Suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, từ thời vua Hùng dựng nước cho đến thời ông cha ta giữ lấy nước, truyền thống chống giặc ngoại xâm bảo vệ lãnh thổ trở thành một niềm tự hào vẻ vang m
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG
TIỂU LUẬN NGHỆ THUẬT ĐÁNH GIẶC CỦA ÔNG CHA TA – MỘT TÀI SẢN TINH THẦN VÔ GIÁ CỦA DÂN TỘC
VIỆT NAM
HỌC PHẦN: 2021MILI270103 – ĐƯỜNG LỐI QUỐC PHÒNG VÀ
AN NINH CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Trang 2Thành phố Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2021 TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG
TIỂU LUẬN NGHỆ THUẬT ĐÁNH GIẶC CỦA ÔNG CHA TA – MỘT TÀI SẢN TINH THẦN VÔ GIÁ CỦA DÂN TỘC
VIỆT NAM
HỌC PHẦN: 2021MILI270103 – ĐƯỜNG LỐI QUỐC PHÒNG VÀ
AN NINH CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Họ và tên: Trần Lê Đạt
Mã số sinh viên: 46.01.701.020
Mã lớp học phần: 2021MILI270103 Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Linh Phong
Trang 3Thành phố Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2021
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
3 Đối tượng nghiên cứu
4 Phạm vi nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Kết cấu của đề tài
NỘI DUNG
Chương I: LỊCH SỬ DỰNG NƯỚC VÀ GIỮ NƯỚC 1.1 Đất nước trong buổi đầu lịch sử
1.2 Các cuộc khởi nghĩa và kháng chiến chống xâm lược
1.2.1 Các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm từ thế kỷ III TCN đến thế kỷ X
1.2.2 Các cuộc kháng chiến chống xâm lược từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII
Chương II: TRUYỀN THỐNG VÀ NGHỆ THUẬT ĐÁNH GIẶC CỦA ÔNG CHA TA 2.1 Những yếu tố tác động đến việc hình thành nghệ thuật đánh giặc
2.1.1 Về địa lý
2.1.2 Về kinh tế
2.1.3 Về chính trị, văn hóa – xã hội
2.2 Nghệ thuật đánh giặc của cha ông ta Chương III: NGHỆ THUẬT ĐÁNH GIẶC – TÀI SẢN TINH THẦN VÔ GIÁ CỦA DÂN TỘC
Trang 43.1 Sự kế thừa, vận dụng nghệ thuật đánh giặc của thế hệ đi trước trong công cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc 3.2 Sự phát huy, cải tiến những phương pháp đánh giặc của cha ông 3.3 Kết luận
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trang 5Suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, từ thời vua Hùng dựng nước cho đến thời ông cha ta giữ lấy nước, truyền thống chống giặc ngoại xâm bảo vệ lãnh thổ trở thành một niềm tự hào vẻ vang mà con cháu nước Việt đời đời khắc ghi trong tâm trí Các cuộc kháng chiến chống quân ngoại xâm … Và … Của các đời vua Hùng, tới thế hệ ông cha kiên cường bất khuất trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (…) và đế quốc Mĩ (…) là những áng hùng ca thiêng liêng của dân tộc Điều làm nên những chiến thắn hào hùng và oanh liệt như vậy, ngoài các yếu tố tiên quyết như tính chất chiến tranh chính nghĩa và sự đồng lòng, đoàn kết của toàn dân tộc thì nghệ thuật chiến đấu của ông cha ta đã đúc kết qua bao tháng năm khói lửa của dân tộc cũng là yếu tố rất quan trọng Lòng yêu nước nồng nàn cùng với sự quả cảm, anh dũng, kiên cường sẵn sàng hi sinh để giành lại độc lập dân tộc trở thành động lực, thôi thúc con tim và bước chân những vị anh hùng dân tộc, chống trả quyết liệt không ngơi nghỉ bất chấp tình huống cam go, khốc liệt đã góp phần rất lớn vào sự độc lập tự do của chúng ta ngày hôm nay, và tạo nên một truyền thống vô cùng quý báu của dân tộc, truyền thống và nghệ thuật đánh giặc của ông cha ta
