Các quốc gia này đều đã có biện pháp khuyến khích xuất khẩu như tài trợ xuất khẩu thông qua việc cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu nước ngoài, cấp tín dụng xuất khẩu cho các doanh nghiệp xu
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Hội nhập vào nền kinh tế thế giới tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho nền kinh tế nhiều nước Việc mở rộng thị trường xuất khẩu đã trở thành vấn đề sống còn đối với nhiều nước đặc biệt là các nước đã tận dụng được lợi thế quy mô lớn, công suất hoạt động dư thừa đòi hỏi phải tìm kiếm thị trường tiêu thụ Và cuộc cạnh tranh tìm kiếm thị trường xuất khẩu trên thế giới đang ngày càng trở nên gay gắt và quyết liệt hơn với sự góp mặt của rất nhiều nhà xuất khẩu trong khu vực Đông Nam A Ùvà các nhà xuất khẩu có tiềm lực lớn như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản ,Mỹ Các quốc gia này đều đã có biện pháp khuyến khích xuất khẩu như tài trợ xuất khẩu thông qua việc cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu nước ngoài, cấp tín dụng xuất khẩu cho các doanh nghiệp xuất khẩu thông qua hoạt động của các ngân hàng xuất nhập khẩu, các ngân hàng thương mại và các tổ chức cho vay tư nhân khác hay trợ cấp xuất khẩu như đối với mặt hàng nông sản để các mặt hàng xuất khẩu có thể có ưu thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế Đặc biệt một số nước đã sử dụng biện pháp bán phá giá hàng hoá để chiếm lĩnh thị trường nước ngoài Trợ cấp nông sản và bán phá giá hàng hoá là những biện pháp đang bị chỉ trích nhiều nhưng những hoạt độâng này vẫn diễn ra và đem lại những thành công nhất định cho các nhà xuất khẩu các nước này và đe doạ đến nền kinh tế các nước khác.Việt Nam trong mấy năm qua đã phát triển nền kinh tế hướng về xuất khẩu và thực tế đã gặt hái được nhiều thành tựu Nhưng cũng phải thừa nhận rằng hàng xuất khẩu của Việt Nam còn đơn điệu và thiếu tính cạnh tranh Tuy nhiên, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế hội nhập và cần có những biện pháp để hàng hoá Việt Nam có thể tham gia cạnh tranh trên thị trường thế giới Từ lý
do đó người viết muốn tìm hiểu thực tiễn sử dụng một số biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu của một số nước và đưa ra bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Trang 2Trong khuôn khổ một khoá luận người viết không có tham vọng đưa ra đầy
đủ các biện pháp xuất khẩu của các nước mà chỉ tập trung đề cập đến ba biện pháp là tín dụng xuất khẩu, trợ cấp xuất khẩu và bán phá giá hàng hoá của một số nước đã thành công trong việc đẩy mạnh xuất khẩu thuộc nhóm nước Âu Mỹ như Mỹ, EU và nhóm nước Châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Ấn Độ và đưa ra những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam.
Riêng về phần bán phá giá hàng hoá, do đây là một vấn đề nhậy cảm nên người viết chỉ có thể nêu ra hoạt động bán phá giá của bốn nước điển hình đó là Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, EU.
Khoá luận sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, so sánh và phân tích, kết hợp những kết quả thống kê với việc vận dụng lý luận để làm sáng tỏ những nghiên cứu
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu và phần trích dẫn , nội dung của khoá luận được chia thành ba chương:
- Chương I : Vai trò của tín dụng xuất khẩu, trợ cấp, bán phá giá hàng hoá đối với việc đẩy mạnh xuất khẩu
- Chương II : Thực tiễn sử dụng tín dụng xuất khẩu, trợ cấp và bán phá giá hàng hoá để đẩy mạnh xuất khẩu của một số nước trên thế giới
- ChươngIII : Việc sử dụng các biện pháp tín dụng xuất khẩu, trợ cấp, bán phá giá hàng hoá để đẩy mạnh xuất khẩu ở Việt Nam hiện nay và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các biện pháp trên
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô Bùi Thị Lý, người đã hướng dẫn và giúp đỡ em tận tình trong suốt quá trình làm khóa luận tốt nghiệp này.
Do khuôn khổ khoá luận và thời gian nghiên cứu không nhiều côïng với năng lực nghiên cứu của người viết còn hạn chế nên khoá luận không thể tránh khỏi sai sót Em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn.
Trang 3CHƯƠNG I VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG XUẤT KHẨU, TRỢ CẤP, BÁN PHÁ GIÁ HÀNG
HOÁ ĐỐI VỚI VIỆC ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU
Hoạt động xuất khẩu có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của nền kinh tếthể hiện ở những mặt sau:
1- Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá đất nước :
Đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam để có thể trở thànhmột quốc gia phát triển vững mạnh, con đường duy nhất là tiến hành côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Để công nghiệp hoá đất nước trong mộtthời gian ngắn đòi hỏi phải có số vốn rất lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị,kỹ thuật công nghệ tiên tiến Có thể có rất nhiều nguồn vốn tài trợ cho quátrình công nghiệp hoá như nguồn vốn đầu tư nước ngoài, vay nợ, việntrợ, nhưng những nguồn vốn này không lâu bền, và phải hoàn trả cho bêncho vay, chỉ có nguồn thu từ hoạt động xuất khẩu là quan trọng nhất, phảnánh nội lực quốc gia đó Xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng củanhập khẩu Trong khoảng 10 năm trở lại đây xuất khẩu đã đáp ứng đượckhoảng 80-85% nhập khẩu và sẽ tiếp tục tăng trong tương lai Theo dự báo,xuất khẩu sẽ là nguồn vốn duy nhất cho việc nhập khẩu thời kỳ 2001-2010.TôÛng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ trong 10 năm đó sẽ cung cấp368,062 tỷ USD cho nhập khẩu 348,267 tỷ USD và còn dư ra 19,795 tỷ USDđể trang trải nợ nần và các khoản chi khác
Trang 42-Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy sản xuất phát triển:
Quá trình toàn cầu hoá đang ngày đêm diễn ra và lôi kéo các nước vào lànsóng của mình Để phù hợp với xu thế của kinh tế thế giới và để đáp ứngđược nhu cầu to lớn của thị trường thế giới thì hoạt động tổ chức sản xuấtphải hướng vào xuất khẩu Điều này tác động tích cực đến sự chuyển dịch cơcấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển thể hiện qua những mặt sau:
+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có thể phát triển thuận lợi
Ví dụ, sự phát triển của xuất khẩu thuỷ sản kéo theo sự phát triển của côngnghiệp khai thác, chế biến, bảo quản cho quá trình xuất khẩu này
+ Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần cho sảnxuất phát triển và ổn định Thực vậy nhờ xuất khẩu mà thị trường tiêu thụ mởrộng, nếu trước đây chỉ bó hẹp trong thị trường nội địa, hay mấy nước xã hộichủ nghĩa thì hiện nay thị trường cho các mặt hàng của Việt Nam đã có mặt
ở rất nhiều nơi trên thế giới như thị trường EU, Mỹ, Canađa, Nhật
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sảnxuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước
Thông qua xuất khẩu mà những hàng hoá tham gia cạnh tranh trên thịtrường thế giới về chất lượng và giá cả buộc phải được tổ chức sản xuất vàquản lý cho phù hợp, thích ứng với thị trường Việc này sẽ làm cho các nhàsản xuất trong nước phải có trách nhiệm hơn đối với các sản phẩm của mình,từ đó góp phần nâng cao uy tín của sản phẩm trên thị trường quốc tế
3- Xuất khẩu góp phần giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân.
Xuất khẩu phát triển kéo theo việc sử dụng thêm nhiều nhân công phụcvụ sản xuất hàng xuất khẩu, nâng cao thu nhập cho người lao động Đặc biệt
Trang 5với những mặït hàng sử dụng nhiều lao động như hàng dêït may xuất khẩu,hàng thủ công mỹ nghệ, hàng chế biến đã giải quyết khá nhiều công ăn việclàm cho người lao động Điều này cho thấy vai trò quan trọng của xuất khẩutrong vấn đề viêïc làm - một vấn đề bức xúc đối với bất kỳ quốc gia nào.
4- Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại :
Là một bộ phận của kinh tế đối ngoại, xuất khẩu cũng có mối quan hệtương hỗ với các hoạt động kinh tế đối ngoại khác Xuất khẩu phát triển thìcác quan hệ kinh tế khác cũng phải phát triển tương ứng để phục vụ cho xuấtkhẩu như các quan hệ tín dụng,đầu tư, vận tải quốc tế, bảo hiểm quốc tế Ngược lại, các quan hệ kinh tế đối ngoại ấy cũng mở ra tiền đề cho việc mởrộng xuất khẩu Ta có thể thấy được nhờ sự ra đời của các hình thức tín dụngchứng từ mà hoạt động xuất khẩu được đảm bảo thanh toán và ngày càngđược mở rộng Ta cũng có thể thấy rằng trong đầu thập niên 90 khi Liên Xô,thành trì của chủ nghĩa xã hội sụp đổ, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam gặprất nhiều khó khăn do thị trường chủ yếu bó hẹp trong phạm vi các nước xãhội chủ nghĩa Nhưng sau đó nhà nước đã thay đổi chính sách kinh tế đốingoại "muốn làm bạn với tất cả các nước trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi
"và kết quả là thị trường tiêu thụ đã không ngừng mở rộng sang các nước EU,Nhật Bản, Mỹ cũng chính hoạt động xuất khẩu đã tăng cường thêm quanhệ với các nước, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Tóm lại, xuất khẩu có vai trò đối với sự phát triển của cả nền kinh tế Đẩymạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển kinhtế và thưc hiện công nghiệp hoá đất nước
Trang 6II V AI TRÒ CỦA TÍN DỤNG XUẤT KHẨU , TRỢ CẤP XUẤT KHẨU VÀ BÁN
1 Tín dụng xuất khẩu
1.1 Nội dung của tín dụng xuất khẩu:
Ta có thể hiểu một cách tổng quát tín dụng là việc chuyển nhượng tạmthời một lượng giá trị (hình thái tiền tệ hay hiện vật) từ chủ thể này sang chủthể khác nhằm mục đích kinh doanh theo nguyên tắc hoàn trả, có kỳ hạn vàđược đền bù Nguyên tắc cơ bản của tín dụng là hoàn trả đúng hạn với giá trịhoàn trả thường lớn hơn giá trị lúc cho vay Trong cuốn Tư bản luận, K.Marxđịnh nghĩa tín dụng là : "Đem tiền cho vay với tư cách là một việc có đặcđiểm là sẽ quay trở về điểm xuất phát của nó và đồng thời lại lớn thêm trongquá trình vận động"
Ta có thể coi tín dụng xuất khẩu là hình thức tín dụng cấp cho các doanhnghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu với mục đích đẩy mạnh, hỗ trợ xuất khẩu.Tín dụng xuất khẩu đóng một vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển củangoại thuơng cũng như sự phát triển của kinh tế đất nước
Có các hình thức tín dụng xuất khẩu chủ yếu Đó là:
- Nhà nước trực tiếp cho nước ngoài vay tiền với lãi suất ưu đãi để nước vay sử dụng số tiền đó mua hàng của nước cho vay Thực chất là việc bán chịu có
thời hạn Đây là một hiện tượng phổ biến trong thương mại thế giới, chiếm70% khối lượng hàng hoá trên thị trường Hiện tượng này bắt nguồn từ bốicảnh thương mại thế giới khi mà hầu hết các nước đang phát triển, đặc biệtcác nước chậm phát triển gặp khó khăn về tài chính Do đó việc nhập khẩumáy móc, thiết bị với giá trị ngày càng cao vượt quá khả năng thanh toán củanước nhập khẩu Trong khi đó, giữa các nước xuất khẩu lại diễn ra một cuộc
Trang 7cạnh tranh dữ dội Để thắng trong cạnh tranh buộc người xuất khẩu phải bánchịu với điều kiện tín dụng xuất khẩu có lợi cho người mua
Nguồn vốn cho vay thường lấy từ ngân sách Nhà nước Việc cho vay nàythường kèm theo các điều kiện kinh tế và chính trị có lợi cho nước cho vay
-Nhà nước đảm bảo tín dụng xuất khẩu: Nhà nước đảm bảo gánh vác mọi
rủi ro xảy ra đối với khoản tín dụng mà nhà xuất khẩu nước mình dành chonhà nhập khẩu nước ngoài Phần lớn hàng hoá trong buôn bán quốc tế đượcthực hiện trên cơ sở tín dụng Tín dụng là phương tiện quan trọng đẩy mạnhviệc tiêu thụ hàng hoá ở thị trường nước ngoài Buôn bán trên cơ sở tín dụngđối với nhà xuất khẩu có thể xảy ra việc không đảm bảo thanh toán hoặcthanh toán không đúng yêu cầu về thời gian và số lượng
Có hai loại rủi ro thường xảy ra đối với khoản tín dụng :
-Rủi ro kinh tế : khả năng tài chính của người mua không đủ để thanh toántín dụng
-Rủi ro chính trị : những sự kiện xảy ra ngoài khả năng tài chính khiến chongười mua không thể thanh toán được khoản tín dụng
Bảo đảm tín dụng xuất khẩu khiến cho nhà xuất khẩu yên tâm và mở rộngxuất khẩu Ngày nay tín dụng xuất khẩu được thực hiện với thời hạn từ 5-7năm Trong trường hợp giữa các nước có hiệp định tay đôi thời hạn có thểkéo dài đến 15-20 năm
Để cho nhà xuất khẩu quan tâm dến việc kiểm tra khả năng thanh toáncủa người nhập khẩu và quan tâm đến việc thu tiền của người mua sau khihết thời hạn tín dụng, Nhà nước không đảm bảo trả hoàn toàn khoản tín dụngmà chỉ một phần nhất định, thường khoảng 60-70% khoản tín dụng
- Nhà nước cấp tín dụng cho doanh nghiệp xuất khẩu trong nước Vốn bỏ ra
cho việc sản xuất và thực hiện một hợp đồng xuất khẩu thường là rất lớn
Trang 8Người xuất khẩu cần có thêm vốn để kéo dài các khoản tín dụng ngắn hạnmà họ dành cho người mua nước ngoài Đặc biệt, khi bán hàng theo phươngpháp bán chịu thu tiền hàng xuất khẩu sau thì việc cấp tín dụng xuất khẩutrước khi giao hàng hết sức quan trọng Các ngân hàng thường hỗ trợ cho cácchương trình xuất khẩu bằng cách cung cấp tín dụng ngắn hạn trong giai đoạntrước và sau khi giao hàng.
+Tín dụng trước khi giao hàng :
Loại tín dụng ngân hàng này cần cho người xuất khẩu để đảm bảo cho cáckhoản chi phí:
- Mua nguyên vật liệu
- Sản xuất hàng xuất khẩu
- Sản xuất bao bì cho xuất khẩu
- Chi phí vận chuyển hàng ra đến cảng, sân bay, để xuất khẩu
- Trả tiền cước, bảo hiểm, thuế
Ngân hàng thường cấp tín dụng theo lãi suất ưu đãi thấp hơn lãi suấtthương mại để người xuất khẩu có thể bán được giá thấp có sức cạnh tranh ởthị trường nước ngoài Lãi suất càng thấp thì chi phí xuất khẩu càng giảm vàkhả năng cạnh tranh của người xuất khẩu càng mạnh
+Tín dụng xuất khẩu sau khi giao hàng :
Đây là loại tín dụng do ngân hàng cấp dưới hình thức mua (chiết khấu) hốiphiếu xuất khẩu hoặc bằng cách tạm ứng theo các chứng từ hàng hoá Loạihối phiếu này cùng các điều kiện thanh toán cho người xuất khẩu và nhậpkhẩu là cơ sở quan trọng để ngân hàng cấp tín dụng sau khi giao hàng Tíndụng sau khi giao hàng thường được vay để trả các khoản tín dụng trước khigiao hàng Nó còn được vay cho các khoản tiền thuế sẽ được hoàn lại trongtương lai cho người xuất khẩu
Trang 91.2 Vai trò của tín dụng xuất khẩu:
- Hình thức nhà nước trực tiếp cho người nước ngoài vay tiền giúp cácdoanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá vì có sẵn thị trường tiêu thụ.Các nước cho vay thường là những nước có tiềm lực kinh tế Hình thức nhànước cấp tín dụng cho nước ngoài trên khía cạnh nào đó giúp các nước nàygiải quyết tình trạng dư thừa hàng hoá ở trong nước
-Hình thức nhà nước đảm bảo tín dụng xuất khẩu không những khiến chonhà xuất khẩu yên tâm và mở rộng sản xuất, mạnh dạn xuất khẩu bằng cáchbán chịu mà còn tăng được giá hàng do giá bán chịu bao gồm cả giá bán trảtiền ngay và phí tổn đảm bảo lợi tức Đây là một hình thức khá phổ biến củanhiều nước để mở rộng xuất khẩu, chiếm lĩnh thị trường Trong điều kiệntổng khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản (khủng hoảng thừa) việc đảm bảo tíndụng xuất khẩu của Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩyxuất khẩu
- Hình thức nhà nước cấp tín dụng cho doanh nghiệp xuất khẩu trong nướccó vai trò quan trọng đối với cả doanh nghiệp, ngân hàng và nền kinh tế.+Đối với doanh nghiệp :
Doanh nghiệp là người hưởng lợi đầu tiên từ tín dụng xuất khẩu Tín dụngxuất khẩu trước và sau khi giao hàng theo mức lãi suất ưu đãi không đơn giảnlà chỉ giúp người xuất khẩu thực hiện được chương trình xuất khẩu của mìnhmà còn giúp họ giảm chi phí về vốn cho hàng xuất khẩu, giảm giá thành xuấtkhẩu Nhờ tín dụng xuất khẩu hiệu quả của doanh nghiệp cũng được tăngcường Nhờ có vốn tài trợ từ ngân hàng giúp doanh nghiệp xuất khẩu thumua hàng đúng thời vụ, gia công chế biến và giao hàng đúng thời vụ Ngoài
ra, nhờ có tín dụng xuất khẩu mà người xuất khẩu có khả năng bán đượchàng của mình theo điều kiện dài hạn, hàng hoá có sức cạnh tranh hơn trước
Trang 10đối thủ cạnh tranh Chẳng hạn, dưới sự bảo trợ của ngân hàng, doanh nghiệpcó thể có được một phương thức thanh toán hấp dẫn với phía đối tác và sẽthuận lợi hơn trong quá trình đàm phán, thương lượng hợp đồng Thông quatài trợ ngân hàng doanh nghiệp thực hiện các hợp đồng thương mại trôi chảy,quan hệ với các khách hàng lớn trên thế giới, uy tín của doanh nghiệp đượcnâng cao trên thế giới.
+ Đối với nền kinh tế :
Tín dụng xuất khẩu của ngân hàng tạo điều kiện cho hàng hoá xuất khẩuđược lưu thông, tìm được những thị trường tiêu thụ mới nhiều tiềm năng.Hoạt động xuất khẩu được đẩy mạnh nhờ thế mà cán cân thương mại giảmdần mức thâm hụt, cán cân thanh toán được cải thiện, góp phần giữ ổn địnhtỷ giá Hàng hoá xuất khẩu theo yêu cầu của thị trường được thực hiệnthường xuyên, liên tục góp phần tăng tính năng động của nền kinh tế và ổnđịnh thị trường
Tín dụng xuất khẩu giúp các doanh nghiệp có điều kiện thay đổi dâychuyền công nghệ, máy móc, thiết bị nhằm tăng năng suất lao động, hạ giáthành sản phẩm và tăng khả năng cạnh tranh Nhờ thế năng lực sản xuấtngày càng mở rộng, tiến tiến hơn, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế cũngcao hơn Sự phát triển của các doanh nghiệp trong nền kinh tế nói riêng đãtác động đến sự phát triển của cả nền kinh tế
+ Đối với ngân hàng cấp tín dụng :
Tín dụng xuất khẩu của ngân hàng cấp là hình thức tín dụng có kỳ hạn gắnliền với thời gian thực hiện thương vụ Đối tượng hưởng tín dụng là doanhnghiệp trực tiếp xuất khẩu hoặc uỷ thác Tín dụng ngân hàng trong lĩnh vựcxuất khẩu là hình thức cho vay tương đối an toàn đem lại hiệu quả cao, đặcbiệt sử dụng vốn đúng mục đích và thời gian thu hồi vốn nhanh Có nhiều
Trang 11khoản lãi ngân hàng thu được qua quá trình tài trợ : lãi cho vay thanh toán,lãi chiết khấu chứng từ, lãi vay bắt buộc, phí bảo lãnh, những khoản phí nàythường cao vì giá trị khoản tín dụng lớn Ngoài ra, thông qua tín dụng xuấtkhẩu, ngân hàng còn mở rộng quan hệ với các doanh nghiệp và các ngânhàng nước ngoài, nâng cao uy tín ngân hàng trên trường quốc tế.
