1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy chế pháp lý về giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa và thực tiễn áp dụng ở việt nam

104 987 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy chế pháp lý về giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa và thực tiễn áp dụng ở việt nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Luật Thương Mại
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 547,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung CEPT” ban hành kèmtheo Quyết định số 416/TM - ĐB ngày 13 tháng 5 năm 1996 của Bộ trưởngBộ Thương Mại thì C/O mẫu D được định nghĩa là:

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Thực hiện đường lối đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ kinh tếđối ngoại, Việt Nam đã và đang dần dần hội nhập vào nền kinh tế khu vực vàthế giới Chủ động hội nhập, Việt Nam đã trở thành thành viên đầy đủ củaASEAN (1995), thành viên của ASEM (1996) và thành viên của APEC(1998) Quá trình hội nhập đó đòi hỏi việc xây dựng và áp dụng chính sáchphải tính đến pháp luật và thực tiễn quốc tế Đối với lĩnh vực thương mại, cácquy chế, các nguyên tắc cơ bản của thương mại quốc tế dang dần dần đượcnghiên cứu và áp dụng tại Việt Nam trong đó quy chế về Giấy chứng nhậnxuất xứ đang là một trong những vấn đề quan trọng mà nhiều doanh nghiệpViệt Nam quan tâm

Như chúng ta đã biết tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế đã và đangđặt ra cho Việt Nam nhiều thời cơ mới và nhiều thách thức khó khăn Tháchthức không chỉ ở việc Việt Nam đi lên từ xuất phát điểm thấp, năng lực cạnhtranh của cả nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng còn yếu, cơcấu kinh tế, cơ cấu đầu tư còn nhiều bất hợp lý, chưa huy động được hiệu quảmọi nguồn lực phát triển, trình độ quản lý còn nhiều bất cập mà còn ở chỗpháp luật thương mại quốc tế với những chế định pháp lý phức tạp còn nhiềumới mẻ đối với Việt Nam Cùng với những thách thức, Việt Nam cũng cónhiều thời cơ mới Đó là cơ hội mở rộng thị trường, cơ hội thu hút vốn đầu tưnước ngoài, cơ hội được đảm bảo ổn định trong tiếp cận thị trường, cơ hộiđược hưởng ưu đãi từ bên ngoài, hay cơ hội tiếp cận công nghệ mới và thuhẹp khoảng cách phát triển…Trước những thời cơ mới và thách thức mới,Việt Nam đang phải lựa chọn chiến lược phát triển phù hợp, mà về cơ bản làthực hiện chiến lược công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước với những tiêuthức phù hợp với thời đại Theo đó, tiến trình đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuấtkhẩu là hướng ưu tiên, là trọng điểm của kinh tế đối ngoại, và tạo thêm các

Trang 2

thành công chiến lược trên Tuy nhiên, để tạo thêm các mặt hàng chủ lực haynâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa có xuất xứ Việt Nam trên thị trư-ờng quốc tế, Việt Nam cần tranh thủ những ưu đãi từ bên ngoài dành chohàng hóa có xuất xứ Việt Nam Và một trong những chứng từ quan trọngmang lại lợi thế cho hàng hóa có xuất xứ Việt Nam là Giấy chứng nhận xuất

xứ hàng hóa

Mặc dù ra đời và được sử dụng từ rất lâu, nhưng phải đến khi Nhà ước có chính sách mở cửa nền kinh tế, Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóamới thực sự được quan tâm một cách thỏa đáng Có thể coi Giấy chứng nhậnxuất xứ là một trong những chứng từ quan trọng, một tấm giấy thông hành đểđẩy nhanh tiến trình hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thếgiới

n-Tuy nhiên, tận dụng được hết những lợi thế của Giấy chứng nhận xuất

xứ hàng hóa không phải là một vấn đề đơn giản Hiện nay, trên thế giới, mỗiquốc gia, mỗi hệ thống kinh tế áp dụng một chế độ xuất xứ khác nhau Mỗichế độ xuất xứ này lại có những quy định khác nhau về tiêu chuẩn xuất xứ,

về bằng chứng, chứng từ Điều này đòi hỏi các nhà xuất khẩu phải nghiêncứu và tuân thủ đầy đủ, chính xác các quy định về xuất xứ và Giấy chứngnhận xuất xứ hàng hóa

Xuất phát từ thực trạng trên, nhằm giúp các doanh nghiệp Việt Nam cócách nhìn đúng hơn trong việc áp dụng các quy tắc xuất xứ theo một số Hiệpđịnh quốc tế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu và vấn đề sử dụng Giấy chứng

nhận xuất xứ hàng hóa, em đã chọn đề tài: “Quy chế pháp lý về Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam” cho luận văn tốt

nghiệp của mình

Bằng phương pháp khảo sát từ thực tế, phương pháp tổng hợp và phântích quy tắc xuất xứ của một số Hiệp định quốc tế có ảnh hưởng tới Việt

Trang 3

Nam, đề tài này cũng đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc cấp Giấychứng nhận xuất xứ hàng hóa ở Việt Nam.

Khoá luận gồm lời nói đầu và 3 chương:

Chương 1: Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa và các điều ước quốc

tế nên không thể tránh được những thiếu sót và hạn chế Em rất mong nhậnđược sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để luận văn tốt nghiệp của

em được hoàn thiện hơn

Qua đây, em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo NguyễnXuân Nữ - Bộ môn Kinh tế Ngoại thương và các cán bộ trong Bộ Thươngmại tại Hà Nội đã chỉ bảo và hướng dẫn nhiệt tình để em hoàn thành khoáluận tốt nghiệp này

Hà Nội, ngày 12/12/2003

Sinh viên thực hiện

Mai Quỳnh Phương

Trang 4

CHƯƠNG I

GIẤY CHỨNG NHẬN XUẤT XỨ HÀNG HOÁ VÀ NHỮNG

ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ XÁC ĐỊNH XUẤT XỨ HÀNG HOÁ.

I Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá.

1 í nghĩa của việc xác định xuất xứ hàng hoá.

Xuất xứ (Origin) của hàng hoá được hiểu là nơi sản xuất, khai thác,chế biến ra hàng hoá đó Việc xác định xuất xứ hàng hoá xuất nhập khẩu giữvai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế

Thứ nhất, xuất xứ hàng hoá là một trong những chỉ tiêu quan trọng

đánh giá chất lượng hàng hoá, nhất là những sản phẩm thô và đặc sản Xuất

xứ hàng hoá giúp chúng ta hình dung được nguồn gốc, quê hương, nơi sảnxuất của hàng hoá, từ đó chúng ta có thể nhìn nhận hay đánh giá qua đượcchất lượng của hàng hoá đó Điều này đã được chứng thực ở nhiều quốc gia,chẳng hạn nói đến Pháp người ta nghĩ ngay đến đất nước của rượu vang đỏđược chiết xuất từ những cánh đồng nho bạt ngàn, hay nói đến Braxin người

ta nghĩ ngay đến quê hương của cà phê với chất lượng nổi tiếng thế giới.Như vậy có thể coi việc xác định xuất xứ hàng hoá là một trong những chỉtiêu quan trọng đánh giá chất lượng hàng hoá

Thứ hai, xuất xứ hàng hoá có liên quan đến việc tính thuế quan nhập

khẩu, cụ thể là đến việc vận dụng mức thuế (thuế ưu đãi, hoặc thuế bìnhthường hay thuế trả đũa), đến những thủ tục hải quan (nếu hàng từ nước anh

em đến thủ tục có thể đơn giản, nếu hàng từ nước thù địch đến có thể bị

Trang 5

Chính sách thương mại của các quốc gia và thoả thuận thương mại khuvực đôi khi có sự phân biệt Việc xác định được xuất xứ hàng hoá giúp cóthể phân biệt được đâu là hàng nhập khẩu được hưởng ưu đãi để áp dụng chế

độ ưu đãi theo các thoả thuận thương mại đặc biệt và đâu là hàng khôngđược hưởng ưu đãi Ví dụ khi nói tới một mặt hàng có xuất xứ từ nước Anào đấy, nước nhập khẩu có thể xác định ngay thái độ cụ thể đối với hànghoá nhập khẩu đó, có thể thủ tục rất đơn giản hoặc có thể bị kiểm tra giámsát rất phức tạp Điều này cũng liên quan trực tiếp đến việc xác định thuếquan nhập khẩu và việc vận dụng các mức thuế khác nhau đối với nước xuấtkhẩu đó Nếu nước A được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan từ nước nhậpkhẩu đối với các mặt hàng xuất khẩu theo những hiệp định ưu đãi thì nướcnhập khẩu phải đảm bảo áp dụng thuế suất thấp hơn hoặc ưu đãi đối với sảnphẩm có xuất xứ từ nước xuất khẩu A

Thứ ba, xác định xuất xứ hàng hoá còn có tác dụng trong việc thực

hiện chính sách thương mại của một nước hay một khối nước dành cho nướchay khối nước cụ thể nào khác Chẳng hạn, trên cơ sở kết quả thống kê vềhàng hoá có chứng nhận xuất xứ được hưởng ưu đãi, liên minh Châu Âu(EU) có thể xác định được mức độ phát triển kinh tế chung và kinh tế từngngành hàng của các nước ưu đãi Từ đó EU sẽ áp dụng chính sách nướctrưởng thành và hàng trưởng thành đối với một số nước có tốc độ phát triểnkhá cao theo quyết định đề nghị của Uỷ ban Châu Âu về việc sửa đổi chế độ

ưu đãi thuế quan mới đối với một số nước đang phát triển và có hiệu lực thihành từ 01/01/1995 đến 31/12/1997 Theo quyết định đề nghị này, các mức

ưu đãi sẽ được chuyển dần từ các nước đang phát triển giàu có sang cácnước kém phát triển hơn Thực tế là các nước Bruney, Hồng Kông, HànQuốc, Singapore…từ 01/01/1997 không còn trong danh sách các nước đượchưởng ưu đãi GSP của EU do mức độ phát triển kinh tế của các nước nàyđược EU xếp vào loại tương đối cao

Trang 6

Thứ tư, xác định xuất xứ hàng hoá là yếu tố cần thiết cho việc thu thập

số liệu thống kê thương mại Xác định xuất xứ khiến cho việc biên soạn các

số liệu thống kê thương mại hàng năm được tiến hành dễ dàng hơn

Như vậy, việc xác định xuất xứ hàng hoá là chỉ tiêu quan trọng choviệc đánh giá chất lượng, là công cụ để thực hiện chính sách thương mạitrong quan hệ song phương và đa phương của các quốc gia Trong điều kiệnhiện nay, khi việc gia nhập các liên kết kinh tế - thương mại khu vực và thếgiới trở thành một xu thế, một nhu cầu bức thiết nhằm duy trì và đẩy mạnhquan hệ thương mại, thì việc xác định xuất xứ hàng hoá càng có ý nghĩaquan trọng

2 Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá (Certificate of origin - C/O)

2.1.Khái niệm Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá.

Nhiều hiệp định quốc tế, nhiều văn bản pháp luật của các quốc gia đãđưa ra khái niệm về C/O, nhưng hiện nay vẫn chưa thể đi đến một quy địnhthống nhất về C/O Điều này xuất phát từ thực tế là do C/O có nhiều mẫukhác nhau, mỗi mẫu lại có một quy định riêng Cơ quan cấp C/O cũng khôngthống nhất trên thế giới Do đó tuỳ theo mỗi loại C/O hay tuỳ theo quy địnhcủa từng quốc gia mà sẽ có khái niệm cụ thể khác nhau về C/O và để có mộtkhái niệm chung thống nhất về C/O là rất khó ở Việt Nam, khái niệm về C/

O được đưa ra tuỳ vào từng loại cụ thể Theo điểm 2, mục I, phần những quyđịnh chung của Thông tư liên tịch của Bộ Thương Mại và Tổng cục Hải

Quan số 09/2000/TTLT - BTM - TCHQ ngày 17/04/2000: “Giấy chứng nhận

xuất xứ hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu (Certificate of origin, dưới đây gọi tắt là C/O) quy định tại Thông tư liên tịch này là chứng từ do cơ quan hay tổ chức có thẩm quyền cấp xác nhận xuất xứ của một lô hàng xuất khẩu hay nhập khẩu” Pháp luật Việt Nam cũng đưa ra một khái niệm để cụ thể hoá C/

O mẫu D Theo điều 1 Quy chế cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá

Trang 7

về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT)” (ban hành kèmtheo Quyết định số 416/TM - ĐB ngày 13 tháng 5 năm 1996 của Bộ trưởng

Bộ Thương Mại) thì C/O mẫu D được định nghĩa là: “Giấy chứng nhận xuất

xứ hàng hoá ASEAN của Việt Nam - Mẫu D (sau đây gọi tắt là giấy chứng nhận Mẫu D) là giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá do Phòng Quản lý Xuất nhập khẩu khu vực của Bộ Thương mại cấp cho hàng hoá của Việt Nam để được hưởng các ưu đãi theo “Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) để thành lập khu vực Thương mại tự do ASEAN (AFTA)” (dưới đây gọi tắt là hiệp định CEPT)”” Hiệp định CEPT là Hiệp

định quốc tế giữa các nước thành viên ASEAN mà Việt Nam đã ký kết thamgia tại Băng Cốc - Thái Lan ngày 15 tháng 12 năm 1995 và được thực hiện từngày 1 tháng 1 năm 1996

Như vậy, mặc dù khái niệm về C/O được cụ thể hoá theo từng mẫunhưng tựu chung lại ta có thể hiểu C/O là chứng từ do nhà sản xuất hoặc cơquan có thẩm quyền cấp để xác nhận nơi sản xuất hoặc nơi khai thác ra hànghoá Nội dung của C/O bao gồm tên và địa chỉ của người mua, tên và địa chỉcủa người bán, tên hàng, số lượng, ký mã hiệu, lời khai của chủ hàng về nơisản xuất hoặc khai thác hàng, xác nhận của cơ quan có thẩm quyền

Một bộ C/O thường bao gồm một bản gốc và các bản sao Bản gốcđược phân loại theo mầu, theo mẫu, được đóng dấu hay in chữ “Original”.Các bản sao cũng được phân loại theo cách tương tự, thường có mầu trắng vàđược phân biệt với bản gốc bằng cách đóng dấu “copy” Trong một số trườnghợp các bản sao được phân biệt bằng cách đóng dấu số thứ tự như duplicate,triplicate…hoặc cũng có thể có mầu khác nhau đã quy định từ trước

Cơ quan có thẩm quyền cấp C/O của nước người xuất khẩu phải là cơquan được nhà nước uỷ quyền cấp Tuỳ thuộc pháp luật từng nước, từng chế

độ khác nhau mà cơ quan có thẩm quyền cấp C/O được quy định khác nhau

Trang 8

Chẳng hạn cơ quan cấp C/O mẫu D của các nước ASEAN là không giốngnhau.

- Bruney: Bộ Công nghiệp và Tài nguyên cấp C/O mẫu D

- Indonesia: Bộ Thương mại cấp C/O mẫu D

- Malaysia: Bộ Ngoại thương và Công nghiệp cấp C/O mẫu D

- Lào: Vụ Ngoại thương, Bộ Thương mại cấp C/O mẫu D

- Mianma: Vụ Thương mại, Bộ Thương mại cấp C/O mẫu D

- Philippine: Cục phối hợp xuất khẩu - Cục Hải Quan cấp C/O mẫu D

- Singapore: Hội đồng phát triển thương mại cấp C/O mẫu D

- Thái Lan: Vụ ưu đãi thương mại, Bộ Thương mại cấp C/O mẫu D

ở Việt Nam, C/O mẫu D sang các nước ASEAN và C/O mẫu A cấpcho hàng giầy dép đi EU do Bộ Thương mại cấp Các mẫu khác do PhòngThương mại và Công nghiệp Việt Nam cấp (theo điểm 8, điều 6, Điều lệ (sửađổi) Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã được thủ tướng Chínhphủ phê chuẩn tại QĐ 315/TTg ngày 12/05/1997)

Luật điều chỉnh về C/O thường là luật quốc gia của nước nhập khẩu.Trong trường hợp quốc gia đó không có quy định riêng về C/O, nhưng cótham gia vào các tổ chức quốc tế có Hiệp định quốc tế quy định về C/O thìluật điều chỉnh là các Hiệp định quốc tế Cụ thể, Hiệp định về chương trình

ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) được ký kết giữa các quốc giathuộc ASEAN và Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) là những ví dụđiển hình Hiệp định CEPT có quy định cụ thể về C/O được áp dụng cho cácsản phẩm ASEAN là C/O mẫu D Do các nước thuộc ASEAN không có luậtriêng điều chỉnh về C/O nên khi tham gia Hiệp định CEPT, các nước nàyphải tuân thủ và cụ thể hoá các quy định về C/O của Hiệp định này để ápdụng cho quốc gia mình Hay với các nước tham gia vào Hệ thống ưu đãithuế quan phổ cập GSP thì có các quy định chung về C/O của các nước cho

Trang 9

vào hệ thống này với tư cách là nước được hưởng bắt buộc phải tuân theo cácquy định về C/O do các nước cho hưởng đề ra.

2.2 Nội dung cơ bản của giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá.

Tuỳ theo quy định của từng nước khác nhau, từng hệ thống quy chếkhác nhau mà C/O có nội dung khác nhau Nhìn chung tất cả các loại C/Ophải được khai bằng tiếng Anh và đánh máy Nội dung của C/O phải phù hợpvới quy định của hợp đồng hay thư tín dụng (L/C) và các chứng từ khác nhưvận đơn (B/L), hoá đơn thương mại…Nội dung của C/O bao gồm các vấn đềsau:

- Tên giao dịch của đơn vị xuất hàng + địa chỉ + tên nước

- Tên giao dịch của người nhận hàng + địa chỉ + tên nước (Xem quyđịnh của hợp đồng hay của L/C Một số trường hợp L/C quy định đánh chữ:

To Order hay to Order of…)

- Tên phương tiện vận tải sử dụng để vận chuyển hàng hoá (Nếu gửibằng máy bay đánh chữ By Air, nếu gửi bằng đường biển thì đánh tên tầu +

- Ký mã hiệu của hàng hoá (mã HS)

- Số lượng, trọng lượng hoặc trọng lượng cả bì của hàng hoá

- Lời khai của chủ hàng về tính xuất xứ của hàng hoá (nguồn gốc hoặcnơi khai thác hàng)

- Tiêu chuẩn xuất xứ của hàng hoá

- Thời hạn giao hàng

- Các thông tin khác

- Chữ ký và dấu của nhà xuất khẩu

Trang 10

- Xác nhận của Cơ quan Hải quan tại nơi xuất hàng.

- Xác nhận của Cơ quan Hải quan có thẩm quyền cấp C/O ở nước xuấtkhẩu

Các nội dung trên sẽ được hướng dẫn cách ghi theo thứ tự vào các ôcủa mỗi loại C/O tuỳ theo mẫu được cấp phép

2.3 Phân loại Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá.

Do sự đa dạng phong phú của các quan hệ kinh tế, các hệ thống chế

độ, chính sách mà ngày nay có nhiều loại C/O khác nhau Có thể phân loạigiấy C/O theo các mẫu in sẵn như sau:

- Mẫu A cấp cho hàng hoá xuất khẩu từ các nước được hưởng ưu đãitrong Hệ thống ưu đãi phổ cập (General System of Preferences - GSP) nhằmđáp ứng các yêu cầu về xuất xứ của các nước hưởng GSP (trừ Mỹ không yêucầu phải có)

- Mẫu B cấp cho mọi hàng hoá có xuất xứ từ nước mình, không nhằmmục đích ưu đãi gì ngoài việc xác định nơi sản xuất, chế biến hàng hoá

- Mẫu C cấp cho hàng hoá của một nước thành viên ASEAN xuất khẩusang một nước thành viên khác của ASEAN theo thoả thuận thương mại ưuđãi (Preferential Trading Arrangement - PTA)

- Mẫu D cấp cho hàng hoá có xuất xứ ASEAN để hưởng các ưu đãitheo Hiệp định thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (Commonly EffectivePreferential Tariff -CEPT) nhằm tiến tới thành lập khu vực mậu dịch tự doASEAN (AFTA)

- Mẫu T cấp cho sản phẩm dệt, may mặc được sản xuất tại nước mình,xuất khẩu sang các nước có ký kết hiệp định hàng dệt may với nước mình

- Mẫu giấy chứng nhận xuất xứ hàng dệt thủ công là mẫu cấp cho cácloại hàng dệt thủ công của nước mình xuất khẩu sang EU theo Nghị định thư

về hàng dệt may

Trang 11

- Mẫu O cấp cho cà phê xuất khẩu từ các nước thành viên của tổ chức

cà phê quốc tế (International Coffee Organization – ICO) sang các nước kháccũng là thành viên của ICO

- Mẫu X cấp cho cà phê xuất khẩu từ các nước thành viên của ICOsang các nước khác không phải là thành viên của ICO

Ngoài ra còn có một số loại mẫu đặc biệt khác theo quy định của nướcnhập khẩu, ví dụ: mẫu 39A của New Zealand, mẫu đặc thù của Mexico…

Phần lớn các mẫu này do tổ chức phi chính phủ, như Phòng Thươngmại cấp, riêng mẫu D phải do một Cơ quan Chính phủ cấp

3 Tác dụng của Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá.

C/O có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh xuất, nhập khẩu.Tầm quan trọng của C/O có thể được xem xét ở nhiều khía cạnh: tác dụng đốivới người xuất khẩu, với người nhập khẩu, với cơ quan nhà nước có thẩmquyền, thậm chí nó còn đóng vai trò quan trọng đối với cả nước xuất khẩu vànước nhập khẩu

3.1 Tác dụng của Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá đối với chủ hàng.

a Tác dụng của C/O đối với người xuất khẩu

- C/O nói lên phẩm chất của hàng hoá đảm bảo chất lượng hàng khixuất khẩu, đặc biệt là các hàng thổ sản mà tên của nó gắn liền với tên địaphương nơi sản xuất các sản phẩm nổi tiếng trên thế giới Trong hợp đồngmua bán ngoại thương, nếu đối tượng mua bán ghi trong hợp đồng được gắnvới tên và địa danh nơi sản xuất đã có tiếng tăm thì đã chứng minh đượcphẩm chất của hàng hoá đó

- C/O là bằng chứng, chứng từ để nước xuất khẩu chứng minh xuất xứcủa hàng được giao là phù hợp với thoả thuận trong hợp đồng

- C/O là căn cứ để tiến hành thông quan hàng hoá xuất khẩu Theo quychế của hải quan nếu có quy định về xuất trình C/O cho lô hàng xuất khẩu,

Trang 12

thì nó là một chứng từ không thể thiếu trong bộ chứng từ để hải quan thôngquan hàng hoá.

- C/O là một chứng từ thiết yếu trong bộ chứng từ thanh toán để đượcthanh toán tiền hàng khi sử dụng phương thức tín dụng chứng từ Khi hợpđồng mua bán ngoại thương quy định phương thức thanh toán bằng L/C thìngười xuất khẩu chỉ được nhận tiền thanh toán khi C/O được xuất trình cùngvới các chứng từ khác Nếu thiếu C/O thì bộ chứng từ coi như chưa đủ theoquy định của L/C và ngân hàng sẽ không chấp nhận thanh toán

- C/O trong chế độ ưu đãi phổ cập GSP là cơ sở để tăng khả năng cạnhtranh của hàng hoá và đàm phán tăng giá hàng hoá hoặc giá gia công của nhàxuất khẩu Các doanh nghiệp xuất khẩu ở những nước được hưởng ưu đãithường sử dụng C/O làm phương tiện cạnh tranh với các nước khác khôngđược hưởng ưu đãi cho cùng một loại mặt hàng có phẩm chất và giá cả tươngđương Tác dụng của C/O càng lớn hơn khi mặt hàng xuất khẩu thuộc danhmục hàng hoá được miễn thuế hoàn toàn, bởi khi đó nhà xuất khẩu có điềukiện để đàm phán nâng giá lên cao hơn

b Tác dụng của C/O đối với người nhập khẩu.

- C/O là căn cứ để làm thủ tục nhập khẩu Nếu thiếu C/O, Cơ quan Hảiquan nước nhập khẩu sẽ không làm thủ tục nhập khẩu cho lô hàng hoặc sẽtính thuế nhập khẩu ở mức cao nhất đối với hàng hoá mà trên thực tế hànghoá đó có thể được giảm thuế, thậm chí là miễn thuế

- C/O là cơ sở xác định xuất xứ phù hợp của sản phẩm cần nhập khẩu,

là cơ sở để nhà nhập khẩu chắc chắn rằng sản phẩm mà họ mua có xuất xứ từnước mà họ muốn Nước xuất xứ của sản phẩm có ý nghĩa quan trọng đối vớinhà nhập khẩu bởi nó liên quan trực tiếp đến mục đích mua hàng của nhànhập khẩu

- C/O là căn cứ để nhà nhập khẩu chứng minh không vi phạm những

Trang 13

sách thương mại với quốc gia khác như cấm vận, cấm nhập khẩu các hànghoá thuộc danh mục hàng hoá cấm nhập…thì C/O là một bằng chứng quantrọng đối với họ để thực hiện chính sách này Cụ thể quốc gia đó sẽ dựa vàoC/O để theo dõi và chứng minh hàng hoá nhập khẩu không có xuất xứ từnước bị cấm nhập khẩu hàng hoá

- C/O mẫu A là căn cứ để người nhập khẩu được hưởng mức thuế ưuđãi GSP, tức là giảm thuế nhập khẩu, giảm chi phí nhập khẩu, tăng lợi nhuậnkinh doanh Thông thường ở hầu hết các nước cho hưởng ưu đãi GSP, mứcthuế ưu đãi phổ biến đối với đa số sản phẩm được hưởng GSP là 50% so vớimức thuế MFN, cũng có những nước cho hưởng nhiều hơn hoặc ít hơn mức50% so với mức MFN Nếu quốc gia nào được hưởng ưu đãi GSP từ cácnước cho hưởng thì hiển nhiên hàng hoá của quốc gia được hưởng khi nhậpvào nước cho hưởng sẽ được giảm thuế nhập khẩu, từ đó có cơ hội tăng lợinhuận cho mình

3.2 Tác dụng của Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá đối với Cơ quan Hải quan.

a Tác dụng của C/O đối với Cơ quan Hải quan nước xuất khẩu.

Khi thủ tục thông quan hàng hoá có quy định phải dựa trên sự xuấttrình đầy đủ các chứng từ hàng hoá, trong đó có C/O, thì C/O là một căn cứquan trọng để Cơ quan Hải quan cho phép người xuất khẩu thông quan hànghoá C/O giúp Cơ quan Hải quan thuận tiện trong việc kiểm tra và xác địnhxuất xứ hàng hoá đang làm thủ tục hải quan xuất khẩu, đánh giá được khảnăng xuất khẩu thực tế hàng hoá có xuất xứ từ nước mình, xác định được tỷ

lệ hàng hoá quá cảnh

b Tác dụng của C/O đối với Cơ quan Hải quan nước nhập khẩu.

C/O giúp Cơ quan Hải quan nước nhập khẩu kiểm tra, quản lý đượchàng hoá nhập khẩu phù hợp với chính sách ngoại thương và quan hệ kinh tếđối ngoại của Chính phủ nước mình và Chính phủ nước xuất xứ hàng hoá C/

Trang 14

O còn giúp Cơ quan Hải quan ngăn chặn được kịp thời hàng hoá từ nhữngnước đang là đối tượng bị hạn chế và cấm nhập khẩu, xác định mức thuế ápdụng cho lô hàng nhập khẩu phù hợp với chế độ thuế quan hiện hành Trên

cơ sở thông tin về C/O cho phép Cơ quan Hải quan tiến hành công tác thống

kê ngoại thương, xác định nguồn nhập chủ yếu của từng mặt hàng để từ đó cóchế độ tính thuế nhằm bảo vệ sản xuất trong nước

3.3 Tác dụng của Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá trong việc phát triển kinh tế và quản lý chính sách ngoại thuơng đối với nước xuất khẩu

và nước nhập khẩu.

a Tác dụng của C/O đối với nước xuất khẩu.

C/O là bằng chứng để hưởng ưu đãi thuế quan nếu nước xuất khẩuđược hưởng ưu đãi C/O giúp các nước xuất khẩu tăng cường khả năng thâmnhập hàng hoá vào thị trường nước nhập khẩu, từ đó hàng hoá của nước xuấtkhẩu trở nên có sức cạnh tranh hơn so với hàng hoá cùng loại của nướckhông được hưởng ưu đãi (các điều kiện khác là như nhau), tăng lợi nhuậnxuất khẩu, tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế

b Tác dụng của C/O đối với nước nhập khẩu.

C/O là cơ sở quan trọng để cơ quan chức năng có liên quan thực hiệncông tác thống kê ngoại thương, nắm tình hình nhập khẩu hàng hoá, thựchiện hạn ngạch nhập khẩu sản phẩm có xuất xứ từ các nước được phân bổ,đánh giá tình hình chất lượng hàng hoá nhập khẩu từ các nước, thị trườngkhác nhau, xem xét sự tác động về mặt xã hội và vệ sinh môi trường củahàng hoá nhập khẩu Từ đó, nước nhập khẩu có biện pháp quản lý và xâydựng chính sách nhập khẩu, biểu thuế thích hợp, chính sách xử lý môi trường

để bảo vệ sức khoẻ, an ninh…và xác định tiêu chuẩn chất lượng cho hànghoá nhập khẩu từ các nước khác nhau C/O cấp cho hàng hoá được hưởng ưuđãi thuế quan là căn cứ để Chính phủ nước cho hưởng nắm được tình hình

Trang 15

đãi hoặc cắt giảm bằng những yêu cầu cao hơn về tiêu chuẩn để được cấp C/

O phù hợp hoặc tuyên bố cắt thẳng

II Các quy tắc xác định xuất xứ hàng hoá theo hiệp định quốc tế.

Quan hệ thương mại giữa các quốc gia trên thế giới càng phát triển thìcác quốc gia càng quan tâm đến xuất xứ hàng hoá để áp dụng các chế độ ưuđãi theo các thoả thuận thương mại đặc biệt Trên thế giới hiện nay có rấtnhiều Hiệp định quốc tế quy định hay đề cập đến quy tắc xác định xuất xứhàng hoá Các hiệp định quốc tế đó có thể là Hiệp định song phương hayHiệp định đa phương Ngoài ra trong từng khu vực kinh tế cũng có nhữngHiệp định riêng quy định về quy tắc xuất xứ Tuy nhiên trong phần này chỉ

đề cập đến hai Hiệp định quốc tế là Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập GSP,Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung CEPT Đây lànhững Hiệp định đang được nhiều doanh nghiệp Việt Nam quan tâm và ápdụng theo

1 Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT).

1.1 Khái quát về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung CEPT.

Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT)

là hiệp định quốc tế giữa các nước thành viên ASEAN về chương trình ưu đãithuế quan có hiệu lực chung để tiến tới thành lập khu vực mậu dịch tự doAESAN-AFTA (Asean free trade area), được ký tại Singapore ngày28/01/1992 giữa chính phủ các nước Bruney, Indonexia, Philippine,Singapore và Thái Lan nhằm tăng cường hợp tác trong lĩnh vực thương mại,thúc đẩy phát triển sản xuất và thương mại

Việt Nam sau khi trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN vào ngày28/07/1995, cũng đã ký Nghị định thư tham gia Hiệp định CEPT vào ngày

Trang 16

15/12/1995 và chính thức bắt đầu thực hiện Hiệp định này từ ngày01/01/1996.

Hiệp định CEPT là công cụ chính để thực hiện tự do mậu dịchASEAN-AFTA Mục tiêu chính của AFTA là nhằm tăng tính cạnh tranh củahàng hoá sản xuất tại ASEAN trên thị trường quốc tế Thông qua hiệp địnhCEPT, các nước thành viên trong ASEAN thoả thuận việc giảm thuế quanthương mại trong nội bộ ASEAN xuống từ 0 -5% đồng thời loại bỏ tất cả cáchạn chế về định lượng và các hàng rào phi thuế quan trong vòng 10 năm bắtđầu từ 1/1/2003 (2006 đối với Việt Nam, 2008 đối với Lào và Myanma) Nhưvậy công cụ chính để thực hiện AFTA là cắt giảm hàng rào thuế quan, việcloại bỏ các hàng rào thương mại nội bộ xuống còn 0 - 5% Tuy nhiên bêncạnh vấn đề cắt giảm thuế quan, việc loại bỏ các rào cản thương mại và việchợp tác trong lĩnh vực hải quan cũng đóng vai trò quan trọng và không thểtách rời khi xây dựng một khu vực mậu dịch tự do

Hiệp định CEPT được áp dụng với tất cả các sản phẩm chế tạo, kể cảsản phẩm cơ bản và sản phẩm nông sản, ngoại trừ các sản phẩm được cácnước đưa vào Danh mục loại trừ hoàn toàn theo Điều 9 của Hiệp định (TheoHiệp định CRPT ban đầu, sản phẩm nông sản chưa chế biến sẽ được loại trừ

ra khỏi Chương trình CEPT Tuy nhiên hiệp định CEPT sửa đổi năm 1994 đãquyết định đưa tất cả các sản phẩm nông sản chưa chế biến vào Chương trìnhCEPT)

Để triển khai xây dựng nhanh chóng khu vực mậu dịch tự do ASEAN,các nước thành viên bắt tay vào thực hiện chương trình CEPT Các nước này

đã đệ trình danh mục các sản phẩm CEPT trong cuộc họp Hội đồng AFTA 4

tổ chức tại Singapore ngày 06.10.1993 Danh mục các sản phẩm CEPT được

đệ trình bao gồm:

- Mô tả sản phẩm trên cơ sở mã Hệ thống Điều hoà HS

Trang 17

- Danh mục các sản phẩm cắt giảm thuế, Danh mục loại trừ hoàn toàn

và Danh mục các sản phẩm nông sản chưa chế biến

- Lịch trình giảm thuế theo chương trình giảm nhanh và giảm bìnhthường tới năm 2008

Theo danh mục đệ trình tại Hội nghị AFTA 4 có 41.147 mặt hàng chịuthuế (Tariff line) trong Danh mục cắt giẳm thuế, chiếm 88,37% tổng số mặthàng chịu thuế của các nước thành viên; 3.321 mặt hàng chịu thuế trongDanh mục loại trừ tạm thời, chiếm 6,85%; 476 mặt hàng chịu thuế trongDanh mục loại trừ hoàn toàn và 1.675 mặt hàng chịu thuế trong danh mụchàng nông sản của các nước và tỷ trọng của lượng các mặt hàng chịu thuếtrong từng danh mục của các nước và tỷ trọng từng danh mục với tổng số cácmặt hàng chịu thuế được đề cập tại bảng sau

Trang 18

Bảng 1: Danh mục giảm thuế của các nước ASEAN.

Mặt hàng chịu thuế

- Brunei Đarussalam: 1.408 nhóm mặt hàng (HS - 6 chữ số)

- Indonexia: 2.001 mặt hàng chịu thuế (HS - 9 chữ số)

- Malaixia: 3.776 mặt hàng chịu thuế (HS - 9 chữ số)

- Philippin: 1.052 mặt hàng chịu thuế (HS - 8 chữ số)

- Singapo: 373 mặt hàng chịu thuế (HS - 6 chữ số)

- Thái Lan: 1.327 nhóm mặt hàng (HS - 6 chữ số)

Chương trình cắt giảm thuế nhanh được thiết lập nhằm cắt giảm thuếnhanh chóng cho 15 mặt hàng thuộc 34 chương trong bảng HS đã đượcthông qua tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 4 bao gồm: xi măng,điện tử, phân bón, sản phẩm da, bột giấy, dệt may, đá quý và kim hoàn, đồđạc bằng mây và gỗ, dầu thực vật, hoá chất, dược phẩm, đồ plastic, sản

Trang 19

nhanh được áp dụng cho những sản phẩm có thuế suất trên 20% (>20%) sẽđược giảm xuống 0 - 5% (01/01/2000) Những sản phẩm có thuế suất bằnghoặc dưới 20% sẽ được giảm thuế xuống 0 - 5% trong vòng 5 năm(01/01/1998).

Chương trình giảm thuế bình thường được thiết lập cho việc giảm thuếđối với các sản phẩm thuộc chương trình CEPT nhưng không thuộc 15 nhómsản phẩm nói trên

Chương trình giảm thuế bình thường được áp dụng cho những sảnphẩm có thuế suất lớn hơn 20% (> 20%) sẽ được giảm qua hai giai đoạn:giai đoạn đầu giảm xuống còn 20% trong 5 năm (01/01/1998) và tiếp tụcgiảm từ 20% xuống còn 0 - 5% trong 5 năm tiếp theo (01/01/2003) Nhữngsản phẩm có thuế suất bằng hoặc dưới 20% (= < 20%) sẽ còn được giảmthuế xuống còn 0 - 5% trong 7 năm (01/01/2000) Chương trình giảm thuếbình thường của các nước là khác nhau tuỳ thuộc vào tình hình của nước đó.Tuy nhiên những mặt hàng chủ yếu trong danh mục này là hàng máy móc,thiết bị, thiết bị điện, sản phẩm sắt và thép Máy móc và dụng cụ cơ khí lànhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục hàng cắt giảm bình thườngcủa tất cả các nước thành viên

Tuy nhiên để được hưởng ưu đãi, sản phẩm của các nước thành viênASEAN nhập khẩu phải đảm bảo các điều kiện sau:

- Sản phẩm phải nằm trong danh mục cắt giảm thuế của cả nước nhậpkhẩu và xuất khẩu (nguyên tắc có đi có lại) và phải có thuế suất bằng hoặcthấp hơn 20%

- Phải thuộc chương trình giảm thuế được Hội đồng AFTA thông qua(được chính thức thừa nhận)

- Phải là sản phẩm của ASEAN, nghĩa là phải thoả mãn yêu cầu có tốithiểu 40% hàm lượng có nguồn gốc từ bất cứ quốc gia thành viên nào trongASEAN

Trang 20

- Khi làm thủ tục để xuất khẩu sản phẩm thuộc diện ưu đãi CEPT,doanh nghiệp xuất khẩu phải có C/O Hiệp định CEPT quy định C/O dùngcho hàng hoá ASEAN là C/O mẫu D.

1.2 Quy chế xuất xứ dùng cho hiệp định CEPT.

Một sản phẩm sẽ được hưởng các ưu đãi thuế quan khi nó đáp ứng cácquy định về xuất xứ trong chương trình CEPT Quy chế xuất xứ theo hiệpđịnh CEPT bao gồm 8 quy tắc: quy tắc xác định xuất xứ của sản phẩm, quytắc xuất xứ thuần tuý, quy tắc xuất xứ không thuần tuý, quy tắc xuất xứ cộnggộp, quy tắc vận tải trực tiếp, quy tắc xử lý bao hàng hoá, quy tắc về giấychứng nhận xuất xứ mẫu D, quy tắc xem xét lại Dưới đây là những nội dungchính của quy tắc xuất xứ theo hiệp định CEPT

a Quy tắc xác định xuất xứ của sản phẩm.

Các hàng hoá thuộc diện CEPT được nhập khẩu vào một nước thànhviên từ một nước thành viên khác sẽ đủ điều kiện được hưởng ưu đãi nếuchúng đáp ứng yêu cầu xuất xứ theo một trong các điều kiện:

- Các hàng hoá có xuất xứ thuần tuý (được sản xuất hoặc thu hoạchtoàn bộ tại nước thành viên xuất khẩu)

- Các hàng hoá có xuất xứ không thuần tuý (không được sản xuất hoặcthu hoạch toàn bộ tại nước thành viên xuất khẩu)

Việc xác định hàng hoá có xuất xứ thuần tuý và hàng hoá có xuất xứkhông thuần tuý cũng chính là xác định xem hàng hoá nhập khẩu có đáp ứngđược yêu cầu phải có tối thiểu 40% hàm lượng nguyên phụ liệu của cácnước ASEAN trong sản phẩm hay không

b Quy tắc hàng hoá có xuất xứ thuần tuý.

Theo hiệp định CEPT, các hàng hoá sau đây được coi là hàng hoá cóxuất xứ thuần tuý:

(a) Các khoáng sản được khai thác từ lòng đất, mặt nước hay đáy biển

Trang 21

(b) Các hàng hoá nông sản được thu hoạch ở nước đó;

(c) Các động vật được sinh ra và chăn nuôi ở nước đó;

(d) Các sản phẩm từ động vật được nêu ở mục (c.) trên đây;

(e) Các sản phẩm thu được do săn bắn hoặc đánh bắt ở nước đó;

(f) Các sản phẩm thu được do đánh cá trên biển và các đồ hải sản docác tàu của nước đó lấy được từ biển;

(g) Các sản phẩm được chế biến hay sản xuất trên boong tàu của nước

đó từ các sản phẩm nêu ở mục (f.) trên đây;

(h) Các nguyên liệu đã qua sử dụng được thu nhặt ở nước đó, chỉ dùng

để tái chế nguyên liệu;

(i) Đồ phế thải từ các hoạt động công nghiệp tại nước đó;

(j) Các hàng hoá được sản xuất từ các sản phẩm từ mục (a.) đến mục(i.)

c Quy tắc hàng hoá có xuất xứ không thuần tuý.

Hàng hoá có xuất xứ không thuần tuý là hàng hoá không được sản xuấthoặc thu hoạch toàn bộ tại nước thành viễn xuất khẩu Theo hiệp định CEPThàng hoá có xuất xứ không thuần tuý phải đáp ứng các quy định sau:

Quy định 1:

(a) Hàng hoá được coi là có xuất xứ từ các nước thành viên AESAN,nếu có ít nhất 40% hàm lượng xuất xứ từ bất cứ quốc gia thành viên nào.(b) Theo tiêu chuẩn mục (a) ở trên, các sản phẩm được chế tạo hoặc giacông mà có tổng giá trị nguyên phụ liệu được sử dụng có xuất xứ từ các nướckhông phải là thành viên ASEAN hoặc có xuất xứ không xác định đượckhông vượt quá 60% của giá FOB của sản phẩm được sản xuất hoặc chế biến

có quá trình sản xuất cuối cùng được thực hiện trên lãnh thổ nước xuất khẩu

là thành viên

Quy định 2: Giá trị nguyên phụ liệu không xuất xứ từ ASEAN sẽ là:

(a) Giá CIF của hàng hoá tại thời điểm nhập khẩu;

Trang 22

(b) Giá xác định ban đầu của sản phẩm có xuất xứ không xác định đượctại lãnh thổ của nước thành viên nơi thực hiện quá trình gia công chế biếnCông thức 40% hàm lượng ASEAN như sau:

Giá trị nguyên phụ liệu Giá trị nguyên phụ

nhập khẩu từ nước không + liệu có xuất xứ không

phải là thành viên ASEAN xác định được

-x 100% < 60% Giá FOB

tổ chức gia công chế biến sản phẩm cuối cùng miễn là tổng hàm lượngASEAN của sản phẩm cuối cùng không nhỏ hơn 40%

e Quy tắc vận tải trực tiếp.

Theo quy định của CEPT, các trường hợp sau được coi là vận tải trựctiếp từ nước xuất khẩu là thành viên đến nước nhập khẩu là thành viên:

- Hàng hoá được vận chuyển không qua lãnh thổ của bất kỳ một nướcASEAN nào;

- Hàng hoá được vận chuyển không qua lãnh thổ của bất kỳ một nướckhông phải là thành viên ASEAN nào khác;

- Hàng hoá được vận chuyển quá cảnh qua một hoặc nhiều nước trunggian không phải thành viên ASEAN có hoặc không có chuyển tải hoặc lưukho tạm thời tại các nước đó với điều kiện:

Trang 23

+ Quá cảnh là cần thiết vì lý do địa lý hay do yêu cầu có liên quan trựctiếp đến vận tải hàng;

+ Hàng hoá không được mua bán hoặc sử dụng ở nước quá cảnh đó; và+ Không được sử lý gì đối với sản phẩm ngoài việc dỡ hàng và tái xếphàng hoặc những công việc cần thiết để giữ hàng trong điều kiện đảm bảo

f Quy tắc xử lý bao bì hàng hoá.

Quy tắc này nêu ra hai trường hợp:

- Trong trường hợp để xác định thuế hải quan, một nước thành viên sẽxét hàng hoá tách riêng với bao bì Đối với hàng nhập khẩu chuyển tới từ mộtnước thành viên khác, nước thành viên có thể cũng xét riêng xuất xứ của baobì

- Trường hợp không áp dụng theo mục trên đây, bao bì sẽ được xétchung với hàng hoá Phần bao bì dùng do yêu cầu vận tải hoặc lưu kho đượccoi là có xuất xứ ASEAN

g Quy tắc về C/O mẫu D.

Hàng hoá sẽ được hưởng ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT)nếu có C/O mẫu D do một cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ nước xuấtkhẩu là thành viên cấp Các nước thành viên phải thông báo cho nhau biết cơquan cấp C/O mẫu D và các thủ tục cấp C/O mẫu D phải phù hợp với các thủtục được quy định và được Hội nghị các quan chức kinh tế cao cấp (SEOM)thông qua

h Quy tắc xem xét lại.

Quy chế này có thể được xem xét lại khi cần thiết theo yêu cầu củamột nước thành viên và có thể được sửa đổi khi được Hội đồng các Bộtrưởng chấp thuận

1.3 Thủ tục cấp Giấy chứng nhận xuất xứ theo hiệp định CEPT.

Trang 24

Để thực hiện các quy chế xuất xứ của chương trình CEPT, thủ tục cấp

và xác minh C/O mẫu D và các vấn đề hành chính liên quan được quy địnhnhư sau:

a Cơ quan có thẩm quyền cấp C/O mẫu D.

C/O mẫu D do Cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ nước xuất khẩu

là thành viên cấp Nước thành viên sẽ thông báo cho tất cả các nước thànhviên khác biết tên và điạ chỉ của Cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ cấpC/O mẫu D và cung cấp các chữ ký mẫu và mẫu con dấu chính thức mà cơquan đó sử dụng Các thông tin và các mẫu trên sẽ được cung cấp cho tất cảcác nước thành viên và gửi bản sao cho Ban thư ký ASEAN Bất cứ thay đổi

gì về tên, địa chỉ cũng như chữ ký và con dấu chính thức phải được thông báongay theo phương thức trên Ngoài ra, để thẩm tra điều kiện hưởng ưu đãi,

Cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ được giao cấp C/O mẫu D có quyềnyêu cầu xuất trình bất kỳ loại chứng từ cần thiết nào cũng như tiến hành bất

kỳ việc kiểm tra nào nếu thấy cần thiết Nếu quyền này không được pháp luậthiện hành của quốc gia cho phép thì điều này sẽ được đưa vào như là mộtđiều khoản trong mẫu đơn xin cấp C/O

b Xin cấp C/O mẫu D.

Nhà sản xuất và/ hoặc nhà xuất khẩu sản phẩm đủ tiêu chuẩn đượchưởng ưu đãi sẽ viết đơn xin Cơ quan hữu quan của Chính phủ kiểm tra xuất

xứ hàng hoá trước khi xuất khẩu Kết quả của việc kiểm tra này, có thể đượcxem xét lại định kỳ hoặc bất kỳ khi nào thấy cần thiết, sẽ được chấp thuận làchứng cứ hỗ trợ để xác định xuất xứ của hàng hoá sẽ được xuất khẩu sau này.Việc kiểm tra hàng hoá trước khi xuất khẩu có thể không áp dụng đối vớihàng hoá, mà (do bản chất của chúng) xuất xứ có thể xác định được dễ dàng

c Kiểm tra hàng hoá trước khi xuất khẩu.

Trang 25

Cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ được giao cấp C/O mẫu D sẽ,với khả năng và quyền hạn tối đa của mình, tiến hành kiểm tra thích đángtừng trường hợp nhằm đảm bảo rằng:

- Đơn xin và C/O mẫu D phải được khai đúng, đủ và được người cóthẩm quyền ký;

- Xuất xứ của hàng hoá tuân thủ quy chế xuất xứ;

- Các tờ khai trong C/O mẫu D phù hợp với các chứng từ nộp kèm;

- Quy cách, số lượng và trọng lượng hàng hoá, mã hiệu và số lượngkiện hàng, loại kiệnhàng được khai phù hợp với hàng hoá xuất khẩu

Để phục vụ cho việc kiểm tra, tổ chức kiểm tra có quyền yêu cầungười kiểm tra cung cấp hay xuất trình các chứng từ cần thiết có liên quanđến hàng hoá cũng như tiến hành bất kỳ việc kiểm tra hàng hoá nào nếu thấycần thiết Việc kiểm tra xuất xứ hàng hoá được tiến hành trước khi hàng hoáxuất khẩu Riêng đối với hàng hoá cần kiểm tra hàm lượng ASEAN thì tuỳtheo mức độ phức tạp mà việc kiểm tra sẽ được thực hiện ngay từ khâu sảnxuất, chế biến Người xin kiểm tra xuất xứ hàng hoá có trách nhiệm tạo mọiđiều kiện cần thiết để người kiểm tra tiến hành công việc được thuận lợi,nhanh chóng và chính xác

Kiểm tra xuất xứ hàng hoá bao gồm những hạng mục như sau:

- Đặc điểm hàng hoá (chủng loại, quy cách);

- Ký mã hiệu trên kiện hàng;

Trang 26

- Đã bắt đầu hay đang được sản xuất đối với hàng hoá phải xác địnhhàm lượng ASEAN.

Hồ sơ xin kiểm tra xuất xứ hàng hoá mẫu D bao gồm:

- Hai tờ đơn xin kiểm tra xuất xứ hàng hoá mẫu D (theo mẫu quy địnhđính kèm) đã được khai đầy đủ và ký tên (riêng đối với doanh nghiệp thìphải đóng dấu)

- Các chứng từ được gửi kèm treo đơn xin kiểm tra xuất xứ hàng hoá:+ Đối với hàng hoá có nguyên, phụ liệu nhập khẩu ngoài ASEANvà/hoặc không xác định được xuất xứ phải xuất trình:

i) Quy trình pha trộn, quy trình sản xuất, lắp ráp hay bảng giải trình tỷ

lệ pha trộn nguyên phụ liệu đầu vào của hàng hoá

ii) Hoá đơn, chứng từ để xác định giá nhập theo điều kiện CIF củanguyên, phụ liệu nhập khẩu ngoài ASEAN

iii) Hoá đơn, chứng từ chứng minh giá nguyên, phụ liệu không xácđịnh được xuất xứ

+ Đối với hàng có xuất xứ cộng gộp phải xuất trình:

i) Các chứng nhận xuất xứ có thoả mãn điều kiện xuất xứ mẫu D từcác nước thành viên ASEAN

ii) Các quy trình pha trộn / quy trình sản xuất, lắp ráp hoặc bản giảitrình pha trộn nguyên liệu đầu vào của hàng hoá

Ngoài ra, người xin kiểm tra còn phải nộp:

- Vận đơn

- Hoá đơn thương mại và / hoặc các giấy tờ để chứng minh giá xuấtkhẩu hàng hoá theo điều kiện FOB trước ngày nhận Giấy chứng nhận kiểmtra xuất xứ hàng hoá Các giấy tờ này có thể nộp bản sao nhưng phải xuấttrình bản chính để đối chứng

Trang 27

Người xin kiểm tra xuất xứ hàng hoá mẫu D phải hoàn toàn chịu tráchnhiệm trước pháp luật về tính chính xác và trung thực của các chi tiết đã kêkhai trong vận đơn xin kiểm tra cũng như các chứng từ gửi kèm theo.

d Cấp C/O mẫu D.

C/O mẫu D phải in theo mẫu trên khổ giấy ISO A4 và phải được làmbằng tiếng Anh Bộ C/O mẫu D gồm một bản gốc và ba bản sao carbon(carbon copy) có mầu như sau:

- Bản gốc (Original): Màu tím nhạt (light violet)

- Bản sao thứ hai (Duplicate): Màu da cam (orange)

- Bản sao thứ ba (Triplicate): Màu da cam (orange)

- Bản sao thứ tư (Quadruplicate): Màu da cam (orange)

Mỗi bộ C/O phải mang số tham chiếu riêng của mỗi địa điểm hoặc cơquan cấp Bản gốc và bản sao thứ ba được nhà xuất khẩu gửi cho nhà nhậpkhẩu để nộp cho Cơ quan Hải quan tại cảng hoặc địa điểm nhập khẩu Bảnsao thứ hai sẽ được cơ quan có thẩm quyền cấp C/O tại nước xuất khẩu làthành viên giữ lại Bản sao thứ tư sẽ do nhà xuất khẩu giữ Sau khi nhập khẩuhàng hoá, bản sao thứ ba sẽ được đánh dấu thích hợp vào ô thứ tư và gửi lại

cơ quan có thẩm quyền cấp C/O trong khoảng thời gian thích hợp C/O mẫuđược nước xuất khẩu là thành viên cuối cùng cấp và phải ghi rõ các quy tắcthích hợp, tỷ lệ phần trăm %, hàm lượng ASEAN có thể áp dụng Người làmđơn xin cấp C/O mẫu D không được phép tẩy xoá, viết thêm lên trên C/Omẫu D Các phần còn trống sẽ được gạch chéo để tránh điền thêm sau này

C/O mẫu D do Cơ quan hữu quan của Chính phủ của nước xuất khẩu

là thành viên cấp vào thời điểm xuất khẩu hoặc trong một thời gian ngắnngay sau đó nếu như hàng hoá được xuất có thể xem là có xuất xứ từ nướcthành viên đó theo quy định của quy chế xuất xứ Trong những trường hợpngoại lệ khi C/O mẫu D không được cấp vào thời điểm xuất khẩu hoặc mộtthời gian ngắn ngay sau đó, do sai sót không chủ ý hoặc có lý do xác đáng

Trang 28

khác, C/O mẫu D có thể được cấp sau có giá trị hiệu lực tính từ thời điểmxuất khẩu nhưng không vượt quá một năm kể từ ngày giao hàng, và phải ghi

rõ “ISSUED RETROACTIVELY” Trong trường hợp C/O mẫu D bị mấtcắp, thất lạc hoặc hư hỏng, nhà xuất khẩu có thể viết đơn gửi Cơ quan cóthẩm quyền của Chính phủ, là chính cơ quan đã cấp, xin một bản sao chứngthực (chứng nhận y sao bản chính) của bản gốc và bản sao thứ ba dựa trên cơ

sở các chứng từ xuất khẩu do cơ quan đó giữ, phải ghi rõ sự chấp thuận bằngchữ “CERTIFIED TRUE COPY” vào ô số 12 Bản sao này sẽ đề ngày cấpcủa bản gốc C/O mẫu D Bản sao chứng thực của C/O mẫu D phải được cấpkhông qua một năm kể từ ngày cấp bản gốc C/O mẫu D và với điều kiện lànhà xuất khẩu phải cung cấp bản sao thứ tư cho cơ quan có thẩm quyền cấpC/O mẫu D liên quan

e Thủ thục trình C/O mẫu D.

Bản gốc C/O mẫu cùng với bản sao thứ ba sẽ được nộp cho Cơ quanHải quan vào thời điểm làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá đó Thời hạn quyđịnh cho việc trình C/O mẫu D như sau:

- C/O mẫu D phải trình cho Cơ quan Hải quan của nước nhập khẩu làthành viên trong vòng bốn tháng kể từ ngày được Cơ quan hữu quan củaChính phủ nước xuất khẩu là thành viên ký;

- Trong trường hợp hàng hoá đi qua lãnh thổ của một hoặc nhiều nướckhông phải là thành viên ASEAN thì thời hạn xuất trình C/O mẫu D được giahạn tới 6 tháng;

- Trong trường hợp C/O mẫu D nộp cho Cơ quan hữu quan của Chínhphủ nước nhập khẩu là thành viên sau khi hết thời hạn quy định phải nộp thìC/O mẫu D đó vẫn được chấp nhận nếu việc không tuân thủ thời hạn là dobất khả kháng hoặc là do những lý do xác đáng khác ngoài phạm vi kiểm soátcủa nhà xuất khẩu; và

Trang 29

- Trong mọi trường hợp, Cơ quan hữu quan của Chính phủ nước nhậpkhẩu là thành viên có thể chấp nhận C/O mẫu D đó với điều kiện là hàng hoá

đã được nhập khẩu trước khi hết thời hạn của C/O mẫu D kể trên

Trong trường hợp vận chuyển hàng hoá có xuất xứ từ nước xuất khẩu

là thành viên và có giá trị không vượt quá 200 USD giá FOB thì thủ tục cấpC/O mẫu D sẽ được miễn và chấp nhận việc kê khai đơn giản của nhà xuấtkhẩu rằng hàng hoá đang được xem xét có xuất xứ từ nước nhập khẩu làthành viên Hàng hoá gửi qua đường bưu điện có giá trị không vượt quá 200USD giá FOB cũng được xử lý tương tự

Khi phát hiện có sự khác biệt nhỏ giữa các lời khai trong C/O mẫu D

và lời khai trong các chứng từ nộp cho Cơ quan Hải quan của nước nhậpkhẩu là thành viên để làm các thủ tục nhập khẩu hàng hoá sẽ không làm mấtgiá trị của C/O mẫu D, nếu thực tế những lời khai đó vẫn phù hợp với hànghoá được giao

Việc kiểm tra C/O mẫu D được quy định rất chặt chẽ Nước nhập khẩu

là thành viên có thể yêu cầu kiểm tra lại (retroactive check) một cách ngẫunhiên bất cứ khi nào có nghi ngờ tính xác thực của chứng từ hoặc mức độchính xác của thông tin liên quan đến xuất xứ thực sự của sản phẩm hoặc bộphận nhất định của sản phẩm đang xét tới Yêu cầu kiểm tra lại sẽ được gửikèm với C/O mẫu D có liên quan và nêu rõ lý do cùng bất kỳ thông tin bổsung nào cho rằng có những điểm trong C/O mẫu D kể trên có thể khôngchính xác, trừ trường hợp nếu việc kiểm tra được thực hiện một cách ngẫunhiên Cơ quan Hải quan của nước nhập khẩu là thành viên có thể tạm khôngcho hưởng ưu đãi trong khi chờ đợi kết quả thẩm tra Tuy nhiên, cơ quan nàyvẫn có thể cho phép nhà nhập khẩu nhận hàng theo các thủ tục hành chínhcần thiết, với điều kiện là hàng không nằm trong diện cấm hoặc hạn chế nhậpkhẩu và không có nghi ngờ gian lận Cơ quan có thẩm quyền cấp C/O mẫu Dcủa Chính phủ khi nhận được yêu cầu kiểm tra lại sẽ nhanh chóng thụ lý và

Trang 30

trả lời trong vòng ba tháng kể từ khi nhận được yêu cầu Đơn xin cấp C/Omẫu D và tất cả các chứng từ có liên quan đến đơn này sẽ được cơ quan cóthẩm quyền cấp C/O mẫu D lưu giữ trong thời gian ít nhất là hai năm kể từngày cấp Những thông tin liên quan tới giá trị pháp lý của C/O mẫu D donước nhập khẩu là thành viên yêu cầu sẽ được đáp ứng đầy đủ Tất cả nhữngthông tin trao đổi giữa các nước thành viên có liên quan sẽ được giữ kín vàchỉ sử dụng với mục đích xác định tính pháp lý của C/O mẫu D.

f Các trường hợp đặc biệt.

Khi toàn bộ hoặc một phần lô hàng đã được xuất đi một nước thànhviên cụ thể nay thay đổi nơi hàng đến, trước hoặc sau khi hàng hoá tới nướcthành viên đó, các quy tắc sau phải được tuân thủ:

- Nếu như hàng hoá đã được trình với Cơ quan Hải quan của một nướcnhập khẩu thành viên cụ thể, thì theo đơn yêu cầu của nhà nhập khẩu C/Omẫu D được Cơ quan Hải quan nước này chấp thuận theo như yêu cầu ghitrong đơn đối với toàn bộ hoặc một phần lô hàng và bản gốc được trả lại chonhà nhập khẩu Bản sao thứ ba sẽ được gửi lại cho cơ quan cấp C/O mẫu D

- Nếu như việc thay đổi nơi hàng đến xảy ra trong quá trình vậnchuyển tới nước nhập khẩu là thành viên như ghi trong C/O mẫu D, nhà xuấtkhẩu sẽ nộp đơn cùng với C/O mẫu D đã được cấp xin cấp C/O mẫu D mớicho toàn bộ hay một phần lô hàng đó

Khi hàng hoá được vận chuyển qua lãnh thổ của một hay nhiều nướckhông phải là thành viên ASEAN, các giấy tờ sau phải xuất trình cho Cơquan có thẩm quyền của Chính phủ nước thành viên nhập khâủ:

- Một vận đơn suốt được cấp tại nước xuất khẩu là thành viên

- Một C/O mẫu D do Cơ quan hữu quan của Chính phủ nước xuất khẩu

là thành viên cấp

- Một bản sao hoá đơn thương mại gốc của hàng hoá

Trang 31

Đối với hàng hoá gửi từ một nước xuất khẩu là thành viên để đi tham

dự triển lãm ở một nước khác và được bán trong hoặc sau khi triển lãm đểnhập khẩu vào một nước thành viên sẽ được hưởng chế độ CEPT với điềukiện là hàng hoá đó đáp ứng các yêu cầu của Quy chế xuất xứ, miễn là phảichứng minh được cho Cơ quan hữu quan của Chính phủ nước nhập khẩu làthành viên rằng:

- Nhà xuất khẩu đã gửi các hàng hoá đó từ lãnh thổ của nước xuất khẩu

là thành viên tới nước tổ chức triển lãm và đã trưng bày tại đó

- Nhà xuất khẩu đã bán hoặc chuyển nhượng hàng hoá đó cho mộtngười nhận hàng trong nước nhập khẩu là thành viên

- Trong quá trình triển lãm hoặc ngay sau đó hàng hoá đã được chuyển

đi bán cho nước nhập khẩu là thành viên trong tình trạng mà hàng đã đượcgửi tới để tham dự triển lãm

Để thực hiện các quy định trên, cơ quan hữu quan của nước nhập khẩu

là thành viên có thể cấp C/O mẫu D Tên và địa chỉ của triển lãm phải đượcghi rõ Cơ quan hữu quan của Chính phủ nước tổ chức triển lãm có thể cấp C/

O cùng với các chứng từ cần thiết để làm bằng chứng xác nhận rằng hàng hoá

đã được trưng bày tại triển lãm

g Biện pháp chống gian lận.

Khi nghi ngờ có những hành vi gian lận liên quan đến C/O mẫu D, các

Cơ quan có thẩm quyền liên quan của Chính phủ sẽ phối hợp hành độngtrong từng nước thành viên để xử lý người liên can Mỗi nước thành viênphải chịu trách nhiệm đưa ra các hình phạt pháp lý đối với các hành vi gianlận liên quan đến C/O mẫu D

h Giải quyết tranh chấp.

Trong trường hợp có tranh chấp về xác định xuất xứ, phân loại hànghoá hoặc các vấn đề khác, cơ quan có thẩm quyền liên quan của Chính phủtại các nước nhập khẩu và xuất khẩu là thành viên sẽ tham vấn lẫn nhau

Trang 32

nhằm giải quyết tranh chấp và kết quả sẽ được thông báo cho các nước thànhviên khác để tham khảo Trong trường hợp tranh chấp không thể giải quyếtsong phương thì vấn đề đó sẽ được Hội nghị các quan chức cấp cao (SEOM)quyết định.

2 Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập GSP.

2.1 Khái niệm về hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập GSP.

Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập, viết tắt tiếng Anh là GSP(Generalised System of Preferences) là một chính sách đa phương của hệthống thương mại toàn cầu trong khuôn khổ của tổ chức liên hợp quốc vềthương mại và phát triển, trong đó các nước phát triển đơn phương dành chohàng hoá của các nước đang phát triển và kém phát triển những khoản ưu đãi

về thuế quan (gồm miễn hoặc giảm thuế nhập khẩu) khi hàng hoá này nhậpkhẩu vào các nước dành ưu đãi

GSP làm giảm thuế suất theo chế độ tối huệ quốc hoặc miễn thuế hoàntoàn đối với những sản phẩm nhất định được sản xuất tại các nước đượchưởng ưu đãi khi xuất khẩu sang các nước dành ưu đãi Mục tiêu chính của

hệ thống GSP là tạo điều kiện để các nước đang phát triển, kém phát triểnthấy được khả năng tiềm tàng về mở rộng buôn bán phát sinh từ chế GSP,tăng cường khả năng sử dụng chế độ này bằng cách tăng kim ngạch về xuấtkhẩu, khuyến khích phát triển công nghiệp và đầu tư, đẩy nhanh nhịp độ tăngtrưởng kinh tế, cung cấp thông tin về các quy định liên quan đến thương mạinhư thuế chống phá giá, chống bù giá, các quy định hải quan, thủ tục giấyphép nhập khẩu và pháp luật thương mại khác quy định các điều kiện thâmnhập vào thị trường các nước cho hưởng Ngoài ra, GSP giúp đỡ các nướcđược hưởng thiết lập những trọng điểm trọng tâm trong nước để tăng cường

sử dụng chế độ này

Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập được các cơ quan lập pháp của các

Trang 33

cho từng thời kỳ nhất định có thể là một năm, mười năm hoặc vài ba chụcnăm Thí dụ: Năm 1971 Nhật Bản ban hành chế độ GSP của mình đến31/3/2001 Năm 1971 EU và năm 1976 Mỹ công bố chế độ GSP của họ cóhiệu lực trong mười năm sau và khi thời kỳ đó hết hạn, họ lại công bố kéo dàicho mười năm tiếp theo.

Thông thường trong các chế độ GSP của các nước dành ưu đãi thườngquy định các vấn đề sau:

- Những quy tắc chung về hệ thống GSP mà nước đó dành cho cácnước được hưởng ưu đãi

- Công bố những loại hàng hoá nào được ưu đãi, hàng hoá nào khôngđược ưu đãi, hàng hoá nào thuộc diện ưu đãi có hạn chế

- Những nước nào được hưởng ưu đãi

- Mức độ ưu đãi so với mức thuế suất MFN

- Các tiêu chuẩn về xuất xứ phải tuân thủ để được hưởng GSP củanước dành ưu đãi

Thông thường trong các biểu thuế nhập khẩu của các nước dành ưu đãi

có quy định rõ từng loại thuế suất áp dụng cho từng mặt hàng có gắn mã HS.Đây là hệ thống mã hoá và phân loại hàng hoá hài hoà của Uỷ ban Hợp táchải quan thông qua ngày 01/01/1988 Thí dụ trong biểu thuế của Nhật Bản cóquy định các loại thuế suất sau đây cho mỗi mặt hàng trong biểu thuế nhậpkhẩu của nước này là:

- Thuế suất chung: đánh vào hàng nhập khẩu từ các nước không đượchưởng chế độ MFN của Nhật

- Thuế suất GATT dành cho hàng của các nước được hưởng MFN củaNhật hay các nước thành viên GATT (WTO)

- Thuế suất GSP dành cho hàng hoá của nước được hưởng GSP củaNhật

Trang 34

- Thuế suất tạm thời phục vụ cho các chính sách điều tiết thương mại

và đánh vào các mặt hàng do Chính phủ Nhật công bố

Hệ thống GSP được thoả thuận trong phạm vi UNCTAD từ nhữngnăm 60 và đầu những năm 70 đã được đưa vào áp dụng Các nước đi tiênphong trong việc này là Liên Xô (áp dụng từ năm 1965) và Úc (áp dụng từ1966), Nhật Bản , EU, Nauy áp dụng GSP từ năm 1971, Bungari, Hungari,Tiệp, Áo, Phần Lan, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Tân Tây Lan áp dụng từ năm 1972

và Mỹ, Ba Lan áp dụng từ năm 1976

Tác dụng của GSP là tạo ra một lợi thế cho các nước đang phát triển vàkém phát triển trong việc nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá do các nướcnày xuất khẩu vào các nước dành ưu đãi nhờ có biện pháp giảm hay miễnthuế nhập khẩu cho các hàng hoá đó

Nội dung chính của GSP bao gồm: các nước cho hưởng ưu đãi GSP,các nước được hưởng GSP, hàng hoá được hưởng ưu đãi, mức độ ưu đãi, cơchế bảo vệ và quy tắc xác định xuất xứ

a Các nước cho hưởng ưu đãi GSP.

Hiện nay hệ thống GSP bao gồm 16 chế độ ưu đãi khác nhau, hoạtđộng tại 28 nước dành ưu đãi, gồm: Mỹ, Nhật, Úc, New Zealand, Phần Lan,

Áo, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Na uy, Canada, Nga, Ba Lan, Hungari, Bungari,Séc và 12 nước EU (Bỉ, Pháp, Hà Lan, Đan Mạch, Hy lạp, Đức, Ailen, Italy,Luxembua, Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha)

Đa số các chế độ ưu đãi áp dụng cho một thời gian dài từ mười nămđến vài ba chục năm nhưng hàng năm đều có những thay đổi nhỏ như danhmục hàng hoá, giới hạn trần, thuế suất, nước được hưởng ưu đãi…

b Các nước được hưởng ưu đãi GSP.

Hầu hết các nước đang phát triển thuộc nhóm 77 (cho tới nay cókhoảng 128 nước thành viên) đều được hưởng GSP Có một số nước cho

Trang 35

hưởng (dành ưu đãi) mở rộng phạm vi ưu đãi ra ngoài khuôn khổ các nướcthuộc nhóm 77.

Chế độ ưu đãi GSP của EU đã cho 133 nước và 25 lãnh thổ đượchưởng Tương tự như thế ta thấy: Úc - 139 nước và 33 lãnh thổ, Canada - 161nước và lãnh thổ, Phần Lan - 135 nước, Nhật Bản - 172 nước và lãnh thổ,Niudilân - 142 nước, Nauy - 132 nước, Thụy Điển - 161 nước, Thụy Sỹ - 167nước, Mỹ - 117 nước và 29 lãnh thổ và Nga - 104 nước

Trong hệ thống GSP của tất cả các nước dành ưu đãi có hai loại đốitượng nước được hưởng là: Các nước đang phát triển và các nước kém pháttriển (LDC) theo tiêu chuẩn của Liên hợp quốc Theo tiêu chuẩn này cácnước Đông Nam Á: Campuchia, Lào, Miến Điện là các nước kém phát triển,Việt Nam là nước đang phát triển

Các nước kém phát triển được hưởng ưu đãi cao hơn các nước đangphát triển cả về mức thuế ưu đãi và không bị hạn chế số lượng trần (Ceiling)

và một số các tiêu chuẩn khác Có một số nước cho hưởng ưu đãi dành chocác nước kém phát triển chế độ miễn thuế cho toàn bộ các loại sản phẩm củanước đó hoặc là có quy chế đặc biệt cho các nước kém phát triển

Một số nước bị loại bỏ ra khỏi GSP dưới nhiều dạng khác nhau, thôngthường có hai cách là: Nước trưởng thành và hàng trưởng thành Lý do là cácnước dành ưu đãi lo ngại về cạnh tranh của hàng hoá nhập khẩu theo GSP đốivới các sản phẩm trong nước Nhiều khi cả về lý do phi kinh tế (chính trị,quyền công nhân v.v…) nên một số nước bị loại ra khỏi danh sách các nướcđược hưởng GSP của một số nước dành ưu đãi Hiện nay Mỹ đã sử dụng tiêuchuẩn nước trưởng thành và hàng trưởng thành đối với các nước có lượnghàng xuất khẩu lớn vào Mỹ (như Hồng Kông, Singapore, Hàn quốc, TháiLan, Đài Loan) và các nước có GDP theo đầu người cao như Brunei, HồngKông, Bahrain, Chile, Isael v.v…Trong chế độ GSP mới của EU cũng đã đưa

Trang 36

ra các tiêu chuẩn để xác định nước trưởng thành dựa vào chỉ số GDP theođầu người (trên 6000USD/người).

Mỗi nước được hưởng ưu đãi sử dụng GSP ở các mức độ khác nhau

Có nước do các nhà chức trách đã không có những biện pháp để tuân thủ quytrình thông báo, không thể hoàn thành được các thủ tục quy định cần thiết,không đáp ứng được các yêu cầu của các nước dành ưu đãi đề ra làm mất cơhội thực hiện các ưu đãi

Thông thường khi ban hành chế độ ưu đãi GSP thì các nước dành ưuđãi công bố danh sách các nước được hưởng GSP và từng thời kỳ (hàng năm)

có công bố lại hoặc bổ sung các nước mới vào danh sách ưu đãi hoặc loại bỏnước nào ra khỏi danh sách đó

c Hàng hoá được hưởng ưu đãi.

Phạm vi sản phẩm được hưởng ưu đãi tuỳ thuộc vào chính sách củamỗi nước dành ưu đãi Không phải tất cả các sản phẩm đều được hưởng ưuđãi GSP Thông thường các nước đó công bố danh mục hàng hoá có gắn mã

số theo HS được hưởng và không được hưởng GSP (gọi là danh mục thuận

và danh mục từ chối) và danh mục hàng hoá có giới hạn trần (ceiling) Cácdanh mục hàng hoá này được xem xét lại theo định kỳ thường là hàng năm vàđược công bố công khai cho các doanh nghiệp qua báo chí và tổ chức xúctiến thương mại của các nước, đồng thời có gửi cho các đầu mối về GSP ởcác nước dành ưu đãi cũng như các nước hưởng ưu đãi

Các mặt hàng được hưởng ưu đãi thường là các sản phẩm nếu nhậpkhẩu vào thị trường các nước cho hưởng ưu đãi sẽ không làm ảnh hưởng đếnsản xuất trong nước hoặc là hàng nông sản chưa chế biến, nguyên liệu chocông nghiệp, hàng chế biến ở mức độ thấp và hàng thủ công

Các mặt hàng không được hưởng GSP thường là các mặt hàng tạonguồn thu thuế lớn cho ngân sách hoặc là những sản phẩm bảo hộ cao để sản

Trang 37

Hầu hết các biểu thuế nhập khẩu của các nước đều ghi rõ mức thuế ưuđãi dành cho các hàng hoá thuộc diện được hưởng GSP theo từng mặt hàngvới 6 - 8 chữ số theo mã HS để các doanh nghiệp dễ dàng xác định đượchàng hoá của mình được hưởng GSP hay không và mức thuế ưu đãi là baonhiêu Việc làm này còn giúp định hướng được các dự án đầu tư lâu dài vàxác định thị trường tiêu thụ sản phẩm của các nhà kinh doanh cũng nhưngười sản xuất.

d Mức độ ưu đãi (Tariff Cuts).

Thông thường mức độ ưu đãi của đa số các mặt hàng thường được tínhbằng khoảng cách giữa thuế suất MFN và thuế suất GSP được công bố trongcác biểu thuế nhập khẩu của từng nước dành ưu đãi Một số loại sản phẩmđược miễn thuế và một số nước kém phát triển thì được ưu đãi tối đa là đượcmiễn thuế hoàn toàn đối với toàn bộ sản phẩm của nước được hưởng ưu đãi(Liên xô, Tiệp khắc trước đây)

Mức thuế ưu đãi phổ biến đối với đa số các sản phẩm được hưởng ưuđãi GSP là được giảm 50% mức thuế MFN Ví dụ theo chế độ ưu đãi củaNhật Bản có 67 mặt hàng được giảm 50% thuế suất so với thuế suất MFN.Trong chế độ ưu đãi của Hoa Kỳ, tất cả các mặt hàng được hưởng GSP đều

có thuế suất bằng không (hay là miễn thuế) Theo chế độ ưu đãi mới của EU

có bốn mức giảm và miễn thuế cho bốn loại danh mục hàng hoá như sau:

- Các sản phẩm rất nhậy cảm: thuế suất GSP bằng 85% thuế suất MFN

- Sản phẩm nhậy cảm: thuế suất GSP bằng 70% thuế suất MFN

- Sản phẩm bán nhậy cảm: thuế suất GSP bằng 35% thuế suất MFN

- Sản phẩm không nhậy cảm: thuế suất GSP bằng 0

So với chế độ ưu đãi cũ, mức thuế đã được hạ từ 20% xuống còn 15%(đối với nhóm hàng rất nhậy cảm) Tuy mức cắt giảm tối đa đã tăng từ 50%lên 65% nhưng lại rơi vào hàng bán nhậy cảm và khả năng buôn bán hàngnày khó thực hiện hơn Điều mà ai cũng thấy là mức cắt giảm tối thiểu dành

Trang 38

cho các hàng hoá dễ buôn bán, còn mức cắt giảm tối đa dành cho các hànghoá khó buôn bán Như vậy dự báo một khả năng sút giảm hiệu quả thực hiệncác ưu đãi GSP trên thực tế trong chế độ ưu đãi mới của EU.

e Cơ chế bảo vệ.

Các nước cho hưởng ưu đãi dành cho họ quyền bảo vệ khi hàng nhậpkhẩu theo GSP làm ảnh hưởng sản xuất trong nước Các phương tiện mà họthường sử dụng là: Quota, giới hạn tối đa, giới hạn cạnh tranh, danh sáchtrưởng thành (về sản phẩm và quốc gia)…

Theo điều khoản XIX của Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch

(GATT) “các nước tham gia Hiệp định GATT có thể triển khai các hành

động khẩn cấp đối với những sản phẩm được nhập khẩu với một số lượng tăng lên nhất định và trong những điều kiện đó có thể gây ra hoặc đe doạ gây ra tổn thất đến các nhà sản xuất trong nước về sản phẩm đó hoặc tương tự” bằng cách thu hồi hoặc thay đổi các nhượng bộ về thuế quan Tại hầu hết

các chế độ (Trừ Bungaria và Nga) đều có các quy định áp dụng điều khoảnbảo vệ chung Tuy nhiên, do tính chất chủ động của chế độ GSP (trong đócác nước dành ưu đãi có toàn quyền đơn phương đưa ra các quy định và tiêuchuẩn cho hàng hoá và các nước được hưởng ưu đãi) các nước dành ưu đãikhông cần phải áp dụng điều khoản XIX về GSP mà có thể chọn các phươngthức bảo vệ khác

Các chế độ GSP của EU trước đây và Nhật hiện hành có quy định vềhạn chế định lượng thường được xác định trước đối với sản phẩm hoặc nhómsản phẩm nhậy cảm nhất định trên cơ sở khối lượng nhập khẩu năm trước vàđược áp dụng cho một năm quota cụ thể hoặc là một năm tài chính Các nướckhác, trừ Mỹ, đều có điều khoản miễn trừ chung cho phép các nước đó loại

bỏ hoặc giảm mức độ ưu đãi đối với một loại sản phẩm nào đó nếu sản phẩmtrong nước hoặc sản phẩm tương tự bị đe doạ Những sản phẩm đó được coi

Trang 39

phẩm giống hệt như thế hoặc là những sản phẩm cạnh tranh trực tiếp vớichúng Những dạng hạn chế “khẩn cấp” đó được thể hiện trực tiếp dưới hìnhthức hạn ngạch trong biểu thuế, mức thuế tối đa hoặc là một số tiền cố địnhđối với mỗi nước Sau khi điều này đạt được thì mức thuế phổ cập sẽ được ápdụng cho việc nhập khẩu loại sản phẩm đó, thông thường có thể nhận thấy làgiới hạn tối đa được quản lý một cách linh hoạt hơn là quota hoặc số tiền cốđịnh đối với từng nước.

Trong hệ thống GSP của Mỹ có quy định giới hạn về giá trị hàng hoánhập khẩu vào Mỹ đối với những hàng hoá thuộc đối tượng hưởng GSP Giớihạn đó quy định khi trị giá hàng hoá được hưởng GSP dật tỷ lệ 50% so vớicác hàng hoá nhập khẩu cùng loại hoặc đạt một lượng tiền nhất định thì việccho hưởng GSP sẽ bị thu hồi vào năm sau

Tuy nhiên, có thể phục hồi lại quy chế ưu đãi vào những năm tiếp khinhập khẩu mặt hàng đó từ nước bị thu hồi tư cách được hưởng GSP xuốngdưới mức giới hạn Hơn nữa, tổng thống Mỹ có quyền bỏ các giới hạn nàyđối với một số mặt hàng hoặc một số nước trong trường hợp đặc biệt

Ngoài ra, còn có một phương thức khác là áp dụng chính sách trưởngthành theo đó một số nước dành ưu đãi loại ra khỏi danh sách một số nhấtđịnh các nước được hưởng ưu đãi liên quan đến một số sản phẩm nhất địnhhoặc toàn bộ sản phẩm có trong chế độ GSP Trong mấy năm gần đây, Mỹ vàNew Zeland thường vận dụng hình thức này Với sự trưởng thành của một sốnước cụ thể thì nó có thể mất quyền được hưởng GSP và bị loại ra khỏi chế

độ GSP nếu các nước dành ưu đãi GSP cho rằng hàng hoá của nước trưởngthành đã trở nên đủ sức cạnh tranh Ví dụ: các nền kinh tế mới công nghiệphoá như Nam Triều Tiên, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore không còn lànhững nước được hưởng quy chế GSP của Mỹ nữa Nước/sản phẩm trưởngthành đều được công bố trong quy chế GSP Điều này cũng xẩy ra khi một

Trang 40

sản phẩm riêng nào đó của một nước được coi là đã có sức cạnh tranh EUcũng đã áp dụng phương thức này từ năm 1995.

2.2 Quy chế xuất xứ dùng cho hệ thống GSP.

Quy tắc xuất xứ trong hệ thống GSP là nội dung quan trọng thiết yếunhất Mục tiêu của quy tắc xuất xứ là để đảm bảo sản phẩm có xuất xứ từnước được hưởng ưu đãi về thuế quan trong GSP nhận được ưu đãi đúng đốitượng Quy tắc xuất xứ được ban hành cùng với chế độ ưu đãi thuế quan phổcập (GSP Scheme) của mỗi nước dành ưu đãi trong đó quy định các tiêuchuẩn về xuất xứ phải tuân thủ để được hưởng thuế quan ưu đãi

Nội dung cơ bản của quy chế xuất xứ bao gồm: Các tiêu chuẩn xuất

xứ, tiêu chuẩn có xuất xứ toàn bộ, quy định về tiêu chuẩn phần trăm, quy tắccộng gộp, quy tắc bảo trợ, quy tắc vận tải và các quy định tham gia hội chợtriển lãm

2.2.1 Tiêu chuẩn xuất xứ.

Tiêu chuẩn xuất xứ chỉ ra cách xác định xuất xứ của sản phẩm Các sảnphẩm xuất khẩu từ nước được hưởng có thể chia thành hai nhóm:

- Các sản phẩm được trồng, khai thác một cách toàn bộ từ đất đai haythu hoạch tại nước xuất khẩu, hoặc được sản xuất tại đó tuyệt đối từ các sảnphẩm đó Những loại sản phẩm này được gọi là sản phẩm có “xuất xứ toànbộ” và thoả mãn tiêu chuẩn xuất xứ GSP vì hoàn toàn không sử dụng nguyênphụ liệu nhập khẩu hay không rõ nguồn gốc;

- Những sản phẩm được làm từ nguyên phụ liệu, bộ phận nhập khẩu,bao gồm các sản phẩm được chế tạo toàn bộ hay từng phần từ nguyên phụliệu, thành phần nhập khẩu vào nước được hưởng hay không rõ nguồn gốc.Những sản phẩm này được gọi là “những sản phẩm có thành phần nhậpkhẩu” thoả mãn xuất xứ theo GSP nếu chúng đã trải qua “quá trình gia côngchế biến đầy đủ” (theo quy định của các nước cho hưởng) tại nước xuất khẩu

Ngày đăng: 25/12/2013, 21:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Danh mục giảm thuế của các nước ASEAN. - Quy chế pháp lý về giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa và thực tiễn áp dụng ở việt nam
Bảng 1 Danh mục giảm thuế của các nước ASEAN (Trang 18)
Bảng 4: Tình hình cấp C/O tại các chi nhánh, đại diện Phòng Thương  mại và Công nghiệp Việt Nam. - Quy chế pháp lý về giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa và thực tiễn áp dụng ở việt nam
Bảng 4 Tình hình cấp C/O tại các chi nhánh, đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w