Dưới sự lãnh đạo tài tình của vị lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, các cuộc chiến tranh Việt Nam từng bước trở nên vững mạnh, song vẫn có lúc rơi vào thế yếu, nằm dưới thế gọng kìm Tuy “mạnh yếu từng lúc khác nhau, song hào kiệt thời nào cũng có”, chính quyền và nhân dân ta với trái tim yêu nước cháy bỏng, sự dũng cảm phi thường đã hình thành nên nhiều loại hình, hình thức đấu tranh vũ trang, quân sự đặc sắc như …… Trải qua nhiều biến đổi đau thương, thăng trầm của lịch sự, ông cha ta đã hình thành và đúc kết những chiến lược quân sự, kinh nghiệm chiến đấu tuỳ theo từng điều kiện vô cùng linh hoạt, khéo léo Quá trình biến đổi và phát triển … của cách mạng Việt Nam đã rèn đúc và phát triển nền nghệ thuật quân sự vô cùng ưu việt, đặc sắc lại rất hiệu quả, kịp thời Chính truyền thống và nghệ thuật ấy đã góp phần tạo nên những chiến công hiển hách, lẫy lừng bốn bể năm châu, giúp ta giành lại được độc lập dân tộc, bờ cõi nước nhà Chiến tranh qua đi, nhưng những cuộc chiến tranh tàn khốc đã gây ra sự hi sinh mất mát mà nước ta phải gánh chịu không thể xoá mờ Thế hệ đi trước đã nằm xuống vì độc lập, con cháu ta sau này luôn biết ơn và ra sức xây dựng đất nước, khắc ghi trong tim truyền thống yêu nước thiêng liêng của dân tộc, ngày càng phát triển nghệ thuật quân sự để xây dựng đất nước và tiếp tục công cuộc dựng nước – giữ nước của ông cha ta Điều này đã chứng minh rất rõ ràng một chân lý, đất nước Việt Nam tuy nhỏ bé nhưng con người, dân tộc Việt Nam kiên cường và kiêu hãnh không một đất nước, một cuộc chiến nào có thể đánh bại, tinh thần yêu nước hoà cùng sức mạnh toàn dân thống nhất đã phát triển thành truyền thống và nghệ thuật quân sự ưu việt, độc đáo, hiện đại và hiệu quả trở thành thứ vũ khí đắc lực của đất nước Việt Nam
Trang 62 Mục tiêu nghiên cứu đề tài:
Đề tài nghiên cứu nhằm đề cập và làm nổi bật truyền thống và nghệ thuật đánh giặc của ông cha ta từ đó rút ra bài học cho thế hệ sau này
3 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là truyền thống và nghệ thuật đánh giặc của cha ông ta bao gồm:
- Những buổi đầu lịch sử của đất nước
- Những yếu tố tác động đến việc hình thành truyền thống và nghệ thuật đánh giặc
- Các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh chống xâm lược
- Nghệ thuật đánh giặc
4 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu tập trung về nghệ thuật đánh giặc của ông cha ta từ đó giải thích vì sao nghệ thuật đó lại trở thành tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam Lấy phạm vi là các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm trong lịch sử
5 Phương pháp nghiên cứu:
Dựa trên các cuộc kháng chiến, các cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược của cha ông ta
từ đó làm nổi bật vấn đề cần đề cập Sử dụng các phương pháp về quan điểm hệ thống – cấu trúc, quan điểm lịch sử, phân tích, tổng hợp, thống kê, quan điểm thực tiễn để xem xét nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu và định hướng cho quá trình cho quá trình nghiên cứu
6 Kết cấu của đề tài:
Trang 7Đề tài gồm: Mở đầu, 4 chương, kết luận và tài liệu tham khảo.