2 Trợ cấp xuất khẩu :
2.1 Một số nội dung về trợ cấp xuất khẩu :
Trợ cấp xuất khẩu là hình thức khuyến khích xuất khẩu bằng cách Nhànước giành sự ưu tiên, ưu đãi về mặt tài chính cho các nhà xuất khẩu thôngqua trợ cấp trực tiếp hoặc gián tiếp khi họ bán được hàng hoá ra thị trườngnước ngoài
Trợ cấp trực tiếp như áp dụng thuế suất ưu đãi đối với hàng xuất khẩu, chocác nhà sản xuất được hưởng các giá ưu đãi cho các đầu vào sản xuất hàngxuất khẩu như : điện, nước, vận tải, thông tin liên lạc, phương tiện vậnchuyển, trợ giá (bù giá) xuất khẩu, tiền thưởng xuất khẩu, áp dụng tỷ giákhuyến khích đối với ngoại tệ thu được do xuất khẩu
Trợ cấp xuất khẩu đối với mặt hàng nào, mức độ cao hay thấp là tuỳthuộc vào chính sách của nhà nước đối với từng mặt hàng Thông thườnghiện nay trợ cấp xuất khẩu chủ yếu dành cho các sản phẩm nông nghiệp Trợcấp nông sản đóng vai trò quan trọng trong chính sách phát triển nông nghiệpvà đảm bảo đời sống cho bộ phận đông dân cư của các nước
Phân tích về mặt lý thuyết đối với trợ cấp xuất khẩu ta thấy, khi chính phủmột quốc gia tiến hành trợ cấp xuất khẩu một mặt hàng nào đó thì nhà xuấtkhẩu sẽ xuất khẩu hàng hoá tới một mức mà tại đó giá trong nước sẽ cao hơngiá của nước ngoài đúng bằng lượng trợ cấp
Trang 12Trợ cấp
$2.000
D q4 q2 q1 q3 Q(1.000 tấn)
15 20 30 35Như sơ đồ trên, giả sử giá cà phê thế giới là 2000$/ tấn và ở mức giá nàythì sản xuất đạt 30.000 tấn, tiêu dùng nội địa là 20.000 tấn, xuất khẩu sẽ là10.000 tấn (q1-q2)
Để khuyến khích xuất khẩu nhà nước quy định với mỗi tấn cà phê xuấtkhẩu sẽ thưởng 10%( 200$) Chính vì vậy, nhà xuất khẩu tăng doanh thu docó trợ cấp nên sản xuất trong nước tăng lên 35.000 tấn Nhưng do giá bántăng lên nên lượng tiêu dùng nội địa giảm xuống còn 15.000 tấn và lượngxuất khẩu tăng lên là 20.000 tấn(q3-q4) Đó chính là tác động của trợ cấpxuất khẩu
Trợ cấp gián tiếp là việc dùng Ngân sách nhà nước làm những việc màđáng lẽ nhà xuất khẩu phải làm như tổ chức và hướng dẫn các doanh nghiệptham gia hội chợ triển lãm, cung cấp thông tin về thị trường nước nhập khẩu,tạo điều kiện cho giao dịch xuất khẩu, giúp đỡ về kỹ thuật, tổ chức nuôi cácbộ máy thương vụ ở nước ngoài Nhưng hoạt đôïng này được thực hiện nhờcác tổ chức xúc tiến thương mại Các tổ chức này hoạt động mục đích thúcđẩy quá trình buôn bán giữa các doanh nghiệp và hoạt động đầu tư nướcngoài của các doanh nghiệp Trong phần khoá luận của mình, người viết chủyếu đề cập đến việc xúc tiến thương mại về xuất khẩu
Trang 13Xúc tiến thương mại về xuất khẩu là những hoạt động nhằm mở rộng thịtrường xuất khẩu để bán những hàng hoá, vật liệu mà trong nước có khảnăng sản xuất Xúc tiến xuất khẩu thúc đẩy việc mua bán trao đổi hàng hoá,dịch vụ giữa các nước với nhau và dùng ngoại tệ làm phương tiện trao đổi.Xúc tiến xuất khẩu được thừa nhận là một trong những hoạt động cơ bản vàcần thiết của hoạt động kinh tế đối ngoại Do vậy các chính phủ ở các quốcgia trong chiến lược phát triển kinh tế của mình đều coi hoạt động xúc tiếnxuất khẩu là hoạt động trọng tâm đồng thời là đòn bẩy tăng trưởng để đẩymạnh xuất khẩu.
Trong bối cảnh hiện nay, vấn đề thị trường ngày càng gay gắt, các hìnhthức trợ cấp trực tiếp phần nào thu hẹp dần do có các cam kết giữa các nướctrong các hiệp định và tổ chức quốc tế Trong khi đó hình thức trợ cấp giántiếp ngày càng tăng lên và thường được nguỵ trang dưới các hình thức khácnhau
2.2 Vai trò của trợ cấp xuất khẩu :
Đối với mặt hàng xuất khẩu đặc biệt là mặt hàng nông sản chịu sự biếnđộng rất lớn vào thời tiết, vào tình hình cung cầu trên thị trường, vào chínhsách bảo hộ của từng nước không những thế ngay từ khẩu thu mua đã diễn ranhiều rủi ro Việc nhà nước trợ cấp đầu vào cho sản xuất như trợ cấp giáphân bón, điện nước, hạt giống khiến cho người nông dân phấn khởi sảnxuất, tăng năng suất lao động và tạo ra nguồn hàng dồi dào cho xuất khẩu.Hình thức trợ giá đối với những mặt hàng nông sản sẽ khuyến khích sảnxuất dẫn đến thặng dư sản phẩm Phần dôi da được bán trên thị trường thếgiới với mức giá thấp Trong khi trợ cấp lại làm tăng giá hàng nông sản đó ởnước trợ cấp Kết quả là mặt hàng nông sản của nước trợ cấp sẽ có khả năngcạnh tranh hơn trên thị trường thế giới Trợ cấp nông sản đem lại lợi ích cho
Trang 14nhà xuất khẩu nước trợ cấp và người tiêu dùng nước ngoài nhưng nó làmthiệt hại về mặt vật chất cho người tiêu dùng nước trợ giá, cho những ngườithu thuế và những nhà sản xuất nước ngoài.
Việc nhà nước thưởng xuất khẩu cho những doanh nghiệp xuất khẩu đạtđược thành tích trong xuất khẩu như tìm được thị trường mới, xuất khẩu sảnphẩm có chất lượng cao, hiệu quả lớn một mặt hỗ trợ về mặt tài chính chocác doanh nghiệp mặt khác khuyến khích các doanh nghiệp tìm kiếm, mởrộng thêm thị trường
Việc áp dụng thuế suất ưu đãi đối với mặt hàng xuất khẩu có ý nghĩa quantrọng Đối với các mặt hàng nông sản hiện nay thường có thuế suất 0% đểgiúp các mặt hàng này có sức cạnh tranh hơn trên thị trường thế giới
Ngoài ra trợ cấp gián tiếp thông qua việc cung cấp thông tin về thị trườngnước nhập khẩu như về các quy định về luật pháp, thông tin về cung cầu thịtrường, thị hiếu, các quy định về vệ sinh an toàn và xu hướng biến động củathị trường trong một khoảng thời gian nhất định; hướng dẫn và tổ chức chocác doanh nghiệp tham gia các hội chợ triển lãm; đào tạo chuyên gia; giúpđỡ về kỹ thuật đã giúp ích rất nhiều cho các doanh nghiệp khi tiếp cận vớithị trường nước ngoài Có thể nói rằng những thông tin này nếu được cungcấp kịp thời và đáng tin cậy sẽ giúp các doanh nghiệp xuất khẩu nắm bắtđược các cơ hội để có quyết định triển khai việc bán hàng hay tạm găm hànglại chờ giá lên Vì vậy có thể nói rằng, vai trò của trợ cấp gián tiếp không dễdàng đo đếm được
3 Bán phá giá hàng hoá
3.1 Nội dung của bán phá giá hàng hoá :
a> Định nghĩa về bán phá giá hàng hoá :
Bán phá giá hàng hoá không đồng nghĩa với hàng hoá bán rẻ Một nước có
Trang 15đang được bán trên thị trường xuất khẩu thì hành động đó không phải là bánphá giá.
Theo Hiệp định chung về buôn bán và thuế quan của GATT năm 1947,định nghĩa về bán phá giá được ghi trong điều VI là :
" Bán phá giá là hành động mang sản phẩm của một nước sang bán thành hàng hoá ở một nước khác, với mức giá xuất khẩu thấp hơn giá bán thông thường của sản phẩm đó khi bán ở trong nước xuất khẩu."
Như vậy trung tâm của khái niệm bán phá giá là có sự tách biệt về giá, khigiá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường của hàng hoá đó ở trong nướcxuất khẩu
Ví dụ: Người mua rượu ở Scotland bán rượu Whisky 25 năm tuổi ở thịtrường Scotland với giá 50USD/ chai, nếu người đó xuất khẩu rượu Whiskycùng loại với một nước khác và bán với giá 30 USD/chai thì người bán đó đãthực hiện hành động bán phá giá
Hiệp định về chống bán phá giá năm 1994 của WTO có điều khoản giảithích như sau:
- "Giá bán thông thường" là giá bán có lãi của sản phẩm tương tự được bánvới số lượng thích đáng trên thị trường nội địa tới người tiêu dùng độc lập.Như vậây để xác định giá trị thông thường của hàng hoá có 4 điều kiện :
* Sản phẩm tương tự (giống nhau)
* Số lượng thích đáng
* Có lãi
* Các khách hàng độc lập
+ Sản phẩm tương tự là sản phẩm giống nhau, hoặc nếu nó không giống
nhau hoàn toàn thì nó phải gần giống nhau
Trang 16+ Số lượng thích đáng là số lượng ít nhất bằng 5% khối lượng xuất khẩu
được bán trong tiến trình mua bán thông thường ở trong nước xuất khẩu Tiến trình mua bán thông thường phải thoả mãn 2 điều kiện: bán có lãi vàkhách hàng độc lập
+ Có lãi là bán với mức giá bán trung bình phải cao hơn chi phí đối với
sản phẩm
+ Khách hàng độc lập là khách hàng chiếm giữ >= 5% vốn của nhà nhập
khẩu hay nhà xuất khẩu chiếm giữ >= 5% vốn của khách hàng hay bên thứ
ba chiếm giữ >= 5% vốn khách hàng và nhà xuất khẩu
- "Giá xuất khẩu" : Là giá đã trả thực sự hay có khả năng trả (giá hoá đơn)và phải là giá xuất khẩu tới cộng đồng và phải là giá tới một khách hàng độclập
Định nghĩa này tiếp tục được Tổ chức thương mại thế giới (WTO) tiếp tụcsử dụng lại trong Hiệp định chống bán phá giá của WTO năm 1994
Trong luật chống bán phá giá của các nước như Mỹ, EU, Australia, NhậtBản, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Hàn Quốc, Inđônêxia, định nghĩavề bán phá giá đều có nội dung phù hợp với định nghĩa trong Luật của WTO.Như vậy rõ ràng định nghĩa này đã được thừa nhận và sử dụng rộng rãi trêntoàn thế giới
b> Phân loại phá giá hàng hoá:
- Phá giá rời rạc (sporadic dumping) : Một doanh nghiệp tiến hành phá giá
rời rạc ở thị trường nước ngoài khi doanh nghiệp này có lượng hàng tồn kholớn Lúc này, doanh nghiệp không muốn bán phá giá ở thị trường trong nước
do không muốn thay đổi cơ cấu nội địa Với lượng tồn kho này thì chi phí cốđịnh, chi phí cận biêân hầu như không có, nên doanh nghiệp hoàn toàn có thểbán với bất cứ giá nào có thể bán được ở thị trường nước ngoài Hình thức
Trang 17bán phá giá này không ảnh hưởng lớn tới thị trường phá giá mà mục đích làgiành lợi ích cho người tiêu dùng nước ngoài chứ không phải cướp đoạt thịtrường.
