* Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp: Đó là những quan hệ về phân phối, điều hoà cơ cấu thành phần vốn kinh doanh, phân phối thu nhập giữa các thành viên trong nội bộ doanh nghi
Trang 1LêI Më §ÇU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hoạt động quản lý trong tất cả các doanh nghiệp đều bao gồm ba hoạt động là: Nhận thức - quyết định – hành động Trong đó, nhận thức giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong việc xác định mục tiêu kinh doanh và xác định nhiệm vụ để đạt được mục tiêu đó Như vậy, nếu nhận thức đúng đắn sẽ có các quyết định đúng đắn, tổ chức thực hiện kịp thời các quyết định đó và đương nhiên sẽ thu được những kết quả như mong muốn Ngược lại, nếu nhận thức sai sẽ dẫn tới các quyết định sai và nếu thực hiện các quyết định sai đó thì hậu quả sẽ không thể lường trước được
Vì vậy, phân tích tình hình tài chính là đánh giá đúng đắn nhất những gì đã làm được, dự kiến những gì sẽ xẩy ra, trên cơ sở đó kiến nghị các biện pháp để tận dụng triệt để những điểm mạnh và khắc phục các điểm yếu Từ đó, cung cấp thông tin hỗ trợ đắc lực cho nhà quản lý cơ sở lựa chọn, quyết định phương án tối ưu cho hoạt động của doanh nghiệp
Tình hình tài chính doanh nghiệp là sự quan tâm không chỉ của chủ doanh nghiệp mà còn là mối quan tâm của rất nhiều đối tượng khác Qua việc phân tích tình hình tài chính các đối tượng này sẽ thấy được tình hình thực tế của doanh nghiệp sau mỗi chu kỳ kinh doanh, từ đó có thể rút ra được những quyết định đúng đắn liên quan đến doanh nghiệp và tạo điều kiện nâng cao khả năng tài chính của doanh nghiệp
Từ nhận thức trên nên em chọn đề tài: “Phân tích tình hình tài chính tại công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng qua 2 năm 2006 – 2007” để làm đề tài cho luận
văn tốt nghiệp của mình
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Hệ thống, trình bày tóm tắt để có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về phân tích tình hình tài chính, đặc điểm của phân tích tài chính trong công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng để khảo sát và đánh giá thực trạng về tình hình tài chính của công ty
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu nội dung và phương pháp phân tích tình hình tài chính thông qua báo cáo tài chính
- Phạm vi nghiên cứu: Công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp so sánh, phương pháp phân tích ảnh hưởng của các nhân tố, phương pháp diễn dịch, phương pháp số chênh lệch… và một số phương pháp khác
Trang 25 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được chia thành 3 phần như sau:
- Phần I: Cơ sở lý luận hoạt động phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
- Phần II: Phân tích tình hình tài chính tại công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng
- Phần III: Một số giải pháp để góp phần nâng cao khả năng tài chính của công
ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng
Do thời gian và kiến thức còn hạn chế nên bài luận văn không tránh khỏi thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp của thầy, cô cùng các cô chú phòng kế toán công ty
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô, các anh chị phòng kế toán tại công ty Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của thầy PHAN THANH HẢI đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em hoàn thành luận văn này
Đà Nẵng, ngày tháng năm 2008 Sinh viên thực hiện
Trang 3PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
I BẢN CHẤT, VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
I.1 Bản chất Tài chính Doanh nghiệp
I.1.1 Nội dung của các mối quan hệ tài chính
Tài chính là một bộ phận cấu thành trong các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp Nó có mối liên hệ hữu cơ và tác động qua lại với các hoạt động kinh tế khác, mối quan hệ tác động qua lại này phản ánh và thể hiện sự tác động gắn bó thường xuyên giữa phân phối, sản xuất với tiêu thụ sản phẩm Phân phối vừa phản ánh kết quả của sản xuất và trao đổi, lại vừa là điều kiện cho sản xuất và trao đổi có thể tiến hành bình thường và liên tục
Tài chính không phải là tiền tệ, thực chất tiền tệ là hình thức biểu hiện bên ngoài của tài chính, còn bên trong nó là những quan hệ kinh tế đa dạng Nhân loại đã
có những phát minh vĩ đại, trong đó phải kể đến việc phát minh ra tiền Thông qua tiền có thể quy mọi hoạt động khác nhau về một đơn vị đo thống nhất, và trên cơ sở
đó có thể so sánh và tính toán được với nhau nên tiền chỉ là phương tiện cho hoạt động tài chính nói chung và hoạt động tài chính doanh nghiệp nói riêng
Do vậy, toàn bộ các quan hệ kinh tế được biểu hiện bằng tiền phát sinh trong doanh nghiệp thể hiện nội dung của tài chính doanh nghiệp Nó bao gồm các quan hệ tài chính sau:
* Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà Nước: Tất cả các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều phải thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà Nước
đó là nộp thuế cho ngân sách Nhà Nước Nhà Nước có thể góp vốn với các công ty liên doanh hoặc công ty cổ phần bằng cách mua cổ phiếu hoặc có thể cho vay dưới hình thức mua trái phiếu Trong một số trường hợp, nếu Nhà Nước có chính sách trợ giá, bù lỗ, cấp phát thì đây cũng là một dạng của quan hệ tài chính
* Quan hệ tài chính giữa các doanh nghiệp với nhau: Mối quan hệ này phát
sinh trong quá trình thanh toán các sản phẩm và dịch vụ, trong việc góp vốn liên doanh, vốn cổ phần và chia lợi nhuận do vốn liên doanh cổ phần mang lại Cùng với
sự phát triển của các yếu tố cấu thành trong nền kinh tế thị trường, các mối quan hệ
về kinh tế giữa các doanh nghiệp có xu thế ngày càng tăng lên Các hoạt động đó đan xen vào nhau và tự điều chỉnh theo các quan hệ cung cầu về vốn tiền tệ và khả năng thu hút lợi nhuận
Trang 4* Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp: Đó là những quan hệ về phân
phối, điều hoà cơ cấu thành phần vốn kinh doanh, phân phối thu nhập giữa các thành viên trong nội bộ doanh nghiệp, các phòng ban, tổ, đội sản xuất trong việc tạm ứng, thanh toán tài sản, vốn Bên cạnh đó còn thể hiện mối quan hệ giữa doanh nghiệp với cán bộ công nhân viên trong quá trình phân phối thu nhập cho người lao động dưới hình thức tiền lương, tiền thưởng, tiền phạt, lãi cổ phần
I.1.2 Bản chất của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức giá trị, phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các nhu cầu chung của xã hội
Hay, tài chính doanh nghiệp là mối quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chức, huy động, phân phối, sử dụng và quản lý vốn trong quá trình kinh doanh
I.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
I.2.1 Vai trò của tài chính doanh nghiệp đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tài chính doanh nghiệp là công cụ khai thác, thu hút các nguồn tài chính nhằm đảm bảo nhu cầu vốn cho đầu tư và phát triển của doanh nghiệp
- Đảm bảo sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả cả về mặt kinh tế lẫn xã hội
- Là đòn bẩy kích thích và điều tiết hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tuỳ thuộc vào năng lực của nhà quản lý trong việc vận dụng chức năng phân phối
- Là công cụ kiểm tra các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là tấm gương phản ánh trung thực nhất về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
I.2.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp đối với hệ thống tài chính
Tài chính doanh nghiệp là khâu cơ bản, khâu khởi điểm tạo nguồn thu ban đầu cho các khâu khác trong hệ thống tài chính (ngân sách Nhà Nước, tài chính doanh nghiệp, tài chính hộ gia đình, tài chính của các tổ chức trung gian )
I.3 Chức năng của tài chính doanh nghiệp
I.3.1 Chức năng tạo lập và chu chuyển vốn
Chức năng này nhằm bảo đảm thoả mãn nhu cầu vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Để bảo đảm sản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp phải có vốn và tổ chức sử dụng vốn của mình một cách chủ động và có hiệu quả
Trước đây, trong cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung, ngân sách Nhà Nước cấp toàn bộ vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho việc thiết lập các xí nghiệp quốc doanh
Trang 5Hiện nay khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, với sự hoạt động của các doanh nghiệp trong mọi thành phần kinh tế khác nhau, nhiều xí nghiệp quốc doanh đã tỏ ra
sự yếu kém của mình Thực trạng đó đặt ra cho các nhà quản lý kinh tế nói chung và các nhà quản lý tài chính nói riêng một vấn đề là: Làm thế nào để đưa các xí nghiệp làm ăn thua lỗ đó thoát ra khỏi tình trạng hiện nay? Chính sự bất ổn này đã tạo ra sự chưa nhất quán trong việc định hình các nguồn vốn cho các doanh nghiệp ở nước ta
I.3.2 Chức năng phân phối
Sau khi đã huy động được vốn và đã sử dụng vốn đó thì doanh nghiệp sẽ thu được kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó, doanh nghiệp phải tiến hành phân phối kết quả kinh doanh của mình nhằm trang trải chi phí bỏ ra, thực hiện nghĩa
vụ đối với Nhà Nước, bảo đảm quá trình tái sản xuất kinh doanh, thực hiện nguồn lợi kinh doanh của chủ sở hữu doanh nghiệp
Đây là một chức năng quan trọng của tài chính doanh nghiệp
I.3.3 Chức năng giám đốc
Nội dung giám đốc tài chính là sự giám đốc sự vận động và chu chuyển của nguồn vốn với hiệu quả sử dụng vốn, giám đốc việc lập và chấp hành các chỉ tiêu kế hoạch, các định mức kinh tế tài chính, giám đốc quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ, quá trình hạch toán kinh tế và giám đốc việc chấp hành các chính sách về tài chính
II KHÁI NIỆM, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ Ý NGHĨA CỦA PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
II.1 Khái niệm
Phân tích kinh doanh là việc phân chia các hiện tượng, các quá trình và các kết quả kinh doanh thành nhiều bộ phận cấu thành Kết quả kinh doanh thuộc đối tượng phân tích có thể là kết quả riêng biệt của từng khâu, từng giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh như: mua hàng hoặc bán hàng hoặc có thể là kết quả tổng hợp của
cả một quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vậy thế nào là phân tích tình
hình tài chính doanh nghiệp?
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và công cụ cho phép thu thập, xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản lý doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp cho người sử dụng thông tin đưa ra quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp
II.2 Mục tiêu
Trang 6Như chúng ta đã biết mọi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp đều nằm trong thể tác động liên hoàn với nhau Bởi vậy, chỉ có thể phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp mới đánh giá đầy đủ và sâu sắc mọi hoạt động kinh tế trong trạng thái thực của chúng Bởi vậy phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp phải đạt được các mục tiêu sau:
- Cung cấp đầy đủ những thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, các chủ nợ và những người sử dụng khác để họ có thể ra các quyết định về đầu tư, tín dụng và các quyết định tương tự
- Cung cấp thông tin quan trọng cho chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các chủ
nợ và những người sử dụng khác đánh giá số lượng, thời gian và rủi ro của những khoản thu bằng tiền từ cổ tức hoặc tiền lãi
- Cung cấp thông tin về các nguồn lực kinh tế, vốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả của các quá trình, các tình huống làm biến đổi các nguồn vốn và các tác động của những nghiệp vụ kinh tế giúp cho chủ doanh nghiệp dự toán chính xác quá trình phát triển doanh nghiệp trong tương lai
II.3 Nhiệm vụ
Mọi doanh nghiệp cần tiến hành phân tích thường xuyên và kịp thời đánh giá, kiểm tra tình hình tài chính trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Như vậy, nhiệm vụ của phân tích tình hình tài chính bao gồm:
- Đánh giá thực trạng tình hình tài chính doanh nghiệp trên các mặt, đảm bảo vốn cho sản xuất kinh doanh, quản lý và phân phối vốn
- Đánh giá hiệu quả sử dụng từng loại vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh và hiệu quả tài chính của hoạt động sản xuất kinh doanh
- Tính toán và xác định mức độ có thể lượng hóa của các nhân tố có ảnh hưởng đến các nhân tố chính của doanh nghiệp
II.4 Ý nghĩa
Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh
Do đó, tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến tài chính của doanh nghiệp Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh Chính vì vậy, phân tích tình hình tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân chủ doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài có liên quan đến tài chính doanh nghiệp
Trang 7Kết luận: Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho
người sử dụng thấy được thực trạng hoạt động tài chính, từ đó xác định được nguyên
nhân và mức độ ảnh hưởng đến từng hoạt động kinh doanh Dưới đây là bảng thể
hiện nhu cầu sử dụng thông tin của các đối tượng:
NHU CẦU SỬ DỤNG THÔNG TIN CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG
Đối tượng sử
dụng thông tin
Cần quyết định cho các mục tiêu
Yếu tố cần dự đoán cho
tương lai
Các thông tin dạng câu hỏi
Nhà quản trị
doanh nghiệp
Điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh
- Lập kế hoạch cho tương lai
- Đầu tư dài hạn
- Chiến lược sản phẩm và thị trường
- Chọn phương án nào
sẽ có hiệu quả cao nhất?
- Nên huy động nguồn đầu tư nào?
Nhà đầu tư Có nên đầu tư vào
doanh nghiệp không?
- Giá trị đầu tư nào sẽ thu được trong tương lai
- Các lợi ích khác có thể thu được đối với nhà đầu tư
Năng lực của doanh nghiệp trong điều kiện kinh doanh và huy động vốn đầu tư như thế nào?
Nhà cho vay Có nên cho doanh
nghiệp vay vốn không?
- Doanh nghiệp có khả năng trả nợ theo đúng hợp đồng hay không?
- Các lợi ích khác có thể thu được đối với các nhà cho vay
- Tình hình công nợ của doanh nghiệp
- Lợi tức có được chủ yếu từ hoạt động nào?
- Tình hình và khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp
Cơ quan Nhà
Nước và người
làm công
- Các khoản doanh nghiệp đóng góp cho Nhà Nước
- Có nên tiếp tục hợp đồng lao động hay không?
- Hoạt động của doanh nghiệp có hợp lý và hợp pháp hay không?
- Doanh nghiệp có thể tăng thêm thu nhập cho người lao động hay không?
Có thể có biến động gì
về vốn và thu nhập trong tương lai hay không?
Nguồn: Phân tích hoạt động kinh doanh – NXB Thống kê
Trang 8III TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
III.1 Cơ sở nguồn tài liệu phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
III.1.1 Nguồn thông tin từ các Báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là một trong những báo cáo được lập dựa vào phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ các sổ sách kế toán, theo các chỉ tiêu tài chính phát sinh tại những thời điểm hoặc những thời kỳ nhất định
Hệ thống các báo cáo tài chính của nước ta bao gồm:
- Bảng CĐKT Mẫu số B.01 - DN
- Bảng báo cáo KQHĐKD Mẫu số B.02 - DN
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Mẫu số B.03 - DN
- Bảng thuyết minh báo cáo tài chính Mẫu số B.09 - DN
III.1.2 Các nguồn thông tin khác có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp
III.1.2.1 Thông tin có liên quan đến tình hình kinh tế
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu tác động bởi nhiều nhân tố thuộc môi trường vĩ mô nên phân tích tài chính cần đặt trong bối cảnh chung của nền kinh
tế Những thông tin thường quan tâm bao gồm:
- Thông tin về sự tăng trưởng, suy thoái nền kinh tế
- Thông tin về lãi suất ngân hàng, tỷ giá ngoại tệ, tình hình biến động của thị trường chứng khoán
- Thông tin về tình trạng lạm phát, giảm phát
- Các chính sách kinh tế lớn, các chính sách về chính trị, ngoại giao
III.1.2.2 Thông tin theo ngành
Ngoài những thông tin về môi trường vĩ mô, những thông tin liên quan đến lĩnh vực kinh doanh cũng cần được chú trọng là:
- Mức độ và yêu cầu công nghệ của ngành
- Mức độ cạnh tranh, khả năng xuất hiện đối thủ cạnh tranh tiềm tàng và quy
mô của thị trường
- Nhịp độ và xu hướng vận động của ngành
III.1.2.3 Thông tin về đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp có những đặc điểm riêng trong hoạt động tổ chức sản xuất kinh doanh và phương hướng hoạt động nên để đánh giá hợp lý tình hình sản xuất,
Trang 9nhà phân tích cần nghiên cứu kỹ lưỡng đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp Những vấn đề cần quan tâm bao gồm:
- Mục tiêu, chiến lược hoạt động kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp
- Tính thời vụ, tính chu kỳ trong hoạt động sản xuất kinh doanh
- Mối quan hệ giữa nhà cung cấp, ngân hàng, nhà đầu tư với doanh nghiệp
và với các đối tượng khác
III.2.3 Phương pháp loại trừ
III.2.3.1 Phương pháp thay thế liên hoàn
Phương pháp này sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích khi các nhân tố này có quan hệ tích số, thương số, hoặc vừa tích số vừa thương số với chỉ tiêu phân tích
III.2.3.2 Phương pháp số chênh lệch
Phương pháp số chênh lệch là một dạng đặc biệt của phương pháp thay thế liên hoàn nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của các chỉ tiêu kinh tế Phương pháp số chênh lệch tôn trọng đầy đủ nội dung các bước tiến hành của phương pháp thay thế liên hoàn, chỉ khác nhau ở chỗ khi xác định các nhân tố ảnh hưởng, chỉ việc nhóm các số hạng và tính chênh lệch các nhân tố sẽ cho ta mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích
Trang 10IV NỘI DUNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP IV.1 Phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp
IV.1.1 Phân tích cấu trúc tài sản ở doanh nghiệp
Là việc xác định tỷ trọng từng loại tài sản chiếm trong tổng tài sản của doanh nghiệp Phân tích cấu trúc tài sản nhằm đánh giá những đặc trưng trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp, tính hợp lý khi đầu tư vốn trong hoạt động kinh doanh
Nguyên tắc chung khi thiết lập chỉ tiêu phản ánh tài sản như sau:
Nói chung tỷ trọng tiền và các khoản tương đương tiền quá lớn hay quá nhỏ đều không tốt cho doanh nghiệp Vì vậy, doanh nghiệp cần phải xác định một mức dự trữ tiền hợp lý
IV.1.1.2 Tỷ trọng đầu tư tài chính
Trang 11Chỉ tiêu này cho biết giá trị các khoản đầu tư tài chính chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng tài sản của doanh nghiệp
Đầu tư tài chính gồm hai loại là đầu tư ngắn hạn và đầu tư dài hạn Đây không phải là hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp, doanh nghiệp chỉ đầu tư tài chính khi doanh nghiệp có số vốn nhàn rỗi khi đã đáp ứng toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh, mục đích của đầu tư tài chính là tìm kiếm lợi nhuận
IV.1.1.3 Tỷ trọng các khoản phải thu
Chỉ tiêu này cho biết giá trị các khoản phải thu chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng tài sản của doanh nghiệp Chỉ tiêu này phản ánh mức độ vốn kinh doanh của doanh nghiệp đang bị các đơn vị khác tạm thời sử dụng Chỉ tiêu này càng lớn thì lượng vốn lưu động của doanh nghiệp bị chiếm dụng càng nhiều, điều này làm giảm vòng quay vốn lưu động hay nói cách khác làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động Thông thường tỷ trọng khoản phải thu có xu hướng giảm thể hiện doanh nghiệp quản
lý tốt các khoản phải thu, có chính sách thu hồi nợ hợp lý
IV.1.1.4 Tỷ trọng hàng tồn kho
Chỉ tiêu này cho biết giá trị hàng tồn kho chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng tài sản của doanh nghiệp Khi phân tích chỉ tiêu này còn phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng loại hình doanh nghiệp, chính sách dự trữ và tính thời vụ trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Nếu chỉ tiêu này càng lớn sẽ gây ứ đọng vốn, giảm vòng quay của vốn vốn lưu động, chi phí bảo quản và chi phí lưu kho bãi tăng và dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn thấp Nếu chỉ tiêu này càng nhỏ thì sẽ ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp Vì vậy, phải xác định mức dự trữ hàng tồn kho hợp lý
IV.1.1.5 Tỷ trọng tài sản cố định
Các khoản phải thuTổng tài sản
Tỷ trọng các khoản
Hàng tồn khoTổng tài sản
Tỷ trọng hàng tồn
Trang 12Chỉ tiêu này cho biết giá trị tài sản cố định chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng tài sản của doanh nghiệp, phản ánh mức độ tập trung vốn hoạt động của doanh nghiệp Để đánh tính hợp lý trong đầu tư tài sản cố định cần xem xét đến giá trị trung bình ngành Giá trị chỉ tiêu này tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng lĩnh vực kinh doanh, chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp, phương pháp tính khấu hao
IV.1.2 Phân tích cấu trúc nguồn vốn ở doanh nghiệp
Phân tích cấu trúc nguồn vốn là việc xác định tỷ lệ của từng nguồn vốn trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp từ đó có những đánh giá đầy đủ nhất về tình hình tài chính của doanh nghiệp
IV.1.2.1 Phân tích tính tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp
Nguồn vốn của doanh nghiệp chủ yếu từ hai nguồn lớn đó là nguồn vốn đi vay và nguồn vốn chủ sở hữu Tính tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp phản ánh khả năng chủ động về tài chính của doanh nghiệp trong việc tài trợ cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
Tính tự chủ về mặt tài chính thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
a Chỉ tiêu tỷ suất tự tài trợ
Chỉ tiêu này thể hiện khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp, nó cho biết trong tổng tài sản của doanh nghiệp hiện có được hình thành từ vốn chủ sở hữu là bao nhiêu phần trăm Khi tỷ suất này càng cao, chứng tỏ doanh nghiệp có tính độc lập cao
về tài chính, ít bị sức ép của các chủ nợ, đảm bảo vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có nhiều cơ hội tiếp nhận các khoản tín dụng từ bên ngoài bởi vì hầu hết tài sản mà doanh nghiệp hiện có đều được đầu tư bằng số vốn của mình và ngược lại
Tỷ suất
Nợ phải trả Tổng tài sản
Tỷ suất
Trang 13không thanh toán kịp thời các khoản nợ và hiệu quả hoạt động kém Đối với các chủ
nợ sẽ gặp khó khăn về vấn đề thu hồi vốn và họ thường không thích đầu tư vào những doanh nghiệp có hệ số nợ quá cao Hệ số nợ cao cho thấy doanh nghiệp đang mất dần tính tự chủ về mặt tài chính, trong trường hợp tỷ trọng của nợ ngắn hạn chiếm đa số trong tổng nợ phải thu thì doanh nghiệp đang đứng trước nguy cơ bị phá sản do mất khả năng thanh toán
Chỉ tiêu này càng nhỏ tức là nợ trong doanh nghiệp ít do đó khả năng thu hút vốn đầu tư bên ngoài cao, các nhà đầu tư ít mạo hiểm thì thông thường muốn đầu tư vào những doanh nghiệp có hệ số nợ nhỏ Trong trường hợp này doanh nghiệp ít bị áp lực
về mặt thanh toán
Tuy nhiên, hệ số nợ của một doanh nghiệp lớn hay nhỏ chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định và giá trị của chỉ tiêu này thường xuyên thay đổi Vấn đề đặt ra ở đây là các doanh nghiệp cần phải xác định một hệ số nợ hợp lý, phù hợp với tình hình tài chính và tình hình hoạt động của doanh nghiệp Đây cũng là một trong những chỉ tiêu để các nhà đầu tư đánh giá rủi ro và cấp tín dụng cho doanh nghiệp
c Chỉ tiêu tỷ suất giữa nợ phải trả với vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này thể hiện nợ phải trả chiếm bao nhiêu phần trăm vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu này càng nhỏ thì mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại
Khi phân tích tính tự chủ về mặt tài chính cần sử dụng số liệu trung bình ngành hoặc số liệu định mức mà ngân hàng quy định đối với doanh nghiệp Những số liệu này là cơ sở để các nhà đầu tư, nhà quản trị có giải pháp thích hợp giải quyết các vấn
đề nợ của doanh nghiệp: Nên gia tăng các khoản vay nợ hay vốn chủ sở hữu và mức gia tăng tối đa là bao nhiêu?
IV.1.2.2 Phân tích tính ổn định của nguồn tài trợ
Nguồn vốn của doanh nghiệp được chia thành: Nguồn vốn tạm thời (NVTT) và nguồn vốn thường xuyên (NVTX)
* NVTT là ngồn vốn mà doanh nghiệp tạm thời sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh và trong một khoảng thời gian ngắn, bao gồm: Nợ ngắn hạn, nợ quá hạn,
nợ nhà cung cấp
Nợ phải trả Vốn chủ sở hữu
Tỷ suất giữa nợ phải
Trang 14a Chỉ tiêu tỷ suất Nguồn vốn thường xuyên
Chỉ tiêu này phản ánh trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp thì NVTX chiếm
tỷ lệ bao nhiêu phần trăm
b Chỉ tiêu tỷ suất nguồn vốn tạm thời
Chỉ tiêu này phản ánh trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp thì NVTT chiếm
tỷ lệ bao nhiêu phần trăm
c Chỉ tiêu tỷ suất nguồn vốn chủ sở hữu với nguồn vốn thường xuyên
Chỉ tiêu này phản ánh trong NVTX thì vốn chủ sở hữu chiếm tỷ lệ bao nhiêu phần trăm
IV.1.3 Phân tích cân bằng tài chính
Cân bằng tài chính là sự cân đối giữa các yếu tố tài sản với các yếu tố của nguồn tài trợ Khi phân tích, có thể chia thành 2 phần như sau:
* Những yếu tố mang tính chất dài hạn: so sánh giữa tài sản sử dụng ổn định với nguồn vốn ổn định
Nguồn vốn thường xuyênTổng nguồn vốn
Tỷ suất
Nguồn vốn tạm thời Tổng nguồn vốn
Tỷ suất
Vốn chủ sở hữu Nguồn vốn thường xuyên x 100%
Tỷ suất nguồn
VCSH với
Trang 15* Những yếu tố mang tính chất ngắn hạn: so sánh giữa tài sản sử dụng tạm thời với nguồn vốn tạm thời
IV.1.3.1 Vốn lưu động ròng và phân tích cân bằng tài chính dài hạn
Vốn lưu động (VLĐ) là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản ngắn hạn (TSNH) tại thời điểm lập bảng cân đối kế toán
Vốn lưu động ròng (VLĐR) là số vốn tối thiểu, cần thiết đảm bảo cho doanh nghiệp dự trữ các loại tài sản ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động của doanh nghiệp Có 2 phương pháp xác định VLĐR của doanh nghiệp:
* Phương pháp 1:
VLĐR = NVTX - TSDHPhương pháp này thể hiện phương thức tài trợ tài sản dài hạn (TSDH) và phản ánh tác động của việc đầu tư lên cân bằng tài chính tổng thể vì nó cho biết nguồn gốc hình thành VLĐR (NVTX sau khi đã tài trợ đủ cho TSDH thì phần dôi ra đó chính là VLĐR)
* Phương pháp 2:
VLĐR = TSNH - NNHPhương pháp này cho biết cách thức sử dụng VLĐR, VLĐR được phân bổ vào các khoản như: khoản phải thu, hàng tồn kho hay các khoản có tính thanh khoản cao Phân tích mối quan hệ này thể hiện được khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Phân tích chỉ số cân bằng tài chính dài hạn
Chỉ tiêu này cho phép đánh giá tính ổn định của nguồn tài trợ cho TSDH và thể hiện phương thức tài trợ TSDH
* Tỷ suất NVTX / TSDH >1 hay NVTX > TSDH: điều đó có ý nghĩa là toàn
bộ TSDH của doanh nghiệp được tài trợ hoàn toàn từ NVTX và phần NVTX dư ra dùng để tài trợ thêm cho TSNH Lúc này cân bằng tài chính dài hạn được đánh giá là tốt và an toàn
* Tỷ suất NVTX / TSDH = 1 hay NVTX = TSDH: điều đó có nghĩa là NVTX tài trợ vừa đủ cho TSDH Lúc này cân bằng tài chính dài hạn tuy có tiến triển hơn nhưng độ an toàn chưa cao, có nguy cơ mất tính bền vững
Nguồn vốn thường xuyênTài sản dài hạn
Trang 16* Tỷ suất NVTX / TSDH < 1 hay NVTX < TSDH: điều đó có nghĩa là NVTX không đủ tài trợ cho TSDH, phần thiếu hụt được bù đắp một phần từ NVTT hay các khoản nợ ngắn hạn Lúc này cân bằng tài chính dài hạn là không tốt vì doanh nghiệp luôn chịu áp lực về thanh toán nợ vay ngắn hạn.
IV.1.3.2 Nhu cầu vốn lưu động ròng và phân tích cân bằng tài chính ngắn hạn
Nhu cầu VLĐR trong doanh nghiệp sẽ được đáp ứng bởi VLĐR, có thể xảy ra 3 trường hợp:
* Trường hợp VLĐR > Nhu cầu VLĐR: Phần chênh lệch là các khoản tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn còn lại sau khi đã bù đắp các khoản vay ngắn hạn, số chênh lệch này được gọi là ngân quỹ ròng (NQR) Lúc này, NQR > 0 nên cân bằng tài chính được đánh giá là an toàn vì doanh nghiệp không phải đi vay để bù đắp sự thiếu hụt về VLĐR
* Trường hợp VLĐR = Nhu cầu VLĐR: Tất cả các khoản tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn được hình thành từ các khoản vay ngắn hạn Lúc này, NQR = 0 nên đây là dấu hiệu về việc doanh nghiệp bị mất cân bằng tài chính
* Trường hợp VLĐR < Nhu cầu VLĐR: Điều này có nghĩa là VLĐR không đủ
để tài trợ Nhu cầu VLĐR và doanh nghiệp phải huy động các khoản vay ngắn hạn để
bù đắp các khoản thiếu hụt đó Lúc này, NQR < 0 nên cân bằng tài chính được đánh giá là kém an toàn và bất lợi đối với doanh nghiệp
IV.2 Phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
IV.2.1 Phân tích hiệu quả cá biệt
IV.2.1.1 Phân tích hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh khi đầu tư 100 đồng vào tài sản thì tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này càng lớn thì càng tốt, chứng tỏ tài sản trong doanh nghiệp được sử dụng có hiệu quả Trong công thức trên ngoài chỉ tiêu doanh thu còn
có thể sử dụng một số chỉ tiêu như: giá trị sản xuất, giá trị gia tăng
Trang 17Trong trường hợp doanh thu thuần cũng chính là doanh thu hoạt động kinh doanh thì hiệu suất sử dụng tài sản được gọi là số vòng quay của tài sản.
IV.2.1.2 Phân tích hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn
Chỉ tiêu này phản ánh khi đầu tư 100 đồng vào tài sản dài hạn thì tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này càng lớn thì càng tốt, chứng tỏ tài sản dài hạn trong doanh nghiệp được sử dụng có hiệu quả
IV.2.1.3 Phân tích hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn
Nếu tính theo số vòng quay hoặc tốc độ luân chuyển vốn lưu động thì:
Trang 18Năng suất lao động là chỉ tiêu biểu hiện khả năng sản xuất, sức sản xuất của lao động trong doanh nghiệp Chỉ tiêu này còn được thể hiện dưới nhiều đại lượng khác nhau như: năng suất lao động năm, ngày, giờ của công nhân trực tiếp sản xuất, côngnhân phục vụ quản lý và sản xuất Để thấy rõ hiệu suất sử dụng lao động trong quá trình kinh doanh có thể sử dụng chỉ tiêu chi phí tiền lương so với giá trị sản xuất.
Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra được 1 đồng doanh thu thì cần phải bỏ ra bao nhiêu đồng tiền lương Nếu chỉ tiêu này tiến gần đến 1 hoặc càng lớn thì chứng tỏ hiệu suất sử dụng lao động càng thấp, tình hình tài chính của doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn Thông thường chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 là tốt và thông qua việc phân tích chỉ tiêu này sẽ giúp cho doanh nghiệp đánh giá được việc tăng, giảm hiệu quả sử dụng lao động đối với kết quả của doanh nghiệp
IV.2.2 Phân tích hiệu quả kinh doanh tổng hợp
IV.2.2.1 Phân tích khả năng sinh lời của hoạt động kinh doanh
a Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần (Doanh thu thuần hoạt động kinh doanh, doanh thu hoạt động tài chính, thu nhập hoạt động khác)
Chỉ tiêu này cho biết khi doanh nghiệp tạo ra được 100 đồng doanh thu thì trong
đó lợi nhuận là bao nhiêu đồng và nó còn thể hiện mối quan hệ giữa các chỉ tiêu kết quả của doanh nghiệp Giá trị của chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ lợi nhuận sinh ra từ hoạt động kinh doanh càng cao, phần lãi trong doanh thu có tỷ trọng lớn và doanh nghiệp được đánh giá là hoạt động hiệu quả Lợi nhuận có thể là lợi nhuận kế toán trước thuế, lợi nhuận sau thuế, lợi nhuận trước thuế và lãi vay
b Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần hoạt động sản xuất kinh doanh
Tỷ suất lợi
nhuận trên
doanh thu thuần
Lợi nhuận kế toán trước thuếDoanh thu thuần
ROA = Lợi nhuận trước thuế
Tổng tài sản bình quân x 100%
Tỷ suất chi phí tiền lương
Chi phí tiền lươngDoanh thu
Trang 19Chỉ tiêu này cho biết mức sinh lãi của 100 đồng doanh thu khi tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ khả năng sinh lời của doanh nghiệp càng cao.
IV.2.2.2 Phân tích khả năng sinh lời tài sản
a Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA)
Chỉ tiêu này phản ánh khi đầu tư 100 đồng vào tài sản thì có được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế Chỉ tiêu này càng cao phản ánh khả năng sinh lời tài sản của doanh nghiệp càng cao
Ngoài ra ROA còn được xác định bằng công thức sau:
Khả năng sinh lời từ tài sản (ROA) là tích của hệ số vòng quay vốn với tỷ lệ lãi thuần trên doanh thu Vốn đầu tư được xác định là tổng cộng tài sản Mặt khác ROA còn có 2 ý nghĩa sau:
* Nó cho phép liên kết 2 con số cuối cùng của 2 báo cáo tài chính cơ bản: Lãi thuần của Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và tổng cộng tài sản của Bảng cân đối kế toán
* Nó kết hợp 3 yếu tố cơ bản cần phải xem xét ngay từ đầu trước khi đi vào chi tiết Đó là quy mô của doanh nghiệp được phản ánh qua tài sản, quy mô hoạt động và tính năng hoạt động được phản ánh qua doanh thu và quá trình sinh lời được phản ánh bằng giá trị của chỉ tiêu ROA
Trên cơ sở số liệu tính toán được ta có thể xác định được các nhân tố chủ yếu dẫn đến sự tăng giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và từ đó có biện pháp để tăng cường hiệu quả
b Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (RE)
Tỷ suất lợi nhuận
trên doanh thu thuần
sản xuất kinh doanh =
Lợi nhuận thuần sản xuất kinh doanhDoanh thu thuần sản xuất kinh doanh
Trang 20Chỉ tiêu này phản ánh khi đầu tư 100 đồng vào tài sản thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước khi tính thuế và lãi vay Mục đích của việc phân tích chỉ tiêu này là nhằm loại trừ tác động của cấu trúc nguồn vốn đến khả năng sinh lời của tài sản Nếu như tính ra RE có giá trị lớn hơn lãi suất vay thì doanh nghiệp nên nhận các khoản vay từ bên ngoài, còn đối với bên đầu tư thì đây cũng là một trong những căn
cứ để họ quyết định đầu tư vào đâu là mang lại hiệu quả nhất
IV.2.2.3 Phân tích hiệu quả tài chính của doanh nghiệp
a Phân tích khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE)
Tốc độ phát triển của nguồn vốn chủ sở hữu được quyết định bởi khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu và chính sách phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp, khi khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu càng cao thì chủ sở hữu dễ dàng chấp nhận để lại phần lớn lợi nhuận để tái đầu tư
Chỉ tiêu này có ý nghĩa khi chủ sở hữu đầu tư 100 đồng thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Trong điều kiện doanh nghiệp huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau thì khi chỉ tiêu này càng lớn doanh nghiệp sẽ có cơ hội thu hút được nhiều nguồn vốn mới hơn và ngược lại chỉ tiêu này thấp hơn mức sinh lời cần thiết của thị trường thì khả năng thu hút vốn đầu tư rất khó khăn
b Đòn bẩy tài chính
Đòn bẩy tài chính là mối quan hệ giữa nợ phải trả với tổng số nguồn vốn hiện có Đòn bẩy tài chính còn được gọi là hệ số nợ hay đòn cân nợ Thông qua hệ số nợ có thể xác định được mức độ góp vốn của chủ sở hữu với số nợ vay, nó có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt, được xem như một chính sách tài chính của doanh nghiệp
Đòn bẩy tài chính có giá trị cao hiệu quả mang lại cho chủ sở hữu càng cao trong trường hợp ổn định khối lượng hoạt động và kinh doanh có lãi Đòn bẩy tài chính càng thấp, mức độ an toàn càng đảm bảo trong trường hợp khối lượng hoạt động bị giảm và kinh doanh thua lỗ
x 100%
Trang 21IV.3 Phân tích rủi ro của doanh nghiệp
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường luôn tiềm
ẩn các rủi ro Trong điều kiện hiện tại khi mà xu hướng tự do hoá và toàn cầu hoá ngày càng phát triển thì nguy cơ gặp rủi ro của doanh nghiệp càng lớn Vì vậy, chủ động trong phòng ngừa rủi ro, đảm bảo tình hình tài chính và khả năng phát triển bền vững của doanh nghiệp trở thành vấn đề thời sự, bức thiết trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp Trong phần nghiên cứu này chỉ đề cập tới phân tích rủi ro phá sản của doanh nghiệp
Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là khi gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn Rủi ro phá sản là rủi ro gắn liền với khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp
Tình hình tài chính của một doanh nghiệp được đánh giá là lành mạnh trước hết phải thể hiện ở khả năng chi trả Vì vậy, các nhà phân tích khi tiến hành phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp thường bắt đầu từ việc phân tích khả năng thanh toán thông qua các hệ số khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là khả năng hoán chuyển thành tiền của các tài sản để đối phó với các khoản nợ ngắn hạn Doanh nghiệp hoạt động tốt thì khả năng thanh toán cao, và ngược lại
Chỉ tiêu này càng lớn thể hiện tình hình tài chính của doanh nghiệp càng tốt, tính
ổn định về mặt tài chính càng cao và ngược lại Các hệ số phản ánh khả năng thanh toán, đánh giá trực tiếp khả năng thanh toán bằng tiền mặt của một doanh nghiệp, cung cấp những dấu hiệu liên quan đến việc xem xét liệu doanh nghiệp có thể trả nợ ngắn hạn khi đến hạn hay không
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp được thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
IV.3.1 Hệ số khả năng thanh toán hiện hành (Khh)
Tổng tài sảnTổng nợ phải trả
Khh =
Số tiền có thể dùng để trả nợ
Số nợ ngắn hạn phải trảKhả năng thanh toán =
Trang 22Chỉ tiêu này cho thấy mối quan hệ giữa TSNH và NNH Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp càng cao, rủi ro phá sản của doanh nghiệp càng thấp Tuy nhiên, nếu giá trị của hệ số thanh toán hiện hành quá cao thì điều này không tốt vì nó phản ảnh việc doanh nghiệp đã đầu tư quá mức vào TSLĐ so với nhu cầu của doanh nghiệp và TSLĐ dư thừa không tạo thêm doanh thu Nếu Khh < 1, khả năng thanh toán của doanh nghiệp kém, toàn bộ các TSNH của doanh nghiệp không đủ chi trả cho các khoản nợ Hệ số này càng về 0 thì doanh nghiệp càng lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính.
IV.3.2 Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn (Knh)
Hệ số này thể hiện mức độ đảm bảo của tài sản ngắn hạn với nợ ngắn hạn Chỉ
tiêu này càng lớn chứng tỏ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp cao, rủi ro phá sản của doanh nghiệp càng thấp Nhưng nếu chỉ tiêu này quá lớn thì chưa hẳn đã tốt vì lúc này doanh nghiệp sẽ có một lượng TSLĐ rất lớn, nếu nhìn vào sẽ thấy được khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là rất tốt nhưng có thể dẫn đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp không tốt Vì số tài sản này sẽ không vận động nên không có khả năng sinh lãi
IV.3.3 Hệ số khả năng thanh toán nhanh (Kn)
Chỉ tiêu này thể hiện mối quan hệ giữa các loại TSLĐ có khả năng chuyển nhanh thành tiền để thanh toán nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này cho phép đánh giá tốt hơn các rủi ro phá sản của doanh nghiệp Nó còn phản ánh tình trạng tài chính của doanh nghiệp là tốt hay không tốt theo góc độ về khả năng trả nợ ngay của doanh nghiệp đối với các khoản nợ đến hạn và quá hạn Nếu hệ số này >1 thì doanh nghiệp có khả năng thanh toán kịp thời các khoản nợ đến hạn, nếu hệ số này < 1 thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp bị hạn chế
IV.4 Phân tích giá trị doanh nghiệp
Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, việc giải thể, đóng cửa, phá sản hay việc sáp nhập mua lại giữa các công ty, tập đoàn lẫn nhau là một hiện tượng kinh
tế rất bình thường Mặt khác, với thị trường tài chính hoàn hảo - nếu không muốn nói
Trang 23một cách chính xác là thị trường tài chính hoạt động trôi chảy - trong đó có thị trường chứng khoán cùng với các công cụ tài chính truyền thống của nó như chiếc phong vũ biểu tự động, nhạy cảm và đầy sức mạnh, cộng với phương tiện kỹ thuật hiện đại càng giúp cho việc định giá các doanh nghiệp càng trở nên dễ dàng.
* Nguyên tắc định giá doanh nghiệp
Định giá doanh nghiệp là việc xem xét, phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp, hay nói cách khác đó là việc xác định giá cả của doanh nghiệp Đây là việc đánh giá thuần tuý giá trị doanh nghiệp căn cứ vào giá trị sử dụng, giá trị hiện tại cũng như cung cầu trên thị trường trên cơ sở trạng thái tài chính doanh nghiệp
Giá trị doanh nghiệp lúc này được xem xét thông qua giá trị cổ phần Ở nước
ta, thị trường này mới hình thành với sự tham gia của một số công ty cổ phần có quy
mô lớn, trong khi đó số lượng lớn các doanh nghiệp hiện nay là doanh nghiệp vừa và nhỏ Hơn nữa, việc định giá này chỉ quan tâm đến hiệu quả tài chính, theo yêu câu của nhà đầu tư là nhà quản trị Và rõ ràng nó không quan tâm đến hiệu quả thật sự của doanh nghiệp Do vậy, thị trường này chưa thể là một sơ sở tin cậy cho việc định giá
Việc định giá có thể bằng nhiều tài liệu như bảng cân đối kế toán, kết quả kinh doanh, bảng thuyết minh tài chính Ngoài ra, các tài liệu dự đoán cũng được xem như nguồn tài liệu quan trọng để định giá doanh nghiệp
* Định giá trên cơ sở bảng cân đối kế toán
Theo cách nhìn đơn giản, giá trị của doanh nghiệp chính là tài sản của doanh nghiệp Do vậy, các số liệu để định giá doanh nghiệp là giá trị của các thành phần trong sổ sách kế toán cũng như trên bảng cân đối kế toán Trong trường hợp sổ sách
kế toán phản ánh không chính xác hoặc giá phí lịch sử của tài sản quá khác xa với giá trị hiện tại của nó thì nên kiểm kê mọi tài sản và công nợ của doanh nghiệp rồi tiến hành định giá và điều chỉnh các giá trị tương ứng
Đánh giá giá trị theo sổ sách kế toán
Giá trị thực tế của doanh nghiệp là giá trị của toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm đánh giá sau khi trừ đi các khoản nợ phải trả Giá trị này còn được gọi là tài sản thuần của doanh nghiệp Hiển nhiên tài sản này phải ngang bằng toàn bộ tài sản mà doanh nghiệp đã tạo được trong suốt quá trình kinh doanh trong quá khứ mà hiện còn tồn tại sau khi trừ đi các khoản nợ tồn đọng vào thời điểm định giá Đây là quan điểm tĩnh, được thể hiện bằng công thức sau:
Giá trị doanh nhiệp = Tổng tài sản - Nợ phải trả
Trang 24* Định giá dựa trên cơ sở báo cáo kết quả kinh doanh
Theo phương pháp này, định giá doanh nghiệp phải chú ý đến lợi thế kinh doanh thông qua lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận của các năm trước khi định giá và dự kiến lợi nhuận tương lai của doanh nghiệp Do vậy, có thể xem xét tài sản theo hướng tài sản tài chính, có nghĩa là giá trị mà nhà đầu tư có thể và chuẩn bị trả khi mua tài sản để đạt được một kết quả, hiệu quả nào đó mà họ dự kiến đạt được Cách tiếp cận này có tính chất “động” hơn phương pháp trước
Định giá dựa trên lợi nhuận quá khứ, và lợi nhuận tương lai
Định giá dựa trên lợi nhuận quá khứ, và tương lai, thực chất là việc hiện tại hoá lợi nhuận dự đoán trong tương lai trên cơ sở lợi nhuận quá khứ Như vậy, kết quả nếu ta khảo sát lợi nhuận trong việc dự đoán này là lợi nhuận sau thuế thì giá trị của doanh nghiệp (V) sẽ là:
Trong đó:
n : là tuổi thọ dự tính của doanh nghiệp
Định giá bằng phương pháp hỗn hợp
Phương pháp này thường được sử dụng trong thực tiễn trên cơ sở sử dụng đồng thời cả hai phương pháp trên, nó khắc phục các nhược điểm của phương pháp đánh giá theo tài sản và theo hiệu quả Giá trị tổng thể của doanh nghiệp là trung bình
số học giữa giá trị tài sản và giá trị năng suất theo công thức sau:
Trong đó các giá trị này được xác định theo các phương pháp định giá trên, trên cơ sở của bảng CĐKT và báo cáo kết quả kinh doanh Có thể xem xét các đánh giá này dưới một dạng khác:
V = LN1
(1 +R)
+ LN2(1 +R)2
+…+ LNn
(1 +R)n
= LNi(1 +R)i
LNr
Trang 25Với r là tỉ lệ vốn hoá lợi nhuận
KÕT KUËN PHÇN I
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại và phát triển một cách vững chắc nếu như doanh nghiệp đó có một tình hình tài chính lành mạnh Nền kinh tế càng phát triển thì các quan hệ tài chính càng đa dạng và phong phú, đòi hỏi các doanh nghiệp cũng phải thích ứng với điều kiện luôn có sự thay đổi này Xuất phát từ thực tiễn kinh doanh và thực tiễn của thị trường, công tác phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp ngày càng trở nên cần thiết đối với các doanh nghiệp nhằm cung cấp các thông tin tài chính một cách chính xác, đầy đủ và kịp thời phục vụ cho công tác quản trị trong doanh nghiệp và phục vụ cho các nhu cầu về thông tin của các đối tượng khác quan tâm
Do vậy, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm vững nội dung phân tích tình hình tài chính, các phương pháp phân tích, các thông tin cần thiết được sử dụng trong quá trình phân tích Có như vậy, mới đem lại kết quả phân tích chính xác, phản ánh đúng thực trạng tài chính của doanh nghiệp, từ đó đề xuất được các biện pháp hợp lý để nâng cao hiệu quả tài chính nói riêng và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói chung
Trang 26PHẦN II
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN NHỰA ĐÀ NẴNG
A GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA ĐÀ NẴNG
I Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng
I.1 Quá trình hình thành
Công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng trước đây là một công ty tư nhân sản xuất nhỏ
lẻ với tên gọi là Xí nghiệp nhựa Đà Nẵng, được thành lập năm 1976 theo quyết định
số 866/QĐUB ngày 22/11/l976 do UBND tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, có trụ sở ban đầu tại 280 - Hùng Vương với diện tích hạn chế khoảng 500 m2 Khi mới thành lập,
Xí nghiệp chỉ có 15 lao động, trang bị máy móc còn thô sơ lạc hậu Nhiệm vụ ban đầu của Xí nghiệp là tái chế phế liệu với nguồn vốn sử dụng chủ yếu là vốn vay
Do nhu cầu phát triển đòi hỏi xí nghiệp phải mở rộng quy mô sản xuất Năm
1978, để đáp ứng về công tác sản xuất, Xí nghiệp đã đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất mới tại 199 - Trần Cao Vân, nay là 371- Trần Cao Vân với diện tích là 17.400 m2 Đến năm 1981, công trình mới được hoàn tất và đưa vào sử dụng Theo Quyết định
số 1844/QĐUB của UBND tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng ngày 29/11/1993, Xí nghiệp chính thức trở thành doanh nghiệp nhà nước với tên gọi là công ty Nhựa Đà Nẵng
Trước xu hướng vận động chung của nền kinh tế và yêu cầu cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước nhằm tăng khả năng cạnh tranh, sản xuất hiệu quả, Công ty Nhựa Đà Nẵng đã chính thức trở thành công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng ngày 04/08/2000 theo quyết định số 90/2000/QĐ - TTG và nghị định số 03/2000/NĐCP ngày 03/02/2000 của Thủ tướng Chính phủ
Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA ĐÀ NẴNG
Tên giao dịch: DANANG PLASTIC JOINT STOCK COMPANY
Tên viết tắt: DANAPLAST
Trang 27Tài khoản số: 710A.00046 tại ngân hàng Công Thương thành phố Đà NẵngVốn điều lệ của công ty tại thời điểm thành lập là 15.872.800.000 VNĐ, được chia thành 1.587.280 cổ phần thuộc sở hữu của 406 cổ đông Bao gồm:
• 2 cổ đông Nhà nước, chiểm tỉ lệ 31,5%
• 274 cổ đông công ty, chiếm 27,33%
• 130 cổ đông bên ngoài, chiếm 41,17%
Ngày 09/11/2001, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép phát hành chứng khoán ra công chúng cho công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng Loại chứng khoán
mà công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng phát hành là cổ phiếu, gồm 2 loại: Cổ phiếu ghi tên và cổ phiếu không ghi tên
I.2 Quá trình phát triển
Qua hơn 25 năm hoạt động và không ngừng phát triển, công ty cổ phần Nhựa
Đà Nẵng đã khắc phục được khó khăn và từng bước đi lên mở rộng quy mô và đáp ứng nhu cầu về sản xuất, sản phẩm nhựa của công ty dần thay thế hàng ngoại nhập và
mở rộng xuất khẩu ra thị trường quốc tế
Hiện nay, công ty đang mở rộng liên doanh với nước ngoài để sản xuất bao bì các loại, đặc biệt là túi xốp cao cấp cho xuất khẩu, liên doanh sản xuất khung cửa nhôm cao cấp, mở rộng dây chuyền sản xuất ống nước, đầu tư dây chuyền sản xuất ống nước, đầu tư dây chuyền sản xuất bao bì ciment Đặc biệt, đây là công ty độc quyền cung cấp nhựa HDPE cho chương trình “Cung cấp nước sạch cho nông thôn” của UNICEF với doanh số trung bình là 2 triệu USD/năm Đồng thời công ty còn ký hợp đồng dài hạn sản xuất bao bì ciment với Công ty ciment Hải Vân, ciment Chinfon
Sau khi cổ phần hoá, công ty hoạt động ngày càng hiệu quả Đồng thời cùng với sự nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty, sản phẩm của công ty luôn được người tiêu dùng bình chọn là hàng Việt Nam chất lượng cao trong nhiều năm liền, đạt huân chương lao động hạng I, II, III và bằng khen đơn vị dẫn đầu trong nghành công nghiệp thành phố Đà Nẵng Với chất lượng sản phẩm tốt và công tác sản xuất quy mô rộng, công nghệ mới (80% thiết bị ngoại nhập), công ty đã góp phần vào công cuộc chuyên môn hoá, hiện đại hoá ngành công nghiệp nhựa của thành phố
Đà Nẵng nói riêng và cả nước nói chung
II.Chức năng và nhiệm vụ của công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng
II.1 Chức năng
Công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng có chức năng chính là sản xuất kinh doanh các mặt hàng dân dụng, nhựa công nghiệp, nhựa kỹ thuật, nhựa xây dựng và kinh doanh nguyên vật liệu, vật tư, thiết bị phục vụ ngành nhựa
Trang 28Ngoài chức năng chính là sản xuất kinh doanh, để đáp ứng nhu cầu thị trường
và mục tiêu phát triển, công ty với sự đồng ý của các cổ đông công ty có thể liên doanh và hợp tác với các doanh nghiệp trong và ngoài nước nhằm phát triển sản xuất,
mở rộng thị trường
II.2 Nhiệm vụ
Sản xuất và kinh doanh đúng ngành nghề đã đăng ký, chịu trách nhiệm trước pháp luật về sản phẩm của công ty Tìm hiểu thị trường để xây dựng và thực hiện kế hoạch nâng cao hiệu quả, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, trang trải vốn và có nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước đầy đủ Công ty có nhiệm vụ chủ yếu như sau:
* Huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, phát triển sản xuất kinh doanh
* Tối đa hoá lợi nhuận
* Tạo việc làm ổn định cho người lao động
* Tăng lợi tức cho các cổ đông
* Đóng góp cho ngân sách Nhà nước
* Đẩy mạnh đầu tư, phát triển theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá
II.3 Đặc điểm tổ chức sản xuất của công ty cổ phần nhựa Đà Nẵng
II.3.1 Đặc điểm sản xuất
Hoạt động kinh doanh chủ yếu của công ty là tổ chức mạng lưới bán buôn, bán lẻ, trực tiếp kinh doanh xuất nhập khẩu các mặt hàng trong phạm vi đã đăng ký kinh doanh Tổ chức gia công theo đơn đặt hàng của khách hàng trong và ngoài nước Các mặt hàng chính của công ty là các loại bao bì, bao ciment, ống nước, can, két bia được tiến hành trên dây chuyền công nghệ tự động theo kiểu chế biến liên tục
và chủ yếu được sản xuất trên 4 quy trình công nghệ như sau:
* Công nghệ sản xuất màng mỏng (công nghệ thổi màng)
* Công nghệ sản xuất ống nước
* Công nghệ sản xuất bao bì ciment (công nghệ bao dệt)
* Công nghệ sản xuất các sản phẩm khác
II.3.2 Tổ chức sản xuất tại Công ty cổ phần nhựa Đà nẵng
Công ty cổ phần nhựa Đà Nẵng có quy trình công nghệ sản xuất tương đối phức tạp theo kiểu vừa sản xuất liên tục vừa sử dụng máy móc thiết bị chuyên dùng, với chu kỳ sản xuất tương đối ngắn nên công ty tổ chức quy trình sản xuất theo mô hình 2 bộ phận: bộ phận trực tiếp sản xuất chính và bộ phận phục vụ sản xuất Mỗi
bộ phận được chia thành nhiều tổ với các chức năng khác nhau và được thể hiện qua
sơ đồ sau:
Trang 29SƠ ĐỒ TỔ CHỨC SẢN XUẤT
Nhiệm vụ của bộ phận sản xuất chính
• Tổ can phao: có nhiệm vụ sản xuất két nhựa, can nhựa, thẩu, đĩa
• Tổ màng mỏng: có nhiệm vụ sản xuất các loại màng mỏng HDPE, LDPE
• Tổ dệt bao: nhận sợi từ tổ kéo chỉ dệt thành manh ống PP
• Tổ cắt manh: cắt manh PP và manh tráng PP
• Tổ may bao: may bao dệt PP, bao bì xi măng
• Tổ sản xuất sản phẩm PVC và ống nước: chuyên sản xuất ống nước, dép
• Tổ bao bì: Sản xuất bao xi măng và cán tráng manh dệt PP
Nhiệm vụ của bộ phận phục vụ sản xuất
• Tổ cơ điện: cung cấp điện cho sản xuất, xử lý sự cố về điện
• Tổ phối liệu: pha trộn vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất
• Tổ KCS: kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi nhập, xuất kho
Mô hình tổ chức bộ máy quản lý tại công ty là mô hình trực tuyến chức năng.Theo mô hình này, giám đốc là người đại diện cho công ty đảm nhận công việc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Tổ sản xuất tấm lợp trần
Tổ can phao
Tổ cơ điện phối Tổ
liệu
Tổ KCS
Trang 30III Tổ chức bộ máy quản lý tại công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng
III.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ
Ghi chú:
Quan hệ trực tuyếnQuan hệ chức năng
III.2 Mô tả chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của từng bộ phận quản lý
* Đại hội đồng cổ đông: Là cơ quan có quyền lực cao nhất của công ty, mỗi năm
họp một lần, hoạt động thông qua cuộc họp đại hội đồng cổ đông thường niên, bất thường và thông qua báo cáo tài chính năm để đưa ra phương hướng kinh doanh
* Hội đồng quản trị: Là cơ quan quyền lực tối cao của công ty, là những người
sở hữu một lượng cổ phiếu lớn và bầu ra ban điều hành của công ty, bổ nhiệm, miễn nhiệm giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng và đồng thời quyết định mức lương của các cấp quản lý đó
* Ban kiểm soát: Là người thay mặt cổ đông để kiểm soát mọi hoạt động kinh
doanh quản trị và điều hành của công ty
* Ban điều hành: Là những người do HĐQT bầu ra, đứng đầu là giám đốc điều
hành mọi hoạt động của công ty, báo cáo tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh lên HĐQT theo đúng quy định, chịu trách nhiệm trước HĐQT
Đại hội cổ đôngBan kiểm soát
Phòng kinh doanh
Phòng
KT - TC
Bộ phận sản xuất chính
Bộ phận KCS
Bộ phận phục
vụ sản xuất
Trang 31* Phòng tổ chức hành chính: Phụ trách khâu dân sự như tuyển dụng, đào
tạo xây dựng kế hoạch tiền lương, định mức lao động, tham mưu cho giám đốc về khen thưởng, kỷ luật cũng như giải quyết các vấn đề về quyền lợi chế độ chính sách cho người lao động trong công ty
* Phòng kỹ thuật: Có nhiệm vụ xây dựng các định mức kỹ thuật, bảo trì, bảo
dưỡng các máy móc thiết bị, áp dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất
* Phòng kinh doanh: Có nhiệm vụ nghiên cứu thị trường, lập kế hoạch sản xuất
kinh doanh, tổ chức công tác thu mua NVL, CCDC phối hợp với phòng kế toán để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh để có biện pháp khắc phục
* Phòng kế toán tài chính: Có nhiệm vụ tổ chức công tác hạch toán tại công ty,
ghi chép, xử lý lập báo cáo kế toán về tình hình tài sản, nguồn vốn của công ty
* Bộ phận KCS: Có nhiệm vụ kiểm tra chất lượng sản phẩm, nghiệm thu sản
phẩm sau khi sản xuất hoàn thành nhập kho thành phẩm Kiểm tra thành phẩm trước khi giao hàng cho khách hàng
IV Tổ chức công tác kế toán tại công ty cổ phần nhựa đà nẵng
IV.1 Tổ chức bộ máy kế toán
IV.1.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN
Ghi chú:
Quan hệ trực tuyến Quan hệ chức năng
Kế toán thanh toán ngoại tệ
Kế toán tiêu thụ, công nợ phải thu
Kế toán vật tư, nợ phải trả, lương và BHXH
Kế toán thuế, t.kê, TSCĐ và chứng khoán
Trang 32IV.1.2 Mô tả chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận
Bộ máy kế toán của công ty được xây dựng theo kiểu trực tuyến Mọi thành viên kế toán được điều hành trực tiếp từ kế toán trưởng nên tránh được sự chồng chéo trong quản lý Nhiệm vụ cụ thể của các bộ phận như sau:
* Kế toán trưởng: Là người trực tiếp điều hành công tác kế toán, tham mưu cho
quản đốc về tình hình tài chính do đó thường xuyên cung cấp thông tin, số liệu về tình hình tài sản và nguồn vốn cho giám đốc, quản lý tài sản và nguồn vốn có hiệu quả Kế toán trưởng có trách nhiệm về tình hình tài chính của công ty
* Phó phòng tài vụ (Kế toán tổng hợp): Phụ trách dân sự tại phòng kế toán,
theo dõi kiểm tra công tác kế toán của các nhân viên phần hành Là người phụ tá và được uỷ quyền khi kế toán trưởng đi vắng Đôn đốc kiểm tra công tác kế toán của các nhân viên trong phòng, đồng thời chịu trách nhiệm tập hợp số liệu từ các phần hành khác Lập báo cáo tổng hợp và quyết toán cuối mỗi quý
* Thủ quỹ: Chịu trách nhiệm quản lý tiền mặt tại quỹ, xuất chi tiền theo lệnh của
kế toán trưởng hoặc giám đốc thực hiện nghĩa vụ và chi lập báo cáo quỹ Bảo quản an toàn tiền mặt theo đúng quy định
* Kế toán thanh toán tiền mặt VND: Phụ trách theo dõi tiền Việt nam tại ngân
quỹ cũng như tại ngân hàng Tình hình tạm ứng, thanh toán của cán bộ công nhân viên trong công ty Thường xuyên kết hợp với thủ quỹ để kiểm tra chặt chẽ lượng tiền mặt tại quỹ
* Kế toán thanh toán ngoại tệ: Theo dõi thu chi về ngoại tệ, tiền gửi ngân hàng,
giao dịch với ngân hàng Làm thủ tục vay vốn ngân hàng đồng thời theo dõi việc thanh toán ngoại tệ đối với khách hàng
* Kế toán thành phẩm tiêu thụ, công nợ phải thu: Theo dõi từng loại sản phẩm
hoàn thành nhập kho, tình hình tiêu thụ của từng loại sản phẩm Ngoài ra còn theo dõi tình hình công nợ phải thu khách hàng tại công ty
* Kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, nợ phải trả và tính lương, bảo hiểm xã hội: Theo dõi tình hình hiện có và tình hình biến động nhập xuất kho
nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ theo từng loại cụ thể Đồng thời tính lương, thưởng, bảo hiểm xã hội cho công nhân viên hàng tháng, trích nộp theo chế độ quy định và theo dõi các khoản nợ phải trả
* Kế toán thuế, thống kê, tài sản cố định và chứng khoán: Tính thuế, theo dõi
tình hình biến động của tài sản cố định Theo dõi diển biến chứng khoán, các báo cáo của trung tâm giao dịch
Trang 33IV.2 Hình thức sổ kế toán và trình tự ghi sổ tại công ty cổ phần Nhựa Đà nẵng
IV.2.1 Hình thức sổ kế toán áp dụng
Hiện nay công ty áp dụng hình thức chứng từ ghi sổ cải biên Các nghiệp vụ đều được xử lý bằng máy vi tính thông qua phần mềm Visual Foxpro Theo hình thức này thì sơ đồ luân chuyển chứng từ được thể hiện như sau:
TRÌNH TỰ LUÂN CHUYỂN CHỨNG TỪ
Ghi chú:
Ghi hàng ngàyĐối chiếu, kiểm traGhi cuối thángGhi cuối quý
IV.2.2 Trình tự ghi sổ
Hằng ngày căn cứ vào chứng từ gốc, các nhân viên kế toán từng phần hành sẽ kiểm tra chứng từ rồi tiến hành ghi vào sổ chi tiết tài khoản Đối với phiếu thu hay phiếu chi thủ quỹ sẽ ghi vào sổ quỹ Các đối tượng cần theo dõi chi tiết như nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, thành phẩm, tài sản cố định, khách hàng thì được ghi vào
sổ kế toán chi tiết như sổ chi tiết vật tư, sổ chi tiết công nợ
Cuối tháng, kế toán các phần hành có theo dõi chi tiết sẽ ghi vào sổ chi tiết tài khoản, sổ tổng hợp tài khoản và căn cứ vào sổ kế toán chi tiết kế toán lập bảng tổng hợp chi tiết
Cuối quý, kế toán lập sổ tổng hợp tài khoản của quý rồi từ đó lên bảng cân đối tài khoản và bảng tổng hợp chi tiết lập báo cáo kế toán
Chứng từ gốc
Sổ quỹ Sổ chi tiết tài khoản
Bảng cân đối tài khoản
Báo cáo kế toán
Sổ chi tiết tài khoản
Sổ tổng hợp tài khoản Bảng tổng hợp chi tiết
Trang 34B PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA ĐÀ NẴNG
I Phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp tại công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng
I.1 Phân tích cấu trúc tài sản
Phân tích cấu trúc tài sản của công ty cho phép đánh giá đặc trưng về cấu trúc tài sản của công ty, đánh giá được tính
hợp lý của việc đầu tư vốn của công ty cho hoạt động kinh doanh của mình, đánh giá được tình hình phân bổ tài sản của công ty
BẢNG 1: PHÂN TÍCH CẤU TRÚC TÀI SẢN CỦA CÔNG TY NHỰA ĐÀ NẴNG QUA 2 NĂM 2006 – 2007
Tăng (giảm) (%)
Trang 35Qua bảng số liệu thu thập được ta có một số phân tích như sau:
Cuối năm 2006 tổng tài sản của công ty cổ phần Nhựa Đà nẵng đang quản lý
và sử dụng là 35.774.881.174 đồng Sang năm 2007 tổng tài sản của công ty tăng lên 3.942.405.400 đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng là 11,02 % Điều này chứng tỏ quy mô
về vốn sản xuất kinh doanh của công ty đã được mở rộng Được thể hiện cụ thể qua các chỉ tiêu sau:
* Đối với tiền:
Năm 2006 tiền chiếm 7,41% và chiếm 7,22% năm 2007 trong tổng tài sản của công ty, có nghĩa là trong năm 2007 tỷ lệ tiền tăng lên 8,2%, tương ứng với mức tăng
là 217.336.159 đồng Cụ thể, tiền mặt tại quỹ năm 2007 thấp hơn năm 2006 là (75.365.805 đồng – 5.223.347 đồng) = 70.142.458 đồng Mức dự trữ như năm 2007
là hợp lý hơn năm 2006 vì dự trữ tiền mặt tại quỹ cao thì đảm bảo việc chi tiêu hàng ngày nhưng dễ xẩy ra rủi ro và giảm khả năng sinh lợi của tiền Tiền gửi ngân hàng năm 2007 cao hơn năm 2006 là không đáng kể nhưng tỷ trọng tiền gửi ngân hàng lại cao hơn so với tỷ trọng tiền mặt nên công ty tránh được những rủi ro về dự trữ, ngoài
ra còn được hưởng thêm một khoản tiền lãi hàng tháng để tăng thêm thu nhập cho công ty
Như vậy, khả năng thanh toán của công ty năm 2007 tốt hơn năm 2006 Tuy nhiên với quy mô về tài sản của công ty năm 2007 cao hơn so với quy mô về tài sản của công ty năm 2006 mà tỷ trọng tiền lại thấp hơn, tương ứng với tỷ lệ giảm là 0,19% chứng tỏ hiệu suất khả năng thanh toán của công ty đã giảm xuống
* Đối với các khoản phải thu ngắn hạn
Năm 2006 các khoản phải thu ngắn hạn chiếm 28,1%, năm 2007 chiếm 21,91% trong tổng tài sản của công ty, có nghĩa là trong năm 2007 tỷ lệ các khoản phải thu ngắn hạn giảm 13,45%, tương ứng với mức giảm là 1.351.934.946 đồng Cũng giống như chỉ tiêu tiền, năm 2007 tỷ trọng các khoản phải thu ngắn hạn giảm so với năm 2006 là 6,19% chứng tỏ trong năm 2007 vốn của công ty bị các đối tượng bên ngoài chiếm dụng được hạn chế hơn
Nguyên nhân của việc giảm các khoản phải thu ngắn hạn là do trong năm
2007 khoản phải thu khách hàng giảm hơn so với năm 2006, cụ thể là do lượng hàng hoá bán ra công ty đã thu hồi bằng tiền ngay khi bán nhiều hơn năm 2006 Đây là một dấu hiệu tốt trong hoạt động của công ty
* Đối với hàng tồn kho
Năm 2006 hàng tồn kho chiếm 37,25% và chiếm 50,12% năm 2007 trong tổng tài sản của công ty, có nghĩa là giá trị hàng tồn kho trong năm 2007 tăng so với năm
2006 là 6.580.415.286 đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng là 49,38% Quy mô về tài sản
Trang 36của công ty năm 2007 tăng, tỷ trọng của hàng tồn kho cũng tăng lên tương ứng với tỷ
lệ tăng là 12,87%
Nguyên nhân của việc hàng tồn kho tăng mạnh trong năm 2007 là do công ty sản xuất hàng hoá chủ yếu theo đơn đặt hàng nhưng tính đến thời điểm cuối năm công ty đã sản xuất xong một lượng thành phẩm lớn với giá trị là 5.537.694.039 đồng nhưng khách hàng vẫn chưa lấy hàng về, một số đang còn dở dang có giá trị là 2.496.537.942 đồng
Ngoài ra việc tăng mức dự trữ hàng tồn kho này còn do cuối năm 2007 công
ty phải chuẩn bị một lượng nguyên liệu, vật liệu lớn với giá trị là 8.891.257.634 đồng
để sản xuất mà phần lớn là mặt hàng mũ bảo hiểm để phục vụ cho người tiêu dùng vì theo quy định của nhà nước ngày 15/12/2007 mọi người khi tham gia giao thông bằng xê mô tô, xe gắn máy đều phải đội mủ bảo hiểm trên tất cả tuyến đường
Tuy nhiên với mức dự trữ hàng tồn kho tăng lên như vậy đã gây không ít lãng phí cho công ty về chi phí bảo quản vì sản phẩm nhựa, xốp là sản phẩm cồng kềnh, chiếm nhiều diện tích kho bãi Vì vậy, công ty cần đưa ra chính sách giải phóng hàng tồn kho để giảm thiểu chi phí lưu kho, tránh ứ đọng vốn, nhưng cũng phải đảm bảo mức dự trữ hàng tồn kho hợp lý để phục vụ tốt cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
* Đối với tài sản ngắn hạn khác
Tài sản ngắn hạn khác năm 2006 đạt mức 188.564.667 đồng, chiếm tỷ lệ là 0,53% trong tổng tài sản Trong năm 2007 chỉ tiêu này chỉ chiếm 0,4% tương ứng với mức là 159.361.387 đồng trong tổng tài sản Điều này có nghĩa là tài sản ngắn hạn khác trong năm 2007 giảm xuống so với năm 2006 là 29.203.280 đồng, tương ứng với tỷ lệ giảm là 15,49% Ngoài ra, tỷ trọng tài sản ngắn hạn khác cũng giảm với một
tỷ lệ là 0,13%
Nguyên nhân của sự biến động giảm này chủ yếu là do thuế và các khoản khác phải thu Nhà Nước giảm mạnh từ 156.822.337 đồng năm 2006 xuống còn 0 đồng vào năm 2007, thuế giá trị gia tăng đầu vào tăng 64.236.064 đồng nhưng mức tăng không bằng mức giảm của thuế và các khoản phải thu Nhà Nước nên tài sản ngắn hạn của công ty trong năm 2007 có xu hướng giảm
* Đối với tài sản cố định
Tài sản cố định chiếm 26,12% trong tổng tài sản của công ty năm 2006, trong năm 2007 tỷ lệ này chỉ còn là 20,27% Năm 2007 giá trị tài sản cố định đầu tư thấp hơn so với năm 2006 là 1.294.146.906 đồng, tương ứng với tỷ lệ giảm là 13,85% Mặc dù quy mô tài sản tăng lên nhưng tỷ trọng tài sản cố định lại giảm xuống một tỷ
lệ là 5,85%
Trang 37Nguyên nhân giá trị còn lại của tài sản cố định giảm là do một dây chuyền công nghệ sản xuất màng mỏng qua thời gian sử dụng thì giá trị hao mòn luỹ kế tăng, ngoài ra công ty đã thanh lý một máy may bao ciment làm cho giá trị còn lại của tài sản cố định có xu hướng giảm.
* Đối với bất động sản đầu tư
Bất động sản đầu tư năm 2006 là 180.060.910 đồng, chiếm tỷ trọng là 0,5% trong tổng tài sản Năm 2007 giá trị bất động sản đầu tư giảm xuống còn 0 đồng Nguyên nhân của việc giảm giá trị bất động sản đầu tư là do đại lý bán hàng của công
ty ở địa chỉ số 353 - Trần Cao Vân năm 2006 công ty dùng để cho thuê, với giá trị tương ứng là 180.060.910 đồng, nhưng sang năm 2007 công ty đã chuyển từ bất động sản đầu tư thành tài sản cố định nên giá trị bất động sản đầu tư đã giảm xuống
* Đối với đầu tư tài chính dài hạn
Giá trị đầu tư tài chính dài hạn trong năm 2006 và năm 2007 là như nhau và có giá trị là 30.000.000 đồng, song nếu xét về mặt tỷ trọng trong tổng tài sản thì năm
2007 giảm hơn so với năm 2006 là 0,01% Điều này cho thấy công ty không chú trọng nhiều đến đầu tư tài chính Vì vậy, công ty cần đầu tư nhiều hơn nữa về các khoản đầu tư tài chính dài hạn vì đây là khoản sẽ tạo nguồn lợi tức lâu dài cho công ty
I.2 Phân tích cấu trúc nguồn vốn
Phân tích cấu trúc nguồn vốn là sự phân tích tính tự chủ về mặt tài chính và tính ổn định của nguồn tài trợ để biết được tình hình tài chính của công ty cũng như năng lực của người chủ sở hữu trong việc tài trợ cho hoạt động cho hoạt động kinh doanh của mình
I.2.1 Phân tích tính tự chủ về mặt tài chính
Nguồn: Báo cáo tài chính của công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng năm 2006 - 2007
Qua số liệu trên ta có một số phân tích sau:
Trang 38Nợ phải trả năm 2006 là 15.041.353.046 đồng, năm 2007 là 18.015.463.408 đồng, có nghĩa là năm 2007 nợ phải trả này tăng lên 2.974.110.362 đồng so với năm
2006, tương ứng với tỷ lệ tăng là 19,77% Như vậy, trong năm 2007 công ty chiếm dụng vốn từ bên ngoài được nhiều hơn năm 2006 nhưng chủ yếu là vốn đi vay nên đây cũng không phải là dấu hiệu tốt trong hoạt động của công ty
Công ty nên gia tăng các khoản phải trả cho nhà cung cấp nhiều hơn nữa, vì có như vậy thì công ty mới chiếm dụng vốn từ bên ngoài một cách hiệu quả nhằm mục đích phục vụ cho hoạt sản xuất kinh doanh của mình, đồng thời nó cũng thể hiện rằng công ty đã tạo được sự tín nhiệm đối với nhà cung cấp, một số nhà cung cấp thường xuyên cho công ty như: Công ty Nhựa và hoá chất TPC Vina, nhà máy đất đèn và hoá chất Tràng Kênh, công ty cổ phần bao bì Đại Lục…để giúp công ty giảm thiểu được chi phí sử dụng vốn
Vốn chủ sở hữu trong năm 2007 là 21.701.823.169 đồng, năm 2006 là 20.733.528.128 đồng có nghĩa là năm 2007 vốn chủ sở hữu tăng lên so với năm 2006
là 968.295.041 đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng là 4,67%
Như vậy, tính tự chủ về mặt tài chính của công ty trong 2 năm qua là tương đối cao, thể hiện ở chỗ vốn chủ sở hữu của công ty cao hơn so với nợ phải trả Cụ thể
là năm 2007 vốn chủ sở hữu chiếm 54,64% trong tổng nguồn vốn, năm 2006 tỷ lệ này là 57,54% Do đó công ty có tính độc lập cao về tài chính và ít bị sức ép của các chủ nợ cũng như có nhiều cơ hội tiếp nhận các khoản tín dụng từ bên ngoài
Tuy nhiên, ngay từ bây giờ công ty phải tìm cách huy động nhiều hơn nữa vốn chủ sở hữu bằng cách đưa ra những kế hoạch cụ thể, những phương hướng có hiệu quả trong tương lai
I.2.2 Phân tích tính ổn định của nguồn tài trợ
Trang 39BẢNG 3: PHÂN TÍCH TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA NGUỒN TÀI TRỢ
Nguồn: Báo cáo tài chính của công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng năm 2006 -2007
Qua bảng số liệu trên ta có một số phân tích như sau:
Năm 2006 nợ ngắn hạn là 12.182.813.929 đồng, năm 2007 là 16.234.480.019 đồng có nghĩa là trong năm 2007 nợ ngắn hạn tăng lên so với năm 2006 là 4.051.666.090 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 33,26% Nợ ngắn hạn tăng lên như vậy chủ yếu do khoản vay và nợ ngắn hạn của công ty đối với ngân hàng tăng Ngược lại với nợ ngắn hạn, nợ dài hạn năm 2007 giảm so với năm 2006 là 1.077.600.728 đồng, tương ứng với tỷ lệ giảm là 37,7% Nguyên nhân chủ yếu cũng
là do vay và nợ dài hạn giảm
Nguồn vốn thường xuyên năm 2007 thấp hơn so với năm 2006, cụ thể là thấp hơn 0,46%, tương ứng với mức giảm là 109.305.687 đồng Tuy nhiên nguồn vốn tạm thời lại tăng lên 4.051.666.090 đồng, tương ứng với mức tăng là 33,26%
Tỷ suất nguồn vốn thường xuyên của công ty năm 2006 là 65,95%, năm 2007
là 59,12% có nghĩa năm 2007 giảm hơn so với năm 2006 là 6,83%, điều này cũng cho thấy trong 100 đồng vốn của công ty thì năm 2007 nguồn vốn thường xuyên chiếm ít hơn năm 2006, nhưng nhìn chung tỷ suất này tương đối cao chứng tỏ tính ổn định của nguồn tài trợ cao Đề cập đến thời hạn thanh toán thì trong thời gian ngắn hạn công ty không bị áp lực về mặt thanh toán
Qua số liệu ta thấy nguồn vốn thường xuyên năm 2007 giảm đi so với năm
2006 là 109.305.687 đồng, tương ứng với tỷ lệ giảm là 0,46% Nguyên nhân nguồn vốn thường xuyên giảm xuống là do nợ dài hạn giảm xuống 1.077.600.728 đồng, tương ứng với lỷ lệ giảm là 37,7% trong khi đó vốn chủ sở hữu vẫn tăng 4,67% nhưng do vốn chủ sở hữu tăng ít hơn mức giảm của nợ dài hạn nên nguồn vốn thường xuyên vẫn giảm
Trang 40Tỷ suất nguồn vốn tạm thời có xu hướng tăng qua 2 năm nhưng tỷ suất này vẫn thấp chứng tỏ tính ổn định của nguồn tài trợ không cao, công ty bị áp lực trong thanh toán ngắn hạn Nhưng mặt khác tỷ suất này năm 2007 cao hơn so với năm 2006 chứng tỏ công ty đã tận dụng được một lượng vốn lớn hơn từ bên ngoài để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Tỷ suất nguồn vốn thường xuyên cao hơn tỷ suất nguồn vốn tạm thời khoảng gần 20% nhưng tính ổn định của nguồn tài trợ không cao Tuy nhiên nguồn vốn thường xuyên mà công ty đang sử dụng thì tính tự chủ khá cao
I.3 Phân tích cân bằng tài chính
Phân tích cân bằng tài chính là phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản, qua việc phân tích sẽ thể hiện được khả năng thanh toán của doanh nghiệp và xem xét việc doanh nghiệp có bị mất khả năng thanh toán hay không Để tiến hành phân tích cân bằng tài chính ta tiến hành phân tích các chỉ tiêu cụ thể sau:
I.3.1 Vốn lưu động ròng và phân tích cân bằng tài chính dài hạn
BẢNG 4: PHÂN TÍCH CÁC CHỈ TIÊU CÂN BẰNG TÀI CHÍNH DÀI HẠN ĐVT: ĐỒNG
Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Chênh lệch 2007/2006
Nguồn: Báo cáo tài chính của công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng năm 2006 - 2007
Qua bảng số liệu phân tích trên ta thấy vốn lưu động ròng của công ty tương đối cao trong 2 năm Cụ thể, vốn lưu động ròng năm 2006 là 14.038.898.515 đồng và đạt 15.403.800.641 đồng trong năm 2007 Trong đó giá trị tài sản dài hạn giảm xuống 1.474.207.816 đồng, tương ứng với tỷ lệ giảm là 15,43% cho thấy trong năm 2007 công ty chưa thực sự chú trọng đầu tư mua sắm tài sản Tuy nhiên vốn lưu động ròng tăng như vậy là điều kiện tốt để công ty mở rộng sản xuất kinh doanh và ít bị áp lực
về thanh toán Nợ dài hạn của năm 2007 giảm so với năm 2006 là 1.077.600.728 đồng, tương ứng với tỷ lệ giảm là 37,7% Sự biến động giảm này sẽ làm giảm chi phí
sử dụng vốn cho công ty