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: LỊCH SỬ DỰNG NƯỚC VÀ GIỮ NƯỚC
1 Đất nước trong buổi đầu lịch sử:
Lịch sử quốc gia dân tộc Việt Nam từ khi ra đời đến nay luôn gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước Từ mấy nghìn năm trước khi các vua Hùng dựng nước Văn Lang, nhu cầu tự vệ chống giặc ngoại xâm đã trở nên không thể thiếu trong mỗi người dân nước Nam Nước Văn Lang – nhà nước đầu tiên của ta có lãnh thổ khá rộng và vị trí trọng điểm nằm trên đầu mối những đường giao thông qua bán đảo Đông Dương và vùng Đông Nam Á
Do có vị trí thuận lợi, nước ta luôn bị các thế lực thù địch nhòm ngó Sự xuất hiện của chúng ảnh hưởng trực tiếp đến nền độc lập tự do và vận mệnh của đất nước Vì thế bảo vệ độc lập,
tự do, chủ quyền đất nước đã sớm xuất hiện trong lịch sử dân tộc ta theo đó tinh thần bất khuất, quyết tử cho tổ quốc quyết sinh cũng dần hình thành và tồn tại trong con người Việt Nam từ những ngày đầu lập nước Minh chứng cho việc đó, ngày nay ta tìm thấy ở những di chỉ văn hóa Gò Mun, Phùng Nguyên, Đông Sơn,… (những di chỉ có niên đại lên đến 3500
-4000 năm) ngoài những công cụ bằng đồng dùng trong trồng trọt, chăn nuôi thì còn có những
vũ khí thô sơ để tự vệ như: lưỡi búa, mũi tên, lưỡi dao, giáo, rìu, dao găm và những mảnh giáp che thân bằng đồng Bên cạnh đó còn có các truyền thuyết như “Thánh Gióng” hay những con người lịch sử như An Dương Vương, Hai Bà Trưng, bà Triệu,… cũng đã góp phần chứng minh cho truyền thống đánh giặc giữ nước của cha ông ta
Truyền thống đấu tranh, chống giặc ngoại xâm đã tồn tại trong con người Việt Nam từ những ngày đầu lập nước Đó là nguồn gốc để hình thành những nghệ thuật đánh giặc sau này
2 Các cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược và những nghệ thuật đánh giặc được áp dụng.
2.1 Các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm từ thế kỷ III TCN đến thế kỷ X
Hơn 1000 năm (từ năm 179 trước Công Nguyên đến 938), nước ta phải chịu ách thống trị của các triều đại phong kiến phương Bắc Đây cũng là lúc tinh thần bất khuất, kiên cường quyết tâm đấu tranh bảo tồn cuộc sống, giữ gìn, phát huy tinh hoa của nền văn hóa dân tộc, quyết tâm giành lại độc lập tự do của con người Việt Nam được thể hiện rõ nhất Song song với đó
là sự hình thành của những nghệ thuật đánh giặc đặc trưng
Trang 8- Mùa xuân năm 40 Hai Bà Trưng khởi nghĩa giành lại độc lập cho đất nước ta Đây là điển hình đầu tiên của một cuộc khởi nghĩa toàn dân Trong những buổi đầu giữ nước, ông cha ta nói chung và Hai Bà Trưng nói riêng đã biết cách tập hợp, huy động sức mạnh toàn dân kháng chiến chống quân xâm lược Đây là một trong những nghệ thuật đánh giặc truyền thống của nhân dân ta từ xưa đến nay Bên cạnh đó Hai Bà Trưng còn
sử dụng chiến thuật đánh vào những điểm trọng yếu của địch khiến chúng bị “mất đầu” nhanh chóng tê liệt và tan rã Chiến thuật này ta cũng đã bắt gặp ở những trận chiến sau này
- Năm 248, nhà Ngô xâm lược nước ta, Triệu Trinh Nương (Bà Triệu) đứng lên phất cờ khởi nghĩa Bà cùng anh trai tập hợp nghĩa sĩ trên đỉnh núi Nưa, ngày đêm luyện tập võ nghệ để chuẩn bị khởi nghĩa Trong quá trình khởi nghĩa, bà Triệu làm các bài hịch và truyền khắp nơi kể tội nhà Ngô, nâng cao sĩ khí toàn quân, kêu gọi mọi người hưởng ứng khởi nghĩa Nghĩa quân của người con gái núi Nưa làm cho quân thù khiếp sợ Cũng cần phải nói thêm, ở trong cuộc khởi nghĩa này bà Triệu đã rất sáng suốt trong việc chọn vùng Bồ Điền để lập căn cứ địa sau khi đánh thắng thành Tư Phố Đây là vùng đất thuận lợi cho cả “công” và “thủ” Từ đây có thể ngược sông Lèn, sông Lâu ra sông Mã để rút lên Quân Yên hoặc tới căn cứ núi Nưa vừa có thể chủ động tiến công ra Bắc theo lối Trần Phù Một hệ thống phòng ngự vững chắc đã được bà dựng lên dựa vào địa thế hiểm yếu nơi đây Có thể dễ nhận ra được đây là một trong những nghệ thuật đánh giặc đặc sắc nhất mà cha ông ta đã để lại cho hậu thế đó là tận dụng địa hình