-Phá giá tiêu diệt (Predatory dumping) : Là hình thức phá giá được bàn tới
nhiều nhất và bị coi là không thông lệ, không bình đẳng trong thương mạiquốc tế Phá giá tiêu diệt là việc một doanh nghiệp tiến hành phá giá để tiêudiệt đối thủ cạnh tranh trên thị trường trong một thời gian ngắn với mức giáthấp hơn chi phí cận biên rồi nâng giá cao hơn lên mức giá thông thường đểthu lợi nhuận độc quyền Mục đích của biện pháp này là doanh nghiệp củngcố và mở rộng thị phần tiêu thụ hàng hoá ở thị trường nước ngoài Hình thứcnày đe doạ sự phát triển của ngành công nghiệp đã được hình thành ở nướcnhập khẩu cũng như ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự hình thành của ngành côngnghiệp đó Các đạo luật chống phá giá cũng như hiệp định quốc tế về chốngphá giá chủ yếu nhằm hạn chế hình thức phá giá này
-Phá giá liên tục (continuous dumping) : Dựa trên giả định là quy mô sản
xuất lớn thì chi phí sản xuất hàng hoá giảm Với mục đích duy trì cơ cấu giánội địa, doanh nghiệp sẽ liên tục giảm hàng hoá bán ở thị trường nước ngoài.Lợi nhuận thu được từ tổng doanh thu sẽ được đảm bảo khi giá bán trungbình lớn hơn chi phí sản xuất trung bình
Gần đây xuất hiện những hình thức bán phá giá trá hình khác như hìnhthức khuyến mại : tăng về số lượng mà giá vẫn giữ nguyên thậm chí còngiảm giá nhằm thu hút khách hàng, giành giật thị trường thu lợi nhuận
3.2 Tại sao các công ty bán phá giá, chiếm lĩnh thị trường vẫn thu được lợi nhuận?
Trong thực tế có những lý do khiến một công ty bán phá giá vẫn thu đượclợi nhuận Giả dụ, một công ty sản xuất một triệu radio một năm bằng một
Trang 18nhà máy duy nhất và chỉ làm ca ban ngày Giả sử công ty định giá radio nàytrong thị trường nội địa là 20 USD một chiếc, và lãi được 4 USD một chiếc.
Ta giả dụ tiếp là các chi phí biến động của những chiếc radio này (gồmnguyên vật liệu, lương công nhân, ) vào khoảng 10 USD một chiếc, như thế
ta thấy các chi phí cố định (bao gồm nhà máy trang thiết bị, ) là khoảng 6USD một chiếc Nếu nhà máy bán hết một triệu chiếc radio mỗi năm, lãi 4USD một chiếc, thì họ rõ ràng đã bù đắp xong mọi chi phí cố định Bây giờcông ty thấy rằng họ có thể bán thêm radio với bất cứ giá nào cao hơn chi phíbiến động 10 USD để kiếm thêm tiền lãi
Giả sử nhà máy có thể chạy thêm ca đêm và sản xuất một triệu radio nữamỗi năm Các chi phí cố định, theo giả định, đã được trang trải xong với mộttriệu radio đầu tiên Nếu có thể xoay xở được một triệu chiếc radio thứ hainày mà không ảnh hưởng gì tới giá bán một triệu chiếc radio đầu tiên, vậy thìbất cứ giá nào cao hơn mức chi phí biến động 10 USD chiếc cũng làm tăngthêm lợi nhuận cho công ty Thí dụ công ty bán radio làm ca đêm với giá14USD, thì họ lãi thêm 4 triệu USD (ngoài số lãi 4 triệu USD từ một triệuchiếc radio đầu tiên làm ca ban ngày), tức là tăng gấp đôi lợi nhuận Dĩnhiên, việc bán sản phẩm làm ca đêm không được ảnh hưởng tới giá bán mộttriệu radio đầu tiên làm ban ngày Điều này dẫn đến việc phải tìm kiếm mộtthị trường khác hẳn cho sản lượng của ca đêm Thị trường mới nay phải đảmbảo không dễ gì chuyển ngược hàng trở lại thị trường thứ nhất, nếu không thìgiá bán của radio ca ban ngày bị cắt xuống tới mức thấp hơn giá thành
Một phương cách để thực hiện việc trên là tính giá bán ở những khu vựckhác nhau, với điều kiện chi phí vận chuyển hàng theo chiều ngược lại phảiđủ cao để ngăn không cho người mua ở thị trường giá rẻ đêm bán lại ở thịtrường giá đắt Trong trường hợp xuất khẩu sản phẩm, các chính phủ có thể
Trang 19ra các hàng rào thuế quan ngăn cản việc chở hàng hoá ngược trở về thịtrường gốc Như thế, nếu có một mức thuế quan 40% đánh lên radio nhậpkhẩu, thì sản lượng của ca đêm có thể bán sang nước ngoài với giá thấp tới12USD mà không sợ khách hàng nước ngoài sẽ chở radio ngược về thị trườnggiá gốc để làm giảm giá bán tại thị trường nội địa.
Như vậy để tiến hành bán phá giá cần xem xét các điều kiện sau:
+ Nhà xuất khẩu phải chiếm lĩnh thị trường trong nước chủ động trong việcđiều tiết lượng hàng hoá cũng như giá cả, lượng tiêu thụ ở thị trường ngoàinước quay trở lại thị trường trong nước
+ Thị trường nhà xuất khẩu thực hiện bán phá giá hàng hoá không thựchiện chế độ chống bán phá giá
+ Sử dụng tối đa công suất, các doanh nghiệp lại giảm được chi phí và làmtăng thêm lợi nhuận của phần sản phẩm bán trong nước Chính phần lợinhuận tăng thêm này là nguồn tài chính để bù lỗ bán phá giá ở nước ngoài.+ Có tiềm lực tài chính vì việc bán phá giá hàng hoá dẫn đến tổn thất,nguồn bù tổn thất có thể từ :
- Lợi nhuận thu có được bán phá giá cao ở thị trường trong nước
- Trợ cấp xuất khẩu của Nhà nước
- Lợi nhuận thu được sau khi đã chiếm lĩnh thị trường ngoài nước
Đặc điểm của bán phá giá hiện nay là phần lớn do Nhà nước tiến hành vàtổn thất do Ngân sách nhà nước chịu
Tuy nhiên, bên cạnh việc doanh nghiệp có thể bán hàng hoá ra nước ngoàivới giá thấp, doanh nghiệp cũng hoàn toàn cóù thể giảm giá ở thị trường trongnước để chuyển những lợi ích của qui mô sản xuất lớn cho người tiêu dùngtrong nước
Trang 20Như vậy, việc tận dụng lợi thế sản xuất theo quy mô lớn đã làm giảm giáthành sản xuất, tạo ra sản phẩm thặng dư Bán phá giá hàng nhập khẩu làmột thủ đoạn nhằm mở rộng thị trường cho những sản phẩm thặng dư trên.Ngoài ra, bán phá giá hàng hoá nếu thành công có tác dụng đánh bại đối thủcạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá vàcuối cùng đạt được lợi nhuận cao nhất.
Trang 21CHÖÔNG II THÖÏC TIEÊN SÖÛ DÚNG TÍN DÚNG XUAÂT KHAƠU, TRÔÏ CAÂP VAØ BAÙN PHAÙ
GIAÙ HAØNG HOAÙ ÑEƠ ÑAƠY MÁNH XUAÂT KHAƠU CỤA
MOÔT SOÂ NÖÔÙC TREĐN THEÂ GIÔÙI
Thò tröôøng thöông mái theâ giôùi ngaøy caøng môû roông khođng ngöøng ñaõ vaøñang môû ra nhieău cô hoôi laøm aín cho caùc doanh nghieôp xuaât nhaôp khaơu.Nhöng do nhöõng hán cheâ veă khạ naíng taøi chính, khođng phại luùc naøo doanhnghieôp cuõng coù ñụ tieăn ñeơ thanh toaùn haøng nhaôp khaơu ñaịc bieôt vôùi nhöõng maịthaøng maùy moùc thieât bò cođng ngheô cao hay ñụ voân ñeơ thu mua haøng xuaâtkhaơu Töø ñoù phaùt sinh quan heô vay möôïn vaø söï taøi trôï cụa nhaø nöôùc, ngađnhaøng Hôn nöõa, quan heô thöông mái quoâc teâ raât phöùc táp, chòu taùc ñoông cụanhieău yeâu toẫ vaø haøm chöùa nhieău rụi ro, neđn haău heât caùc nöôùc ñeău thaønh laôpcaùc heô thoâng taøi trôï xuaât khaơu nhö ngađn haøng xuaât nhaôp khaơu (Eximbank)hay caùc toơ chöùc ñạm bạo tín dúng xuaât khaơu nhaỉm cung caâp nghieôp vú lieđnquan ñeân tín dúng xuaât khaơu Trong khuođn khoơ khoaù luaôn cụa mình, ngöôøivieât chư ñeă caôp ñeân moôt soâ heô thoâng taøi trôï xuaât khaơu cụa moôt soâ nöôùc thuoôcnhoùm nöôùc AĐu Myõ vaø chađu AÙ
1 Hoát ñoông taøi trôï xuaât khaơu cụa caùc nöôùc AĐu Myõ
1.1 Hoát ñoông taøi trôï xuaât khaơu cụa Myõ
Heô thoâng taøi trôï xuaât khaơu cụa Myõ raât phaùt trieơn Heô thoâng naøy ñaõ phaùthuy chöùc naíng taøi trôï veă maịt taøi chính, cung caâp thođng tin veă nguoăn cung caâptaøi trôï cho caùc doanh nghieôp xuaât khaơu nöôùc Myõ baât keơ quy mođ lôùn hay nhoû.Myõ laø moôt ñaât nöôùc coù 97% caùc doanh nghieôp thuoôc loái vöøa vaø nhoû, 40%cođng ty coù soâ nhađn cođng töø 4-19 ngöôøi, ñađy thöïc söï laø moôt ñoông löïc thuùc ñaơy
Trang 22nền kinh tế Mỹ phát triển Một trong những nguồn cung cấp tín dụng xuấtkhẩu có hiệu quả phải kể đến ngân hàng xuất nhập khẩu Mỹ.
- Ngân hàng xuất nhập khẩu của Mỹ (Export- Import Bank of The United States -Eximbank) :
Đây là một tổ chức độc lập của chính phủ Mỹ lập ra năm 1932 theo lệnhTổng thống với tư cách pháp lý là môït công ty của chính phủ Mỹ(coporation) hoạt động theo Luật ngân hàng xuất nhập khẩu Nhiệm vụ củaEximbank là hỗ trợ việc bán hàng hoá hay dịch vụ của Mỹ, nên để nhậnđược tài trợ thì hàng hoá phải có ít nhất 50% thành phần Mỹ Eximbank còncó sứ mệnh thông qua hoạt động tài trợ xuất khẩu để tạo công ăn việc làm.Eximbank không cạnh tranh với các ngân hàng thương mại hay tổ chức chovay tư nhân khác mà đảm nhiệm tài trợ cho những thương vụ có tính rủi romà các ngân hàng khác không dám cho vay Trong chính sách cho vay củamình Eximbank rất quan tâm đến việc cấp tín dụng xuất khẩu cho các doanhnghiệp vừa và nhỏ
Nội dung hoạt động :
Eximbank có hai chương trình hoạt động sau :
+Thứ nhất : Tín dụng cho người mua, hoặc cấp tín dụng cho chương trình
tài trợ một dự án Ngân hàng sẽ cho vay trực tiếp, lãi suất ổn định và dài hạn(thường là trên 5 năm) cho các khách hàng mua hàng thuộc khu vực kinh tếnhà nước hay tư nhân nước ngoài Hoặc ngân hàng sẽ bảo lãnh tài chính bảođảm việc thanh toán cho các khoản vay có nguồn gốc tư nhân để mua thiết bịcông cụ sản xuất lớn, hoặc đề án có số vốn lớn Việc tài trợ cho các dự ántập trung giúp các công trình "chìa khoá trao tay" như chế tạo, hoá dầu, khaikhoáng, xây dựng, giúp đỡ việc xuất khẩu thiết bị, công cụ sản xuất như :Máy bay phản lực, máy bay dân dụng, đầu máy xe lửa Việc tài trợ tín dụng
Trang 23loại này nhằm giúp các khách hàng là nước đang phát triển mức độ từ 90% trị giá
70-+Thứ hai : Là chương trình nhằm tài trợ cho người xuất khẩu hàng hoá
bằng hình thức đảm bảo, bảo lãnh với các ngân hàng thương mại Eximbankcung cấp khoản bảo lãnh vốn lưu động (Working Capital Guarantees) Nhữngngười xuất khẩu có thể xin cam kết ban đầu (Preliminary Commitment)-láthư từ Eximbank đưa ra những điều khoản mà theo đó ngân hàng sẽ cungcấp một bảo lãnh (Guarantees)- các công ty xuất khẩu có thể sử dụng bảolãnh này để có được điều khoản tài trợ tốt nhất từ phía mộït tổ chức cho vay
tư nhân hay ngân hàng thương mại Tín dụng loại này giúp nhà xuất khẩumua nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho xuất khẩu, trả tiền lương, trả chokhoản đảm bảo trong thư tín dụng dự phòng (standby L/C) như đảm bảo dựthầu, đảm bảo thực hiện Những khoản cho vay đảm bảo thường có thời hạn
12 tháng và có thể gia hạn thêm Ngoài ra, Eximbank còn tài trợ cho ngườixuất khẩu bằng hình thức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu (Export CreditInsurance) đảm bảo sẽ gánh vác mọi rủi ro không thanh toán cho khoản tíndụng mà nhà xuất khẩu nước Mỹ dành cho nhà nhập khẩu nước ngoài.Khoản tín dụng ngắn hạn thường đảm bảo 100% khoản tín dụng cho rủi ro vềchính trị và 90-95% khoản tín dụng cho rủi ro về kinh tế Những khoản tíndụng này được sử dụng để tài trợ việc xuất khẩu hàng tiêu dùng, nguyên vậtliệu thô và phụ tùng với thời hạn là 180 ngày và thời hạn 360 ngày đối vớihàng nông sản khối lượng lớn, hàng tiêu dùng lâu bền Chương trình tài tíndụng cho người xuất khẩu nhằm hỗ trợ các hoạt động trị giá không quá caomà thời hạn thanh toán hoặc ngắn hạn (6 tháng) hoặc trung hạn (từ 6 thángtới 5 năm)
Ngoài ra Eximbank còn hỗ trợ :
Trang 24+ Các dịch vụ cụ thể dành cho người xuất khẩu cỡ nhỏ
+ Trợ giúp đặc biệt của ngân hàng cho xuất khẩu nông sản
+ Bảo lãnh các khoản cho vay cho các công ty xuất khẩu
+ Cấp tín dụng trực tiếp cho nhà nhập khẩu nước ngoài
+ Bảo hộ người xuất khẩu khỏi các rủi ro
+ Trong những trường hợp đặc biệt, bảo lãnh tín dụng xuất khẩu tính bằngđồng tiền chuyển đổi khác ngoài USD
Nguyên tắc chính cho mọi hoạt động của Eximbank là có được sự đảm bảochắc chắn là người được hưởng tín dụng phải có khả năng thanh toán Bìnhthường Eximbank yêu cầu người mua hàng ở nước ngoài phải thanh toán chongười bán hàng ở Mỹ ít nhất 15% giá trị hợp đồng Việc thanh toán đó có thểyêu cầu hoặc là tổ chức của chính phủ ở nước người mua, hoặc là một tổchức cho vay đứng ra đảm bảo
Tỷ lệ Eximbank cung cấp hỗ trợ tài chính nói chung từ 65-85% tuỳ hìnhthức tín dụng, tuỳ từng trường hợp cụ thể, và phụ thuộc vào mức độ cạnhtranh trên thị trường quốc tế Eximbank cho vay theo lãi suất ổn định, một lầnhàng quý, ban giám đốc sẽ xem xét mức lãi suất đó và điều chỉnh trongphạm vi mức hiện hành trên thế giới
Eximbank không phải là một định chế tài chính lớn tại Mỹ nhưng hoạtđộng khá hiệu quả trong việc giúp các công ty Mỹ bán được hàng thông quaviệc cho đối tác của các công ty Mỹ vay vốn Trong hơn 60 năm hoạt độngcủa mình, Eximbank này đã hỗ trợ hơn 300 tỷ USD hàng xuất khẩu Mỹ.Trong thời gian khủng hoảng tài chính châu Á (1997-1999) chỉ riêng Hànquốc ngân hàng này đã hỗ trợ khoảng 2.000 giao dịch mua bán
Sau nhiều năm duy trì việc áp dụng đạo luật Jackson -Vanik đối với ViệtNam ngày 9/3/1998, tổng thống Mỹ đã tuyên bố miễn áp dụng đạo luật này
Trang 25đối với nước ta và tiếp sau đó Hiệp định thương mại Việt -Mỹ đã mở ra nhiều
cơ hội làm ăn cho cả bên Từ đầu năm 1998, cùng với việc nhiều doanhnghiệp Mỹ sang Việt Nam bắt đầu khảo sát thị trường Việt Nam, Eximbankcũng đã xem xét khả năng hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp quốc doanhcó sự đảm bảo của nhà nước vay để mua hàng hoá của Mỹ Theo phát biểucủa đại diện ngân hàng Eximbank thì khoản vay sẽ không giới hạn, từ nhữnggiao dịch nhỏ trị giá vài trăm ngàn USD đến giao dịch trị giá vài trăm triệu.Song hiện tại các khoản vay chủ yếu là ngắn và trung hạn Eximbank sẽ thựchiện bảo lãnh các khoản vay thông qua một ngân hàng của Việt Nam Ngânhàng này cũng đang xem xét khả năng hỗ trợ tài chính cho thương vụ mua 4máy bay dân dụng Boeing của Việt Nam Airlines
1.2 Cơ quan đảm bảo tín dụng xuất khẩu của Anh (Export Credits Guarantee Department -ECGD):
Đây là một tổ chứuc quốc tế của nhà nước thực hiện trợ cấp trên 10%thương mại thế giới Mục đích của ECGD là thực hiện hoạt động của Nhànước về tài trợ xuất khẩu và nhập khẩu để nâng cao hiệu quả của các hoạtđộng ngoại thương mà nguồn tài trợ là trợ cấp của nhà nước và nguồn vaytrên thị trường cho vay tư bản quốc tế
Hoạt động chính của ECGD liên quan đến việc bảo lãnh các khoản tàichính trọn gói cho việc mua hàng hoá có giá trị lớn như máy bay, máy mócthiết bị, dịch vụ để giúp các doanh nghiệp của Anh tham gia các dự án ởnước ngoài liên quan đến cảng, nhà máy điện, bệnh viện Đến nay, ECGD đãbảo lãnh cho các thương vụ loại này lên tới 4 tỷ USD ECGD có thể tài trợcho các dự án hoạt động khoảng 20.000 bảng có khi tới 100 triệu bảng Anh(1)
Bên cạnh đó, ECGD còn trợ giúp cho các nhà sản xuất và đầu tư Anh tạinước ngoài, giúp đỡ họ bảo lãnh hay hỗ trợ tài chính cho các khoản vay có
Trang 26rủi ro không thanh toán ECGD còn bảo lãnh cho các nhà xuất khẩu muốntìm kiếm nguồn vốn để giành các hợp đồng ở các nước thứ ba và với kháchhàng không quen biết
ECGD còn cung cấp các khoản tín dụng có thời hạn dài từ 5-10 năm để trảcho những hàng hoá nhập khẩu có giá trị cao và dịch vụ lắp kéo dài khoảngnửa năm
Trong nửa đầu thập niên 90, những khoản vay thường được áp dụng vàocác điều kiện cho vay ưu đãi nhưng về sau có chiều hướng thắt chặt theo kỷluật ngân sách Vào giữa những năm 90, chính phủ Anh tài trợ cho các hoạtđộng ngoại thương khoảng 5,8 tỷ USD bằng 8% tổng số tiền tài trợ do ECGDthực hiện, phần còn lại họ nhận được ở các nguồn tư bản cho vay (2) Trongquá trình tài trợ của mình ECGD cũng phối hợp với các ngân hàng thươngmại lớn như Baclay, LLoyds, Ash EBC Investment-HSBC Investment,Ginwich Northwest để cung cấp bảo đảm cho những người mua theo cáctuyến tín dụng lớn
1.3 Công ty bảo hiểm Ngoại thương của Pháp ( COFACE Group):
COFACE là một loại hình quỹ hỗ trợ tín dụng xuất khẩu ban đầu chịu tráchnhiệm giúp đỡ các doanh nghiệp Pháp xâm nhập thị trường mới và bồithường rủi ro nếu các doanh nghiệp này xâm nhập thị trường không thànhcông Tuỳ theo tính chất rủi ro có thể xảy ra mà COFACE quy định bảo hiểmmột loại nghiệp vụ đối với mỗi hợp đồng Các loại hợp đồng bảo hiểm cóthể áp dụng là:
- Bảo hiểm cá biệt : đối với việc bán các thiết bị nặng, các tổng thể côngnghiệp lớn
Trang 27- Bảo hiểm thuê bao: cho các hợp đồng tín dụng dưới 3 năm và đối với cácdoanh nghiệp bán vật tư công nghiệp hàng loạt mà không muốn bảo hiểmtoàn bộ.
- Bảo hiểm toàn bộ: Bảo hiểm toàn bộ doanh thu xuất khẩu cho ngườiđược bảo hiểm
Bộ Thương mại và các cơ quan quản lý tiến hành kiểm soát giá cả và tìnhhình thị trường theo chu kỳ để định ra một mức phí bảo hiểm hợp lí căn cứvào mức độ rủi ro của mỗi hợp đồng
Tại Pháp phần lớn các nhà xuất khẩu (90%) sử dụng các chương trình bảohiểm do cơ quan tín dụng xuất khẩu COFACE Group cung cấp COFACE đãtrợ giúp rất nhiều cho các doanh nghiệp Pháp thâm nhập thị trường nướcngoài cả về mặt thông tin, kinh nghiệm và chia sẻ rủi ro cùng các doanhnghiệp khi việc thâm nhập thất bại
Hiện nay COFACE Group đã trở thành một tổ chức có tiềm lực mạnh vềcả mặt tài chính lẫn uy tín trong lĩnh vực bảo hiểm không chỉ giới hạn trongphạm vi nước Pháp COFACE hiện có 70.000 khách hàng trên khắp thế giới.COFACE có nhiều văn phòng đại diện của mình tại Anh, Tây Ban Nha, Ý,Châu Á, Châu Mỹ Năm 2001 tăng trưởng của tập đoàn đạt mức 9,4% sovới năm ngoái nhờ sự tăng trưởng của hoạt độngï bảo hiểm xuất khẩu vớimức tăng trưởng 7,7%, bảo hiểm tín dụng trong nước tăng 10,5% và bảo lãnhtăng trưởng 20,3% (3) COFACE đã và đang giữ vị trí là tổ chức tín dụng xuấtkhẩu uy tín hàng đầu trên thế giới
2 Hoạt động tín dụng xuất khẩu của một số nước Châu Á
2.1 Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc :
Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc được thành lập năm 1994 Đâyđược coi là một cơ quan mang tính chính sách, chịu trách nhiệm cho vay xuất
Trang 28nhaôp khaơu maø caùc ngađn haøng thöông mái khođng coù chöùc naíng naøy Chụ yeâunhaỉm giuùp ñôõ cho vay taøi khoạn ñoâi vôùi vieôc xuaât khaơu ñoăng voân, haøng hoaùvaø bạo hoô rụi ro theo thođng leô quođâc teâ Töïu trung, ngađn haøng naøy thöïc hieôncaùc nghieôp vú nhö :
- Chuyeơn taøi khoạn vaø quạn lyù nôï cụa caùc toơ chöùc tieăn teô quoâc teâ vaø taøikhoạn cụa chính phụ caùc nöôùc
- Cung öùng nhöõng khoạn vay vôùi laõi suaât thaâp cho caùc doanh nghieôp sạnxuaât haøng xuaât khaơu trong nöôùc
- Cung öùng nhöõng khoạn vay cho xuaât khaơu bao goăm nhöõng khoạn vaythöông mái cho caùc doanh nghieôp xuaât khaơu Ñoăng thôøi, cung öùng nhöõngkhoạn vay nhaôp khaơu theo quy ñònh ñeơ môû roông nhaôp khaơu ñoâi vôùi töøng nöôùckhaùc nhau
Coù traùch nhieôm ñạm bạo cho caùc doanh nghieôp ngoái thöông maø ngađnhaøng ñaõ mua quyeăn xuaât khaơu ñeơ giạm bôùt rụi ro cho caùc doanh nghieôp ñoù,thuùc ñaơy chuyeơn voân nhanh
-Ñạm bạo uy tín ñoăng voân vaø hán cheâ rụi ro tín dúng cho caùc doanh nghieôphôïp taùc kinh teâ ñoẫi ngoái, táo ñieău kieôn thuaôn lôïi cho caùc doanh nghieôp muoânvay tieăn ôû beđn ngoaøi döï truø voân chính xaùc hoaịc thu voân veă an toaøn
Cuoâi nhöõng naím 1990, ñeơ hoê trôï cho söï phaùt trieơn nghieôp vú bạo hieơm tíndúng xuaât khaơu choâng rụi ro, Trung Quoâc ñaõ mieên thu thueâ doanh thu ñoâi vôùiphaăn thu nhaôp töø phí bạo hieơm loái naøy Ngoaøi ra, Trung Quoâc coøn cho pheùpNgađn haøng xuaât nhaôp khaơu phaùt haønh traùi phieâu trong vaø ngoaøi nöôùc ñeơ hoêtrôï cho hoát ñoông xuaât nhaôp khaơu Chư tính rieđng trong naím 1999 Ngađn haøngxuaât nhaôp khaơu Trung Quoâc ñaõ phaùt haønh 3 ñôït traùi phieâu kyø hán 1 naím, moêiñôït trò giaù 6 tyû NDT vôùi laõi suaât haøng naím laø 2,91% Ngađn haøng naøy coøn phaùthaønh 200 trieôu NDT thöông phieâu - caùc tín phieâu theo tyû giaù thạ noơi cụa Chađu
Trang 29Âu - để hỗ trợ các nhà xuất khẩu Trung Quốc Lợi nhuận thu được của tínphiếu sẽ được sử dụng để hỗ trợ xuất khẩu các mặt hàng như điện tử, máymóc và các sản phẩm công nghệ cao khác của Mỹ đã tăng từ 2,5% năm 1989lên 8,1% vào năm 1999 (4) Trong khi đó, thị phần của các nhà xuất khẩu lớncủa châu Á như Malaixia, Thái lan, Hàn Quốc trên thị trường Mỹ bị thu hẹpdần.
2.2 Thực tiễn sử dụng tín dụng xuất khẩu ở Hàn Quốc:
Sản xuất hướngvề xuất khẩu là bộ phận chiến lược quan trọng của HànQuốc để phát triển kinh tế Do vậy, sự giúp đỡ về tín dụng lãi suất thấp chohàng xuất khẩu đặc biệt có ý nghĩa Do chính sách công nghiệp nhấn mạnhđến sự thiếu thốn tài nguyên, chính phủ đã buộc những người nhận trợ cấptín dụng phải tuân thủ kỷ luật và các chỉ tiêu xuất khẩu.Trong trường hợp cácnhà xuất khẩu báo cáo rằng hàng xuất khẩu của họ trên thị trường quốc tế bịchậm lại và bắt đầu bị tồn kho Chính phủ lập tức thúc giục các thống đốcngân hàng phải mở rộng hơn nữa các hoạt động tín dụng của họ Trong giaiđoạn 1966-1972 lãi suất tín dụng là 6,1%/ năm trong khi lãi suất tín dụngchung là 22,3%/ năm, lạm phát là 12,3%/ năm Như vậy, lãi suất thực choxuất khẩu là âm (-6,2%/ năm ) Tổng khối lượng trợ cấp tín dụng cho xuấtkhẩu cũng tăng từ 4,5% trong tổng tín dụng ngân hàng (1961 -1965) lên 7,6%trong giai đoạn 1973-1981 Tiền trợ cấp đỉnh cao nhất vào năm 1967, tổngtiền trợ cấp với lãi suất chiếm 2,3% tổng giá trị xuất khẩu (5)
Trang 30Lãi suất cho tín dụng xuất khẩu
Đơn vị : %
61-65 66-72 73-81 82-86 87-96 99-2001 Tổng vay nợ xuất khẩu/ tổng vay
nợ ngân hàng
-Nguồn : World Bank
Ngân hàng Hàn Quốc 2001
Tín dụng lãi suất thấp tạo khả năng đáp ứng được những thay đổi cơ hộitrên thị trường quốc tế của các công ty Sự linh hoạt này đã đưa các nhà xuấtkhẩu đến khai thác những cơ hội mới và đa dạng hoá sản phẩm xuất khẩucủa họ Ở một số nước có khả năng tích luỹ thấp như Hàn Quốc đầu tư tưnhân không đủ để dấy lên sự tăng trưởng nhanh chóng Trợ cấp bằng ngânsách của chính phủ với lãi suất thấp đã giúp cho các nhà xuất khẩu đủ vốncần thiết đáp ứng nhu cầu kinh doanh và tăng nhanh xuất khẩu
Ở Hàn Quốc hệ thống tài trợ xuất khẩu được thực hiện dưới sự phối hợpcủa Ngân hàng xuất nhập khẩu và hệ thống ngân hàng thương mại Cáckhoản vay của các ngân hàng thương mại thường là các khoản vay ngắn hạnthông qua việc cấp tín dụng trước và sau khi giao hàng như cho vay thu muanguyên liệu, chiết khấu L/C, hối phiếu nhưng việc cho vay thường ưu tiêncho các chaebol Trong giai đoạn khủng hoảng tài chính ở Châu Á, có rấtnhiều ngân hàng bị phá sản, nợ khó đòi của Hàn Quốc ở mức nghiêm trọng,chỉ riêng tập đoàn hàng đầu Hàn Quốc Daewoo năm 1998 đã lên tới mức 50tỷ USD Hàn Quốc đã phải chi 64.000 tỷ won (53,15 tỷ USD) chiếm
Trang 3115%GDP để cơ cấu lại khu vực ngân hàng, hoạt động tín dụng do đó cũng
bị co lại
Nhận xét chung:
Qua thực tiễn sử dụng tín dụng xuất khẩu của một số nước có thể rút ra kếtluận sau:
- Các nước có tiềm lực tài chính mạnh thuộc nhóm nước Âu Mỹõ, ngoàihoạt động cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu trong nước, bảo đảm tín dụng xuấtkhẩu còn có khả năng cung cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu nước ngoài, đặcbiệt là những khách hàng ở các nước đang phát triển một khoản tín dụng vớilãi suất ưu đãi để mua hàng hoá của nước mình, chủ yếu là máy móc thiết bị,máy bay, đầu máy xe lửa nhằm đẩy mạnh hoạt động mua bán máy móc thiết
bị sang các nước thứ ba
Nhóm nước Châu Á có tiềm lực tài chính yếu hơn thì hoạt động tín dụngxuất khẩu tập trung vào việc cho các doanh nghiệp xuất khẩu vay với lãi suất
ưu đãi Hàn Quốc những thập niên 80-90 tập trung vào việc cấp tín dụng chocác doanh nghiệp xuất khẩu trong nước thông qua lãi suất thấp để tăng tínhcạnh tranh của hàng xuất khẩu trên thị trường thế giới Tuy nhiên, việc cấptín dụng lãi suất thấp mà thiếu sự quản lý hợp lý sẽ dẫn đến sự mất ổn địnhnền kinh tế Nhiều người cho rằng cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á nămvới hậu quả nặng nề cho các nền kinh tế nói chung và các ngân hàng nhữngnước này nói riêng một phần là do sự quản lý lỏng lẻo trong việc cấp tíndụng xuất khẩu Nên khi xem xét kinh nghiệm của những nước này cũng cầnphải lưu ý
II TRỢ CẤP XUẤT KHẨU :
1 Trợ cấp nông sản xuất khẩu :
Nông nghiệp là một ngành quan trọng trong nền kinh tế của rất nhiều nước
Trang 32chính sách trợ cấp nông sản xuất khẩu để đảm bảo lợi ích của người nôngdân và tăng tính cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp của nước đó trên thịtrường thế giới Tuy tổ chức Thương mại thế giới WTO đã bàn rất nhiều đếnvấn đề cắt giảm trợ cấp xuất khẩu song theo thống kê của tổ chức này thìhiện nay Mỹ và EU lại là hai nước có mức trợ cấp nông sản xuất khẩu caonhất Để lý giải cho vấn đề này người viết đề cập đến phần trợ cấp nông sảnxuất khẩu của Mỹ, EU và một số nước châu Á khác như Trung Quốc, TháiLan, Ấn Độ.
1.1 Trợ cấp nông sản xuất khẩu của nhóm nước Âu Mỹ
a> Trợ cấp nông sản của EU
Ngay từ khi mới thành lập, các thành viên sáng lập EEC đã chủ trươngthực hiện chính sách nông nghiệp chung (The Common Agricultural Policy-CAP).Để đảm bảo sự hoạt đôïng của CAP, Cộng đồøng châu Âu đã thành lập
ra Quỹ bảo trợ và chỉ đạo nông nghiệp châu Âu (EAGGF) Quỹ này sẽ thựchiện tài trợ cho tất cả những khoản chi tiêu phục vụ cho chính sách nôngnghiệp chung
Trong khuôn khổ của EU, đối với những mặt hàng nông sản của EU nếugiá xuất khẩu lớn hơn chi phí, thì một phần chênh lệch đó sẽ được thu vàoQuỹ, ngược lại nếu giá xuất khẩu nhỏ hơn chi phí thì sẽ được bù giá để ổnđịnh giá
Trong quá trình hoạt động của mình, CAP đã có chính sách phát triểnnông nghiệp hướng về xuất khẩu, Cộng đồng đã thiết lập một hệ thống trợgiúp xuất khẩu nhằm làm cho hàng nông nghiệp của Cộng đồøng có thể cạnhtranh được trên thị trường thế giới Nông dân sẽ được bồi thường trực tiếp khithu nhập bị giảm sút Nếu như trước đây do chính sách giá của CAP khiếncho giá nông sản của EU thường cao nhất thế giới thì hiện nay EU đang thực
Trang 33hiện việc giảm giá cho cân bằng với mức giá trên thị trường thế giới Ví dụ,giá nông sản và thịt bò của EU trong giai đoạn ba năm bắt đầu từ năm1993/1994 sẽ giảm xuống gắn với mức giá trên thị trường thế giới (Ví dụ :giảm 29% đối với ngũõ cốc, 15% đối với thịt bò ).
Đối với vấn đề môi trường, mục đích của chính sách này là tài trợ cho dânđể họ đưa vào hoặc duy trì những công nghệ sản xuất ít có hại cho môitrường, đất đai và các nguồn tài nguyên thiên nhiên Kết quả là chính sáchnày đã thành công trong việc tăng sản lượng, quản lý trang trại đã đươc nângcấp, ứng dụng những sản phẩm đầu vào đã có những thay đổi, đáng chú ý làviệc tiêu dùng phân bón hoá học và thuốc trừ sâu đã giảm căn bản Trong xuhướng tự do hoá trong thương mại, EU cũng đưa ra điều chỉnh Vẫn còn tồntại tranh luận trong khối liệu có nên tiến hành tự do hoá triệt để không haytăng cường can thiệp của chính phủ với việc tăng hạn ngạch sản xuất vànhững hạn chế thương mại Nếu cải cách triệt để cũng đồng nghĩa với việcloại bỏ tất cả trợ giá và các hạn chế về sản xuất, điều này sẽ dẫn đến giáthấp hơn cho hầu hết các sản phẩm nông nghiệp Giá thấp sẽ thúc đẩy quátrình cơ cấu lại trong nông nghiệp như củng cố trang trại Sự tăng trưởng và
vị trí sản xuất sẽ được xác định bởi những lợi thế cạnh tranh Tuy nhiên EUcũng có lý do để tiếp tục chính sách bảo hộ, là để trợ giúp thu nhập của nôngdân, nhưng cũng còn lo lắng về điều kiện môi trường, sức khoẻ người tiêudùng, chăm sóc động vật và điều kiện lao động Với chính sách này giá nôngsản sẽ tăng lên, nhiều sản phẩm sẽ phải chịu hạn ngạch hơn trong khi hạnngạch hiện tại sẽ giảm
Theo thống kê của Tổ chức thương mại thế giới thì trong những năm
1995-1998, 80%-90% trợ cấp nông nghiệp trong khuôn khổ WTO thuộc về EU EUtrợ cấp chủ yếu cho trứng, lúa mạch, thịt lợn, đường, gạo, gia cầm, rượu, hoa
Trang 34quả sạch và rau Để tránh phản ứng của các nước khác đối với mức trợ cấpcủa mình cho từng mặt hàng riêng biệt, EU đã có những hình thức trợ cấptừng phần Chẳng hạn đối với mặt hàng phomát được chế biến từ bơ, bột sữađặc, phomát tự nhiên thay vì chỉ trợ cấp cho phomát thành phẩm, EU trợ cấpcho khâu bột sữa và bơ Kết quả EU có thể trợ cấp nhiều phomát hơn là camkết và cùng với nó là sự gia tăng xuất khẩu của EU đối với mặt hàng nàynăm 96/97 EUchỉ mới xuất khẩu được 17.000MT phomát năm 97/98 con sốnày đã là 70.000 MT (7).
Năm 2001, ngân sách nông nghiệp của EU là 43,6 tỷ euro so với 37 tỷeuro cho các "biện pháp thị trường", 25 tỷ euro dành cho trợ cấp trực tiếp (8).Đầu năm 2002, các quan chức của Uỷ ban châu Âu (EC) công bố các đề nghịnhằm xem xét lại chính sách chung của EU, trong đó có việc cắt giảm trợ cấptrực tiếp cho nông nghiệp Thay cho việc trả tiền cho nông dân theo sảnlượng ngũ cốc hoặc gia súc gia cầm của họ, các đề nghị ủng hộ việc tănggấp đôi các quỹ vốn phát triển dành cho các khu vực nông thôn vào năm2010-2011
Pháp, nước được hưởng lợi nhiều nhất từ chính sách nông nghiệp chungmuốn duy trì nguyên trạng càng nhiều càng tốt khi EU chuẩn bị mở rộângsang Đông Âu và vùng Địa Trung Hải vào năm 2004 Các nước khác nhưĐức, Anh, Hà Lan và Đan Mạch, nước sẽ nhận chức chủ tịch luân phiên của
EU từ Tây Ban Nha thì cho rằng chính sách nông nghiệp của EU quá tốn kémvà cần phải giảm chi phí Lúc đầu chính sách nông nghiệp chung của EUđược thực thi nhằm khôi phục nền an ninh lương thực Châu Âu sau thế chiến
II, hiện nay nó chiếm khoảng 1/ 2 tổng ngân sách 80 tỷ euro (khoảng 76 tỷUSDõ) của EU
Trang 35Các nguồn tin từ Brucxen cho biết, mặc dù có sức ép từ phía Đức và mộtsố nước khác, CAP vẫn sẽ sử dụng 45,5 tỷ euro/ năm dành cho trợ cấp nôngnghiệp cho đến năm 2006 Ủy viên phụ trách nông nghiệp của EU, ôngFranz Fischler đã trả lời tờ báo "Frankfurter Allemeine" rằng : " Tôi khôngnói rằng số tiền trợ cấp sẽ giữ nguyên ở mức như vậy, nhưng không có trợcấp thì ngành nông nghiệp của Châu Âu sẽ bị các đối thủ cạnh tranh nuốtchửng"
EU đang có kế hoạch chuyển 20% số tiền trợ cấp trực tiếp cho nôngnghiệp hiện nay sang phát triển các vùng nông thôn với tốc độ 3%/ nămtrong vòng 6,7 năm kể từ năm 2004 EU cũng muốn đặt mức trần tối đa30.000 euro trợ cấp trực tiếp cho nông nghiệp, cộng với các khoản trợ cấpdựa trên số nhân công mà một nông trại tuyển dụng EU đang có xu hướngchuyển chính sách phát triểûn nông nghiệp sang chính sách phát triển nôngthôn Tuy nhiên hiện tại trợ giúp phát triển nông thôn chỉ là 6 tỷ euro so với
37 tỷ euro cho các " biện pháp thị trường” và 25 tỷ euro dành cho trợ cấp trựctiếp (9)
b> Trợ cấp nông sản xuất khẩu của Mỹ :
Bắt đầu từ thập niên 70, kim ngạch xuất khẩu nông sản của Mỹ tăng mạnhtừ dưới 6 tỷ lên tới 44 tỷ vào năm 1982 và sau đó giảm xuống còn 27 tỷ vàonăm 1987 và cuối cùng trở lại mức 43 tỷ vào đầu và giữa thập niên 1990.Khối lượng xuất khẩu nông sản bằng 20% tổng sản lượng nông sản, đónggóp khoảng 50 tỷ USD vào GDP và tạo ra 1,4 triệu công ăn việc làm (10) Nhận thức được tầm quan trọng của nông nghiệp đối với nền kinh tế quốcdân , Bộ nông nghiệp Mỹ (USDA) đã được thành lập từ năm 1862 với mụctiêu chính là tăng cường xuất khẩu nông sản Để đạt được mục tiêu củamình, Chính phủ Mỹ đã đưa ra nhiều điều luật nhằm thúc đẩy xuất khẩu:
Trang 36-Luật cải cách và cải tiến nông nghiệp Liên bang (Federal AgricultureImprovement and Reform Act ) : Luật này nằm trong điều luật về trang trạicủa Mỹ nhằm duy trì một số chương trình thúc đẩy xuất khẩu của Bộ nôngnghiệp Mỹ Công ty tín dụng hàng hoá (CCC) cấp bảo lãnh tín dụng lên đến98% vốn và nông sản xuất khẩu của Mỹ Chương trình tiếp cận thị trường sửdụng vốn của CCC để giúp khu vực tư nhân thúc đẩy xuất khẩu nông sảnthông qua quảng cáo, triển lãm thương mại, và trưng bày trong các cửa hàng.Chương trình tăng cường xuất khẩu trợ giá cho việc xuất khẩu lúa mỳ, gạo ,lúa mạch, và các loại hàng hoá khác để đối phó với việc bán hàng trên thịtrường Liên minh Châu Âu trợ cấp Chương trình khuyến khích bơ, sữa nhằmtrợ giá cho xuất khẩu để đối phó với việc bán hàng được các chính phủ nướcngoài trợ giá.
-P.L 480 : Chương trình lương thực cho Hoà Bình, được quốc hội thôngqua năm 1954 hỗ trợ nông nghiệp cho các nước có mức độ phát triển kinh tếkhác nhau Phần I do Bộ nông nghiệp Mỹ quản lý, quy định đối với việc báncác loại nông sản cấp chính phủ cho các nước đang phát triển theo thoả thuậnvề tín dụng dài hạn Phần II và phần III do Cơ quan phát triển Quốc tế Mỹ(USAID) quản lý Phần II quy định về viện trợ nhân đạo của chính phủ Mỹcác loại nông sản của Mỹ để đáp ứng nhu cầu lương thực ở nước ngoài PhầnIII quy định việc trợ cấp ở cấp chính phủ để hỗ trợ phát triển kinh tế dài hạncủa các nước kém phát triển Điều 416(a) quy định việc tăng viện trợ nướcngoài các mặt hàng dư thừa để triển khai các chương trình viện trợ của cácnước đang phát triển Chương trình này đã đạt được kết quả rất đáng kể NhờP.L.480, 20% tổng lượng hàng gạo, lúa mỳ, dầu thực vật xuất khẩu của Mỹđã có thị trường bán Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Braxin, Iran, Pêru,
Trang 37Chilê, Colombia, và Tây Ban Nha là những khách hàng thường xuyên củaP.L.480.
- Chương trình thực phẩm cho Tiến Bộ : Một chương trình khác được xâydựng năm 1985 nhỏ hơn nhiều P.L 480 cho phép xuất khẩu các mặt hàngnông sản theo các điều kiện tín dụng hoặc trên cơ sở trợ cấp để hỗ trợ cácnước đang phát triển và các nước dân chủ rõ nét cam kết với các thông lệ củathị trường tự do trong nền kinh tế nông nghiệp của họ
Trong thập niên 80-90 Mỹ đã thực hiện một số chương trình tăng cườngxuất khẩu (Export Enhancement Programs) được biết tới như chương trình hỗtrợ xuất khẩu mục tiêu (TEA) Theo chương trình hỗ trợ xuất khẩu này thìUSDA cung cấp khuyến mại hàng hoá theo số lượng cho việc mua hàngnông sản của Mỹ thường xuyên-"mua một, tặng một" Ví dụ, nếu một nướcmua một tấn bột mỳ của Mỹ sẽ nhận được 100.000 tấn bột mỳ hay một hànghoá khác từ kho của chính phủ như phần khuyến mại
Khi hàng hoá trong kho của Công ty tín dụng hàng hoá (Commodity CreditCorporation -CCC) hết thì hình thức trợ cấp bằng tiền được thay thế hànghoá Hơn nữa chươngtrình tăng cường xuất khẩu được hoàn thiện bởi một loạtcác chương trình trợ cấp hàng hoá riêng như chương trình khuyến khích xuấtkhẩu sữa (DEIP), chương trình hỗ trợ dầu hạt hướng dương (SOAP), chươngtrình hỗ trợ dầu hạt bông(COAP) Những chương trình hỗ trợ xuất khẩu giúpcho USDA đẩy mạnh thương mại, tiêu thụ hàng hoá dư thừa, hay trợ cấpbằêng tiền để đánh bại đối thủ cạnh tranh bằng giá thấp Những chương trìnhnày được sử dụng cho việc đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có khốilượng lớn
Chính phủ Mỹ thông qua chính sách trợ cấp giá làm giá nông sản của Mỹtrên thế giới giảm, nâng cao tính cạnh tranh của hàng nông sản Mỹ trên thị
Trang 38trường thế giới Nông sản của Mỹ chiếm thị phần lớn trên thị trường nôngsản thế giới Mỹ là nước nhà xuất khẩu lớn nhất về mặt hàng lúa mỳ, ngũcốc, đỗ tương trong suốt những năm từ thập niên 90 đến nay Để có được vịtrí này một phần lớn dựa vào chính sách trợ cấp nông sản xuất khẩu của Mỹ.
Thị phần của Mỹ về sản lượng và thương mại của hàng nông sản so với thế giới, năm 2001
% sản lượng so với thế giới % sản lượng xuất khẩu
so với thế giới
Nguồn: World Outlook và Situation Board, Dự đoán cung cầu
thế giới (Washington D.C USDA 2001) Ban nghiên cứu kinh tế phân tích việc rỡ bỏ trợ cấp cho lương thực (lúamỳ và gạo) và thức ăn cho gia súc như (ngũ cốc và lúa mạch) sẽ giảm thunhập của Mỹ khoảng 19% và của các nhà sản xuất châu Âu khoảng 10%.Giá cả lương thực thế giới sẽ tăng khoảng 10% trong khi đó giá thức ăn giasúc tăng khoảng 7% Bởi vì 43% thu nhập của các nhà sản xuất lương thực ởMỹ là kết quả của việc trợ cấp và 19% thu nhập của các nhà sản xuất thứcăn cho gia súc có được từ trợ cấp chính phủ, việc tăng giá không đủ bồithường cho thiệt hại đối với nhà sản xuất do cắt giảm trợ cấp Điều này lýgiải tại sao Mỹ là một mặt là nước ủng hộ việc tự do hoá trong nông nghiệp,giảm trợ cấp song ngày 13/5/2002 Mỹ lại đưa ra điều luật mới nhằm tăng trợ
Trang 39USD, tăng 80% so với đạo luật năm 1996, cụ thể là những đảm bảo giá cốđịnh cho một số mặt hàng như ngũ cốc, đậu tương, đường, bơ, sữa bất chấpsự biến động giá cả trên thị trường Điều đó trực tiếp khuyến khích nông dângia tăng sản xuất mà không tính đến hậu quả của nó là sản phẩm sẽ dư thừalàm giá trên thị trường thế giới giảm Các chuyên gia kinh tế cũng phân tíchlà với chính sách của Mỹ nói trên thì các nước có nền nông nghiệp trên thếgiới đều bị ảnh hưởng bởi thị trường nông phẩm bị tụt giá Đặc biệt là cácnhà sản xuất nông nghiệp ở những nước nghèo, nếu như nông phẩm mất giáthì mức thu nhập của họ cũng bị tụt giảm theo Hiện nay, các nhà xuất khẩugạo Châu Á đang mất đần thị phần gạo vào tay các nhà xuất khẩu gạo Mỹ.Năm 2002, một số loại gạo Mỹ giá rẻ, chất lượng cao hơn đang nhanh chóngchiếm được những thị trường trước đây là độc quyền của các nhà xuất khẩuChâu Á Gạo Mỹ có chi phí sản xuất cao nhưng nhờ có trợ giá của chính phủnên giá vẫn rẻ so với mức chung trên thế giới, do đó có sức cạnh tranh caohơn Theo Điều luật Đầu tư nông thôn và Bảo an hàng hoá Mỹ, nông dân Mỹđược vay 6,5USD cho mỗi cwt (100lb hay 45,36kg) gạo mỗi năm từ năm
2002 đến năm 2007 Chính phủ thanh toán tiền trực tiếp 2,35 USD/cwt, phầnchênh lệch giá còn lại (mục tiêu 10,50 USD/cwt) nông dân sẽ được đền bù(giữa giá mục tiêu và giá thị trường, tiền thanh toán trực tiếp) (11) Bên cạnhđó, nhờ P.L.480 Mỹ có thể đẩy mạnh việc xuất khẩu gạo sang các nước nhưInđônêxia, Phillipin, Nigiêria và một số nước Châu Phi khác Đây đều lànhững quốc gia nhập khẩu gạo lớn trên thế giới ví như Nigiêria mỗi nămnhập khẩu 1,6 triệu tấn/ năm Những quốc gia này theo P.L.480 đều nhậnđược tiền tài trợ từ chính phủ Mỹ với lãi suất thấp để mua hàng hoá Mỹ.Theo xu hướng này, Bộ nông nghiệp Mỹ dự đoán xuất khẩu gạo Mỹ năm
Trang 402002 sẽ tăng tới 2,8 triệu tấn so với 2,6 triệu tấn năm 2001 trong khi mậudịch gạo toàn cầu giảm 200.000 tấn còn 24,6 triệu tấn(12).
1.2 Trợ cấp nông sản của một số nước Châu Á
a> Trung Quốc
Việc đẩy mạnh nông sản và nâng cao thu nhập của 900 triệu nông dânluôn là vấn đề được Chính phủ Trung Quốc quan tâm Trong mấy năm gầnđây, Trung Quốc đã gặt hái được nhiều thành công trong lĩnh vực nôngnghiệp nhờ thời tiết tốt và phần lớn nhờ chính sách hỗ trợ của chính phủ Tốcđộ phát triển nông nghiệp đạt 4%/ năm, sản lượng tăng lên trong khi lựclượng lao động giảm cho thấy những chuyển biến tích cực trong lĩnh vựcnông nghiệp của nước này
Năm 2001, tổng sản lượng nông sản trị giá 300 tỷ USD trong khi đó trợ cấpcho việc đầu tư cơ sở hạ tầng và sản xuất chỉ có 14 tỷ USD, nhỏ hơn nhiềumức cho phép 10%của WTO(13) Điều này cho thấy phần đầu tư của chínhphủ cho nông nghiệp vẫn còn thấp so với các nước khác đặc biệt là các nướcphương tây như Mỹ, EU Tuy nhiên, Trung Quốc rất quan tâm đến việc đầu
tư cho R&D để tạo ra giống mới Năm 1999, Trung Quốc đã thành công trongviệc thử nghiệm thành công giống lúa mới mang tên "gạo siêu thơm" và hiệnđạt năng suất 1 tấn/ rai (1 rai = 1600 m2 ) Loại gạo thơm này có chất lượngtương đương với gạo Hương Nhài của Thái Lan nhưng giá thành chỉ bằng70% giá gạo Hương Nhài và tương lai sẽ là đối thủ cạnh tranh mạnh của cácnước xuất khẩu gạo khác Hiện Trung Quốc chỉ đúng vị trí thứ 4 trong bảngxếp hạng các nhà xuất khẩu gạo trên thế giới nhưng với lượng dự trữ lúakhoảng 100 triệu tấn và tốc độ đầu tư tăng năng suất sẽ giúp Trung Quốcvươn lên vị trí dẫn đầu trong bảng xếp hạng