1.Lý Do Chọn Đề Tài Dân chủ là mục tiêu, là yếu tố thể hiện bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Cùng với đó, dân chủ còn được xác định là động lực của công cuộc đổi mới. Tuy nhiên, dân chủ có trở thành động lực thực sự cho sự phát triển đất nước hay không, bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, là chế độ của dân, do dân và vì dân có được thể hiện hay không tùy thuộc vào mức độ dân chủ hóa, mức độ thực hành dân chủ trong đời sống xã hội. Trong đó, việc thực hiện dân chủ ở cơ sở là một nội dung quan trọng và đòi hỏi cấp bách nhất trong quá trình dân chủ hóa, xây dựng và hoàn hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Với đặc điểm của một nước nông nghiệp lạc hậu bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội như ở nước ta thì việc hiện thực hóa các giá trị dân chủ trong thực tiễn đời sống là vô cùng khó khăn. Vì vậy, để thực hiện dân chủ nói chung, thực hiện dân chủ ở cơ sở nói riêng, điều quan trọng là phải nhận diện rõ những rào cản đối với việc thực hiện dân chủ, trong đó một trở lực rất đáng quan tâm chính là tâm lý tiểu nông. Bộ Chính trị ban hành chỉ thị 30 năm 1998 về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và đặc biệt là sự ra đời của pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007. Người dân đã có cơ sở pháp lý để thực hiện quyền làm chủ của mình. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của tâm lý tiểu nông đối với việc thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở nặng nề hơn so với các cấp cao hơn. Vì vậy, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đến thực hiện dân chủ thì trước hết phải quan tâm đến cấp cơ sở, cấp xã. Việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn đã có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, quá trình thực hiện dân chủ ở các xã vẫn còn những bất cập. Những hạn chế trong chất lượng thực hiện dân chủ ở các xã, phường có nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó một phần xuất phát từ chính tâm lý tiểu nông đã ăn sâu vào trong suy nghĩ và hành động của cán bộ và người dân ở cơ sở.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu2.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận về tâm lý tiểu nông, về thực hiện dân chủ ở cơ sở và thực trạng ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đến việc thực hiện dân chủ ở cơ sở Việt Nam hiện nay, luận án đề xuất một số giải pháp để ngăn ngừa, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đến việc thực hiện dân chủ ở cơ sở Việt Nam trong thời gian tới. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận án; Làm rõ những vấn đề lý luận về tâm lý tiểu nông và thực hiện dân chủ ở cơ sở Việt Nam hiện nay; phân tích sự cần thiết phải hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đến thực hiện dân chủ ở cơ sở, phương thức tác động của tâm lý tiểu nông đến thực hiện dân chủ ở cơ sở. Phân tích thực trạng ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đến việc thực hiện dân chủ ở cơ sở Việt Nam hiện nay, nguyên nhân của thực trạng đó. Đề xuất một số giải pháp hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đến việc thực hiện dân chủ ở cơ sở Việt Nam hiện nay.3. Đối tượng nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng của luận án là ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đến việc thực hiện dân chủ ở cơ sở Việt Nam hiện nay. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Về phạm vi nội dung nghiên cứu của luận án là việc thực hiện dân chủ của nhân dân và cán bộ ở các xã. 3 Phạm vi không gian: các xã trong phạm vi không gian lãnh thổ Việt Nam. Phạm vi thời gian: từ năm 2007 (khi có Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn) đến nay.4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứuTrên cơ sở quán triệt phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận án sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, lịch sử và lôgíc,quy nạp và diễn dịch, phương pháp so sánh, phương pháp chuyên gia…5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của tiểu luận Chỉ rõ những phương thức tác động của tâm lý tiểu nông đến thực hiện dân chủ ở cơ sở, đó là thông qua phong tục tập quán và giáo dục gia đình. Nhận diện những ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông trong thực hiện dân chủ ở cơ sở Việt Nam hiện nay ở cả người dân và cán bộ cơ sở, đánh giá mức độ tác động của tâm lý này trong thực hiện 4 nhóm quyền cơ bản của người dân là quyền được biết, quyền được tham gia ý kiến, quyền biểu quyết, quyết định và quyền kiểm tra, giám sát. Trong các giả pháp chung, giải pháp xoá bỏ dần phương thức tác động của tâm lý tiểu nông đến thực hiện dân chủ và hoàn thiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở nhằm hạn chế dần ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông trong thực hiện dân chủ ở cơ sở là những đóng góp mới của luận án.6. Kết cấu của tiểu luậnNgoài phần Mở đầu,3 chương, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
MÔN HỌC: ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
TIỂU LUẬN PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA TIỂU NÔNG ĐỐI VỚI QUÁ
TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA,HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
GVHD: Ths Lê Quang Chung NHÓM TH:11 MSSV
Tp Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2019
Mở Đầu
Trang 21.Lý Do Chọn Đề Tài
Dân chủ là mục tiêu, là yếu tố thể hiện bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ởnước ta Cùng với đó, dân chủ còn được xác định là động lực của công cuộc đổimới Tuy nhiên, dân chủ có trở thành động lực thực sự cho sự phát triển đấtnước hay không, bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, là chế độ củadân, do dân và vì dân có được thể hiện hay không tùy thuộc vào mức độ dân chủhóa, mức độ thực hành dân chủ trong đời sống xã hội Trong đó, việc thực hiệndân chủ ở cơ sở là một nội dung quan trọng và đòi hỏi cấp bách nhất trong quátrình dân chủ hóa, xây dựng và hoàn hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước
ta Với đặc điểm của một nước nông nghiệp lạc hậu bỏ qua chế độ tư bản chủnghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội như ở nước ta thì việc hiện thực hóa các giá trị dânchủ trong thực tiễn đời sống là vô cùng khó khăn Vì vậy, để thực hiện dân chủnói chung, thực hiện dân chủ ở cơ sở nói riêng, điều quan trọng là phải nhậndiện rõ những rào cản đối với việc thực hiện dân chủ, trong đó một trở lực rấtđáng quan tâm chính là tâm lý tiểu nông
Bộ Chính trị ban hành chỉ thị 30 năm 1998 về xây dựng và thực hiện quy chếdân chủ ở cơ sở và đặc biệt là sự ra đời của pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã,phường, thị trấn năm 2007 Người dân đã có cơ sở pháp lý để thực hiện quyềnlàm chủ của mình Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của tâm lý tiểu nông đối vớiviệc thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở nặng nề hơn so với các cấp cao hơn Vì vậy,hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đến thực hiện dân chủthì trước hết phải quan tâm đến cấp cơ sở, cấp xã Việc thực hiện dân chủ ở xã,phường, thị trấn đã có những chuyển biến tích cực Tuy nhiên, quá trình thựchiện dân chủ ở các xã vẫn còn những bất cập Những hạn chế trong chất lượngthực hiện dân chủ ở các xã, phường có nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đómột phần xuất phát từ chính tâm lý tiểu nông đã ăn sâu vào trong suy nghĩ vàhành động của cán bộ và người dân ở cơ sở
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận về tâm lý tiểu nông, về thực hiệndân chủ ở cơ sở và thực trạng ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đến việcthực hiện dân chủ ở cơ sở Việt Nam hiện nay, luận án đề xuất một số giải pháp
để ngăn ngừa, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đến việcthực hiện dân chủ ở cơ sở Việt Nam trong thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 3Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận án; Làm
rõ những vấn đề lý luận về tâm lý tiểu nông và thực hiện dân chủ ở cơ sở ViệtNam hiện nay; phân tích sự cần thiết phải hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực củatâm lý tiểu nông đến thực hiện dân chủ ở cơ sở, phương thức tác động của tâm
lý tiểu nông đến thực hiện dân chủ ở cơ sở - Phân tích thực trạng ảnh hưởngtiêu cực của tâm lý tiểu nông đến việc thực hiện dân chủ ở cơ sở Việt Nam hiệnnay, nguyên nhân của thực trạng đó - Đề xuất một số giải pháp hạn chế nhữngảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đến việc thực hiện dân chủ ở cơ sở ViệtNam hiện nay
3 Đối tượng nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng của luận án là ảnh hưởng tiêu cực củatâm lý tiểu nông đến việc thực hiện dân chủ ở cơ sở Việt Nam hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu Về phạm vi nội dung nghiên cứu của luận án là việcthực hiện dân chủ của nhân dân và cán bộ ở các xã 3 Phạm vi không gian: các
xã trong phạm vi không gian lãnh thổ Việt Nam Phạm vi thời gian: từ năm 2007(khi có Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn) đến nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở quán triệt phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử, luận án sử dụng các phương pháp phân tích và tổnghợp, lịch sử và lôgíc,quy nạp và diễn dịch, phương pháp so sánh, phương phápchuyên gia…
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của tiểu luận
Chỉ rõ những phương thức tác động của tâm lý tiểu nông đến thực hiện dân chủ
ở cơ sở, đó là thông qua phong tục tập quán và giáo dục gia đình
Nhận diện những ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông trong thực hiện dânchủ ở cơ sở Việt Nam hiện nay ở cả người dân và cán bộ cơ sở, đánh giá mức độtác động của tâm lý này trong thực hiện 4 nhóm quyền cơ bản của người dân làquyền được biết, quyền được tham gia ý kiến, quyền biểu quyết, quyết định vàquyền kiểm tra, giám sát
Trong các giả pháp chung, giải pháp xoá bỏ dần phương thức tác động của tâm
lý tiểu nông đến thực hiện dân chủ và hoàn thiện pháp luật về dân chủ ở cơ sởnhằm hạn chế dần ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông trong thực hiện dânchủ ở cơ sở là những đóng góp mới của luận án
6 Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần Mở đầu,3 chương, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụlục
Nội Dung
Trang 4CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM VÀ SỰ HÌNH THÀNH VĂN HÓA TIỂU NÔNG Ở
VIỆT NAM1.1 Khái niệm văn hóa tiểu nông
Xưa nay, người ta thường dùng khái niệm “văn hóa tiểu nông” để chỉ thứvăn hóa sản sinh bởi một xã hội sản xuất nông nghiệp, mạnh mún, mang tính
tự cung tự cấp, ít tính liên kết và sản xuất chuyên sâu với trình độ phân cônglao động thấp Sản phầm của nền sản xuất tiểu nông ít được thị trường hóa.Văn hóa tiểu nông khiến con người luôn ở thế thủ, chỉ lo cho lợi ích bản thân
và trước mắt, ít dám nghĩ chuyện lâu dài, và cũng ít có khả năng nghĩchuyện lâu dài Nền sản xuất tiểu nông luôn lặp lại và duy trì những quytrình có sẵn đã hạn chế tư duy tìm tòi khám phá của con người
Văn hóa tiểu nông” tạo nên một nếp sống bừa bãi, tùy tiện của người Việt(văn hóa sống, văn hóa ứng xử) Nhiễm “văn hóa tiểu nông”, con người sẽthiếu sự tôn trọng xung quanh (bao gồm tất tần tật từ người cho đến vật)- tất
cả những thứ mà họ cảm thấy không liên quan trực tiếp tới mình Vì vậy, nó
là thủ phạm của sự thờ ơ với lợi ích cộng đồng, cũng là nguyên nhân củatính cách đố kỵ, tham lam, bè nhóm, thiển cận, cục bộ…
1.2 Cơ sở hình thành văn hóa tiểu nông
Văn hóa tiểu nông được nẩy sinh từ nền kinh tế nông nghiệp sản xuất nhỏ,manh mún, lạc hậu, tồn tại hàng nghìn năm, hiện vẫn chưa được xoá bỏ hoàntoàn Lực lượng lao động chủ yếu trong xã hội là người nông dân Văn hóatiểu nông vẫn đang hiện diện đậm nét trong các tầng lớp dân cư, nhất là ởkhối nông dân
Văn hóa tiểu nông Việt Nam bao gồm những thói quen, tập quán, phongtục, hành vi và thái độ ứng xử của người nông dân sản xuất nhỏ, được hìnhthành dưới ảnh hưởng trực tiếp của nền kinh tế tiểu nông và những điều kiệnsinh hoạt trong nông nghiệp, nông thôn, nó thể hiện mối quan hệ giữa cánhân và cộng đồng trong đời sống xã hội
Trang 5CHƯƠNG 2 ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA TIỂU NÔNG2.1 Những giá trị tích cực của lối sống tiểu nông Việt Nam
2.1.1 Lối sống coi trọng con người, trọng tình cảm, trọng đạo đức, trọng danh dự, trọng danh tiếng, trọng người lớn tuổi
Trong sản xuất nông nghiệp, để chống chọi với thiên tai, địch trong, giặc ngoài rất cần đến sức người và cần đông người hơn nữa Mặt khác, do điều kiện sống còn nhiều thiếu thốn, khó khăn, do hạn chế của y tế và do hạn chế về nhận thức trong việc chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ của con người nên người tiểu nông rất quý trọng con người: “Người sống đống vàng”, “Một mặt người bằng mười mặt của”, con người được đề cao đến mức tuyệt đối: “Người ta là hoa đất” Từ
đó đã nẩy sinh tâm lý coi trọng con người ở người tiểu nông nói riêng, người Việt Nam nói chung
Xuất phát từ truyền thống đoàn kết cộng đồng, đồng thời cũng do thiếu thốn về vật chất, sự hạn chế về phương tiện trong cuộc sống sinh hoạt, nên những lúc khó khăn, hoạn nạn, ốm đau, lúc công to việc lớn (lấy vợ, làm nhà ), người tiểu nông thường nhờ vào sự giúp đỡ của hàng xóm, láng giềng Cho nên, người nông dân luôn ứng xử bằng tình cảm, coi trọng tình cảm trong các mối quan hệ xã hội Dưới các hình thức và mức độ khác nhau, tình cảm thâm nhập vào toàn bộ cuộc sống và hoạt động của người tiểu nông từ nhận thức tới hành động, từ đạo đức đến lối sống, từ phong cách đến tính cách Trong đời sống của người tiểu nông, tình cảm luôn trực tiếp chi phối cả suy nghĩ đến hành động Tình cảm đó còn được thể hiện ở sự tôn trọng người cao tuổi, kính nể bậc hiền tài, coi trọng người có đạo đức, có học thức…
Người nông dân Việt Nam sống trong làng xã rất coi trọng tình nghĩa Tình
là tình yêu thương, quý mến nhau Nghĩa là bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ với nhau Họ luôn nhấn mạnh sự khoan hoà giữa tình cảm yêu thương với nghĩa vụ con người Sự gắn bó giữa tình và nghĩa đã tạo nên một lối ứng xử thuần hậu Ở
đó, người ta điều hoà được các quan hệ cá nhân và gia đình, lý trí và tình cảm, trách nhiệm và nghĩa vụ để tạo dựng một cuộc sống hài hoà và ổn định Điều đó
đã làm cân bằng cán cân xã hội; dù mọi vật xoay vần, tạo hóa biến chuyển khôn lường thì cuộc sống người nông dân ngàn đời nay vẫn tạo được cho mình sự bình yên, êm ả riêng có của nó Sức mạnh của lối ứng xử tình nghĩa thể hiện rất
rõ trong một khoảng trời rất riêng của mỗi con người - đó là gia đình Cũng vì lẽ
đó, trong nền giáo dục chính thống Việt Nam thời phong kiến rất coi trọng giáo dục đạo đức, “tiên học lễ, hậu học văn”, còn trong gia đình, giáo dục đạo đức được coi là nội dung cơ bản, chủ yếu Ở gia đình, các thế hệ ông bà, cha mẹ,
Trang 6luôn giáo dục con cháu rằng: “Giấy rách phải giữ lấy lề” hay: “Đói cho sạch, rách cho thơm”; “Đói miếng hơn tiếng để đời” Giữ gìn truyền thống đạo lý ngàn đời của cha mẹ, ông bà, tổ tiên - đó là nhân phẩm của con người Đó cũng
là danh dự, là lẽ sống của con người Việt Nam
Người tiểu nông sống gắn bó với những người trong làng quê, dòng họ, gia đình của mình; sống vì nhau, cho nhau và theo nhau Vì vậy, họ sống theo dư luận và tự mình ứng xử theo dư luận đó Dư luận tạo ra tiếng tăm, tai tiếng, điều tiếng: “Trâu chết để da, người ta chết để tiếng”, “Trăm năm bia đá thì mòn/ Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ” Điều này tạo ra tâm lý trọng danh dự, coi danh dự là thiêng liêng ở người tiểu nông Mặt khác, trong thang bậc xã hội xưa,người có chức tước, địa vị, người cao tuổi là những người được coi trọng Từ
đó, đã nảy sinh tâm lý coi trọng địa vị, coi trọng danh tiếng (trọng danh), thích
có tên tuổi, thích có tiếng tăm trong làng, trong xã, trong họ và rộng hơn nữa là đối với đất nước ở người tiểu nông: “Làm trai sống ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông” (Nguyễn Công Trứ) Ở phương diện này, ta còn thấy người tiểu nông dù nghèo nhưng vẫn trọng kẻ sỹ (người có học): “nhất sĩ, nhì nông”, trọng chữ nghĩa: “Một kho vàng không bằng một nang chữ”
2.1.2 Truyền thống yêu nước, đoàn kết cộng đồng, lao động cần cù và lạc quan trong cuộc sống
Tình yêu đất nước là tình cảm bao trùm chi phối toàn bộ đời sống tâm lýcủa người nông dân Việt Nam Lòng yêu nước đó luôn mãnh liệt và được pháthuy thường xuyên, liên tục, xuyên suốt mấy ngàn năm lịch sử của dân tộc ViệtNam Tinh thần yêu nước của con người Việt Nam nói chung và người nông dânnói riêng được hình thành và phát triển trong hoàn cảnh đặc thù của đất nước -một quốc gia thường xuyên phải đấu tranh chống thiên tai và luôn phải đối phóvới những hiểm họa xâm lược Tình cảm yêu nước ấy luôn được thử tháchthường xuyên từ buổi sơ khai của lịch sử, gắn liền với quá trình dựng nước vàgiữ nước của dân tộc ta Vì vậy, nó là cái thiêng liêng cao cả không chỉ gắn liềnvới ý thức mà còn gắn chặt với đạo lý làm người, với nhân cách, phẩm giá conngười Việt Nam
Điều kiện, hoàn cảnh lao động sản xuất, sinh hoạt, đấu tranh chống giặcngoại xâm của dân tộc Việt Nam trong lịch sử đã hình thành nên ở người nôngdân Việt Nam ý thức làm chủ vận mệnh dân tộc, đất nước Dựng nước và giữnước luôn đi đôi với nhau Mỗi khi đất nước bị giặc ngoại xâm đe dọa thì ý thứclàm chủ vận mệnh dân tộc của người nông dân Việt Nam lại được đặt lên trênhết Không ai có thể phủ nhận tình cảm yêu nước là một tình cảm lớn nhất củadân tộc Việt Nam, của người nông dân Việt Nam, đặc biệt là tình cảm yêu nước
Trang 7đó đã nâng lên thành chủ nghĩa yêu nước Nhìn vào lịch sử của dân tộc, chúng tathấy tình yêu đất nước của con người Việt Nam luôn hiện hữu ở mọi thời điểm.Chính lòng yêu quê hương đất nước, cùng với cuộc sống đầy khó khăn, vất
vả, phải vật lộn với thiên nhiên khắc nghiệt, đấu tranh chống giặc ngoại xâm tànbạo đã hun đúc cho nhân dân ta truyền thống đoàn kết Thực vậy, lịch sử đãchứng minh, mỗi khi đất nước gặp nạn thì tinh thần đoàn kết, tính cố kết cộngđồng tạo nên sức mạnh giúp cho nhân dân ta vượt qua tất cả những khó khăn,thử thách
Có thể nói, truyền thống đoàn kết, tính cố kết cộng đồng là đặc trưng tronglối sống của người nông dân nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung Lốisống cố kết cộng đồng bền chặt ở người nông dân Việt Nam được hình thành từtrong sản xuất, chiến đấu và xây dựng quê hương, đất nước
Xuất phát từ cuộc sống sinh hoạt, trong xử lý công việc chung của làngnhư: sản xuất, chống thiên tai, chống giặc và tham gia vào công việc chính trịcủa đất nước, tất cả các hộ gia đình tiểu nông đã đoàn kết, gắn bó với nhau Đâychính là cơ sở để tạo nên sự đoàn kết, cố kết cộng đồng của người nông dân ViệtNam, bởi vì việc đắp đê, ngăn lũ, làm thủy nông, việc chống lụt, chống bão pháhoại mùa màng, việc trao đổi kinh nghiệm lao động, sản xuất, việc đánh giặc giữlàng, giữ nước… là việc mà một người nông dân, một gia đình không thể làmđược Các thành viên, các hộ gia đình tiểu nông trong làng gắn kết với nhau tạothành một đại gia đình, từ gia đình đến làng và rộng hơn là nước Có thể xemlàng là mô hình thu nhỏ của nước Người Việt Nam nói chung và người nôngdân Việt Nam nói riêng ý thức rất rõ về mối quan hệ giữa nhà - làng - nước Chonên, với họ sinh hoạt cộng đồng làng xã với sinh hoạt cộng đồng dân tộc, nướcvới nhà, làng với nước, có sự gắn bó mật thiết, có sự thống nhất với nhau
Do đặc thù người nông dân Việt Nam sống thành làng và coi làng như mộttiểu xã hội trồng lúa nước, nên hầu như các hoạt động của họ, từ lao động, sảnxuất đến chiến đấu, từ sinh hoạt văn hóa đến đời sống, nếp sống hàng ngày đềumang những dấu ấn đậm nét của lối sống cộng đồng làng Mọi sinh hoạt kinh tế,chính trị, xã hội… của họ đều gắn với làng Đối với người Việt, làng là một kháiniệm rất gần gũi và cũng rất thiêng liêng, bởi làng có sự mở rộng của gia đình.Trong lịch sử làng xã Việt Nam nói chung, làng xã ở nông thôn miền Bắcnói riêng, tính biệt lập, khép kín là rất cao Đứng về mặt lịch sử, tính biệt lập,khép kín ấy đã hạn chế chính sự phát triển của làng xã và để lại nhiều hậu quảtiêu cực cho đến cả ngày nay Song, không thể từ những lý do trên mà đi đếnphủ nhận tinh thần đoàn kết cộng đồng của người nông dân Bởi lẽ, các cộng
Trang 8đồng làng xã nhỏ hẹp ấy, như đã nói ở trên, vẫn là khâu “trung giới”, cố kết nhàvới nước, cá nhân với dân tộc.
Truyền thống đoàn kết cộng đồng gắn bó keo sơn của người Việt Nam nóichung và người nông dân nói riêng thể hiện rõ hơn khi đất nước đứng trước nạnxâm lăng Bởi lẽ, nước mất thì nhà tan, muốn giữ nước, họ phải đoàn kết lại đểđánh giặc cứu nước, bỏ qua mọi hiềm khích cá nhân để chung một mục đích cứunước Đó cũng chính là lý do để hiểu vì sao người Việt Nam lại có tinh thần yêunước nồng nàn, tinh thần đoàn kết cộng đồng Vì sao trong các giá trị truyềnthống thì ở người Việt Nam các giá trị về cộng đồng luôn được củng cố, ưu tiên
so với nhiều giá trị khác
Nói đến lối sống, tính cách của người nông dân Việt Nam không thể khôngnói đến tình yêu lao động, cần cù và luôn lạc quan trong cuộc sống Đây là đặctính chung của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam, mà trong đó người nôngdân là một điển hình
Người nông dân Việt Nam từ rất sớm đã là chủ nhân của một nền văn minhnông nghiệp sớm phát triển Sống trên mảnh đất hẹp, nhiều thiên tai, lắm địchhọa, nên người nông dân sẵn có một tinh thần lao động cần cù và tinh thần ấy đã
ăn sâu vào máu thịt họ tạo thành một truyền thống tốt đẹp Những công trìnhkinh tế - xã hội, văn hóa được lưu giữ từ ngàn đời đến nay của người nông dân
là minh chứng của tình yêu lao động, sự cần cù, nhẫn nại của người nông dânViệt Nam trước hoàn cảnh thiên tai khắc nghiệt
Với nền sản xuất nông nghiệp mà công cụ sản xuất chủ yếu là thủ công, lạchậu nên năng suất lao động trong nông nghiệp rất thấp, gặp những khi hạn hán,bão lũ giông tố hoặc dịch bệnh thì rất dễ mất mùa Cuộc sống không ổn định,thậm chí là bấp bênh, nạn đói thường xuyên xảy ra, từ đó đã nảy sinh tâm lý củangười tiểu nông là rất sợ đói Do vậy, hơn ai hết họ hiểu rằng, nếu không gắngsức, lười biếng trong lao động thì họ sẽ đói nghèo Bởi vậy, người nông dân ViệtNam luôn cần cù vượt khó trong lao động và tiết kiệm về thời gian, của cải vậtchất: “năng nhặt chặt bị”, “thời gian là vàng”, “ tấc đất tấc vàng”…
Mặc dù, điều kiện thiên nhiên, môi trường sống, sản xuất của người tiểunông khó khăn như vậy, nhưng họ vẫn lạc quan, yêu đời, yêu cuộc sống Ngườitiểu nông có một lối sống rất linh hoạt ở bầu thì tròn, ở ống thì dài với khả năngthích nghi cao Trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào, con người Việt Namkhông hề chán nản mà luôn có ý chí vươn lên Ở tận cùng của bi kịch mất mát,người ta vẫn quan niệm: “Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây”, “còn người còncủa”
Trang 92.2.Những hạn chế của văn hóa tiểu nông
2.2.1 Ngại đổi mới
Việt Nam được xem là một quốc gia có bề dày lịch sử hơn 4000 năm nhưnglại là 4000 năm dài của chế độ quân chủ tập quyền với hơn 1000 năm hoàn toànBắc thuộc Các nước Châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng là một nền nôngnghiệp lạc hậu phụ thuộc vào thiên nhiên là chính Trong 1000 năm Bắc thuộc,chúng ta đã bị tư tưởng Nho giáo đồng hóa hoàn toàn và tiếp tục bám sâu vàotrong tâm thức người Việt vì nó hoàn toàn phù hợp với nền kinh tế nông nghiệplạc hậu và chế độ chính trị tập quyền Cuộc xâm lược của thực dân Pháp đãmang đến nhiều đau thương cho dân tộc nhưng lại không thể phủ nhận nhữnggiá trị tích cực mà họ mang lại Các thành phố như Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng.Chúng ta có thể thấy được cây cầu Long Biên hay tuyến đường sắt Bắc-Namvẫn còn tồn tại và vẫn còn sử dụng tốt Người Mĩ chỉ ảnh hương đến miền Namchỉ trong khoảng 20 năm (1954-1975) nhưng họ đã làm thay đổi về vật chất và
tư tưởng của miền nam tiến bộ hơn miền bắc rất nhiều Tuy nhiên, sự xuất hiệncủa người Pháp và Mĩ là quá ngắn ngủi so với 4000 năm phong kiến và nềnnông nghiệp lạc hậu, những cuộc cách mạng bạo lực với danh nghĩa “đánh đuổithực dân, giải phóng dân tộc” dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nông mà nôngdân là gốc, chúng ta lại quay lại tư duy tiểu nông lạc hậu trong khi các nướcChâu Á ngày càng phát triển Hậu quả là Việt Nam ngày càng tụt hậu, tàinguyên, khoáng sản bị khai thác kiệt quệ, các thành phố ngày càng xuống cấp,ngày càng tràn ngập lối sống xô bồ vô tổ chức Không phải ai sống ở thành thịđều có nếp sống của người thành thị nếu họ vẫn mang nặng tư duy tiểu nông lạchậu, dù họ có sống bao lâu ở thành phố đi chăng nữa
2.2.2 Lối sống hẹp hòi, vị lợi, tính tùy tiện, kém kỷ luật, chưa có thói quen tôn trọng và chấp hành pháp luật
Đặc trưng của nông thôn Việt Nam, tiêu biểu nhất là khu đồng bằng vàtrung du Bắc Bộ, là chế độ sở hữu nhỏ về ruộng đất chiếm ưu thế, gia đình làđơn vị kinh tế chủ yếu, sản xuất mang tính manh mún Trên mảnh đất nhỏ bécủa người nông dân là cả một bầu trời riêng đã cột chặt họ trong những khuônkhổ chặt hẹp, bằng việc chăm lo thu vén cho cuộc sống gia đình, lợi ích cá nhân
Đó là nguồn gốc để nảy sinh lối sống hẹp hòi, vị lợi ở người tiểu nông ViệtNam
Phương pháp canh tác cổ truyền được kế thừa từ đời này sang đời khác,nên năng suất lao động thấp, sản phẩm chỉ đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng củabản thân, gia đình và cộng đồng nhỏ hẹp của người nông dân Điều đó đã chiphối các mối quan hệ của họ, làm cho các mối quan hệ này chỉ dừng lại trong
Trang 10phạm vi gia đình, họ hàng, làng xóm Thêm vào đó, sự kém phát triển của cơ sở
hạ tầng và phương tiện giao thông cùng với cuộc sống bấp bênh, nghèo khó đãkìm hãm việc mở rộng mối quan hệ của họ Đây là điều kiện thuận lợi để nẩysinh và nuôi dưỡng lối sống cục bộ địa phương của người tiểu nông
Mặt khác, người dân sống ở từng vùng, từng miền trên đất nước Việt Namlại có những phong tục, tập quán, lối sống, tính cách, tâm lý riêng, cho nên sựhoà đồng không phải bao giờ cũng thuận lợi, trong nhiều trường hợp còn có sựkhác biệt giữa xã này với xã khác, tỉnh này biệt lập với tỉnh khác Thậm chí,ngay cả trong phạm vi một làng thì xóm này cũng biệt lập với xóm khác, dòng
họ này cũng biệt lập với dòng họ khác Đây là mảnh đất tốt để lối sống cục bộđịa phương nảy sinh và phát triển Và cũng vì vậy, xuất hiện tâm lý đố kỵ, hẹphòi, níu kéo trong từng nhóm những cộng đồng nông dân nhỏ hẹp như: giađình, họ hàng, làng xóm Lâu dần, tâm lý hẹp hòi, cục bộ địa phương trở thànhmột đặc trưng trong lối sống của người tiểu nông Việt Nam hết sức rõ nét Nóchi phối hành vi, thái độ, cách ứng xử hàng ngày của họ Trong một số trườnghợp, họ chăm lo lợi ích nhỏ hẹp của gia đình, họ hàng, làng xã mà quên đi lợiích của quốc gia, dân tộc
Cách thức sản xuất đó của người tiểu nông Việt Nam đã dẫn đến hệ quả là
họ không quen với pháp luật Nếu như ở các nước tư bản chủ nghĩa với nền kinh
tế hàng hóa sớm phát triển, người nông dân làm ăn trong một khuôn khổ phápluật nhất định Người nông dân không thể tuỳ tiện, coi thường pháp luật vànhững quy luật của thị trường, bởi như vậy họ sẽ bị trả giá bằng sự phá sản, thua
lỗ Còn những người tiểu nông Việt Nam sản xuất mang tính tự phát, với mụcđích tự cung, tự cấp, tự túc Họ sản xuất cho mình, vì mình Điều này tạo nêntính tuỳ tiện, thiếu kỷ luật, kỷ cương, chưa có thói quen sống và làm việc theopháp luật của người tiểu nông Việt Nam
Hơn nữa, xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử của đất nước, trước thời Bắc thuộc,người tiểu nông Việt Nam vốn đề cao và sống theo “lệ làng” Người dân tronglàng chấp hành những quy định của “lệ làng” một cách tự nguyện và nghiêmtúc Họ sống theo lệ làng, theo tục lệ, lề thói, ít quen với pháp luật Họ chỉ sợ lệ,
sợ dư luận của làng, mà không sợ luật, thậm chí coi thường pháp luật “phép vuathua lệ làng” Khi phong kiến phương Bắc bắt đầu đô hộ nước ta, chúng đưa hệthống pháp luật hà khắc vào để dễ dàng cai trị Với tính chất của hệ thống phápluật đó nên ngay từ đầu, người dân Việt Nam đã ác cảm và chống lại pháp luật,không phục tùng pháp luật; coi đó là biểu hiện của sự xâm lược, một thứ vănhóa ngoại lai