để đánh giặc
- Mùa xuân năm 542, một lần nữa “ngọn lửa khởi nghĩa” của nhân dân ta lại bùng lên mạnh mẽ Dưới sự lãnh đạo của Lý Bôn (Lý Nam Đế) nhân dân ta đã đứng lên chống lại nhà Lương Vận dụng, kế thừa nghệ thuật chiến tranh nhân dân của ông cha, Lý Bôn cùng toàn thể nhân dân Việt Nam đã lật đổ được chính quyền nhà Lương từ đó khai sinh nước Vạn Xuân (đầu năm 544)
- Rồi những cuộc khởi nghĩa của các anh hùng như Lý Tự Tiên, Đinh Kiến năm 687 hay khởi nghĩa Mai Thúc Loan năm 722, khởi nghĩa Phùng Hưng từ năm 766 đến năm 791 cũng khẳng định được lòng yêu nước cũng như truyền thống và nghệ thuật đánh giặc của người nước Nam
- Đặc biệt vào năm 938, bằng chiến thuật “cắm cọc trên sông Bạch Đằng” Ngô Quyền đã
đả bại toàn bộ đoàn thuyền của quân Nam Hán, khiến vua Nam Hán phải bãi binh, chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc; mở ra kỉ nguyên độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam
2.2 Các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII
Trang 9Từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII nước ta trải qua nhiều cuộc chiến tranh xâm lược của thế lực thù địch phương Bắc Bằng cách vận dụng, kế thừa những nghệ thuật đánh giặc hay sáng tạo
ra chúng, dân nhân Việt Nam đã kháng chiến thành công thắng lợi Cụ thể:
- Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ nhất năm 981 do Lê Hoàn lãnh đạo
- Hay cuộc kháng chiến chống Tống lần 2 từ năm 1075 đến 1077 của nhà Lý do Lý Thường Kiệt cầm quân
- Ở cả hai cuộc chiến này, ta đều thấy rõ những nghệ thuật quân sự đặc sắc được áp dụng một cách triệt để Về phần chiến lược, cả Lý Thường Kiệt và Lê Hoàn đều theo dõi sát các hành động của quân địch kể từ khi chúng bắt đầu chuẩn bị quân đến khi chúng tiến vào lãnh thổ nước ta Ông cha ta xưa có câu “biết địch biết ta trăm trận trăm thắng” việc nắm rõ được tương quan lực lượng hai bên giúp các nhà lãnh đạo đưa ra được những chiến thuật hợp lí, từ đó nắm thế chủ động trong cuộc chiến Cụ thể, Lê Hoàn đã phán đoán chính xác được đường tiến quân của địch, chủ động bố trí đánh chặn Hay
Lý Thường Kiệt đã chủ động đưa quân sang đất Tống đánh phủ đầu nhằm phá các căn
cứ quân sự, hậu cần của chúng khiến chúng phải bắt tay chuẩn bị lại từ đầu rồi cho nghĩa quân lui về xây dựng phòng tuyến phòng ngự vững chắc trên sông Như Nguyệt chờ cơ hội thuận lợi phản công tiêu diệt địch
- Cả hai cuộc chiến đều ghi đậm dấu ấn chiến thuật của quân ta khi đã khéo léo kết hợp giữa “công” và “thủ” Chọn những địa điểm trọng yếu đặt phòng tuyến, mai phục, phục kích nhằm tiêu hao lực lượng giặc tạo điều kiện cho cuộc phản công với quy mô lớn quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi nước ta Với Lê Hoàn ông chọn cửa quan Bình
Lỗ và cửa sông Bạch Đằng làm hai trận địa phòng ngự chính Còn với Lý Thường Kiệt, phòng tuyến trên sông Như Nguyệt và bài thơ Nam Quốc Sơn Hà đã gắn liền với tên tuổi của ông Một phòng tuyến vững chắc, một bài thơ hào hùng gia tăng sĩ khí toàn quân, làm rối loạn lòng địch là một trong những điểm nổi bật nhất trong nghệ thuật đánh giặc của Lý Thường Kiệt Trận phản công Như Nguyệt (tháng 3 năm 1077) đã quét sạch quân Tống ra khỏi biên cương Tổ quốc
- Đặc biệt là kì tích 3 lần chống quân Nguyên – Mông của nhà Trần ở thế kỉ XIII Đây không những là một cuộc đọ sức quyết liệt giữa một trong những thế lực quân sự mạnh nhất của thế giới bấy giờ và một dân tộc nhỏ bé với ý chí quyết tâm đánh đuổi giặc, bảo
vệ độc lập tổ quốc mà còn là một cuộc đấu trí căng thẳng giữa hai nền nghệ thuật quân
sự Đại Việt và Nguyên – Mông Qua đó, một lần nữa nghệ thuật đánh giặc đặc sắc của con người nước Nam lại được thể hiện Theo dõi, quan sát tương quan lực lượng giữa
Trang 10hai bên, Trần Quốc Tuấn đã chủ trương rút lui để bảo toàn lực lượng sau lần tiến công thứ nhất vào năm 1258 Để rồi sau đó, ông cũng cố lại quân binh, đóng đại bản doanh
và chuẩn bị thế trận ở Nội Bàng để sẵn sàng đánh địch khi chúng tiến công lần thứ 2 vào năm 1285 Nhưng một lần nữa Đức Thánh Trần lại phải hạ lệnh lui binh bảo toàn lực lượng vì sức tấn công của quân Mông- Nguyên thời điểm này là không thể cản nổi Nhận thấy việc đối đầu trực diện với địch là không khả thi khi thế địch lúc này đang rất mạnh, Trần Quốc Tuấn lập thế trận, cho quân đánh chặn để tiêu hao địch rồi rút lui để bảo toàn lực lượng và dụ chúng vào thế trận mà ta đã lập sẵn Kế “dĩ dật đãi lao” – tức lấy nhàn chờ mệt, lấy mạnh chờ yếu, lấy sung sức chờ hao mòn Như các anh hùng hào kiệt đi trước, nhà Trần cũng phát huy tối đa sức mạnh toàn dân, cả nước đánh giặc, vận dụng, sáng tạo ra những lối đánh đặc biệt: lấy nhỏ đánh lớn, phân tán lực lượng địch, giành thế chủ động buộc chúng theo lối đánh của ta… Đặc biệt là kế “vườn không nhà trống” đã khiến quân địch lâm vào tình cảnh thiếu thốn lương thực, đau ốm vì không quen thời tiết nước ta, lực lượng hao hụt, tạo điều kiện lớn cho cuộc tổng phản công Trong trận này ta lại bắt gặp hình ảnh của những chiếc cọc được cắm trên sông Bạch Đằng - một hình ảnh quen thuộc trong chiến thuật dẫn đến thắng lợi của Ngô Quyền trước đội quân Nam Hán năm 938 mở ra kỉ nguyên độc lập của dân tộc Trần Quốc Tuấn đã rất khéo léo trong việc áp dụng, cải tiến nghệ thuật đánh giặc của cha ông, kết hợp cùng với nghệ thuật quân sự mới để đánh tan quân xâm lược Việc kết hợp giữa địa hình, sức dân, chiến thuật và hai cánh tác chiến “thủy”, “bộ” đã đem lại cho nhân dân ta một thắng lợi vẻ vang, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng, giữ gìn độc lập tự do
Tổ quốc
- Vào cuối thế kỉ XIV, nhà Trần suy thoái, Hồ Quý Ly phế truất vua Trần, lập ra nhà Hồ Tháng 5 năm 1406, nhà Minh mang danh “phù Trần diệt Hồ” đã đưa quân sang xâm lược nước ta Một lần nữa nước ta rơi vào ách đô hộ của phong kiến phương Bắc Cũng cần phải nói thêm, trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, nhà Hồ đã mắc phải một sai lầm cực nghiêm trọng trong nghệ thuật đánh giặc Đó là: nhà Hồ đã không được lòng dân và không thể huy động được sức mạnh toàn dân như các triều đại trước đã làm Dựa vào đó, thế lực ngoại xâm thừa thế xông lên, kích động quần chúng nhân dân dẫn đến việc mất nước là không thể tránh khỏi
- Mặc dù bị đô hộ nhưng ý chí đấu tranh vì Tổ quốc của con người Việt Nam chưa bao giờ dập tắt Các cuộc khởi nghĩa của các tầng lớp nhân dân yêu nước liên tục nổ ra, tiêu biểu là khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi thống lĩnh Thành công của cuộc khởi nghĩa là
sự kế thừa và phát huy truyền thống toàn dân đánh giặc Lê Lợi và bộ chỉ huy quân đã
“lấy xưa nghiệm nay, xét suy mọi cơ hung, phế”, “vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục,