sản xuất mà trong nớc cha sản xuất đợc hoặc có sản xuất nhng với số lợng nhỏ thì để ở mức thuế suất thấp nhất,những mặt hàng ta đã sản xuất đợc với số lợng tơng đối lớn thì để ở mức thuế
Trang 1Trờng đại học ngoại thơng Khoa kinh tế ngoại thơng
Khoá luận tốt nghiệp
Đề tài:
Tác động của thuế xuất,nhập khẩu;GTGT; tiêu thụ đặc biệt đến hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp việt nam.
Giáo viên hớng dẫn:ThS Nguyễn Xuân Nữ Sinh viên thực hiện :Nguyễn Thu Trang Lớp :Nga-K37C
Trang 2Hµ néi-2002
Môc lôc
Trang 3Lời nói đầu
Chơng I:Những vấn đề cơ bản về thuế xuất,nhập
khẩu;GTGT;tiêu thụ đặc biệt.
I-Những vấn đề cơ bản về thuế xuất,nhập khẩu:
1-Khái niệm về thuế xuất,nhập khẩu
2-Nội dung cơ bản của thuế xuất,nhập khẩu
2.1-Nội dung cơ bản của thuế xuất khẩu
2.2-Nội dung cơ bản của thuế nhập khẩu
II-Những vấn đề cơ bản của thuế giá trị gia tăng:
1-Khái niệm về thuế giá trị gia tăng
2-Nội dung cơ bản của thuế giá trị gia tăng
III-Những vấn đề cơ bản về thuế tiêu thụ đặc biệt:
1-Khái niệm về thuế tiêu thụ đặc biệt
2-Nội dung cơ bản của thuế tiêu thụ đặc biệt
Chơng II:Tác động của thuế xuất,nhập khẩu;GTGT;tiêu thụ đặc
biệt đến hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt
Nam.
I-Tác động đến hoạt động xuất khẩu:
1-Chính sách xuất khẩu của Nhà nớc
2-Tác động của thuế xuất,nhập khẩu đến hoạt động xuất khẩu của
các doanh nghiệp Việt Nam
2.1-Tác động của thuế xuất khẩu
Trang5888101011171719313131
36
363639
Trang 42.2-Tác động của thuế nhập khẩu đến hoạt động sản xuất hàng
xuất khẩu
3-Tác động của thuế giá trị gia tăng đến hoạt động xuất khẩu của
các doanh nghiệp Việt Nam
4-Tác động của thuế tiêu thụ đặc biệt đến hoạt động xuất khẩu của
các doanh nghiệp Việt Nam
II-Tác động đến hoạt động nhập khẩu:
1-Chính sách nhập khẩu của Nhà nớc
2-Tác động của thuế nhập khẩu đến hoạt động nhập khẩu
3-Tác động của thuế giá trị gia tăng đến hoạt động nhập khẩu của
các doanh nghiệp Việt Nam
4-Tác động của thuế tiêu thụ đặc biệt đến hoạt động nhập khẩu
của các doanh nghiệp Việt Nam
Chơng III:Phơng hớng cải cách thuế xuất,nhập khẩu;GTGT;tiêu
thụ đặc biệt trong thời gian tới (Đến năm 2010).
I-Mục tiêu,phơng hớng xuất nhập khẩu của Việt Nam trong những
năm tới (Đến năm 2010)
II-Phơng hớng cải cách thuế:
1-Phơng hớng cải cách thuế xuất,nhập khẩu:
1.1-Mục tiêu cải cách thuế xuất,nhập khẩu đến năm 2010
1.2-Những nguyên tắc cần quán triệt khi xây dựng chính sách thuế
xuất,nhập khẩu của Việt Nam đến năm 2010
1.3-Nội dung cơ bản của việc điều chỉnh chính sách thuế
xuất,nhập khẩu
1.4-Những tác động tích cực và những thách thức của việc đổi mới
394041
4445454749
52
5454
56575858
59
Trang 5chính sách thuế xuất,nhập khẩu.
2-Phơng hớng cải cách thuế giá trị gia tăng:
2.1-Nguyên tắc để hoàn thiện thuế giá trị gia tăng
2.2-Hớng hoàn thiện Luật thuế giá trị gia tăng đến năm 2005
2.3-Hớng hoàn thiện thuế giá trị gia tăng trong giai đoạn
2005-2010
2.4-Những khó khăn khi áp dụng thuế giá trị gia tăng một mức
thuế suất
3-Phơng hớng cải cách thuế tiêu thụ đặc biệt:
3.1-Hớng hoàn thiện Luật thuế tiêu thụ đặc biệt đến năm 2005
3.2-Hớng hoàn thiện Luật thuế TTĐB trong giai đoạn
2005-2010
III-Những điều kiện cần thiết để thực hiện thành công sự cải cách
trong chính sách thuế của Việt Nam
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
67
69697274757979
80
81
8587
Lời nói đầu
1_Sự cần thiết của đề tài:
Trang 6Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế,là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nớc.Chính sách thuế gắn liền với chính sách phát triển của mọi quốc gia.Đối với những quốc gia đang thực hiện nền kinh tế chuyển đổi,tiến sâu vào hội nhập quốc tế thì chính sách thuế năng động,phù hợp càng trở nên cực kỳ quan trọng.
Thực hiện đờng lối đổi mới,chính sách kinh tế_tài chính nói chung,chính sách thuế nói riêng có nhiều nội dung đi sát cuộc sống hơn và ngày càng trở thành công cụ đắc lực phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế_xã hội.Đặc biệt,từ sau cải cách bớc 2 (năm 1999),chính sách thuế có sự thay đổi lớn,đã có những kết quả không thể phủ nhận đợc.Các Luật thuế mới góp phần tích cực nhằm bảo hộ sản xuất trong nớc,thúc đẩy đầu t,khuyến khích xuất khẩu
và quản lý nhập khẩu.Có thể nói 3 năm thực hiện,các Luật thuế mới,với sự cải cách sửa đổi bổ sung kịp thời,hợp lý đã đảm bảo công bằng và bình đẳng về nghĩa vụ thuế.Về cơ bản phù hợp với thực tiễn sản xuất,kinh doanh,góp phần làm cho sản xuất kinh doanh ổn định,phát triển,tác động sâu sắc đến quá trình chuyển đổi nền kinh tế,góp phần thúc đẩy tăng trởng kinh tế,ổn định xã hội.Ba năm qua nhiệm vụ thu Ngân sách Nhà nớc đề ra đều hoàn thành vợt mức
Ngoài những kết quả trên,việc thực hiện chính sách thuế mới còn thúc đẩy các tổ chức,cá nhân tăng cờng công tác quản lý hạch toán kinh doanh,thực hiện tốt hơn chế độ hoá đơn chứng từ,thúc đẩy cơ quan thuế từng bớc đổi mới nâng cao công tác quản lý thu phù hợp với việc thay đổi chính sách thuế, Xây dựng một chính sách thuế tích cực,hợp lý kích thích sự năng động của hoạt động giao thơng trong quá trình hội nhập là bớc đột phá kích hoạt tăng trởng nền kinh tế.Trong hoạt động thơng mại,cán cân xuất nhập khẩu là mối quan tâm lớn.Nhất
là những nớc đang phát triển nh Việt Nam nhằm công nghiệp hoá_hiện đại hoá
đất nớc thì phải đẩy mạnh xuất nhập khẩu.Ơ lĩnh vực này,thuế là một giải pháp quan trọng.Trong các chính sách thuế thì chính sách thuế xuất,nhập khẩu;GTGT;tiêu thụ đặc biệt có tầm quan trọng hơn cả
Trang 7Chính vì vậy,em đã chọn đề tài:”Những tác động của thuế xuất,nhập khẩu;GTGT;tiêu thụ đặc biệt đến hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp
2_Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của khoá luận nhằm khẳng định tác động lớn của thuế
xuất,nhập khẩu;GTGT;tiêu thụ đặc biệt đến hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam,đồng thời nêu lên phơng hớng cải cách 3 loại thuế này nhằm nâng cao hiệu quả xuất nhập khẩu trong thời gian tới
3_Đối tợng nghiên cứu:
Khoá luận tốt nghiệp tập trung nghiên cứu về tác động của thuế xuất,nhập khẩu;GTGT;tiêu thụ đặc biệt đến hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam
4_Phơng pháp nghiên cứu:
Khoá luận tốt nghiệp sử dụng các phơng pháp nghiên cứu:phân tích,so sánh,tổng hợp và phơng pháp logic
5_Nội dung nghiên cứu:
Ngoài phần mở đầu và kết luận,khoá luận tốt nghiệp đợc chia làm 3 chơng:Chơng I: Những vấn đề cơ bản về thuế xuất,nhập khẩu;GTGT;tiêu thụ đặc biệt
Chơng II:Những tác động của thuế xuất,nhập khẩu;GTGT;tiêu thụ đặc biệt
đến hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam
Chơng III:Phơng hớng cải cách thuế xuất,nhập khẩu;GTGT;tiêu thụ đặc biệt trong thời gian tới (Đến năm 2010)
Vì thời gian có hạn,việc su tầm tài liệu để có thể đa ra đánh giá tác động của thuế xuất,nhập khẩu;GTGT;tiêu thụ đặc biệt đến hoạt động ngoại thơng là rất khó khăn,không những thế kinh nghiệm và khả năng bản thân còn hạn chế,bài
Trang 8viết của em không tránh khỏi những thiếu sót.Vì vậy,em rất mong nhận đợc sự góp ý của các thày cô và các bạn để khoá luận tốt nghiệp của em mang tính thiết thực và có chiều sâu hơn.
Em xin chân thành cảm ơn các thày cô giáo trờng Đại học Ngoại thơng đã dạy dỗ,giúp đỡ nên em có đợc ngày hôm nay.Em cũng xin cảm ơn các thày cô giáo trong Khoa Kinh tế Ngoại thơng,Tổng cục thuế,Tổng cục Hải quan,Bộ tài chính, đặc biệt là cô Nguyễn Xuân Nữ-thạc sĩ-giảng viên Khoa Kinh tế Ngoại thơng,ĐHNT đã tận tình hớng dẫn em thực hiện đề tài
Sinh viên thực hiện
Trang 9Chơng I:Những vấn đề cơ bản Về thuế xuất,nhập khẩu;GTGT;tiêu thụ đặc biệt.
Có thể nói,ở tất cả các nớc,đặc biệt là các nớc phơng tây,tài chính nói chung
và luật thuế nói riêng đóng vai trò hết sức quan trọng.Nhà nớc có quản lý tốt nền kinh tế quốc dân hay không chính là ở chỗ bản thân Nhà nớc và các cơ quan chức năng của nó có thu đủ thuế,thu đúng và kịp thời hay không
Vậy thuế là gì?
Thuế là khoản đóng góp mang tính bắt buộc đợc Nhà nớc qui định thành luật
để mọi ngời dân và các tổ chức kinh tế phải thực hiện nộp vào Ngân sách Nhà nớc theo từng thời kỳ nhất định,nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của bộ máy Nhà nớc
Hay nói cách khác,thuế là hình thức động viên phân phối,phân phối lại sản phẩm xã hội,thu nhập quốc dân do các tổ chức kinh tế và ngời dân tạo ra để hình thành quỹ tiền tệ tập trung nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nớc
Ơ Việt Nam hiện nay,thuế vừa là chính sách tài chính huy động nguồn ớng dẫn,điều tiết sản xuất kinh doanh,vừa là bộ phận cấu thành của chính sách tài khoá của một quốc gia.Có nhiều chính sách thuế tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp,trực tiếp nhất là thuế xuất,nhập khẩu;GTGT;thuế tiêu thụ đặc biệt,
thu,h-I_Những vấn đề cơ bản về thuế xuất khẩu,thuế nhập khẩu:
Luật thuế xuất,nhập khẩu đợc Quốc hội nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII kỳ họp thứ X thông qua ngày 26/11/1991,đến nay đã sửa đổi,bổ sung hai lần (lần 1 vào ngày 5/7/1993 và lần 2 vào ngày 20/5/1998)
1_Khái niệm về thuế xuất khẩu,thuế nhập khẩu:
Thuế xuất khẩu,nhập khẩu là thuế gián thu đánh vào hàng hoá mậu dịch,phi mậu dịch đợc phép xuất khẩu,nhập khẩu qua biên giới của một quốc gia.Thuế
Trang 10xuất khẩu,nhập khẩu đợc tính,thu,nộp tại cửa khẩu hải quan nên còn gọi là thuế quan.
Ngời tiêu dùng là ngời chịu thuế.Ngời nộp thuế là các tổ chức,cá nhân có hàng hoá xuất,nhập khẩu
Chính sách thuế xuất khẩu,nhập khẩu là một bộ phận quan trọng cấu thành chính sách kinh tế nói chung,chính sách kinh tế đối ngoại nói riêng của một quốc gia.Nhiệm vụ cơ bản của nó là điều tiết xuất,nhập khẩu.Từ đó điều tiết thị trờng.Đồng thời là biện pháp quan trọng nhất để quản lý hoạt động ngoại th-
ơng,góp phần thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại,bảo đảm an toàn về kinh tế
và công nghệ của đất nớc,giải quyết các mục tiêu kinh tế,tài chính và thơng mại
Việc đánh thuế xuất khẩu,nhập khẩu không những tác động lên chính hàng hoá xuất khẩu,nhập khẩu đó mà còn tác động đến giá cả hàng hoá có liên quan,đến cung cầu hàng hoá trên thị trờng.Bằng công cụ thuế này thông qua việc thay đổi thuế suất trong Biểu thuế xuất khẩu,nhập khẩu,Nhà nớc sẽ khuyến khích hay hạn chế xuất,nhập khẩu hàng hoá cho phù hợp với tình hình kinh tế
và thị trờng trong nớc
Hàng hoá đi qua biên giới của một quốc gia là đối tợng của thuế xuất khẩu,nhập khẩu.Do vậy,tất cả các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động ngoại thơng đều quan tâm đến chính sách thuế xuất khẩu,nhập khẩu,đặc biệt là biểu thuế và thuế suất
Thuế xuất khẩu,nhập khẩu góp phần vào việc phát triển và bảo vệ sản xuất trong nớc,hớng dẫn tiêu dùng,đảm bảo công bằng xã hội,tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nớc.Song một sắc thuế không thể cùng một lúc đáp ứng đợc tất cả các mục tiêu trên.Thực tế cho thấy,nếu phải đáp ứng quá nhiều mục tiêu,đôi khi chính sách thuế trở nên phản tác dụng.Việc mở rộng và tăng cờng hiệu quả của quan hệ thơng mại đòi hỏi phải hạn chế sự bảo hộ trong nớc.Mặt khác,mục tiêu hớng dẫn tiêu dùng trong nớc và bảo hộ sản xuất trong nớc sẽ dẫn tới việc
Trang 11áp dụng một chế độ thuế quan đa thuế suất.Trong khi đó,để đáp ứng mục tiêu tăng nguồn thu cho ngân sách thì một hệ thống thuế quan đơn giản,ít ngoại lệ mới phát huy đợc tác dụng tốt nhất.
Việc lồng các chính sách kinh tế xã hội khác vào chính sách thuế trên làm cho cơ cấu hệ thống thuế suất trở nên phức tạp.Mỗi sắc thuế có nhiều thuế suất chênh lệch nhau lớn,nhng trong Luật và các văn bản hớng dẫn thi hành lại thiếu những tiêu chuẩn phân biệt rõ ràng làm căn cứ cho việc vận dụng đúng
đắn,chính xác.Có không ít ngành nghề,mặt hàng có thể xếp vào mức thuế suất nào cũng đợc mà các mức thuế này đối với cùng một mặt hàng đó lại chênh lệch nhau đến chục lần.Điều đó gây khó khăn trong tổ chức thực hiện cả cho cơ quan thuế và ngời nộp thuế,đồng thời dễ phát sinh hiện tợng tuỳ tiện,tiêu cực
2_Nội dung cơ bản của thuế xuất khẩu,nhập khẩu:
2.1_Nội dung cơ bản của thuế xuất khẩu:
Đối tợng chịu thuế xuất khẩu bao gồm hàng hoá xuất khẩu của các tổ chức
kinh tế thuộc các thành phần kinh tế,qua cửa khẩu biên giới của Việt Nam không phân biệt đó là hàng mậu dịch hay hàng phi mậu dịch,kể cả hàng hoá từ thị trờng trong nớc đa vào khu chế xuất
Nh vậy điều kiện đầu tiên để một hàng hoá chịu thuế là hàng hoá đó phải đợc phép xuất khẩu.Đây là điều kiện hết sức quan trọng để xác định phạm vi việc trao đổi hàng hoá chịu sự điều chỉnh của Luật thuế xuất khẩu.Việc qui định đối tợng chịu thuế nh trên về cơ bản đã thống nhất đợc chế độ thu thuế giữa hàng mậu dịch và hàng phi mậu dịch
Tất cả các tổ chức,cá nhân đợc phép kinh doanh xuất khẩu có hàng hoá xuất khẩu thuộc đối tợng chịu thuế.Trờng hợp xuất khẩu uỷ thác thì tổ chức nhận uỷ
thác chịu trách nhiệm nộp thuế xuất khẩu
Phơng pháp tính thuế xuất khẩu đợc tính bằng tích của số lợng hàng hoá
thực xuất khẩu ghi trên tờ khai với giá tính thuế và thuế suất của từng mặt hàng
Trang 12đó.Trong đó,giá tính thuế đợc qui định đối với hàng xuất khẩu là giá bán tại các
cửa khẩu xuất theo hợp đồng ngoại thơng,không bao gồm phí bảo hiểm và chi phí vận tải
Biểu thuế xuất khẩu với mục đích khuyến khích đẩy mạnh xuất khẩu thuế
suất của phần lớn các mặt hàng đều bằng 0%,mức thuế cao nhất là 45% đánh vào các hàng phế liệu,phế thải kim loại
Hàng xuất khẩu đợc miễn thuế là hàng Chính phủ xuất khẩu để trả nợ nớc
ngoài.Ngoài ra,hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài và nớc ngoài hợp tác kinh doanh cũng đợc xét miễn thuế
Giảm thuế xuất khẩu với một số loại hàng hoá chịu thuế xuất khẩu nh
gạo,than đá,sản phẩm từ gỗ rừng trồng,một số sản phẩm chế biến từ kim loại (dây đồng,dây nhôm, ) nhằm đẩy mạnh xuất khẩu
Hàng đợc xét hoàn thuế là hàng đã kê khai và nộp thuế nhng thực tế không
xuất khẩu nữa,hoặc thực tế xuất khẩu ít hơn;hàng tạm xuất tái nhập để dự hội chợ triển lãm
Nhà nớc qui định việc miễn,giảm và hoàn lại thuế nh vậy đã khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất hàng,đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu
2.2_Nội dung cơ bản của thuế nhập khẩu:
Đối tợng chịu thuế nhập khẩu chính là hàng hoá mậu dịch,phi mậu dịch đợc
phép nhập khẩu khi đi qua cửa khẩu,biên giới Việt Nam,kể cả hàng hoá từ khu chế xuất đa vào thị trờng trong nớc
Ngoài ra,trong Luật thuế cũng chỉ rõ một số mặt hàng không phải là đối ợng chịu thuế,đó là hàng vận chuyển quá cảnh hoặc mợn đờng qua biên giới
t-Việt Nam,hàng chuyển khẩu theo qui định của Chính phủ,hàng viện trợ nhân
đạo
Trang 13Tất cả các tổ chức,cá nhân đợc phép kinh doanh nhập khẩu có hàng hoá nhập khẩu thuộc đối tợng chịu thuế.Trờng hợp nhập khẩu uỷ thác thì tổ chức nhận uỷ
thác chịu trách nhiệm nộp thuế nhập khẩu
Phơng pháp tính thuế nhập khẩu rất đơn giản,chỉ cần ba yếu tố xác định,đó
là:
Số lợng hàng thực tế đợc nhập khẩu,số lợng hàng nhập khẩu có thể đợc căn
cứ vào bảng kê khai chi tiết lô hàng nhập khẩu mà nhà xuất khẩu gửi cho nhà nhập khẩu
Giá tính thuế sẽ là giá nhập khẩu CIF,bao gồm giá hàng cộng phí bảo hiểm
(I) và chi phí vận tải (F) nếu là hàng nhập khẩu đó thực hiện theo hợp đồng nhập khẩu hợp lệ.Ngoài ra,sẽ áp dụng bảng giá tối thiểu trong các trờng hợp mua bán không có hợp đồng và những mặt hàng nằm trong danh mục Nhà nớc quản lý giá.Qui định này trong điều kiện đặc thù của nớc ta là tơng đối phù hợp,tuy nhiên,khi Việt Nam tham gia vào tổ chức WTO thì việc áp dụng chế độ giá tính thuế tối thiểu sẽ vi phạm qui định về xác định trị giá tính thuế theo giá giao dịch thực của GATT/WTO
Thuế suất:theo Luật thuế nhập khẩu đợc sửa đổi và có hiệu lực từ 1/1/1999
thì thuế suất đối với hàng nhập khẩu có 3 mức:
Thuế suất u đãi:áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nớc hoặc
khối nớc có thoả thuận về đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thơng mại với Việt nam đợc qui định cụ thể cho từng mặt hàng trong Biểu thuế thuế nhập khẩu u
đãi
Thuế suất u đãi đặc biệt:áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nớc
hoặc khối nớc có thoả thuận u đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu theo thể chế khu vực thơng mại tự do,áp dụng cụ thể cho từng mặt hàng theo qui định trong thoả thuận
Trang 14Thuế suất thông thờng:áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nớc
hoặc khối nớc không có thoả thuận về đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thơng mại với Việt Nam.Thuế suất thông thờng đợc qui định cao hơn thuế suất u đãi của từng mặt hàng và bằng 150% thuế suất u đãi
Tuy nhiên,để tính đúng,tính đủ thuế nhập khẩu phải nộp trong nhiều trờng hợp lại không dễ dàng,có thể xảy ra bất đồng cách tính thuế giữa doanh nghiệp nhập khẩu và cơ quan hải quan mà phải nhờ đến cơ quan có thẩm quyền cấp trên giải quyết.Một trong những vớng mắc nhất đó chính là áp mã số để từ đó
có mức thuế suất phù hợp
Nhà nớc tiến hành thu thuế nhập khẩu bổ sung đối với 3 trờng hợp:hàng phá
giá,hàng đợc nớc xuất khẩu trợ cấp làm cho giá hàng nhập khẩu thấp hơn giá của hàng hoá cùng loại trong nớc và hàng nhập khẩu từ các nớc có chính sách phân biệt đối xử hàng nhập khẩu có xuất xứ từ Việt Nam nhằm tăng cờng công
cụ pháp lý bảo vệ cho sản xuất trong nớc phù hợp với thông lệ quốc tế trong
điều kiện tự do hoá thơng mại
Biểu thuế nhập khẩu có tên gọi là Biểu thuế nhập khẩu u đãi,có khoảng
6.400 dòng thuế (chi tiết đến 8 chữ số).Việc sửa đổi danh mục biểu thuế nhập khẩu theo hệ thống thống nhất trong mô tả hàng hoá của Tổ chức Hải quan thế giới là một bớc tiến quan trọng theo hớng tạo lập sự rõ ràng cho việc áp dụng chính sách thuế nhập khẩu ở Việt Nam
Sự thờng xuyên thay đổi thuế suất của Biểu thuế nhập khẩu hiện nay tuy phù hợp với những thay đổi trớc mắt của nền kinh tế nhng lại phản ánh chính sách thuế nhập khẩu của Việt Nam mang tính đối phó ngắn hạn gây khó khăn cho các đơn vị sản xuất kinh doanh trong việc xác định chủ trơng và chiến lợc kinh doanh lâu dài của đơn vị cũng nh cho công tác quản lý thuế
Chính sách thuế nhập khẩu của Việt Nam hiện nay vẫn thực hiện chức năng bảo hộ triệt để cho sản xuất trong nớc và thu ngân sách Nhà nớc là chủ yếu.Cụ thể là:những mặt hàng là máy móc,thiết bị,nguyên vật liệu trọng yếu cần cho
Trang 15sản xuất mà trong nớc cha sản xuất đợc hoặc có sản xuất nhng với số lợng nhỏ thì để ở mức thuế suất thấp nhất,những mặt hàng ta đã sản xuất đợc với số lợng tơng đối lớn thì để ở mức thuế suất cao hơn.Nh vậy,ở đây tất cả các ngành sản xuất trong nớc đang đợc bảo hộ triệt để nh nhau,cứ có sản xuất trong nớc là thuế nhập khẩu đợc điều chỉnh nâng lên.Mức độ bảo hộ không đợc phân định theo những ngành sản xuất dựa trên lợi thế cạnh tranh,những ngành Nhà nớc chủ trơng tập trung đầu t để phát triển,hay là những ngành không thuộc diện này.
Việc phân tích các tỷ lệ bảo hộ thực tế của Biểu thuế nhập khẩu hiện hành cho thấy những ngành đợc bảo hộ cao nhất là những ngành sản xuất hàng thay thế hàng nhập khẩu,ngợc lại với những ngành xuất khẩu và những ngành có tiềm năng nhng hiện nay cha đủ khả năng cạnh tranh đợc với hàng nhập khẩu.Nh vậy,tác dụng bảo hộ của chính sách thuế nhập khẩu dẫn đến việc khuyến khích tiêu dùng hàng trên thị trờng trong nớc mà không khuyến khích cho xuất khẩu ở thời điểm hiện nay cũng nh trong tơng lai.Điều này cũng đã dẫn đến thực tế đầu t nớc ngoài trong những năm qua đã đợc thu hút vào những ngành sản xuất ra các sản phẩm với mục tiêu thay thế nhập khẩu,phục vụ cho nhu cầu của thị trờng trong nớc chứ không nhằm vào xuất khẩu.Xuất khẩu cha phải là đích phục vụ chủ yếu của nhập khẩu nên đã càng dẫn đến tình trạng thâm hụt cán cân thơng mại.Đồng thời sẽ tạo ra sự bất lợi cho Việt Nam khi tham gia vào các tổ chức thơng mại khu vực và thế giới mà mục tiêu của nó là
tự do hoá thơng mại để tăng sự luân chuyển luồng hàng hoá giữa các quốc gia nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển,hay nói cách khác là tạo điều kiện tối đa cho xuất khẩu.Nếu chúng ta giảm thuế để mở cửa thị trờng cho các nớc mà chúng ta lại không xuất khẩu đợc thì đó sẽ là sự thiệt hại rất lớn cho kinh tế của ta
Biểu thuế nhập khẩu vẫn còn quá nhiều mức nên đã làm mất đi tính trung lập cần có của thuế.Việc xây dựng biểu thuế có quá nhiều thuế suất không còn phù hợp với cơ chế thị trờng có nhiều thành phần kinh tế
Trang 16Trên thực tế,chế độ đa thuế suất chỉ phù hợp với thời kỳ kế hoạch hoá tập trung,khi mà Chính phủ qui định một cách trực tiếp mọi loại giá cả chủ yếu trong nền kinh tế.
Khi chuyển sang cơ chế thị trờng,giá cả không chịu sự chi phối của cơ chế kế hoạch hoá tập trung nh trớc nữa thì việc áp dụng chế độ đa thuế suất sẽ làm cho
hệ thống thuế trở nên kém hiệu quả,trong một số trờng hợp còn tạo nhiều kẽ hở.Từ đó biểu thuế thờng xuyên phải sửa đổi,bổ sung;làm cho chính sách thuế lại thiếu tính ổn định
Hệ thống thuế suất thay đổi thờng xuyên đã gây không ít khó khăn cho việc tính giá thành,lợi nhuận, Khiến các doanh nghiệp thiếu tin tởng vào chính sách thuế,không yên tâm bỏ vốn đầu t phát triển sản xuất,mở rộng kinh doanh hoặc
sẽ đối phó bằng cách nợ đọng thuế,trốn lậu thuế (mặt hàng thất thu thuế nhập khẩu nhiều nhất là rợu 1.000_1.200 tỷ đồng (Nguồn:Thời báo kinh tế Việt Nam
số 11/2002)
Việc quản lý hàng nhập khẩu có thay đổi biện pháp:Trớc kia,các chủ hàng
chỉ có trách nhiệm khai báo hàng theo mẫu tờ khai,còn việc áp mã,tính thuế do cán bộ Hải quan thực hiện theo qui trình thu thuế với hàng nhập khẩu.Nay,các chủ hàng sẽ chủ động trong việc áp mã,tính thuế,nộp thuế,còn cơ quan thu thuế chỉ làm nhiệm vụ kiểm tra,giám sát thực hiện theo đúng pháp luật,đã tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc thông quan hàng hoá,nâng cao trách nhiệm
và ý thức tuân thủ pháp luật về thuế của doanh nghiệp
Đối tợng nộp thuế đợc xét miễn giảm trong các trờng hợp sau đây:
Hàng là vật t,nguyên liệu nhập khẩu để gia công cho nớc ngoài và xuất khẩu theo các hợp đồng gia công cho nớc ngoài.Qui định này đã khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất hàng gia công xuất khẩu và xuất khẩu
Hàng nhập khẩu chuyên dùng phục vụ trực tiếp cho an ninh,quốc phòng,nghiên cứu khoa học và giáo dục,đào tạo
Trang 17Thiết bị,máy móc,phơng tiện vận tải chuyên dùng nhập khẩu theo qui định tại điều 47 của Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam và điều 25 của Luật khuyến khích đầu t trong nớc.
Hàng là quà biếu,tặng của tổ chức,cá nhân nớc ngoài cho tổ chức,cá nhân Việt Nam và ngợc lại ở trong mức qui định thì chỉ đợc xét miễn giảm thuế nhập khẩu cho mỗi cá nhân với lô hàng có trị giá không quá 100 USD và tổng giá trị lô hàng không vợt quá 1.000 USD
Các đối tợng đợc miễn thuế trên đây về cơ bản thể hiện đờng lối,chủ trơng của Đảng và Nhà nớc u đãi đầu t trong lĩnh vực an ninh,quốc phòng cũng nh nghiên cứu khoa học,giáo dục và đào tạo.Tuy nhiên rất khó xác định vì chúng
có thể dùng cho nhiều đối tợng khác nhau,dẫn đến thủ tục xét miễn giảm thuế phức tạp mà vẫn không bảo đảm đợc sự chính xác,chặt chẽ,tạo nên kẽ hở trốn thuế
Hàng đợc xét hoàn thuế gồm vật t,nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng
xuất khẩu đợc hoàn thuế tơng ứng với tỷ lệ xuất khẩu thành phẩm;hàng nhập khẩu để tái xuất để dự hội chợ triển lãm
Qui định này đã khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và xuất khẩu
Lịch trình giảm thuế nhập khẩu với ASEAN đã đảm bảo cho Việt Nam thực hiện đợc cam kết giảm thuế theo đúng qui định của Hiệp định CEPT,đồng thời
đảm bảo sự phù hợp,hỗ trợ đợc tối đa cho sản xuất trong nớc chuẩn bị,bố trí lại cơ cấu sản xuất,đầu t và vơn lên cạnh tranh có hiệu quả với khu vực.Đây cũng chính là bớc đi đầu tiên,đặt nền móng cho việc thiết kế chính sách thuế nhập khẩu phù hợp với những bớc hội nhập ngày càng rộng và sâu sắc hơn của Việt Nam với các tổ chức thơng mại lớn hơn nh APEC,WTO
II_Những vấn đề cơ bản về thuế giá trị gia tăng :
Trang 18Tháng 5 năm 1997 Quốc hội khoá IX,kỳ họp thứ 11 đã thông qua Luật thuế giá trị gia tăng thay thế Luật thuế doanh thu.Kể từ khi ra đời đến nay,nội dung của Luật thuế này đã đợc sửa đổi,bổ sung nhiều lần và gần đây nhất là ngày 13/9/2002.
1_Khái niệm về thuế giá trị gia tăng:
Để hiểu đợc thế nào là thuế giá trị gia tăng trớc hết cần tìm hiểu khái niệm giá trị gia tăng:Giá trị gia tăng là giá trị tăng thêm đối với một sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ do cơ sở sản xuất chế biến,buôn bán hoặc dịch vụ tác động vào nguyên vật liệu thô hay hàng hoá mua vào,làm cho giá trị của chúng tăng thêm.Nói cách khác,đây là số chênh lệch giữa “giá đầu ra” và “giá đầu vào” do
đơn vị kinh tế tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh,dịch vụ.(SGK_Thuế và
hệ thống thuế Việt Nam,Trờng ĐHNT)
Theo cách hiểu về giá trị gia tăng nh trên,thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá,dịch vụ phát sinh ở từng khâu từ sản xuất,lu thông đến tiêu dùng
Nh khái niệm vừa nêu,thuế giá trị gia tăng là yếu tố cấu thành giá bán sản phẩm hàng hoá,dịch vụ.Do đó,mặc dù đối tợng nộp thuế là các nhà sản xuất kinh doanh nhng chính ngời tiêu dùng phải gánh chịu gánh nặng của thuế này thông qua việc trả tiền hàng hoá,dịch vụ
Ưu điểm của thuế giá trị gia tăng là tránh trờng hợp thuế trùng lên thuế nh thuế doanh thu trớc đây.Điều này có ý nghĩa rất quan trọng.Nó sẽ tạo điều kiện khuyến khích hoạt động xuất khẩu,thúc đẩy sản xuất kinh doanh,kích thích cạnh tranh,tạo ra sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp không phân biệt doanh nghiệp đó ở khâu đầu,khâu giữa,khâu cuối của quá trình kinh doanh.Thuế giá trị gia tăng đánh vào giá trị tăng thêm của sản phẩm dịch vụ tại mỗi công đoạn sản xuất và lu thông nên loại thuế này có thể đợc vận dụng trong nhiều ngành nghề và nhiều lĩnh vực,do đó,tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà nớc trong việc hoạch định các biện pháp và chính sách thuế,đồng thời,thúc đẩy mọi
Trang 19ngời chấp hành tốt hơn nghĩa vụ nộp thuế.Bởi một lẽ đơng nhiên,khi gánh nặng thuế càng đợc san sẻ cho nhiều ngời,nhiều ngành,nhiều khâu thì ngời nộp thuế,ngời chịu thuế sẽ có ấn tợng tốt rằng sự công bằng đã đợc thực hiện dù chỉ
là tơng đối,còn về phía Nhà nớc,có thể giảm thuế suất mà không làm ảnh hởng
đến việc huy động nguồn thu và hạn chế đến mức thấp nhất việc trốn thuế
Một u điểm nữa của thuế giá trị gia tăng mà thuế doanh thu không thể có đó
là sự tự cỡng chế nộp thuế qua các công đoạn.Thuế giá trị gia tăng do ngời tiêu dùng chịu nhng nó đợc thu qua các công đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh.Nếu một khâu trung gian nào đó không đóng thuế thì khâu sau sẽ bị đánh thuế nặng hơn
Thực hiện thuế giá trị gia tăng đòi hỏi và thúc đẩy các doanh nghiệp phải tăng cờng hạch toán kinh tế,đổi mới công nghệ,tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả,thúc đẩy việc thực hiện tốt chế độ chứng từ,hoá đơn,trên cơ sở đó,tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp thực hiện tốt hơn công tác quản lý của mình và làm giảm bớt khó khăn trong công tác kiểm soát của Nhà nớc đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế cũng nh công tác chống thất thu thuế
Có thể khẳng định việc lựa chọn áp dụng thuế giá trị gia tăng là một cải cách cơ bản và cần thiết trong hệ thống chính sách thuế của Việt Nam nhằm tạo ra một hệ thống thuế phù hợp với cơ chế thị trờng,từ đó góp phần đa nền kinh tế tăng trởng một cách nhanh chóng và ổn định
2_Nội dung cơ bản của thuế giá trị gia tăng:
Thuế giá trị gia tăng bao quát hết các hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ,thu cả hàng hoá ở khâu nhập khẩu;tạo nguồn thu lớn,ổn định và kịp thời cho Ngân sách Nhà nớc;khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh;cơ cấu lại nền kinh tế;tránh đợc nhợc điểm thuế đánh trùng thuế,khuyến khích đầu t và xuất khẩu;tăng cờng quản lý và hạch toán kinh doanh của các doanh nghiệp cũng nh việc kiểm tra giám sát đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
Trang 20nghiệp;đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế;tạo điều kiện tham gia hội nhập;đổi mới công tác quản lý của cơ quan thuế.Thuế giá trị gia tăng có các nội dung chủ yếu sau:
Đối tợng chịu thuế là các hàng hoá,dịch vụ tiêu dùng ở Việt Nam.Thuế giá
trị gia tăng sẽ không thu vào những lĩnh vực,với những ngành khuyến khích
phát triển,gồm 26 nhóm mặt hàng và dịch vụ:sản phẩm trồng trọt,chăn nuôi,nuôi trồng thuỷ sản cha qua chế biến thành các sản phẩm khác của các tổ chức,cá nhân tự sản xuất và bán ra;hàng hoá,dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
và một số hàng hoá,dịch vụ thiết yếu phục vụ cho đời sống con ngời;một số sản phẩm,dịch vụ mang tính chất công cộng;các dịch vụ xuất khẩu,
Đối tợng nộp thuế là các tổ chức,cá nhân có nhập khẩu,sản xuất,kinh doanh
hàng hoá,dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng
Việc tách rời các đối tợng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng
nh hiện nay ở ta sẽ trở thành gánh nặng đối với công tác quản lý thuế,tạo ra sự ngắt quãng trong toàn bộ chu trình của thuế giá trị gia tăng.Điều này sẽ làm giảm đi những u điểm vốn có của loại thuế này.Cả thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt đều là hai loại thuế gián thu đánh vào ngời tiêu dùng cuối cùng,do đó về mặt ý nghĩa kinh tế có thể sử dụng hai loại thuế này hỗ trợ cho nhau
Khi áp dụng cả hai loại thuế nh vậy thì thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt sẽ đợc giảm,không quá cao nh hiện nay.Điều này vừa thuận lợi cho công tác quản lý thuế,nâng cao hiệu quả của thuế giá trị gia tăng vừa phù hợp với thông lệ quốc
tế và thực tế ở các nớc
Căn cứ tính thuế dựa vào giá tính thuế và thuế suất.
Giá tính thuế đối với hàng hoá,dịch vụ là giá bán cha có thuế giá trị gia
tăng.Đối với thị trờng nội địa,việc đánh thuế giá trị gia tăng không làm giá đột biến vì hiệu quả của thuế giá trị gia tăng không phụ thuộc vào sự tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế;cho dù sản phẩm có trải qua bao nhiêu giai đoạn
Trang 21thì tổng số thuế phải nộp qua các khâu cũng chỉ bằng thuế suất nhân giá mua của ngời tiêu dùng cuối cùng.
Giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu là tổng giá nhập khẩu tại cửa khẩu
với thuế nhập khẩu.Nh vậy,thuế giá trị gia tăng kết hợp với thuế nhập khẩu làm tăng giá vốn của hàng hoá nhập khẩu nên thuế giá trị gia tăng có tác dụng bảo
hộ sản xuất trong nớc,kinh doanh hàng nội địa
Thuế suất thuế giá trị gia tăng:bao gồm 4 mức thuế suất 0%,5%,10% và
20%
Trong đó thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu.Xuất khẩu bao
gồm xuất khẩu ra nớc ngoài,xuất khẩu vào khu chế xuất hoặc xuất khẩu cho doanh nghiệp chế xuất và trờng hợp cụ thể khác đợc coi là xuất khẩu theo qui
định của Chính phủ
Thuế suất 20% áp dụng đối với một số dịch vụ và hoạt động kinh doanh Thuế suất 5% áp dụng đối với một số hàng hoá,dịch vụ thiết yếu đến đời
sống
Thuế suất 10% là mức thuế suất phổ biến,áp dụng cho các hàng hoá,dịch vụ
chịu thuế giá trị gia tăng còn lại.Việc qui định theo phơng pháp loại trừ đối với thuế giá trị gia tăng thuế suất 10% làm cho Luật thuế trở nên đơn giản,chặt chẽ hơn,hạn chế những vận dụng tuỳ tiện có thể xảy ra cũng nh khiếu nại,thắc mắc không cần thiết
Việc áp dụng 4 mức thuế suất là phức tạp và lạc hậu so với thuế giá trị gia tăng trên thế giới vì tại các nớc công nghiệp phát triển,đa số đều áp dụng 2 mức thuế suất:mức u đãi và mức thông dụng,nhiều nớc có xu hớng chỉ áp dụng duy nhất một mức thuế suất đồng nhất loại thông dụng ngoài mức 0% áp dụng cho xuất khẩu và với một hệ thống thuế giá trị gia tăng đa thuế suất nh vậy sẽ dẫn
đến những tác động xấu tới nền kinh tế:gây ảnh hởng méo mó tới quyết định của ngời sản xuất và ngời tiêu dùng,các doanh nghiệp có thể lợi dụng nâng giá
Trang 22những mặt hàng bị đánh thuế thấp để hỗ trợ cho những mặt hàng bị đánh thuế cao,đồng thời công tác quản lý hành chính thuế cũng trở nên phức tạp hơn.Càng nhiều mức thuế suất càng dễ xảy ra tình trạng tuỳ tiện trong quá trình thực hiện,càng tạo cơ hội trốn lậu thuế,tăng chi phí thanh tra,kiểm tra thuế,
Thuế suất thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu của nớc ta cao hay thấp dựa
trên mục đích sử dụng của hàng hoá mà không dựa trên tính chất của hàng hoá,điều đó trái với thông lệ quốc tế,nó không những gây phức tạp trong công tác quản lý thu thuế mà còn tạo nên những khe hở để trốn thuế,lậu thuế.Ví dụ hàng hoá do quốc phòng,an ninh nhập khẩu không thuộc đối tợng chịu thuế giá trị gia tăng,trong khi các doanh nghiệp nhập khẩu về cũng những hàng hoá đó lại chịu thuế giá trị gia tăng
Phơng pháp tính thuế:áp dụng 2 phơng pháp tính thuế:
Phơng pháp khấu trừ thuế:áp dụng đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh áp
dụng chế độ kế toán,hoá đơn chứng từ,hạch toán đầy đủ thuế đầu ra,thuế đầu vào.Theo phơng pháp này:
Thuế GTGT phải nộp = Thuế GTGT đầu ra _ Thuế GTGT đầu vào Trong đó:
Thuế GTGT đầu ra = giá tính thuế của hàng hoá,dịch vụ bán ra nhân với thuế suất
Thuế GTGT đầu vào = tổng số thuế giá trị gia tăng đã thanh toán đợc ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng mua hàng hoá,dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu
Cơ chế xác định số thuế giá trị gia tăng phải nộp bằng số thuế giá trị gia tăng
đầu ra khấu trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào và số thuế giá trị gia tăng đầu vào lớn hơn số thuế giá trị gia tăng đầu ra luỹ kế trong 3 tháng liền thì đợc hoàn thuế,vì vậy thông qua tờ khai thuế hàng tháng,thông qua việc hoàn thuế,cơ quan
Trang 23thuế và các cơ quan chức năng của Nhà nớc có thể kiểm tra đối chiếu hoá đơn mua bán hàng hoá,dịch vụ giữa các doanh nghiệp với nhau
Phơng pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng:áp dụng đối với các cơ sở,cá
nhân sản xuất kinh doanh và tổ chức,cá nhân nớc ngoài kinh doanh ở Việt Nam không theo Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam cha thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán,hoá đơn,chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phơng pháp khấu trừ thuế,cơ sở kinh doanh mua,bán vàng bạc,đá quí.Theo phơng pháp này:
Số thuế GTGT phải nộp = thuế suất thuế GTGT x (giá thanh toán của hàng hoá,dịch vụ bán ra-giá thanh toán của hàng hoá,dịch vụ mua vào tơng ứng).Hay:
Thuế GTGT phải nộp = GTGT của hàng hoá,dịch vụ x thuế suất
Phơng pháp trực tiếp tính trên phần giá trị tăng thêm thực ra không phải là phơng pháp dùng để tính và thu thuế trong thực tế.Đó chỉ là một cách tiếp cận khoa học trong nghiên cứu nhằm chỉ rõ đây là một loại thuế chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm mỗi khi có giá trị gia tăng xuất hiện.Việc phân định “giá trị tăng thêm”,”giá trị đầu vào”,”giá trị đầu ra” xét dới góc độ tính thuế,hạch toán thuế và thu thuế là không có ý nghĩa thực tế vì:
Trong thuế giá trị gia tăng,cơ chế khấu trừ là điểm cốt lõi,quyết định tính hiện đại của thuế giá trị gia tăng
Hơn nữa,việc áp dụng phơng pháp trực tiếp chỉ cho kết quả chính xác với một mức thuế suất duy nhất áp dụng cho cả đầu vào và đầu ra.Trong trờng hợp đầu vào và đầu ra chịu những mức thuế khác nhau thì tác động của thuế đối với hoạt
động của doanh nghiệp không đợc phản ánh đúng
Khấu trừ thuế đầu vào:áp dụng cho cơ sở nộp thuế giá trị gia tăng theo
ph-ơng pháp khấu trừ thuế đầu vào:
a)Thuế đầu vào của hàng hoá,dịch vụ dùng cho sản xuất,kinh doanh hàng hoá,dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng thì đợc khấu trừ toàn bộ
Trang 24b)Thuế đầu vào của hàng hoá,dịch vụ dùng đồng thời cho sản xuất,kinh doanh hàng hoá,dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng và không chịu thuế giá trị gia tăng thì chỉ đợc khấu trừ số thuế đầu vào của hàng hoá,dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh hàng hoá,dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng.
c)Thuế đầu vào phát sinh trong tháng nào đợc kê khai,khấu trừ khi xác định
số thuế phải nộp của tháng đó
Riêng đối với tài sản cố định,nếu có số thuế đầu vào đợc khấu trừ lớn thì đợc khấu trừ dần hoặc đợc hoàn thuế theo qui định của Chính phủ
d)Trờng hợp cơ sở sản xuất,chế biến mua nông sản,lâm sản,thuỷ sản cha qua chế biến của ngời sản xuất mà không có hoá đơn giá trị gia tăng thì đợc khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào theo tỷ lệ trên giá mua từ 3% đến 5%
Qui định cho phép khấu trừ khống thuế giá trị gia tăng đầu vào của các mặt hàng nông,thuỷ sản mua trực tiếp của nông dân có mục đích hỗ trợ cho ngành sản xuất nông nghiệp đang gặp khó khăn,đồng thời đảm bảo tính liên hoàn của Luật thuế giá trị gia tăng,nhng việc khấu trừ khống thuế đầu vào này chỉ căn cứ vào bảng kê là thiếu căn cứ khoa học,thiếu chính xác,không đảm bảo tính minh bạch của Luật thuế
Hiện nay,tỷ lệ khấu trừ này đợc qui định nh sau:các cơ sở sản xuất,kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phơng pháp khấu trừ thuế đợc tính khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào tỷ lệ 1% tính trên giá hàng hoá,dịch vụ mua vào không có hoá đơn giá trị gia tăng đối với:
.Hàng hoá là nông sản,lâm sản,thuỷ sản cha qua chế biến,đất,đá,cát,sỏi và
các loại phế liệu mua vào không có hoá đơn.Cơ sở kinh doanh thu mua các mặt hàng trên phải lập chứng từ thu mua và bảng kê theo hớng dẫn của cơ quan thuế
.Hàng hoá,dịch vụ thuộc đối tợng chịu thuế giá trị gia tăng mua của cơ sở sản
xuất,kinh doanh nộp thuế theo phơng pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng có
Trang 25hoá đơn bán hàng,hàng hoá là nông sản,lâm sản,thuỷ sản cha qua chế biến mua của các cơ sở sản xuất có hoá đơn giá trị gia tăng nhng thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng khâu sản xuất,hàng hoá chịu thuế tiêu thụ đặc biệt cơ sở kinh doanh thơng mại mua của cơ sở sản xuất để bán,tiền bồi thờng của hoạt
động kinh doanh bảo hiểm.(Nghị định của Chính phủ số 76/2002/NĐ_CP ngày 13/9/2002 về việc sửa đổi,bổ sung một số điều của Nghị định số 79/2000/NĐ_CP ngày 29/12/2000 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng).Việc sửa đổi qui định về khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào nh vậy đã khắc phục đợc những khó khăn của các doanh nghiệp (đã nêu ở phần đối tợng không chịu thuế giá trị gia tăng)
Để đợc khấu trừ thuế giá trị gia tăng đã nộp trên các chi phí đầu vào,ngời ở khâu sau (ngời mua) phải đòi hỏi ngời bán các hoá đơn chứng minh cho việc cung cấp các hàng hoá dịch vụ đợc sử dụng.Tự bản thân thuế giá trị gia tăng đã
có tính chất thúc đẩy tính tự giác chấp hành luật thuế,do đó,tránh đợc sự thất thu thuế cho Ngân sách Nhà nớc
Tuy nhiên,việc khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào cũng cần những qui
định rõ ràng.Theo thông t số 122/2000/TT_BTC:”Thuế đầu vào của hàng hoá,dịch vụ đợc khấu trừ phát sinh trong tháng nào đợc kê khai khấu trừ khi xác
định số thuế phải nộp của tháng đó,không phân biệt đã xuất dùng hay còn để trong kho.Trờng hợp hoá đơn giá trị gia tăng hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá,dịch vụ mua vào phát sinh trong tháng nhng cha kê khai kịp trong tháng thì đợc kê khai khấu trừ vào các tháng tiếp sau,trờng hợp
do lý do khách quan thì đợc khấu trừ trong thời gian tối đa là 3 tháng tiếp sau”.Theo nguyên lý thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu ngời tiêu dùng là đối tợng chịu thuế.Do đó việc chậm kê khai thuế giá trị gia tăng đầu vào trớc hết ảnh hởng trực tiếp đến doanh nghiệp,doanh nghiệp không xác định
đúng,đủ chi phí kinh doanh trong kỳ nộp thuế ảnh hởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp,phần thiệt thòi thuộc về doanh nghiệp (vì doanh nghiệp bị Nhà nớc chiếm dụng vốn kinh doanh thông qua phần thuế đợc khấu trừ)
Trang 26Trong thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc chậm kê khai thuế giá trị gia tăng đầu vào.Trong những nguyên nhân có cả nhóm nguyên nhân chủ quan và khách quan.Việc qui
định thời gian đợc khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào gây khó khăn cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Bản chất của qui định này là sử dụng mệnh lệnh hành chính trong quá trình thực hiện Luật thuế giá trị gia tăng.Qua thời gian thực hiện qui định này trong thực tiễn đã phát sinh nhiều tr-ờng hợp chậm kê khai và không đợc khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.Để giải quyết vấn đề tồn tại trong thời gian đầu thực hiện thông t 122,Bộ tài chính
đã có công văn số 1804 TC/TCT ngày 5/3/2000 (Công văn số 1804) hớng dẫn
xử lý đối với các hoá đơn để quá 3 tháng mới kê khai.Nh vậy,các doanh nghiệp mua hàng hoá,dịch vụ đã nhận hoá đơn giá trị gia tăng của bên bán nhng cha kê khai khấu trừ thuế kịp thời trong thời gian qui định 3 tháng nếu xác định kê khai chậm do nguyên nhân khách quan thì đợc tính thuế khấu trừ thuế giá trị gia tăng đối với các hoá đơn
Hoá đơn,chứng từ gồm 2 loại:hoá đơn thuế giá trị gia tăng và hoá đơn thông
thờng.Đối tợng nộp thuế theo phơng pháp khấu trừ phải sử dụng hoá đơn thuế giá trị gia tăng,trong đó có ghi rõ giá bán cha có thuế,thuế giá trị gia tăng và
tổng giá thanh toán đã có thuế.Còn đối tợng nộp thuế theo phơng pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng và đối tợng không phải nộp thuế giá trị gia tăng sẽ sử dụng hoá đơn thông thờng,tức là giá ghi trên hoá đơn là giá thực thanh toán đã
có thuế giá trị gia tăng
Trong trờng hợp doanh nghiệp áp dụng phơng pháp khấu trừ,thì phải có hoá
đơn giá trị gia tăng mới đợc khấu trù,nếu hoá đơn mua hàng không ghi riêng thuế giá trị gia tăng thì sẽ không đợc khấu trừ
Về nguyên tắc,mọi cơ sở sản xuất,kinh doanh hàng hoá dịch vụ,nhập khẩu hàng hoá phục vụ nhu cầu sản xuất,tiêu dùng tại Việt Nam đều phải nộp thuế giá trị gia tăng (loại trừ 26 nhóm mặt hàng,dịch vụ đợc xếp vào diện không phải chịu thuế giá trị gia tăng).Nh vậy,rõ ràng về cơ bản nguyên liệu để sản xuất,chế
Trang 27biến,hàng hoá để bán ra,dẫu mua ở đâu,nếu có hoá đơn hợp lệ,về thực chất và trên góc độ pháp lý,đó là hàng đã nộp thuế giá trị gia tăng đầy đủ.Nhng theo qui
định trên,nếu đơn vị áp dụng phơng pháp khấu trừ mua của cơ sở nộp thuế theo phơng pháp trực tiếp không có hoá đơn giá trị gia tăng thì thuế đầu vào đối với phần hàng hoá,nguyên vật liệu mua vào đó không đợc khấu trừ khi nộp thuế
đầu ra.Nói cách khác,về thực chất,đơn vị kinh doanh này đã phải nộp thuế đủ cả
ở 2 khâu,tính trên toàn bộ giá đầu vào và đầu ra,một hình thức thuế chồng lên thuế nh thuế doanh thu.Có điểm khác nhau là thuế doanh thu trùng lắp chủ yếu với thuế suất 1-2%,nhng thuế giá trị gia tăng lại trùng lắp với mức nặng nề hơn (5-10%).Tuy rằng thuế giá trị gia tăng là do ngời tiêu dùng trả vì đây là sắc thuế gián thu,song vì nó đợc cấu thành trong giá nên sẽ làm đội giá lên,thị trờng khó
có thể chấp nhận đợc
Điều này khiến cho các doanh nghiệp thực hiện phơng pháp khấu trừ hết sức
lo lắng.Hiện nay,một khối lợng không nhỏ đầu vào của các doanh nghiệp là do các cơ sở kinh doanh công nghiệp,thủ công nghiệp,thơng nghiệp,dịch vụ thuộc loại hình kinh doanh nhỏ cung cấp.Theo báo cáo của các doanh nghiệp,đối với những đối tợng thuộc lĩnh vực sản xuất,xây dựng thì tỷ trọng chi phí mua nguyên vật liệu thuộc diện không có hoá đơn giá trị gia tăng chiếm khoảng 20-25%,các đối tợng thuộc lĩnh vực thơng mại thì tỷ trọng này chiếm khoảng 35-40%.Để đợc khấu trừ thuế đầu vào,các doanh nghiệp áp dụng phơng pháp khấu trừ phải hạn chế tới mức thấp nhất việc mua hàng của các đơn vị áp dụng phơng pháp trực tiếp,mà trong thực tế nớc ta hiện nay,số lợng các hộ cá thể_những đơn
vị áp dụng phơng pháp trực tiếp còn quá lớn.Theo số liệu khảo sát,phân loại đối tợng nộp thuế của thành phố Hồ Chí Minh,số doanh nghiệp đủ điều kiện để thực hiện phơng pháp khấu trừ thuế chỉ chiếm 10%_một tỷ lệ quá thấp
Có ý kiến cho rằng trong điều kiện hiện nay còn nhiều vấn đề phải bàn về trật
tự sử dụng hoá đơn,chứng từ mua bán hàng thì việc phải tìm đúng loại hoá đơn phù hợp mới đợc khấu trừ thuế giá trị gia tăng là một đòi hỏi quá cao đối với các doanh nghiệp
Trang 28Một trong những băn khoăn nữa của các doanh nghiệp hiện nay,đó là việc qui định nếu không có hoá đơn thì sẽ không đợc khấu trừ thuế đầu vào,trong khi
đó tập quán buôn bán và thói quen sử dụng hoá đơn,chứng từ ở nớc ta cha phát triển.Đối với một số ngành đặc thù,chẳng hạn nh ngành du lịch thì việc qui định
có đầy đủ hoá đơn đầu vào sẽ trở nên một yêu cầu hết sức khó khăn đối với doanh nghiệp.Trong kinh doanh du lịch có nhiều khoản chi khó có thể chứng minh bằng hoá đơn nh việc thuê nhà trọ cho khách ở những vùng miền núi,ăn uống dọc đờng,việc sử dụng hớng dẫn viên không chính thức trong những tháng,mùa cao điểm, Trong những trờng hợp nh vậy,doanh nghiệp không thể
có hoá đơn đầu vào để đợc khấu trừ.Nh vậy,chừng nào hệ thống hoá đơn tài chính cha phát triển,cha đợc sử dụng rộng rãi thì nhiều doanh nghiệp còn phải chịu những khó khăn không đáng có và điều đó sẽ cản trở việc thực thi Luật thuế giá trị gia tăng
Việc qui định phơng pháp tính thuế và ban hành hai loại hoá đơn (hoá đơn thông thờng và hoá đơn thuế giá trị gia tăng) hoàn toàn thuộc vào biện pháp quản lý nghiệp vụ mang tính chuyên môn.Nhng rõ ràng,với việc phủ nhận hoàn toàn số thuế đã nộp ở khâu trớc do chỉ có hoá đơn thông thờng là một cách giải quyết không thoả đáng,dẫu phân tích từ lý do gì.Do đó đã phát sinh trên thực tế tình trạng thu trùng lắp,trái với tính u việt cơ bản vốn có của thuế giá trị gia tăng.Một chuyên gia nớc ngoài đã nhận định:”Điều đặc biệt nhất về thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam là việc sử dụng hai phơng pháp tính thuế giá trị gia tăng,đó
là phơng pháp khấu trừ và phơng pháp tính trực tiếp, Các mẫu khai thuế dành cho doanh nghiệp Việt Nam phức tạp hơn và khả năng sai sót cũng trở nên lớn hơn” (Báo Đầu t số 35/2002)
Cũng nh thuế xuất khẩu,nhập khẩu,thủ tục kê khai nộp thuế giá trị gia tăng
thực hiện chế độ cơ sở kinh doanh tự kê khai,cơ quan thuế ra thông báo nộp thuế,cơ sở nộp thuế theo thông báo của cơ quan thuế và thời hạn qui định
Miễn,giảm thuế giá trị gia tăng:Những năm đầu thực hiện thuế giá trị gia
tăng,nếu cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phơng pháp khấu trừ có số thuế giá trị
Trang 29gia tăng phải nộp lớn hơn số thuế tính theo mức thuế doanh thu trớc đây mà bị
lỗ thì đợc giảm thuế giá trị gia tăng phải nộp tối đa bằng số lỗ.Thời gian giảm thuế tối đa là 3 năm
Thuế giá trị gia tăng là thuế đánh vào tiêu dùng.Tại mỗi khâu của quá trình sản xuất,khoản thuế phải nộp đợc chuyển sang khâu tiếp theo cho đến ngời tiêu dùng cuối cùng.Nh vậy nó không ảnh hởng tới quyết định sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Tuy nhiên,điều này chỉ thực sự có hiệu quả nếu nh các hoạt
động kinh tế nằm trong một qui trình liên tục.Trong trờng hợp các hoạt động này bị ngắt đoạn,tức là có các trờng hợp không thuộc phạm vi điều chỉnh của thuế giá trị gia tăng thì u điểm không đánh trùng lắp không còn ý nghĩa nữa.Trên thực tế,các đối tợng hàng hoá và dịch vụ đợc miễn thuế không hoàn toàn thoát khỏi phạm vi điều chỉnh của hệ thống thuế giá trị gia tăng bởi vì các doanh nghiệp kinh doanh các loại hàng hoá,dịch vụ này tuy không phải kê khai nộp thuế đầu ra song cũng không đợc kê khai khấu trừ thuế giá trị gia tăng đã trả cho phần nguyên liệu mua vào.Hơn nữa,cơ chế miễn thuế này sẽ khiến cho việc dự đoán những tác động của thuế đối với hoạt động của doanh nghiệp trở nên khó khăn hơn.Nh vậy,các trờng hợp miễn thuế chỉ nên giới hạn trong một
số ít trờng hợp.Điều này sẽ góp phần quan trọng trong việc đơn giản hoá công tác quản lý thuế
Hoàn thuế:áp dụng hoàn thuế cho trờng hợp xuất khẩu hàng hoá,trờng hợp
có thuế giá trị gia tăng đầu vào lớn hơn thuế giá trị gia tăng đầu ra liên tục trong
3 tháng (kể cả thuế giá trị gia tăng của tài sản cố định).Tổ chức ở Việt Nam sử dụng tiền viện trợ nhân đạo,viện trợ không hoàn lại của tổ chức,cá nhân nớc ngoài mua hàng hoá tại Việt Nam để viện trợ,đối tợng đợc hởng u đãi miễn trừ ngoại giao theo qui định của pháp lệnh về u đãi miễn trừ ngoại giao mua hàng hoá,dịch vụ tại Việt Nam để sử dụng đợc hoàn lại số thuế giá trị gia tăng đã trả ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng
Thuế giá trị gia tăng đợc hoàn lại khi xuất khẩu tạo điều kiện cho hàng hoá
có thể cạnh tranh thuận lợi trên thị trờng quốc tế.Thuế giá trị gia tăng không
Trang 30đánh vào đầu t.Số thuế giá trị gia tăng phải trả khi mua tài sản cố định để đầu t
sẽ đợc khấu trừ hoặc hoàn lại cho doanh nghiệp.Điều đó có tác dụng thúc đẩy việc đầu t,mở rộng việc sản xuất,đổi mới công nghệ
Tuy nhiên qui định về cơ chế trong hoàn thuế giá trị gia tăng hàng xuất khẩu vẫn còn có những kẽ hở.Theo điều 21 Nghị định 79/2000/NĐ_CP của Chính phủ thì:”Tổng cục Hải quan tổ chức thu thuế giá trị gia tăng đối với hàng hoá nhập khẩu và phối hợp với Tổng cục thuế trong việc quản lý thu thuế giá trị gia tăng trong cả nớc”.Nh vậy,Hải quan là cơ quan có chức năng quản lý thu thuế giá trị gia tăng đầu vào với hàng hoá nhập khẩu và quản lý kiểm tra hàng xuất khẩu để xác nhận số thực xuất để cơ quan thuế làm căn cứ hoàn thuế
Theo Luật thuế giá trị gia tăng,đối với hàng nhập khẩu thuế giá trị gia tăng thu theo từng lần nhập khẩu nhng thực hiện phơng thức khấu trừ thì cơ quan thuế căn cứ quyết toán định kỳ (tháng,quý) tổng hợp số thuế giá trị gia tăng đầu ra,số thuế giá trị gia tăng đầu vào,bao gồm cả thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu (không phân biệt hàng hoá nhập khẩu đã tiêu thụ hay còn tồn kho),nếu chênh lệch dơng (+) sẽ thu bổ sung,nếu chênh lệch âm (-) sẽ hoàn thuế cho từng doanh nghiệp.Đối với hàng xuất khẩu,thuế giá trị gia tăng có thuế suất 0%,đợc hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào do cơ quan thuế kiểm tra xác định dựa vào xác nhận của Hải quan số thực xuất ghi trên tờ khai.Qui định nh trên đã tạo nên
“kẽ hở” trong cơ chế hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hoá xuất nhập khẩu
Cụ thể là,việc thu thuế và hoàn thuế bị tách rời,do hai cơ quan đảm nhiệm,nên việc quản lý đối tợng xuất nhập khẩu từ khâu thu đến khâu hoàn không theo một chu trình khép kín.Điều đó đã tạo ra những khó khăn trong việc theo dõi,kiểm tra,quản lý đối tợng.Hải quan quản lý đối tợng xuất nhập khẩu,thu thuế thì không có trách nhiệm hoàn thuế,cơ quan thuế không trực tiếp quản lý thu thuế đối tợng xuất nhập khẩu lại có trách nhiệm hoàn thuế
Nh vậy,nếu doanh nghiệp có hành vi gian lận trong hoàn thuế thì việc kiểm tra phát hiện sẽ rất khó khăn vì mỗi cơ quan chỉ quản lý một khâu,lại tách rời nhau trong quản lý đối tợng và sự phối hợp giữa hai cơ quan này còn cha chặt
Trang 31chẽ.Theo điểm 1.b,mục I,phần D thông t số 122/2000/TT_BTC,cơ sở kinh doanh thuộc đối tợng nộp thuế theo phơng pháp khấu trừ thuế trong tháng có hàng hoá xuất khẩu nếu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào cha đợc khấu trừ từ
200 triệu đồng trở lên thì đợc xét hoàn thuế theo tháng,hoặc chuyến hàng (nếu xác định đợc thuế giá trị gia tăng đầu vào riêng của chuyến hàng).Qui định này cha rõ ràng và cũng cha có hớng dẫn cụ thể cho trờng hợp này,gây nên nhiều quan điểm khác nhau trong quá trình xem xét hoàn thuế giá trị gia tăng cho các cơ sở sản xuất kinh doanh nh:
Trong trờng hợp một doanh nghiệp hoạt động vừa kinh doanh tiêu thụ hàng hoá trong nớc,vừa có hoạt động xuất khẩu thì doanh nghiệp đó cũng chỉ đợc hoàn thuế theo tháng hoặc chuyến hàng đối với số thuế giá trị gia tăng thuộc phần giá trị hàng hoá xuất khẩu
Trong trờng hợp một doanh nghiệp hoạt động vừa kinh doanh tiêu thụ hàng hoá trong nớc,vừa có hoạt động xuất khẩu nếu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào cha đợc khấu trừ hết có giá trị từ 200 triệu đồng trở lên thì đợc xét hoàn thuế giá trị gia tăng theo tháng,không phân biệt thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá bán nội địa hay xuất khẩu
Trong tháng cơ sở kinh doanh vừa phát sinh doanh thu tiêu thụ nội địa và doanh thu xuất khẩu,nếu số thuế giá trị gia tăng đầu vào cha đợc khấu trừ tơng ứng với doanh số xuất khẩu từ 200 triệu đồng trở lên thì đợc xét hoàn thuế giá trị gia tăng theo tháng.Số thuế giá trị gia tăng đợc hoàn là tổng số thuế cha đợc khấu trừ trong tháng
Những quan điểm khác nhau nêu trên sẽ dẫn đến việc xem xét hoàn thuế giá trị gia tăng cho các doanh nghiệp ở các địa phơng không đồng nhất.Để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển,đẩy mạnh công tác tìm kiếm thị trờng xuất khẩu,chính sách thuế giá trị gia tăng cần qui định trờng hợp trong tháng một doanh nghiệp hoạt động vừa kinh doanh tiêu thụ hàng hoá trong n-ớc,vừa có hoạt động xuất khẩu nếu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào đợc khấu trừ hết có giá trị từ 200 triệu đồng trở lên thì đợc xét hoàn thuế giá trị gia tăng
Trang 32theo tháng,không phân biệt thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá bán nội
địa hay xuất khẩu
III_Những vấn đề cơ bản về thuế tiêu thụ đặc biệt:
Luật thuế tiêu thụ đặc biệt ra đời ngày 30/6/1990,đến nay đã đợc sửa đổi,bổ sung 3 lần (lần 1 vào ngày 5/7/1993,lần 2 vào ngày 28/10/1995 và gần đây nhất
là ngày 20/5/1998)
1_Khái niệm về thuế tiêu thụ đặc biệt:
Thuế tiêu thụ đặc biệt là một loại thuế gián thu đánh vào một số hàng hoá,dịch vụ cha thật cần thiết đối với nhu cầu thiết yếu của nhân dân,hoặc cần tiết kiệm,hớng dẫn tiêu dùng một cách hợp lý
2_Nội dung cơ bản của thuế tiêu thụ đặc biệt:
Thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào một số mặt hàng cha thật cần thiết đến đời sống,mặt hàng xa xỉ nhằm góp phần điều tiết hớng dẫn sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm này,tạo nguồn thu lớn cho Ngân sách Nhà nớc.Luật thuế tiêu thụ
đặc biệt còn thể hiện chính sách xã hội khuyến khích đầu t đổi mới công nghệ thông qua qui định miễn giảm thuế
Nội dung cơ bản của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt:
Đối tợng chịu thuế bao gồm 8 mặt hàng:thuốc lá điếu,rợu,bia,ô tô dới 24 chỗ
ngồi,xăng,điều hoà nhiệt độ có công suất từ 90.000 BTU trở xuống,vàng mã và các hoạt động kinh doanh dịch vụ nh:vũ trờng,mát xa,karaoke,kinh doanh casino,kinh doanh vé đặt cợc đua xe,đua ngựa,kinh doanh gôn (golf).Thuế tiêu thụ đặc biệt áp dụng thống nhất đối với hàng hoá nhập khẩu và hàng sản xuất trong nớc
Việc mở rộng đối tợng chịu thuế đã khắc phục đợc nhợc điểm của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt trớc đây là diện chịu thuế rất hẹp,còn bỏ sót nhiều hoạt
động,dịch vụ mang tính cao cấp,xa xỉ (trớc chỉ đánh vào 4 loại mặt hàng là:thuốc lá điếu,bia,rợu,pháo).Thuế tiêu thụ đặc biệt đã phát huy tác dụng điều
Trang 33tiết thu nhập,khuyến khích tiết kiệm tiêu dùng,hớng dẫn sản xuất đối với các mặt hàng,dịch vụ mang tính chất cao cấp,xa xỉ
Ngoài ra,hàng hoá do các cơ sở sản xuất,gia công trực tiếp xuất khẩu ra nớc ngoài (hàng hoá bán,gia công cho khu chế xuất,hàng mang ra nớc ngoài để dự hội chợ,triển lãm,hàng hoá do cơ sở sản xuất bán hoặc uỷ thác cho cơ sở kinh doanh xuất khẩu để xuất khẩu theo hợp đồng kinh tế,hàng tạm nhập khẩu để tái xuất khẩu trong thời gian cha phải nộp thuế nhập khẩu) không phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt.Hàng tạm nhập khẩu đã nộp thuế tiêu thụ đặc biệt khi tái xuất
khẩu đợc hoàn lại số thuế tiêu thụ đặc biệt tơng ứng với số hàng tái xuất khẩu,hoàn thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nguyên vật liệu để sản xuất gia công hàng xuất khẩu.Nh vậy,chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt đã u đãi đối với hoạt
động xuất khẩu
Đối tợng nộp thuế bao gồm:
Tổ chức,cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế,đoàn thể xã hội có nhập khẩu hay sản xuất các mặt hàng thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam có nhập khẩu hay sản xuất các mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
Trờng hợp nhập khẩu uỷ thác thì các tổ chức nhận uỷ thác là đối tợng nộp thuế tiêu thụ đặc biệt
Căn cứ tính thuế dựa vào số lợng hàng hoá (doanh thu đối với dịch vụ),giá
tính thuế và thuế suất
Số thuế tiêu thụ đặc biệt đợc tính bằng công thức:
Thuế TTĐB phải nộp = Số lợng hàng hoá tiêu thụ hay nhập khẩu x Giá tính thuế đơn vị x Thuế suất (%)
Trong đó:
Trang 34Số lợng hàng hoá tiêu thụ là số lợng hay trọng lợng hàng hoá đợc sản xuất ra
và xuất bán,trao đổi,biếu tặng,xuất phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội bộ,xuất trả hàng gia công hay xuất cho các cửa hàng,chi nhánh thuộc đơn vị
Số lợng hàng hoá nhập khẩu là số lợng hay trọng lợng hàng hoá nhập khẩu
qua cửa khẩu biên giới Việt Nam theo giấy phép nhập khẩu và tờ khai hàng nhập khẩu có thanh khoản của Hải quan
Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt của mặt hàng sản xuất trong nớc thuộc diện
chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán tại nơi sản xuất cha có thuế tiêu thụ đặc biệt
Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt của mặt hàng nhập khẩu thuộc diện chịu thuế
tiêu thụ đặc biệt đợc xác định bằng:
Giá tính thuế TTĐB = Giá tính thuế NK +thuế nhập khẩu
Đối với các trờng hợp hàng hoá nhập khẩu đợc miễn giảm thuế nhập khẩu thì giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đợc tính đầy đủ theo nguyên tắc trên
Việc đa thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào hàng nhập khẩu là hợp lý,tạo môi ờng bình đẳng giữa hàng hoá sản xuất trong nớc và sản xuất ở nớc ngoài,là một nguồn tăng thu thuế tiêu thụ đặc biệt trong cơ cấu nguồn thu của Ngân sách và bảo hộ thích đáng hàng sản xuất trong nớc.Thuế tiêu thụ đặc biệt kết hợp với thuế nhập khẩu làm tăng giá vốn hàng nhập khẩu nh vậy góp phần quản lý nhập khẩu
Trang 35tr-Thuế suất hiện đã giảm so với trớc,tuy nhiên vẫn cha thật hợp lý:Một số mặt
hàng thuế suất còn quá cao (ô tô từ 5 chỗ ngồi trở xuống:thuế suất 100%);Chứa
đựng tính không công bằng và cha bình đẳng giữa các đối tợng nộp thuế (thuốc lá điếu có đầu lọc sản xuất bằng nguyên liệu nhập khẩu:thuế suất 70%,còn sản xuất bằng nguyên liệu trong nớc:thuế suất 52%),
Thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào những mặt hàng không khuyến khích tiêu dùng,bảo vệ môi trờng và đảm bảo tính công bằng.Song hiệu quả còn ít do đời sống nâng cao nên nhu cầu về những hàng hoá đó vẫn tăng
Miễn giảm thuế cho một số doanh nghiệp bớc đầu hoạt động hoặc bị thua lỗ
mà đã nộp đủ thuế (VD:doanh nghiệp sản xuất bia có qui mô nhỏ;cơ sở sản xuất,lắp ráp ô tô, )
Việc sử dụng công cụ thuế nói chung và thuế tiêu thụ đặc biệt nói riêng do phục vụ quá nhiều các chính sách xã hội nên làm mất tính trung lập của thuế.Mặt khác việc qui định miễn giảm thuế đó đã vi phạm qui định về đối xử quốc gia của WTO
Trong thực tế,việc quản lý thuế theo hoá đơn còn dẫn đến tình trạng một hoá
đơn có thể quay vòng đợc 2,3 lần,đợc dùng để vận chuyển hàng trốn thuế (hàng lậu).Vì vậy,cần phải quản lý thuế tiêu thụ đặc biệt qua giấy chuyển vận,biên lai
đặc thù có theo dõi đờng đi,phơng tiện vận chuyển
Nh vậy,với một hệ thống thuế phức tạp,nhiều loại thuế,nhiều mức thuế,thuế suất quá cao,các qui định xét miễn giảm thuế rờm rà và thiếu tính ổn định trong các sắc thuế nh hiện nay đang tác động xấu tới các doanh nghiệp,đẩy các doanh nghiệp vào tình thế tìm cách móc ngoặc với nhau và với các cán bộ thuế để lẩn thuế,trốn thuế,gây những tác hại to lớn cho đời sống kinh tế cũng nh xã hội
Trang 361_Chính sách xuất khẩu của Nhà nớc:
Công cuộc đổi mới đợc triển khai từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đến
nay đã đa nớc ta từng bớc thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội.Việc đổi mới kinh tế-xã hội một cách toàn diện là vấn đề cơ bản xuyên suốt
hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nớc.Ngày nay,kinh tế đối ngoại có vai trò
đặc biệt trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nớc.Để hội nhập với cộng
đồng khu vực và thế giới,Việt Nam đã thực hiện chính sách đối ngoại đúng
Trang 37đắn,linh hoạt,mềm dẻo theo nguyên tắc độc lập,tự chủ,bình đẳng,cùng có lợi,cùng tồn tại hoà bình,nên đã thu hút đợc sự đồng tình ủng hộ của các n-ớc,các tổ chức quốc tế,mở rộng thị trờng thơng mại,đa dạng hoá,đa phơng hoá các quan hệ quốc tế,phá vỡ sự bao vây kinh tế,góp phần quan trọng trong việc xây dựng và phát triển kinh tế trong nớc.
Sự thành công của công cuộc đổi mới trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại có ý nghĩa quyết định đối với nhiệm vụ ổn định kinh tế-xã hội.Nhờ thành tựu của công cuộc đổi mới,trong đó có phần đóng góp tích cực của kinh tế đối ngoại,không những đã cải thiện đợc hình ảnh của Việt Nam trên trờng quốc tế,mà còn tạo cho Việt Nam một vị thế mới trong quan hệ kinh tế với các nớc trên cơ sở cùng có lợi,làm cho kinh tế Việt Nam không còn bị phụ thuộc vào một nớc duy nhất,một thị trờng duy nhất nh trớc đây
Xuất khẩu là hoạt động rất cơ bản của hoạt động kinh tế đối ngoại,là phơng tiện thúc đẩy phát triển kinh tế.Việc mở rộng xuất khẩu để tăng thu nhập ngoại
tệ cho tài chính và cho nhu cầu nhập khẩu cũng nh tạo cơ sở cho phát triển các hạ tầng là một mục tiêu quan trọng nhất của chính sách thơng mại.Nhà nớc đã
và đang thực hiện các biện pháp thúc đẩy các ngành kinh tế hớng theo xuất khẩu,khuyến khích khu vực t nhân mở rộng xuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm và tăng thu ngoại tệ cho đất nớc
Về tiềm năng,nớc ta có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế đối ngoại.Một số loại khoáng sản,nhất là dầu khí,đang thu hút sự chú ý của nhiều nớc trên thế giới và trong khu vực.Các sản phẩm của nền nông nghiệp nhiệt đới,của ngành nuôi trồng,đánh bắt thuỷ,hải sản và của một số ngành công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp có thể phát triển với quy mô lớn nhằm tạo thêm nguồn hàng xuất khẩu.Tài nguyên thiên nhiên kết hợp với nguồn nhân lực,kinh tế,kỹ thuật ở trong và ngoài nớc là nguồn lực quan trọng để thực hiện chiến lợc kinh tế đối ngoại
Việc mở rộng xuất khẩu và các hoạt động kinh tế đối ngoại khác trong thơng mại sẽ trở thành mũi nhọn thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội.Việc tăng nhanh
Trang 38xuất khẩu có tác dụng tích cực đến phát triển kinh tế thông qua việc đổi mới công nghệ,chuyển dịch cơ cấu kinh tế,nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam ở thị trờng nớc ngoài.Nhờ kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh đã góp phần tạo điều kiện nhập khẩu vật t,nguyên,nhiên liệu,hàng tiêu dùng thiết yếu phục vụ phát triển kinh tế và cải thiện dân sinh,góp phần chống lạm phát,bình
ổn giá cả
Các chính sách,chủ trơng và biện pháp quản lý xuất khẩu đều nhằm vào khuyến khích tối đa sự phát triển sản xuất,mở rộng lu thông,đẩy mạnh xuất khẩu.Cho phép các thành phần kinh tế tham gia hoạt động xuất khẩu.Tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu,hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu
Hớng đẩy mạnh xuất khẩu của nớc ta trong thời gian qua là:
Khai thác có hiệu quả tiềm năng về tài nguyên,thiên nhiên,sức lao động và
đất đai nhằm giảm chi phí sản xuất,giảm giá thành,nâng cao sự cạnh tranh trên thị trờng thế giới
Cải tiến cơ cấu xuất khẩu cho phù hợp với yêu cầu của thị trờng thế giới.Tăng xuất khẩu hàng chế biến,hàng công nghiệp,hạn chế xuất khẩu các sản phẩm thô.Xuất khẩu hàng chế biến là phơng pháp tốt nhất để đẩy mạnh xuất khẩu Việt Nam,tránh đợc tình trạng hàng nông,khoáng sản bị ép giá.Khi chúng ta giữ lại các nông,khoáng sản,tự chế biến lấy và với tiền lơng công nhân rẻ hơn thì sẽ làm ra đợc các hàng công nghiệp giá thấp hơn,tạo sức cạnh tranh cho các sản phẩm nội địa
Tạo ra mặt hàng chủ lực đi đôi với xây dựng thị trờng trọng điểm,đồng thời
mở rộng mặt hàng và tìm kiếm thị trờng mới
Các nhóm mặt hàng cần đợc chú ý mở rộng là các hàng nông sản đã qua chế biến nh:gạo,cà phê,cao su,chè,tơ tằm, Hình thành nên những mặt hàng xuất khẩu mới có tầm quan trọng trên thị trờng thế giới và khu vực nh:hàng điện tử,viễn thông,
Trang 39Nớc ta đang trên con đờng hội nhập vào cộng đồng thế giới.Cùng với việc duy trì các mối quan hệ mậu dịch với các bạn hàng truyền thống,phải mở rộng buôn bán sang các thị trờng mới nh đẩy mạnh xuất khẩu sang Mỹ và thị trờng Bắc Mỹ,Nhật,EU, mở rộng hơn nữa việc xuất đổi hàng với thị trờng Nga,các n-
đảm bảo an ninh quốc phòng Nhà nớc ban hành qui định về hàng cấm xuất khẩu,hàng xuất khẩu có điều kiện
Ngoài ra,Nhà nớc còn quản lý hoạt động xuất khẩu thông qua các thủ tục hành chính đối với hàng xuất khẩu.Về thủ tục thông quan Nhà nớc cải cách theo hớng đơn giản hoá thủ tục nhằm đẩy mạnh xuất khẩu và thực hiện các cam kết theo Hiệp định u đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT):tiến hành phân loại hàng hoá theo 3 luồng:luồng xanh,luồng đỏ,luồng vàng
Luồng xanh:cho các loại hàng xuất khẩu thông thờng,giản đơn.Loại hàng này
sẽ đợc giải quyết thông quan nhanh
Luồng vàng:cho các loại hàng có một số vớng mắc nhng ở cửa khẩu có thể giải quyết đợc
Luồng đỏ:cho các loại hàng hoá có những vớng mắc về chính sách,cần sự chỉ
đạo của cấp trên
Mở rộng xuất khẩu không có nghĩa là xuất khẩu bất cứ giá nào,mà phải đảm bảo cho xuất khẩu có lãi,cũng không phải chỉ để thu về ngoại tệ mà còn phải
Trang 40kích thích sản xuất trong nớc,tạo nhiều việc làm,xuất khẩu phải gắn liền với sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên của đất nớc,thuế xuất,nhập khẩu,
2_Tác động của thuế xuất,nhập khẩu đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam:
2.1_Tác động của thuế xuất khẩu:
Thuế xuất khẩu là loại thuế gián thu.Tuy nhiên,không thể xuất khẩu thuế ra nớc ngoài vì nhà xuất khẩu khi bán hàng ra nớc ngoài không thể bán giá cao hơn giá quốc tế đợc
Trong điều kiện sản xuất ở Việt Nam,với công nghệ còn lạc hậu 2-3 thập kỷ
so với các nớc trong khu vực,năng suất lao động còn thấp,chất lợng cha cao nên khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu của Việt Nam không cao.Để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu,ngoài yếu tố về chất lợng thì giá cả là một yếu tố quyết định.Khi qui định mức thuế suất cao hay thấp có ảnh hởng rất lớn
đến giá cả.Nếu chuyển toàn bộ số thuế xuất khẩu phải nộp vào giá thành của hàng hoá thì sẽ làm tăng giá xuất khẩu,dẫn đến xuất khẩu giảm
Nếu muốn xuất khẩu đợc thì giá xuất khẩu giảm,bên cạnh đó,doanh nghiệp xuất khẩu phải chịu thuế xuất khẩu,dẫn đến giảm lợi nhuận và xuất khẩu giảm.Vì vậy,thuế xuất khẩu cao hay thấp có ảnh hởng trực tiếp và ngay lập tức đến hoạt động xuất khẩu
Thuế xuất khẩu thờng thấp,chủ yếu là 0%,chỉ đánh thuế đối với một số mặt hàng là nguyên vật liệu,sản phẩm thô, Do đó khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu những mặt hàng này vì lẽ giá vốn hàng xuất khẩu giảm,doanh nghiệp
có khả năng cạnh tranh về giá trên thơng trờng khu vực và quốc tế.Tuy nhiên,thuế xuất khẩu cao nhất là 45%,đánh vào các hàng phế liệu,phế thải kim loại nhằm hạn chế xuất khẩu
2.2_Tác động của thuế nhập khẩu đến hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu: