung bình là 55,1% với hàng dệt và 68,9% vớihàng quần áo may mặc Do vậy, một Hiệp định thơng mại với Mỹ sẽ giúp chohàng may mặc của Việt Nam có lợi thế rất nhiều về mặt giá cả, qua đó sẽ nângcao chỗ đứng của hàng dệt may Việt Nam trên thị trờng Mỹ
Hàng giày dép:
Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp sản xuất giầy dép củaViệt Nam đã có những bớc tiến đáng kể Bắt đầu từ năm 1993, khi đợc xếpvào nhóm 10 mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, mặt hànggiầy dép càng khẳng định đợc vị trí của mình Năm 1996, giầy dép đã là mặthàng xuất khẩu đứng thứ năm của Việt Nam
Xuất khẩu hàng giày dép sang Mỹ cũng có những thành tích cao khôngkém so với tình hình xuất khẩu chung của mặt hàng này Từ kim ngạch xuấtkhẩu rất thấp trong những năm đầu Việt nam có quan hệ buôn bán bình thờngvới Mỹ: 0,069 triệu USD năm 1994: 3,3 triệu USD năm 1995: giá trị xuấtkhẩu giày dép đã tăng vọt trong những năm tiếp theo , lên tới 39,1 triệu USDnăm 1996, gấp hơn 11 lần so với năm 1995 và gấp 47 lần con số năm 1994.Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này trong năm 1997 là 97,6 triệu USD, chiếm26,23% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt nam sang thị trờng Mỹ.Xuất khẩu giày dép vẫn tiếp tục tăng trong những năm tiếp theo Năm 1998kim ngạch giày dép tăng 17,3 triệu USD so với năm 1997, tơng đơng với17,7%, và đạt đợc đỉnh cao trong năm 1999 khi giá trị xuất khẩu giày dépsang thị trờng Mỹ lên tới 145,7 triệu USD, xếp thứ nhất về kim ngạch trong tấtcả các mặt hàng Việt nam xuất khẩu sang thị trờng Mỹ (Xem bảng 6)
Bảng 6: Kim ngạch xuất khẩu hàng giày dép sang Mỹ
Trang 22Có đợc thành tích nh vậy một phần là do chênh lệch giữa mức thuế ởng NTR với mức không đợc hởng là không quá lớn: khoảng dới 18% Nhờvậy mà hàng giày dép của Việt Nam có thể cạnh tranh với các quốc gia đợc h-ởng NTR nh Phillippines và Hồng Kông Tuy nhiên, con số hơn 100 triệuUSD xuất khẩu sang Mỹ không đáng kể so với lợng giày dép nhập khẩu hàngnăm của Mỹ là 13-14 tỷ USD Hơn nữa, hàng giày dép Việt Nam còn phải đốimặt với sự cạnh tranh gay gắt từ các nớc láng giềng nh Trung Quốc,Indonesia,…nhcác nớc xuất khẩu đã lâu đời về mặt hàng này Do cha đợc hởngMFN, giá hàng của Việt Nam luôn cao hơn so với hàng của Trung Quốc từ20-50% Hi vọng rằng sau khi Hiệp định thơng mại đợc ký kết và đa vào ápdụng, với việc Việt Nam đợc hởng mức thuế Tối huệ quốc, vấn đề khó khănnày sẽ đợc giải quyết, từ đó đẩy mạnh hơn nữa xuất khẩu giày dép sang thị tr-ờng Mỹ đầy tiềm năng.
h- Mặt hàng Dầu thô:
Việt Nam là một trong những nớc ở Đông Nam á có khả năng thăm dòkhai thác dầu khí, tuy còn non trẻ nhng đầy triển vọng Mãi đến năm 1996,Việt nam mới xuất khẩu những tấn dầu thô đầu tiên sang Mỹ nhng ngay trongnăm đầu tiên này kim ngạch xuất khẩu dầu thô sang Mỹ đã đợc 80,6 triệuUSD, chiếm vị trí thứ hai trong số năm mặt hàng mà Hoa Kỳ nhập khẩu nhiềunhất từ Việt Nam, sau cà phê Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu mặt hàng dầu thôtrong những năm tiếp theo lại không ổn định (bảng 6)
Bảng 7: Kim ngạch xuất khẩu dầu thô sang Mỹ
xuất khẩu sang Mỹ 40 12.5 23 16.6 12.4
( Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam )
Trong năm 1997, kim ngạch này đã giảm 55%, tụt xuống còn 36.6 triệuUSD Năm 1998, kim ngạch xuất khẩu dầu thô phục hồi và tăng trởng ở mức
kỷ lục – 192% Đây không những là mức tăng trởng kỷ lục trong xuất khẩumặt hàng dầu thô mà còn là mức tăng trởng cao trong kim ngạch xuất khẩucác mặt hàng khác sang thị trờng Mỹ của Việt Nam Năm 1999, xuất khẩudầu thô suy giảm 22% nhng vẫn giữ đợc ở mức cao hơn năm 1996 Từ năm
Trang 232000, do tình hình thị trờng dầu thô trên Thế giới có nhiều biến động có lợicho các nớc xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu dầu thô của Việt Nam sang Hoa
Kỳ cũng bắt đầu tăng lên ổn định với tốc độ tăng trởng tơng ứng là 8.2% Nhvậy, xuất khẩu dầu thô sang Mỹ đã có đợc những thành tích đáng kể Tuynhiên, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này lại phụ thuộc nhiều vào giá dầu thếgiới do đó luôn biến động thất thờng Hơn nữa, trong giai đoạn này các công
ty dầu khí của Mỹ cha tham gia nhiều cũng nh đóng vai trò mạnh mẽ trên thịtrờng Việt Nam Hi vọng một Hiệp định thơng mại song phơng sẽ giúp chohai nớc khắc phục đợc những khó khăn này và thúc đẩy hơn nữa xuất khẩudầu mỏ từ Việt Nam sang Hoa Kỳ
c Đánh giá và nguyên nhân
Nh vậy, một dấu hiệu đáng mừng là kim ngạch xuất khẩu từ Việt Namsang Hoa Kỳ sau khi cấm vận kinh tế đợc bãi bỏ tăng khá đều: mỗi năm tăngkhoảng trên dới 100 triệu USD trong khoảng thời gian 1994-1999 Điều nàycho thấy hàng của Việt Nam đang từng bớc thâm nhập vào thị trờng Mỹ Tuynhiên nếu xét về cơ cầu mặt hàng, Việt Nam mới chủ yếu xuất khẩu các mặthàng thuộc nhóm nông lâm, thuỷ sản Đây là những mặt hàng luôn chiếm tỷtrọng rất cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trờng Mỹ:năm 1994 chiếm 83%, năm 1995 là 84%, năm 1996 42%, năm 1997 36,3%,năm 1998 là 33,8% Những mặt hàng này chủ yếu là hàng thô, cha qua chếbiến Song Việt Nam đã cố gắng cải thiện dần tình hình này, cụ thể là tỷ trọnghàng nông lâm thuỷ sản cha qua chế biến đã giảm từ 84% năm 1995 xuốngcon 33,8% năm 1998
Trong các mặt hàng nông lâm thuỷ sản, cà phê luôn là mặt hàng chủ lựctrong suốt giai đoạn 1994-1999 với kim ngạch cao nhất trong các hàng xuấtkhẩu sang Mỹ: trên 100 triệu USD/năm Đứng thứ hai về kim ngạch trong cácnăm 1994-1995 là tôm đông lạnh
Bên cạnh đó, từ năm 1996, Việt Nam đã tăng cờng xuất khẩu dầu mỏsang Mỹ và mặt hàng này đã nhanh chóng chiếm vị trí cao trong tổng kimngạch hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ của Việt Nam Mặt hàng này cũng là mặthàng Việt Nam mới đi vào khai thác kinh doanh và hứa hẹn đầy triển vọngtrong thời gian tới
Ngành dệt may và giày dép của Việt Nam cũng có những bớc tiến đáng
kể trong giai đoạn 1994-1999 với kim ngạch tăng lên không ngừng, trở thànhnhững mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Hoa Kỳ
Trang 24Có thể đánh giá cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trờng Mỹ
đang dần đợc đa dạng hoá Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào
Mỹ so với lợng hàng Mỹ nhập khẩu hàng năm chỉ là con số không đáng kể.Hàng Việt Nam vẫn cha thể đợc coi là đã thâm nhập đợc vào thị trờng Mỹ Cónhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này
Nguyên nhân đầu tiên phải kể đến là do Việt Nam và Hoa Kỳ cha cómột quy chế pháp lý trong quan hệ thơng mại Trong thời gian này hai nớc cha
ký đợc Hiệp định thơng mại song phơng nên quan hệ thơng mại vẫn cònnhững hạn chế và trở ngại nhất định Hàng Việt Nam vào Mỹ trong giai đoạnnày vẫn phải chịu mức thuế rất cao do cha đợc hởng MFN Mức thuế ViệtNam phải chịu do cha đợc hởng MFN cao hơn các nớc khác từ 1,5 đến 2 lần,lên tới 35% trong khi các nớc khác chỉ chịu 8-10% Đó cũng chính là lí dolàm giảm sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trờng Mỹ Hàng ViệtNam chỉ có thể cạnh tranh với những hàng có thuớiuất thấp Đây cũng là điềubất lợi cho các doanh nghiệp Mỹ khi muốn bán hàng cho Việt Nam vì ViệtNam không có nguồn thu ngoại tệ từ việc xuất khẩu cho Mỹ, gây nên khókhăn lớn cho việc thanh toán cho khối lợng hàng nhập khẩu lớn từ Mỹ
Nguyên nhân thứ hai là thị trờng Mỹ còn mới lạ với các doanh nghiệpViệt Nam Những hiểu biết về Pháp luật cũng nh tập quán kinh doanh ở thị tr-ờng này vẫn còn hạn chế Các doanh nghiệp Việt Nam cha có cơ sở bạn hàng,thiếu thông tin thị trờng nên khó có thể xâm nhập vào kênh phân phối của Mỹ.Ngoài ra Việt Nam còn có quá ít các công ty có đủ khả năng kinh doanh quốc
tế để có thể làm ăn với các công ty xuyên quốc gia của Mỹ và không thể thựchiện các chiến dịch quảng cáo, nghiên cứu thị trờng một cách sâu rộng Thêmvào đó, Chính phủ vẫn cha hỗ trợ nhiều về phơng diện thông tin và trợ giúpcác doanh nghiệp làm ăn với Mỹ
Để giải quyết phần nào những khó khăn vớng mắc trên, hai nớc cầnnhanh chóng ký kết một Hiệp định thơng mại song phơng, từ đó củng cố hơnnữa quan hệ thơng mại giữa hai nớc nói chung, cũng nh xuất khẩu từ ViệtNam sang Mỹ nói riêng
2.2 Tình hình nhập khẩu từ Mỹ của Việt Nam
a Kim ngạch và cơ cấu nhập khẩu
Cũng giống nh xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam từ Mỹ tăng với tốc
độ khá nhanh về kim ngạch kể từ tháng 2 năm 1994 Đây cũng là điều có thểhiểu đợc vì hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc thiết bị nên giá trị tơng đối
Trang 25cao so với hàng nông lâm sản Hơn nữa nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bịphục vụ cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc của Việt Nam làrất cao và cần thiết trong giai đoạn này Bên cạnh đó, do chính sách thơng mại
mở cửa Việt Nam không hề có sự phân biệt đối xử với hàng hoá của bất kì nớcnào kể cả hàng hoá của Mỹ Biểu thuế nhập khẩu của Việt Nam chỉ có mộtloại thuế suất duy nhất cho từng loại hàng không phân biệt xuất xứ Chính vìvậy mà mặc dù cha ký kết đợc hiệp định thơng mại, hàng hoá của Mỹ đã có sựcạnh tranh bình đẳng đối với các hàng hoá khác ở thị trờng Việt Nam
Liên tục trong 3 năm (1994-1999), Việt Nam nhập siêu trong quan hệbuôn bán với Mỹ mặc dù kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam luôn tăng Tìnhtrạng này là do kim ngạch nhập khẩu từ Mỹ quá lớn (xem biểu đồ 1 và 3).Năm 1994, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Hoa Kỳ là 172 triệu USD ,nhập siêu 121,6 triệu USD; năm 1995: 252 triệu USD, nhập siêu 52 triệu USD;năm 1996: 616 triệu USD, nhập siêu 308 triệu USD Tuy nhiên, kể từ năm
1997 trở đi, Việt Nam bắt đầu xuất siêu và kim ngạch nhập khẩu từ năm
1997-1999 cũng luôn ổn định và không có nhiều thay đổi đáng kể
Về cơ cấu hàng nhập khẩu từ Mỹ, Việt Nam chủ yếu nhập khẩu hàngmáy móc thiết bị, các hàng thiết yếu phục vụ cho sản xuất nh phân bón, bôngsợi, xăng dầu, sắt thép, một số loại hoá chất, phơng tiện vận tải kể cả máy bay
và phụ tùng Những mặt hàng này có kim ngạch không đều qua các năm.Ngoài những mặt hàng kể trên còn có một kim ngạch nhỏ hàng nhập khẩu làngũ cốc, hàng nông sản thực phẩm khoảng 4 triệu USD mỗi năm Đây chủ yếu
là những mặt hàng Việt Nam cha có khả năng sản xuất (bảng 7)
Bảng 7: Cơ cấu hàng hoá nhập khẩu từ Mỹ (triệu USD)
Trang 26(Nguồn: U.S International Trade Commission data complied from the US Department of Commerce)
Có thể thấy rõ, máy móc thiết bị chiếm một tỷ lệ quan trọng trong lợnghàng nhập khẩu từ Mỹ của Việt Nam: năm 1996: 69%, năm 1997: 42,8%,năm 1998: 41%, năm 1999: 37,9% Đây cũng là xu hớng nhập khẩu phù hợpvới chính sách phát triển ngoại thơng của Việt Nam trong giai đoạn này: nhậpkhẩu máy móc thiết bị tiên tiến hiện đại từ các nớc có nguồn công nghệ nguồnnhằm phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc Trong thờigian tới xu hớng này nên đợc tiếp tục duy trì để tạo sự hợp lý cho cơ cấungành hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam
b.Một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu từ Hoa Kỳ của Việt Nam
Nhóm hàng máy móc thiết bị nói chung
Đây là nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong kim ngạch nhập khẩu
từ Mỹ của Việt Nam Đặc biệt là trong những năm đầu bình thờng hoá quan
hệ, Việt Nam nhập khẩu một số lợng rất lớn: năm 1994 chiếm 53% trongtổng giá trị nhập khẩu từ Mỹ, năm 1995 chiếm 51% (do trong năm này ViệtNam không mua máy bay từ Mỹ), năm 1996 con số này lên tới 68% do nhậpkhẩu một lợng lớn thiết bị vận tải Tuy nhiên, từ năm 1997, tỷ trọng này giảmnhiều do từ năm này Việt Nam chỉ nhập khẩu một số lợng nhỏ thiết bị vận tải.(bảng 7) Nhìn chung, mỗi năm Việt Nam nhập khẩu khoảng 100 triệu USDmáy móc Các máy móc thiết bị phần lớn là của các ngành chế biến, viễnthông và xây dựng Đây là những ngành đòi hỏi độ chính xác và độ bền cao:những đặc tính mà hàng hoá của Mỹ có thể đáp ứng tốt
- Thiết bị viễn thông:
Thiết bị viễn thông là một trong những mặt hàng phục vụ cho việc đổimới và nâng cấp cơ sở hạ tầng ở nớc ta do vậy chúng cần có độ bền và tínhnăng hữu ích Mặt khác, ngời Việt Nam vốn có thái độ coi trọng hàng hoáviễn thông của Mỹ vì sự đứng đầu về công nghệ và chất lợng Do vậy, tốc độtăng của mặt hàng này khá lớn: năm 1996 Việt Nam mới nhập khẩu có 25,3triệu USD, đến năm 1997 con số này đã tăng vọt lên 55 triệu USD và năm
1998 con số này đã là 85 triệu USD (Bảng 8) Tuy nhiên, hiện nay thị phầncủa các sản phẩm của Mỹ ở Việt Nam cha cao ( dới 10%) Mặt hàng này của
Mỹ vẫn chịu sự cạnh tranh của hàng Nhật Bản, Đức,…nh
Trang 27Bảng 8: Thị trờng thiết bị viễn thông
(Nguồn: Bộ thơng mại Hoa Kỳ)
- Thiết bị đóng gói và chế biến thực phẩm:
Việt Nam ngày càng nhận thức đợc sự cần thiết của việc sản xuất và xuấtkhẩu hàng nông sản chế biến, đặc biệt trong giai đoạn 1994-1999 khi mà xuấtkhẩu hàng nông sản đã qua chế biến của Việt Nam cha cao Các thiết bị máy mócchế biến của Mỹ là mặt hàng đợc yêu cầu nhiều trong giai đoạn này là máy mócthiết bị trong các ngành: xay gạo, thịt, bơ, sữa, nớc quả, chè, cà phê, đờng và dầuthực vật Liên tục trong các năm 1996, 1997, 1998 kim ngạch nhập khẩu của cácloại thiết bị chế biến và đóng gói tăng từ 15,4 triệu USD năm 1996, 20 triệu USDnăm 1997 và 30 triệu USD năm 1998 Tuy nhiên cũng giống nh các thiết bị viễnthông, thị phần các máy móc thiết bị chế biến của Mỹ chiếm tỷ trong nhỏ, chỉbằng 10% lợng nhập khẩu của Việt Nam( Bảng 9)
Bảng 9: Thị trờng thiết bị đóng gói/chế biến thực phẩm
Trang 28Nam tiếp cận với công nghệ nguồn mà không phải qua các nớc NICS trunggian.
Nhìn chung, các máy móc thiết bị của Mỹ đều có uy tín trên thị trờngthế giới và Việt Nam về độ bền, tính năng đa dạng, chất lợng cao, là nhữngmặt hàng rất cần cho nền công nghiệp non trẻ của Việt Nam Tuy vậy, có mộttrở ngại vẫn còn một số tồn tại là: do Việt Nam nằm trong các nớc nhóm Ynên việc nhập khẩu thiết bị tiên tiến hiện đại từ Mỹ hiện nay vẫn chịu sự kiểmsoát của chính phủ Mỹ
Nhóm nguyên vật liệu phục vụ sản xuất:
Việt Nam chủ yếu nhập khẩu từ Mỹ những mặt hàng cha sản xuất đợcnh: sắt thép, hoá chất, hoặc các mặt hàng sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầunh: phân bón, bông, giấy, thuốc trừ sâu,…nhNhững mặt hàng này chiếm khoảng20% tổng kim ngạch nhập khẩu từ Mỹ của Việt Nam: năm 1998, kim ngạchnhập khẩu là 274 triệu USD trong khi các mặt hàng nh giấy, bột giấy, thuốctrừ sâu, bông, phân bón đã là 59 triệu USD, chiếm 21% Đây là những mặthàng Nhà nớc quản lý theo chế độ hạn ngạch hoặc giao cho doanh nghiệpnhập khẩu đầu mối, chủ yếu nhằm cân bằng cung cầu của nền kinh tế
- Phân bón:
Đây là mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu khá lớn trong số các mặthàng nhập khẩu từ Mỹ Nếu nh năm 1994, Việt Nam mới nhập khẩu một lợng
là 16,558 triệu USD, bằng 9,6% tổng kim ngạch nhập khẩu từ Mỹ, thì tới năm
1996, con số này đạt tới 52,3 triệu USD (bảng 7) Năm 1997, lợng nhập khẩugiảm còn 8,9 triệu USD song sang các năm 1998,1999 ta đã nhập khẩu tới lầnlợt là 42,3 và 47,2 triệu USD Đây chính là mặt hàng liên quan tới sự cân đốicủa nền kinh tế nên nhà nớc quản lý theo định hớng: giao cho các doanhnghiệp đầu mối thực hiện Trên thực tế, trong giai đoạn 1994-1999 doanhnghiệp Việt Nam phải nhập khẩu phân bón từ Mỹ qua các công ty nớc ngoàinên giá thờng cao Điều này làm cho lợng phân bón thờng tồn đọng dẫn đếnhiệu quả nhập khẩu phân bón không cao Trong thời gian tới, khi hai nớc đã kí
đợc Hiệp định thơng mại và Hiệp định thơng mại này có hiệu lực, hi vọng cácdoanh nghiệp đầu mối của Việt Nam sẽ tìm đợc nguồn cung ứng trực tiếp từ
Mỹ thì hiệu quả nhập khẩu phân bón sẽ tăng lên
- Bông:
Trang 29Bông là một mặt hàng nguyên liệu quan trọng với ngành dệt may nớc
ta, một ngành đợc nhìn nhận là phát triển mạnh trong những năm gần đây.Tuy nhiên ở nớc ta lại diễn ra tình trạng cung không đủ cầu; nhu cầu cho sảnxuất là khoảng 58 nghìn tấn bông một năm trong khi sức sản xuất mặt hàngbông trong nớc chỉ khoảng 1nghìn tấn một năm Trong khi đó, Mỹ lại là mộttrong những nớc sản xuất bông lớn nhất thế giới: khoảng 1/6 sản lợng bôngtrên toàn thế giới Năm 1994, Việt Nam nhập khẩu từ Mỹ 12,2 triệu USDbông Đến năm 1996 lợng bông nhập khẩu lên 12,9 triệu USD Đây là mứcnhập khẩu bông từ Mỹ kỷ lục của Việt Nam (bảng 7) Tới năm 1997, lợngbông chỉ còn 11,2 triệu USD và năm 1998, 1999 lần lợt là 4, và 5,9 triệu USD.Theo đánh giá, bông đợc coi là “vua “ trong số các mặt hàng nông sản của Mỹnhập khẩu vào Việt Nam Do ngành dệt may xuất khẩu của Việt Nam đangngày càng đợc mở rộng và mức thuế nhập khẩu của bông là 0% Nh vậy, trongthời gian sau khi hai nớc ký kết một Hiệp định thơng mại, Việt Nam sẽ trởthành một thị trờng đầy tiềm năng cho các nhà xuất khẩu Mỹ
Trang 30Bảng 10: Thị trờng bông ở Việt Nam
Nguyên nhân lợng nhập siêu 2 năm đầu trong quan hệ với Mỹ lớn nhvậy là do Việt Nam nhập khẩu máy bay từ Mỹ Mặt hàng Mỹ xuất khẩu sangViệt Nam có giá trị rất lớn trong khi đó giá trị xuất khẩu những mặt hàngtruyền thống của Việt Nam không đáng kể Đến năm 1997, Việt Nam giảmnhập khẩu hàng Mỹ nguyên nhân một phần là do sự suy giảm tốc độ tăng tr-ởng kinh tế, tiêu dùng hạn chế dẫn tới sản xuất đình đốn, lợng nguyên liệudùng cho sản xuất giảm hẳn Hầu hết các nớc Châu á trong thời gian này bị
ảnh hởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế Việt Nam tuy không lâm vào tìnhtrạng khủng hoảng nhng nền kinh tế cũng có dấu hiệu suy thoái Sang năm
1998, nhập khẩu còn ít hơn so với năm 1997
Cũng có một thực tế nữa phải kể đến đó là, lợng hàng nhập khẩu từ Mỹmới chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng lợng hàng Việt Nam phải nhập khẩu.Nguyên nhân là Việt Nam và Hoa Kỳ cha ký với nhau một Hiệp định thơng
Trang 31mại và hai nớc cha có một quy chế pháp lý nhất định trong quan hệ hai nớc.
Do đó, quan hệ thơng mại hai nớc còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế
Bên cạnh đó cũng phải nói tới một vấn đề là kim ngạch nhập khẩu tuykhông lớn so với xuất khẩu nhng lại là những mặt hàng Mỹ có thể cạnh tranhmột cách dễ dàng trên thị trờng Việt Nam Chất lợng hàng hoá của Mỹ luôn đ-
ợc ngời tiêu dùng đánh giá cao Vì vậy, có thể sau khi hai nớc ký kết một Hiệp
định thơng mại thì thị phần những mặt hàng này ở Việt Nam sẽ dần bị cáccông ty Mỹ chiếm lĩnh Nh vậy thách thức đối với các doanh nghiệp sản xuấttrong nớc, đặc biệt là các doanh nghiệp có sử dụng công nghệ cao là rất lớn
Mặt khác trong giai đoạn đầu các doanh nghiệp Mỹ làm ăn tại ViệtNam chủ yếu là doanh nghiệp có tiềm lực tài chính lớn Sự chênh lệch vềtrình độ phát triển kinh tế, yếukém về cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính ngânhàng gây nhiều khó khăn cho quan hệ thơng mại giữa hai nớc Các doanhnghiệp Mỹ khi xuất khẩu sang Việt Nam còn e ngại về vấn đề thanh toán tiềnhàng nhập khẩu Các ngân hàng Việt Nam không có kinh nghiệm và khảnăng thanh toán và bảo lãnh với các công ty Mỹ còn doanh nghiệp Việt Namcha quen với thủ tục và cách thức hoạt động của ngân hàng Mỹ nên đã cónhững bất đồng trong quá trình thanh toán Hơn nữa, các tổ chức nh EX-IMbank,TDA cha đợc phép hoạt động tại Việt Nam do các luật lệ lỗi thời của Mỹquy định đã gây khó khăn cho quan hệ thơng mại giữa hai nớc Các tổ chứcnày đóng vai trò rất quan trọng đối vớicác công ty của Mỹ, vừa cung ấp tàichính vừa cung cấp thông tin về thị trờng Thị trờng Việt Nam cũng đợc đánhgiá là có độ rủi ro rất cao và một khi các tổ chức này cha hoạt động phục vụlợi ích của doanh nghiệp Mỹ thì quan hệ giữa hai nớc chỉ dừng lại ở mứckhiêm tốn và không phản ánh đầy đủ khả năng vốn có Hi vọng tất cả nhữngkhó khăn đó sẽ đợc gải quyết khi hai nớc đã có với nhau một bản Hiệp địnhthơng mại song phơng
Trang 32Chơng II Thực trạng thơng mại Việt Nam Hoa Kỳ một năm– Hoa Kỳ một năm
sau khi Hiệp định thơng mại có hiệu lực
I Những nội dung cơ bản của hiệp định thơng mại song phơng
có vị thế bình đẳng trong buôn bán quốc tế, mở rộng đợc giao thơng với các
n-ớc khác cả trong và ngoài khu vực Mở rộng giao thơng với Mỹ cũng sẽ thiếtlập đợc quan hệ bạn hàng với các tập đoàn, các công ty siêu quốc gia có quymô toàn cầu Hơn nữa, ký kết Hiệp định thơng mại với Mỹ sẽ thúc đẩy xuấtkhẩu của Việt nam vào thị trờng tiềm năng này Khi xuất khẩu đợc thì ta sẽ cókhả năng nhập khẩu nhiều hàng hoá hơn giúp ta hiện đại hoá nền kinh tế thúc
đẩy đợc sản xuất trong nớc phát triển tạo công ăn việc làm và khuyến khíchphát triển công nghệ Đây cũng chính là chính sách phát triển kinh tế của ViệtNam đã đợc Đảng và Chính phủ thông qua Do đó, việc ký kết một bản Hiệp
định thơng mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là điều hết sức cần thiết
Tiến trình đàm phán Hiệp định Thơng mại Việt - Mỹ:
Sau khi Việt Nam trao cho Mỹ văn bản: “Năm nguyên tắc bình thờngquan hệ kinh tế thơng mại và đàm phán Hiệp định thơng mại với Mỹ” (tháng7/1996), Việt Nam - Mỹ đã tiến hành đàm phán qua các vòng:
Trang 33- Vòng 7: Từ 15/3/1999 đến 19/3/1999 tại Hà nộiNội dung các vòng đàm phán 5,6,7 hai bên tập trung trao đổi tổngthể về: thơng mại hàng hoá, sở hữu trí tuệ, thơng mại dịch vụ và đầu t.
- Vòng 8: Từ 14/6/1999 đến 18/6/1999 tại Washington
- Vòng 9: Từ 23/7/1999 đến 25/7/1999 tại Hà nội, gặp mặtcấp Bộ trởng - Hiệp định đã đợc thoả thuận về nguyên tắc
- Vòng 10: Từ 28/8/1999 đến 2/9/1999 tại Washington: xử
lý các vấn đề về kỹ thuật
- Vòng 11: Từ 3/7/2000 tại Washington hoàn tất Hiệp định
- Ngày 13/7/2000 tại Washington diễn ra lễ ký chính thứcHiệp định thơng mại Việt - Mỹ
- Ngày 4/10/2001 Thợng viện Mỹ đã thông qua Hiệp địnhthơng mại Việt - Mỹ
- Ngày 10/12/2001 Hiệp định thơng mại Việt Nam-Hoa Kỳchính thức có hiệu lực
Tóm tắt nội dung Hiệp định thơng mại Việt - Mỹ:
Hiệp định thơng mại Việt - Mỹ gồm bảy chơng và nhiều phụ lục, dày
150 trang chứa đựng những chi tiết rất cụ thể về tiến trình thơng mại, đầu t,hoạt động dịch vụ của Mỹ về từng loại ngành nghề và sản phẩm Đây có thểcoi là một bản hiệp định hoàn thiện nhất từ trớc tới nay đợc ký kết giữa Mỹ vàmột nớc đang phát triển Mỹ giữ quyền gia hạn hiệp định hàng năm và một số
điểm trong hiệp định còn khó hơn cả hiệp định dành cho các nớc phát triểntrong khuôn khổ Tổ chức thơng mại thế giới (WTO) Bản hiệp định thơng mạiViệt - Mỹ đợc xây dựng trên hai khái niệm quan trọng Khái niệm tối huệquốc (đồng nghĩa với quan hệ thơng mại bình thờng) mang ý nghĩa hai bêncam kết đối xử với hàng hoá, dịch vụ, đầu t của nuớc kia không kém phầnthuận lợi so với cách đối xử với hàng hoá, dịch vụ, đầu t của nớc thứ ba Cònkhái niệm đối xử quốc gia thì nâng mức này lên nh đối xử với các công tytrong nớc
Hai khái niệm trên quan trọng vì chúng đợc đề cập đến ở hầu hết cácchơng của bản hiệp định Ngoài ra, còn có các phụ lục, đợc dùng để liệt kê cáctrờng hợp loại trừ, cha hoặc vĩnh viễn không áp dụng hai khái niệm nói trên
Trang 34Chơng 1: về thơng mại hàng hoá gồm chín điều Cam kết tối
huệ quốc đợc áp dụng cho thuế, hạn ngạch, quy trình cấp phép, quy tắc hảiquan, phân phối hàng hoá Tuy nhiên, chơng này có điều khoản loại trừ là hạnngạch vẫn đợc áp dụng cho hàng dệt may Chính điểm này khiến nhiều nhàxuất khẩu hàng dệt may nớc ta lo ngại có thể Mỹ sẽ áp dụng chế độ hạn ngạchhàng dệt may Việt nam, nhất là trớc sự chống đối của các nhà sản xuất Mỹ
Việc loại trừ cũng đợc áp dụng cho những quy chế đặc biệt, áp dụngcho các nớc thành viên trong các khối mậu dịch nh (AFTA, NAFTA) hay chobuôn bán qua biên giới (vẫn có quyền áp dụng những u đãi riêng) Đối xửquốc gia trong chơng này có nghĩa không đợc áp dụng các biện pháp thuế hayphi thuế để bảo hộ cho hàng trong nớc cạnh tranh với hàng nhập Ngợc lại,cũng không đợc sử dụng, chẳng hạn biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm mộtcách quá đáng để ngăn chặn hàng nhập của nớc kia
Chơng này cũng có điều khoản cho phép các công ty Mỹ ba năm saukhi hiệp định có hiệu lực đợc quyền liên doanh với các công ty Việt nam hoạt
động trong lĩnh vực thơng mại với tỷ lệ góp vốn khống chế ở mức 49% (banăm sau đợc nâng lên 51%) Sau bảy năm thì họ đợc quyền thành lập công tythơng mại 100% vốn Mỹ với một số loại trừ về sản phẩm không đợc phép muabán Các công ty, cá nhân Việt nam thì có quyền thơng mại ngay trên đất Mỹ
Chơng 1 có những phụ lục quan trọng nh phụ lục về lộ trình Việt namcam kết sẽ bỏ những hạn chế nhập khẩu hàng nông sản, công nghiệp nh (xi-măng trong vòng sáu năm), lộ trình giảm thuế nhập khẩu cho nhiều mặt hàngcủa Mỹ (phần lớn là giảm1/3 đến 1/2) trong vòng ba năm nh (máy lạnh dới
9000 BTU từ 50% còn 30%, máy giặt từ 40% còn 30%) Những loại trừ trongcác phụ lục cũng nhằm mục đích nhất quán đối với danh mục hàng cấm nhập,cấm xuất của Việt nam (phía Mỹ phải tuân thủ) Tuy nhiên, trong vòng banăm, Việt nam sẽ phải bỏ thuế thiêu thụ đặc biệt đối với ô-tô hay phụ thu xăngdầu chẳng hạn
Chơng 2 về quyền sở hữu trí tuệ gồm 18 điều cũng với điều
khoản chính yếu là cam kết của hai bên bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của côngdân nớc kia không kém sự bảo hộ mà công dân nớc đó đang hởng mà khôngcần yêu cầu qua những thủ tục nào nh phải xuất bản hay đăng ký ở nớc kia.Việc thực hiện đầy đủ và có hiệu quả các điều khoản về bản quyền, thơnghiệu, sáng chế, bí mật thơng mại, kiểu dáng công nghiệp phần lớn dựa trênqui định của các công ớc quốc tế nh Công ớc Geneva về bảo hộ ngời sản xuất
Trang 35bản ghi âm chống ự sao chép tria phép (1971), Công ớc Berne về bảo hộ tácphẩm văn học và nghệ thuật (1971) hay Công ớc Paris về bảo hộ sở hữu côngnghiệp (1967) với đầy đủ chi tiết về xử lý vi phạm Ngoài ra chơng này còn
có những qui định khác về quyền tác giả, việc bảo hộ tín hiệu vệ tinh mangchơng trình đã đợc mã hóa, nhãn hiệu hàng hoá, phát minh, sáng chế Đây
là những vấn đề mà Việt nam cần quan tâm nhiều vì từ trớc tới nay Việt namcòn coi nhẹ những qui định này và đã phải trả giá đắt khi chính các doanhnghiệp Việt nam bị đánh cắp thơng hiệu của mình ở nớc ngoài
Chơng 3 về thơng mại dịch vụ gồm 11 điều cũng dựa trên căn
bản hai khái niệm tối huệ quốc và đối xử quốc gia Chơng này có phụ lục nêurằng hai bên cam kết đa vào hiệp định những phụ lục của Tổ chức thơng mạithế giới quy định về dịch vụ tài chính, viễn thông
Ngoài ra, cũng có một phụ lục về cam kết của Việt nam cho các công tydịch vụ Mỹ vào hoạt động theo lộ trình và những giới hạn Việt nam đặt ra đốivới những loại hình đầu t dịch vụ này Chẳng hạn, trong viễn thông, ngành cótính nhạy cảm cao, sau ba năm cho phép công ty Mỹ liên doanh cung cấp dịch
vụ internet, sau bốn năm cho phép liên doanh cung cấp dịch vụ điện thoại ờng Nhìn chung phần vốn của phía Mỹ hạn chế ở mức 49% Với phim ảnh vàsản phẩm nghe nhìn khác, cổ phần của phía Mỹ sẽ bị giới hạn ở mức 51%.Riêng ngành ngân hàng, lộ trình cho phép Mỹ có thể cổ phần 100% phải sau 9năm
th-Chơng 4 mang tên phát triển quan hệ đầu t gồm 15 điều,
điều khoản căn bản đợc phát triển thành hai bên cam kết đối xử với các dự án
đầu t của nớc kia không kém phần thuận lợi nh với chính dự án đầu t trong
n-ớc hay dự án đầu t của nn-ớc thứ ba trên lãnh thổ của mình, tuỳ cái nào thuận lợihơn Tuy nhiên Hiệp định thơng mại Việt - Mỹ cũng bảo đảm quyền của cáccông ty Mỹ đợc đầu t vào hầu hết mọi ngành nghề kinh tế, kể cả một số ngànhquan trọng nh ngân hàng, tiếp thị, viễn thông mà Việt nam cho đến nay hoặckiểm soát chặt chẽ hoặc dành độc quyền cho công ty trong nớc Mỹ có quyền
có cố phần tuyệt đối 100% trong các dịch vụ t vấn nh luật, kế toán, kiến trúc,tin học, xây dựng, du lịch, nghiên cứu thị trờng, giáo dục, tài chính không phảingân hàng hay bảo hiểm
Theo nh cam kết, các dự án đầu t của Mỹ cũng sẽ chỉ cần đăng ký thànhlập chứ không cần xin cấp phép đầu t chẳng hạn, nên chơng này có phụ lụcnêu rõ nhiều lĩnh vực mà Việt nam không áp dụng cách đối xử nói trên nh
Trang 36phát thanh, truyền hình, in ấn, ngân hàng, khai mỏ, địa ốc Phía Mỹ cũngloại trừ những ngành nh năng lợng nguyên tử, dịch vụ tài chính.
Hiệp định cũng ghi cụ thể những loại dự án Việt nam chỉ cho đăng kýnếu đi kèm phát triển vùng nguyên liệu nh sản xuất giấy, đờng hoặc phảixuất khẩu ít nhất 80% sản phẩm nh sản xuất xi-măng, thuốc lá, phân bón, bộtgiặt Chơng này cũng nói rõ, các công ty Mỹ phải góp ít nhất 30% vốn trongliên doanh, cha đợc thành lập công ty cổ phần và cha đợc phát hành cổ phiểu
ra công chúng, cha đợc mua quá 30% vốn của một công ty cổ phần hoá.Những ràng buộc này sẽ duy trì trong vòng ba năm sau khi hiệp định có hiệulực
Phía Việt nam cũng cam kết ngay sau khi hiệp định có hiệu lực sẽ đối
xử các công ty nớc ngoài nh những pháp nhân trong nớc Ví dụ trong vòng banăm, các công ty liên doanh với nớc ngoài sẽ phải xoá bỏ điều khoản đòi bổnhiệm ngời Việt nam vào hội đồng quản trị doanh nghiệp, hạn chế các quyết
định theo nguyên tắc nhất trí, xoá bỏ phân biệt đối xử giữa công ty trong nớc
và công ty nớc ngoài, loại bỏ chế độ hai giá đối với phí lắp đặt điện thoại vàcác dịch vụ viễn thông khác, giá nớc và dịch vụ du lịch Trong vòng hai năm
sẽ bỏ chế độ hai giá đối với đăng ký ô-tô, giá dịch vụ cảng và giá đăng ký điệnthoại Trong vòng bốn năm sẽ bỏ hẳn chế độ với mọi loại hàng hoá và dịch vụ
kể cả giá điện hay giá vé máy bay
ở đây có một điểm có thể còn sót lại sau lần ký tắt vì hiệp định vẫn cònghi nhận chuyện các công ty Mỹ cha đợc thế chấp quyền sử dụng đất tại cácngân hàng nớc ngoài đang hoạt động tại Việt nam Điểm này Luật đầu t nớcngoài sửa đổi đã cho phép Thế nhng điều khoản này vẫn còn sự cam kết trongvòng ba năm sẽ cho phép các công ty Mỹ thế chấp tại bất kỳ ngân hàng nàotrên đất Việt nam
Chơng 5 dành cho việc tạo điều kiện cho doanh nghiệp
hoạt động bình thờng, nghĩa là doanh nghiệp của hai nớc có thể trựctiếp trao đổi, đàm phán làm ăn trên cơ sở bình đẳng và đợc tạo mọi điều kiệntốt nhất có thể Công dân và công ty của bên này có thể tiếp cận sản phẩm vàdịch vụ do chính phủ cung cấp, bao gồm các tiện ích công cộng trên cơ sởkhông phân biệt đối xử và theo giá cả công bằng và thoả đáng và trong mọi tr-ờng hợp không cao hơn giá cả áp dụng cho các công dân và công ty của các n-
ớc thứ ba Chính vì vậy, theo chơng này, thuật ngữ “Không phân biệt đối xử”
Trang 37đợc hiểu là sự đối xử ít nhất là thuận lợi bằng sự đối xử quốc gia hoặc sự đối
xử tối huệ quốc, tuỳ theo sự đối xử nào tốt hơn
Chơng 6 nói về những qui định liên quan tới tính minh bạch,
công khai và quyền đợc khiếu kiện, chủ yếu đề cập đến một vấn
đề nh phải minh bạch hoá tất cả các luật lệ, nghị quyết, quyết định, quy địnhkiểm soát và hành chính trên công báo Công dân và công ty của hai bên đợctiếp cận dữ liệu về nền kinh tế quốc dân và từng khu vự kinh tế, kể cả nhữngthông tin về ngoại thơng.Các thay đổi ảnh hởng đến doanh nghiệp thì phảicông bố cho doanh nghiệp biết trớc khi có hiệu lực và cho thời gian chuyểntiếp, phải cung cấp cho doanh nghiệp thông tin kinh tế ở mức độ có thể chophép công dân và công ty của bên kia cơ hội đóng góp ý kiến đối với việc xâydựng luật, quy định và thủ tục hành chính có tính áp dụng chung mà có thể
ảnh hởng đến việc tiến hành các hoạt động thơng mại qui định trong Hiệp
định này Còn các quy chế không đợc phân biệt đối xử và có toà phân xửkhiếu nại
Chơng 7 dành cho những điều khoản chung nh các qui định
liên quan tới việc thanh toán, góp vốn, phá sản, chuyển lợi nhuận hay các
điều khoản liên quan tới an ninh quốc gia, thuế hay tham vấn và các ngoại lệchung Trong chơng này cũng có thêm phần phụ lục, tài liệu tham khảo vềmột số lĩnh vực quan trọng nh viễn thông, các dịch vụ về tài chính trong đóphụ lục về dịch vụ tài chính của Hiệp định thơng mại dịch vụ GATS của WTO
đợc đa vào Hiệp định này để dẫn chiếu một cách tơng ứng
2 Một số đánh giá về tác động của Hiệp định thơng mại Việt Nam – Hoa
Kỳ đến sự phát triển thơng mại giữa hai nớc
Nằm trong đờng lối chung về hội nhập và phát triển của Đảng và nhà
n-ớc, tiến trình đàm phán và ký kết Hiệp định Thơng mại song phơng Việt- Mỹ
là một bớc đi tất yếu, cần thiết và kịp thời đa nền kinh tế Việt Nam từng bớc
thích nghi với những luật chơi của Thơng mại Thế giới (WTO) Không có các
đòi hỏi của phía Mỹ, Việt Nam cũng cần sửa đổi các luật và qui định đã và
đang không còn phù hợp với những phát triển, biến đổi nội thân của nền kinh
tế, từ đó giải phóng sức sản xuất tăng sức cạnh tranh cho các nhà sản xuất vàxuất khẩu Việt Nam, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụcủa Việt Nam trong thơng mại quốc tế, đặc biệt trên thị trờng Mỹ
Xét về quan hệ thơng mại song phơng, Hiệp định Thơng mại Việt Hoa Kỳ ký ngày 13-7-2000 là một nỗ lực to lớn của hai nớc, đẩy quá trình
Trang 38Nam-bình thờng hoá quan hệ lên một tầm cao mới: Nam-bình thờng hoá quan hệ kinh tếthơng mại Nếu nh 07 năm trớc đây Việt Nam vẫn nằm trong danh sách các n-
ớc bị bao vây cấm vận và Việt Nam là một địa chỉ cố tình bị lãng quên trongbản đồ đầu t, thơng mại của Mỹ thì ngày nay hai nớc đã là những đối tác quantrọng của nhau với kim nghạch hai chiều đạt hơn 1 tỷ USD năm 2000 Nềnkinh tế Việt Nam đã vững vàng vợt qua giai đoạn đầy khó khăn nhng ViệtNam cũng đã mất nhiều thời gian và cơ hội bởi tồn tại trong những điều kiệnbất lợi so với hầu hết các nớc khác trên thế giới, các nớc trong khu vực có điềukiện nới rộng thêm khoảng cách phát triển kinh tế với Việt Nam
Hiệp định Thơng mại một khi có hiệu lực sẽ ngay lập tức đem lại điềukiện cạnh tranh công bằng cho Việt Nam về mặt thuế quan và nhiều mặt khác
mà nếu so với điều kiện kinh doanh giữa Việt Nam và Mỹ hiện tại sẽ là nhữngqui chế rất thuận lợi Cụ thể những lợi thế thể hiện ở ba điểm:
Thứ nhất, Hiệp định có hiệu lực sẽ thiết lập quan hệ thơng mại bình
tờng giữa hai nớc Theo qui chế này, hàng hoá của Việt Nam và Mỹ sẽ đợc ởng quy chế Tối huệ quốc khi xuất sang thị trờng của nhau Điều này đặc biệt
h-có lợi cho Việt Nam khi hàng hoá của ta h-có cơ hội tiếp cận thị trờng nhậpkhẩu lớn nhất thế giới và cạnh tranh khá bình đẳng với các đối thủ xuất khẩukhác Thực tiễn thơng mại cho thấy với qui chế Quan hệ thơng mại bình th-ờng-NTR-Normal Trade Relation , hầu hết các nớc đều duy trì một thị phầnnhất định tại Mỹ, từ đó đẩy mạnh hơn quan hệ thơng mại hai nớc Việt Nam–Hoa Kỳ, đồng thời cũng góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế củaViệt Nam và tăng thu ngoại tệ Phát triển thơng mại với Mỹ sẽ giúp các dòngvốn có thêm cơ hội đầu t, đa dạng hoá sản xuất và cơ cấu thị trờng nhập khẩu,tăng cờng khả năng giữ cân bằng và ổn định thị trờng xuất khẩu và cán cân th-
ơng mại
Thứ hai, mở ra thị trờng xuất khẩu mới là dung lợng lớn nh thị trờng
Hoa Kỳ sẽ giúp thúc đẩy đầu t từ Mỹ vào Việt Nam, làm tăng nguồn vốn đầu
t nớc ngoài cũng nh huy động thêm vốn đầu t trong nớc, xét cả về các nhà đầu
t mới cũng nh việc mở rộng dự án đầu t sẵn có Khả năng tăng đầu t từ các nớckhác vào khai thác thị trờng Mỹ là rất hiện hữu Thông qua các dự án đầu t,quá trình hiện đại hoá nền kinh tế Việt Nam sẽ đợc đẩy mạnh thông qua việckhai thác lợi thế vốn, công nghệ nguồn, công nghệ quản lý, sản xuất, vv của các nhà đầu t nớc ngoài, đặc biệt từ chính các nhà đầu t Mỹ Từ đó lại cótác động tích cực thúc đẩy thơng mại hai nớc