1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những bài học kinh nghiệm rút ra từ vụ kiện bán phá giá cá tra và cá basa vào thị trường mỹ

68 531 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những bài học kinh nghiệm rút ra từ vụ kiện bán phá giá cá tra và cá basa vào thị trường Mỹ
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn Cô Lê Thị Thanh
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 227 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc bán sản phẩm tơng tự ở thị trờng nội địa củanớc xuất khẩu; hoặc việc bán hàng xuất khẩu sang một nớc thứ ba, ở mứcgiá thấp hơn chi phí sản xuất cộng với các chi phí khác có thể đợc

Trang 1

Lời nói đầu

Hiệp định Thơng mại Việt-Mỹ vừa đợc ký kết đã mở ra những cơ hộilàm ăn mới cho các thơng nhân của cả hai nớc Việt Nam và Mỹ Đây là một

sự kiện hợp với tiến trình toàn cầu hoá và tự do thơng mại đang diễn ra trênphạm vi toàn cầu Tuy nhiên, Hiệp định đợc ký cha ráo mực thì chúng ta đãphải chứng kiến những hành động trái ngợc hẳn với tinh thần tự do cạnhtranh, tự do thơng mại Đó là việc xảy ra khi cá tra, cá basa nhập khẩu vàothị trờng nớc Mỹ Kể từ cuối năm 2000, Hiệp hội các chủ trại nuôi cá nheo

Mỹ (CFA) tiến hành chiến dịch chống lại việc nhập khẩu khẩu cá tra, cábasa của Việt Nam vào thị trờng này Chiến dịch này có lúc lắng dịu đi vàitháng, rồi có lúc lại sôi lên Sự ầm ĩ, nóng bỏng của nó đã khiến ngời Mỹgọi nó là "chiến tranh catfish" để so sánh với "chiến tranh Hamburger",

"chiến tranh ô tô" và "chiến tranh nớc giải khát" đã từng xảy ra trớc đâytrên thị trờng này

Các cuộc chiến tranh mà ta nhắc đến ở trên, nhìn chung, là biểu hiệnbên ngoài của cạnh tranh và xung đột thơng mại Đây là một hiện tợng tựnhiên trong một thị trờng cạnh tranh mà các đối thủ có sức mạnh kinh tế.Hiện tợng ít xảy ra nhng một khi đã diễn ra thì gây thiệt hại vô ích về thờigian và nguồn lực của các bên Tuy vậy nó cũng là một hiện tợng quantrọng đáng chú ý và cần đợc nghiên cứu Vì những lý do nh vậy, chuyên đề

đợc cống hiến cho việc nghiên cứu xem xét hiện tợng xung đột thơng mạivới biểu hiện gần đây nhất của nó là CFA tiến hành cuộc "chiến tranhcatfish" chống các nhà xuất khẩu Việt Nam cũng nh ngời nuôi cá ViệtNam

Nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề mang tính thời sự nàytrong quá trình phát triển kinh tế thuỷ sản nói riêng cũng nh phát triển kinh

tế đất nớc nói chung, đặc biệt trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực vàkinh tế quốc tế nên em đã chọn đề tài: Những bài học kinh nghiệm rút

ra từ vụ kiện bán phá giá cá tra và cá basa vào thị trờng Mỹ.

Nội dung chính của đề tài này gồm 3 chơng:

Chơng I Đại cơng về thơng mại quốc tế và tranh chấp thơng mại quốc tế

Chơng II Nội dung vụ kiện cá tra, cá basa giữa Việt Nam và Mỹ Chơng III Những bài học kinh nghiệm rút ra từ vụ kiện

Do thiếu kinh nghiệm và nguồn thông tin còn hạn hẹp nên đề tài

sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em xin chân thành cảm ơn sự hớng

Trang 2

dẫn chu đáo và sự giúp đỡ tận tình của cô giáo Lê Thị Thanh trong quá trìnhthực hiện đề tài này

Trang 3

Chơng I Đại cơng về thơng mại quốc tế

và tranh chấp thơng mại quốc tế

I thơng mại quốc tế và tranh chấp thơng mại quốc tế

1 Thơng mại quốc tế

1.1 Định nghĩa. Thơng mại quốc tế là việc trao đổi hàng hoá và dịch vụ

giữa các chủ thể kinh tế có quốc tịch khác nhau (trong đó đối tợng trao đổithờng vợt ra ngoài phạm vi địa lý của một quốc gia) thông qua hoạt độngmua bán, lấy tiền tệ làm môi giới Hoạt động thơng mại quốc tế ra đời sớmnhất trong các quan hệ kinh tế quốc tế và ngày nay nó giữ vị trí trung tâmtrong các quan hệ kinh tế quốc tế Sở dĩ thơng mại quốc tế có vai trò quantrọng nh vậy bởi vì kết quả của các quan hệ kinh tế quốc tế khác cuối cùng

đợc thể hiện tập trung trong thơng mại quốc tế và quan hệ hàng hoá-tiền tệvẫn là quan hệ phổ biến nhất trong các quan hệ kinh tế quốc tế

(Giáo trình Kinh tế quốc tế, NXB Lao động-Xã hội, Hà Nội 2002)

1.2 Nội dung Thơng mại quốc tế bao gồm nhiều hoạt động khác nhau.

Trên giác độ một quốc gia đó chính là hoạt động ngoại thơng Nội dung củathơng mại quốc tế bao gồm:

- Xuất và nhập khẩu hàng hoá hữu hình

- Xuất và nhập khẩu hàng hoá vô hình

- Gia công thuê cho nớc ngoài và thuê nớc ngoài gia công

- Tái xuất khẩu và chuyển khẩu

- Xuất khẩu tại chỗ

2 Tranh chấp thơng mại

2.1 Khái niệm. Đề tài có nói tới tranh chấp thơng mại Vậy tranh chấp

th-ơng mại là gì? Theo các nhà luật học thì tranh chấp thth-ơng mại đợc hiểu lànhững mâu thuẫn, xung đột về một thực hiện pháp lý của các chủ thể khitham gia quan hệ pháp luật kinh tế Đặc trng của tranh chấp kinh tế làchúng phát sinh trực tiếp từ hoạt động kinh doanh; chủ thể tham gia tranhchấp thông thờng là các doanh nghiệp; tranh chấp gắn liền với lợi ích riêngbiệt của mỗi chủ thể và luôn thuộc quyền tự định đoạt của họ Theo ý củangời viết, tranh chấp thơng mại có thể hiểu là những mâu thuẫn xung độtphát sinh trong quá trình thơng mại Các mâu thuẫn xung đột đó không chỉthể hiện sự mâu thuẫn về lợi ích giữa các thơng nhân hay tầng lớp thơng

Trang 4

nhân của các quốc gia nh biểu hiện bề ngoài của nó Đó là một biểu hiệncủa sự va chạm về lợi ích giữa các quốc gia, các nền kinh tế và trong mộtchừng mực nào đó là các nền sản xuất với các phơng thức sản xuất khácnhau

Hãy tởng tợng về một doanh nghiệp nhà nớc, độc quyền ở ngành củamình ở trong nớc, xuất khẩu hàng ra nớc ngoài Do có lợi thế độc quyền ởhậu phơng nên trong giai đoạn đầu thâm nhập thị trờng nớc ngoài doanhnghiệp đó có thể hạ giá sản phẩm tới mức thấp hơn cả giá bán ở nớc mình

để chiếm thị trờng Khi đó các doanh nghiệp ở nớc chủ nhà, vốn quen vớimột thị trờng cạnh tranh tự do sẽ không đủ tiềm lực cạnh tranh Vậy để bảo

vệ lợi ích của các doanh nghiệp nớc mình chính quyền nớc sở tại có thể đa

ra luật cấm bán hàng nhập khẩu với giá thấp hơn giá bán tại nớc sản xuất

Ta có thể thấy rõ đó là một tranh chấp thơng mại phát sinh giữa hai nềnkinh tế khác nhau: nền kinh tế thị trờng và nền kinh tế không có yếu tố thịtrờng

2.2 Nguyên nhân. Nguyên nhân của các tranh chấp thơng mại rất đa dạng.

Về cơ bản nó có nguyên nhân sau:

Chính sách bảo hộ mậu dịch, bảo hộ các ngành công nghiệp trong

n-ớc Chính phủ các nớc có thể thực hiện một hệ thống chính sách mang tínhbảo hộ mậu dịch Các chính sách này tạo cho các thơng nhân và nhà sảnxuất trong nớc những lợi thế nhất định và khiến cho các thơng nhân và công

ty nớc ngoài những khó khăn trong việc hoạt động ở thị trờng này Cácchính sách đó gồm có chính sách thuế xuất nhập khẩu, phí và lệ phí, cácquy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, bao bì đóng gói, môi trờng…

Sự “hiểu nhầm” của các bên trong quá trình buôn bán Khác biệt vềcác đơn vị số lợng, khối lợng… nói chung có thể xẩy ra Một ví dụ là hệthống đo lờng tấn: có 3 kiểu đo khác nhau “long ton” (dùng bởi Anh) ngangvới 2240 pao=1016,05 kg, “metric ton” hoặc “tonne” (quy chuẩn quốc tế)bằng 1000 kg, “short ton” (dùng ở Mỹ) bằng 2000 pound=907,19 kg Nếutrong hợp đồng và bản dịch hợp đồng không quy ớc rõ đơn vị “tấn” theo hệnào thì có thể gây tranh chấp, hiểu nhầm và dẫn tới vi phạm hợp đồng.Khác biệt về tập quán thơng mại có thể xẩy ra giữa hai bên thuộc hai hệthống kinh tế có trình độ phát triển khác nhau hoặc cách biệt về mặt vănhoá, ngôn ngữ Những thói quen mà bên này có thể coi là tất nhiên nhngbên kia không hề biết tới Ví dụ về ngành dệt may, giầy dép: nhà nhập khẩu

Mỹ yêu cầu cung cấp 6000 đôi giầy đóng trong thùng, mỗi thùng 20 đôi,

Trang 5

đóng gói nh thông lệ Nhà nhập khẩu Mỹ có thói quen bán hàng là từng đôigiầy đợc đóng gói riêng để tiện việc trng bầy, giao bán và các bạn hàng th-ờng xuyên của anh ta hoàn toàn đáp ứng điều này Tuy nhiên, bạn hàng mới

là nhà sản xuất Việt Nam cha biết điều này Anh ta đóng gói tất cả 30 đôivào một gói cho tiện và tiết kiệm chi phí Điều này khiến cho bạn hàng ngời

Mỹ kiện anh ta vì vi phạm hợp đồng Nhà sản xuất Việt Nam phản đối vàkiện lại dẫn đến tranh chấp thơng mại

3 Tranh chấp thơng mại quốc tế

Tranh chấp thơng mại bao gồm các bên chủ thể tham gia có quốc tịchkhác nhau và trụ sở công ty đặt tại những quốc gia khác nhau đợc gọi làtranh chấp thơng mại quốc tế Những cuộc tranh chấp thơng mại quốc tếxuất phát từ việc bán phá giá đã xuất hiện nhiều trên thế giới nh tranh chấpthơng mại giữa Mỹ và EU, Nga về việc Mỹ cho rằng EU và Nga bán phágiá thép trên thị trờng Mỹ, tranh chấp thơng mại giữa EU và Việt Nam khi

EU cho rằng Việt Nam bán phá giá bật lửa gas trên thị trờng EU

II Luật chống bán phá giá của Mỹ và Liên minh Châu

Âu (EU)

Bán phá giá là bán một món hàng xuất ra nớc ngoài thấp hơn giá hiện

đang thịnh hành ở thị trờng nội địa và thấp hơn giá cần thiết để thu hồi chiphí sản xuất (bán dới giá thành) để mở rộng thị trờng và nó gây thiệt hạicho nền kinh tế, loại bỏ cạnh tranh và tạo thế độc quyền Về lâu dài, th ơngnhân sẽ tăng giá cao để bù vào chi phí và thu lợi nhuận độc quyền Cácchính phủ đều có chú ý ngăn chặn và trừng phạt các hoạt động này Cáchiệp ớc quốc tế, nh thoả ớc tổng quát về thơng mại và thuế quan (GATT)

đều cho phép làm nh vậy

Sự khác biệt giữa bán phá giá với bán hàng giá rẻ do giá thành thấp,nhìn bề ngoài là rất khó xác định Một khía cạnh của tranh chấp thơng mại

là xác định sự khác biệt đó Khi có tranh chấp, một bên sẽ cố buộc tội đốithủ cạnh tranh của mình là có bán phá giá Bên kia sẽ chứng minh là mìnhkhông bán phá giá mà là bán hàng giá rẻ, phù hợp với chi phí sản xuất củamình

1 Luật chống bán phá giá của Mỹ

Trang 6

Luật của Mỹ quy định rằng: nếu hàng hoá bán vào Mỹ thấp hơn giáquốc tế hoặc thấp hơn giá thị trờng thì ngời sản xuất ở Mỹ có thể kiện ratoà, và nh vậy, nớc bị kiện sẽ phải chịu thuế chống bán phá giá (Ad) caokhông chỉ đối với chính hàng hoá bán phá giá mà còn đối với tất cả cáchàng hoá khác của nớc đó bán vào Mỹ Giá thị trờng của hàng hóa là giá

mà hàng hóa đó thờng đợc bán trên thị trờng nớc ngời sản xuất

Bộ thơng mại Mỹ (DOC), Uỷ ban thơng mại quốc tế (ITC), và Tổngcục hải quan Mỹ cùng có trách nhiệm trong việc thi hành luật chống bánphá giá DOC chịu trách nhiệm quản lý chung về luật bán phá giá và điềutra về việc phá giá của nớc ngoài cho hàng nhập khẩu Nếu điều tra xác

định sự việc là có thật, DOC sẽ quy định mức thuế đánh vào hàng hóa đó.ITC thì xác định liệu sự việc đã, hoặc có thể , ảnh hởng đến sản xuất trongnớc hay cha, hoặc liệu một ngành sản xuất trong nớc có bị ảnh hởng ngay

từ khi mới phát triển do việc bán phá giá hàng nhập khẩu hay không Tổngcục hải quan áp dụng AD khi những mức thuế này đợc ban hành và ITC đãtiến hành công việc xác định cần thiết

Gần đây, Quốc hội Mỹ đã thông qua Luật Byrd sửa đổi, theo đó luậtnày khuyến khích doanh nghiệp Mỹ cản trở việc nhập khẩu hàng hóa từ các

đối thủ cạnh tranh nớc ngoài Cụ thể là Luật Byrd sửa đổi ngăn chặn công

ty nớc ngoài xuất khẩu sản phẩm sang Mỹ ở mức giá thấp hơn giá họ thờngtính ở thị trờng trong nớc, do đó, cạnh tranh không công bằng với nhà sảnxuất Mỹ

(Chơng I, Luật Thơng mại quốc tế, Phạm Minh biên soạn, NXB Thống Kê,Tp.Hồ Chí Minh 2000)

2 Luật chống bán phá giá của Liên minh châu Âu (EU)

Luật của EU đợc ban hành ngày 22/12/1995 dựa trên cơ sở pháp lýHiệp định về chống bán phá giá của WTO Một sản phẩm đợc xem là bịbán phá giá nếu giá xuất khẩu (tính theo giá CIF) của của sản phẩm này vào

EU thấp hơn so với giá bán trong nớc của sản phẩm tơng tự đó tại nớc xuấtkhẩu Một sản phẩm đợc xem là có bán trong nớc nếu khối lợng bán trongnớc chiếm từ 5% trở nên so với khối lợng sản phẩm đó xuất khẩu vào EU

Các công ty, pháp nhân, các tổ chức của EU có thể đa đơn kiện lên

Uỷ ban Châu Âu (EC), tuy nhiên có một số quy định khác mang tính kỹthuật: Bên đi kiện phải chứng minh đợc rằng tổng sản phẩm của nhữngcông ty đi kiện chiếm hơn 25% tổng sản phẩm các mặt hàng đó trong khối

Trang 7

EU; tổng sản lợng của những công ty đi kiện phải chiếm hơn 50% tổng sảnlợng của những công ty không kiện (trong EU); đơn kiện sẽ bị bác bỏ nếusản phẩm bán phá giá vào EU chỉ chiếm đới 1% (sản phẩm của một nớc)hoặc dới 3% thị phần tại EU (nếu là sản phẩm do nhiều nớc cùng xuất vàoEU) Sau khi thu thập thông tin, EC sẽ tính ra giá thành sản xuất của sảnphẩm, giá bán sản phẩm trong nớc (bao gồm chi phí sản xuất, khấu hao, lợinhuận…), giá xuất khẩu (giá CIF) để xem có bán phá giá hay không và tính

ra mức độ phá giá (còn gọi là biên độ phá giá, là số lợng mà giá trị thôngthờng, hay mức giá bán trong nớc vợt quá giá trị xuất khẩu) Nếu sản phẩmkhông bán trong nớc hoặc bán trong nớc nhng chiếm sản lợng ít hơn 5% thì

EC sẽ so sánh với giá bán tơng tự của một công ty tơng tự Còn nếu doanhnghiệp tỏ ra bất hợp tác (từ chối tiếp cận, không cung cấp thông tin…) thì

EC sẽ ban hành các phán quyết dựa trên các dữ liệu sẵn có Thông thờng,nếu nhà xuất khẩu bị kiện bán phá giá mà đang hoạt động ở một nớc có nềnkinh tế thị trờng thì EC sẽ trực tiếp sang điều tra Nếu nhà xuất khẩu thuộcnớc không có nền kinh tế thị trờng thì EC sẽ chọn một nớc thứ ba có nềnkinh tế thị trờng để tính toán mức giá của sản phẩm đó Tuy nhiên, EC đãban hành quy định số 2238/2000 (ngày 9/10/2000) xác định 5 nớc tuy cha

đợc công nhận có nền kinh tế thị trờng nhng đã có các công ty hoạt độngtheo cơ chế thị trờng là: Nga, Trung Quốc, Việt Nam, Ukraine, Kazakhstan

Nh vậy, các doanh nghiệp này sẽ đợc EC trực tiếp sang điều tra nếu có kiệntụng bán phá giá Việc xác minh cơ chế thị trờng là nhằm chứng tỏ rằngcông ty hoạt động theo đúng các điều kiện của thị trờng và hệ thống sổ sáchtài chính của họ là minh bạch Quy chế về kinh tế thị trờng có vai trò quantrọng ở khâu áp thuế chống bán phá giá: nếu công ty thuộc nớc có nền kinh

tế thị trờng thì từng công ty sẽ chịu mức thuế khác nhau tuỳ thị phần/sản ợng sản phẩm vào EU, còn nếu thuộc nớc có nền kinh tế phi thị trờng thì tấtcả công ty của nớc này sẽ chịu chung một mức thuế

l-Để xác định mức bán phá giá của một mặt hàng nhập khẩu, theo Luậtchống bán phá giá của EU, nớc áp dụng, sau khi điều tra cụ thể sẽ có sự sosánh giữa giá xuất khẩu và giá trị thông thờng của mặt hàng nhập khẩu Sự

so sánh này sẽ đợc thực hiện ở cùng cấp độ thơng mại liên quan tới nhữngvực bán hàng đợc tiến hành ở gần nh cùng một thời điểm Trong trờng hợpgiá trị thông thờng và giá trị xuất khẩu đợc xây dựng không nằm trên cơ sở

so sánh nh vậy, việc xem xét hợp lý dới dạng điều chỉnh sẽ đợc thực hiệntrong mỗi trờng hợp tuỳ thuộc vào tầm quan trọng của từng vụ việc Bất kỳ

Trang 8

một sự chồng chéo nào khi thực hiện việc điều chỉnh cũng cần phải đợctránh, đặc biệt là sự chồng chéo liên quan tới mức khấu hao, giảm giá số l-ợng và cấp độ thơng mại Khi những điều kiện cụ thể đợc đáp ứng, các yếu

tố có thể đợc điều chỉnh bao gồm: phí nhập khẩu và các loại thuế gián tiếp;chiết khấu, giảm giá và số lợng, chi phí vận tải, bảo hiểm, bốc dỡ; đóng gói;tiền hoa hồng Biên phá giá là số lợng mà giá thông thờng vợt quá giá trịxuất khẩu Giá trị thông thờng sẽ đợc tính dựa trên cơ sở những mức giá đợctrả hay phải trả theo tiến trình thơng mại thông thờng, bởi các khách hàng

độc lập ở nớc xuất khẩu Tuy nhiên, trong trờng hợp nhà xuất khẩu ở nớcxuất khẩu không sản xuất hay không bán sản phẩm tơng tự, giá trị thông th-ờng có thể đợc thiết lập dựa trên cơ sở giá của những ngời bán hàng haynhững nhà sản xuất khác Việc bán sản phẩm tơng tự ở thị trờng nội địa củanớc xuất khẩu; hoặc việc bán hàng xuất khẩu sang một nớc thứ ba, ở mứcgiá thấp hơn chi phí sản xuất cộng với các chi phí khác có thể đợc xem làkhông nằm trong tiến trình thơng mại thông thờng Việc áp dụng đợc thựchiện chỉ khi nào xác định đợc rằng việc bán hàng nh vậy nằm trong mộtkhoảng thời gian kéo dài với một số lợng đáng kể và ở mức giá không chophép việc thu hồi tất cả các chi phí trong khoảng thời gian hợp lý Khoảngthời gian kéo dài thờng là 1 năm nhng trong mọi trờng hợp sẽ không ít hơn

6 tháng và việc bán thấp hơn chi phí sẽ đợc xem là bán với một khối lợng

đáng kể trong một khoảng thời gian nh vậy Giá xuất khẩu sẽ là mức giáthực đợc trả hay phải trả cho sản phẩm khi sản phẩm đợc xuất khẩu từ nớcxuất khẩu vào EU Trong trờng hợp không có giá xuất khẩu hoặc dờng nhmức giá xuất khẩu không thể tin cậy đợc do có sự liên kết một thoả thuậnmang tính đền bù giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu hay một bên thứ ba,giá xuất khẩu có thể đợc tính toán trên cơ sở mức giá tại những mặt hàngnhập khẩu đó lần đầu tiên đợc bán lại cho một ngời mua độc lập hoặckhông đợc bán lại theo những điều kiện mà theo đó sản phẩm đã đợc nhậpkhẩu thì giá xuất khẩu sẽ đợc tính toán trên bất kỳ một căn cứ hợp lý nào

Việc xác định mức thiệt hại sẽ dựa trên những chứng cứ tích cực vàbao gồm việc xem xét một cách khách quan (cả lợng hàng nhập khẩu đợcbán phá giá và tác động của việc bán phá giá hàng nhập khẩu đối với giá cảtrên thị trờng EU của những sản phẩm tơng tự) Về lợng hàng nhập khẩu đ-

ợc bán phá giá sẽ phải xem xét liệu đã có một sự tăng đáng kể về số hàngnhập khẩu bị bán phá giá hay không hoặc xét về tuyệt đối so với lợng hàngsản xuất hoặc tiêu dùng trong khối EU Những tác động của việc phá giá

Trang 9

hàng nhập khẩu đối với giá cả sẽ phải xem xét liệu đã có một sự cắt giảm

đáng kể của hàng nhập khẩu đợc bán phá giá so với giá của một sản phẩm

t-ơng tự của ngành thuộc EU hay không hoặc liệu tác động của những mặthàng nhập khẩu nh vậy có làm giảm giá ở một mức đáng kể hay ngăn ngừa

sự tăng giá ở một mức độ đáng kể hay không?

(Chơng I, Luật Thơng mại quốc tế, Phạm Minh biên soạn, NXB Thống Kê,Tp.Hồ Chí Minh 2000)

Trang 10

III Tranh chấp thơng mại giữa Việt Nam với Mỹ và Canada

1 Tranh chấp thơng mại dệt may Việt Nam–Mỹ Mỹ

Từ tháng 12/2002, do doanh số hàng may mặc sang thị trờng Mỹtăng rất mạnh, Hiệp hội các nhà sản xuất dệt may Mỹ (ATMI) đã liên tiếpyêu cầu chính phủ nớc này có các biện pháp hạn chế nhập khẩu hàng dệtmay từ các nớc đang phát triển, đặc biệt là Châu á, trong đó có Trung Quốc

và Việt Nam Các công ty sản xuất tại Mỹ cho rằng, hàng nhập khẩu từ cácnớc đang phát triển có sức cạnh tranh lớn, nhờ đợc sự hỗ trợ bởi chính sáchduy trì đồng nội tệ yếu hơn đồng USD Họ còn khẳng định , việc nhập hàngkhông hạn chế đã làm cho ngành dệt may Mỹ bị mất 177.000 việc làm(30% lực lợng lao động) kể từ năm 1997 Chính phủ Mỹ cha công bố lộtrình cụ thể cho vấn đề hạn ngạch, nhng có thể đến tháng 6/2003 sẽ bắt đầu

áp dụng

Năm 2002, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt nam sang

Mỹ đạt 930 triệu USD, tăng mạnh so với năm 2001 Nhng thực tế, con sốnày còn quá nhỏ so với các nớc trong khu vực (thậm chí không bằngCampuchia với 1 tỷ USD) Nay nếu bị chuyển từ xuất khẩu tự do sang xuấtkhẩu có điều kiện–Mỹ theo hạn ngạch giống nh qua EU–Mỹ doanh ngiệp Việtnam tất nhiên sẽ chịu thiệt thòi Việt Nam đang mong đợi cuộc đàm phánsắp tới đi đến 1 trong 2 thoả thuận: hạn ngạch Mỹ đa ra sẽ tăng thêm 15-20% so với lợng hàng đã xuất sang nớc này năm 2002 hoặc áp hạn ngạch t-

ơng đơng với Thái Lan, Singapore… Trong cuộc thơng lợng, phía Việt Nam

sẽ có sự tham gia của Tổng Công ty Dệt may và các quan chức thơng mại,phía Mỹ chủ yếu là các quan chức thơng mại, không có doanh nghiệp

Sau hơn nửa tháng bàn thảo tại Washington, ngày 25/4/2003, đại diện

đàm phán hai nớc vừa đặt bút ký kết Hiệp định Dệt may Việt-Mỹ Hiệp

định này bắt đầu có hiệu lực từ 1/5/2003 với mức hạn ngạch xuất khẩu chohàng dệt may Việt Nam sang Mỹ năm nay là 1,7 tỷ USD Mức quota nóitrên sẽ đợc tăng thêm 7%/năm cho các năm tiếp theo

Có tất cả 38 mặt hàng dệt may của Việt Nam bị giới hạn lợng xuất,trong đó có quần và áo sợi bông, hai sản phẩm quan trọng nhất đối với thịtrờng Mỹ Hạn ngạch cho các mặt hàng này lần lợt là 84 triệu và 168 triệuchiếc Trong trờng hợp cả hai phía không đột ngột chấm dứt thực thi hiệp

định, việc áp dụng hạn ngạch sẽ tiếp tục kéo dài đến cuối năm 2004 Nếu

đến thời điểm đó mà Việt Nam cha gia nhập WTO, hiệp định sẽ có hiệu lực

Trang 11

thêm 1 năm nữa Nhiều nhà nhập khẩu Mỹ tỏ ra không hài lòng với nộidung và đặc biệt là thời hạn thực thi hiệp định (trớc đó, họ đã đề nghị thựchiện từ 1/7/2003) Họ cho rằng việc áp quota ngay từ 1/5/2003 là không hợp

lý bởi phần lớn đơn đặt hàng đã đợc ký kết từ 6 tháng trớc đây

(Hải Vân, Thời báo Kinh tế Việt Nam , số ra ngày 25/4/2003)

2 Tranh chấp thơng mại giày Việt Nam–Mỹ Canada

Ngày 26/4/2002, Cơ quan Hải quan và Thuế vụ Canada (CCRA) bắt

đầu điều tra theo đơn kiện của Hiệp hội các nhà sản xuất giày Canada(SMAC) về hàng xuất khẩu từ Macao, Hồng Kông và Việt Nam CCRA gửi

92 câu hỏi, hai Bộ Thơng Mại và Bộ Công Nghiệp Việt Nam cùng cácngành liên quan đã phối hợp trả lời, gửi kèm gần 1000 trang tài liệu vềchính sách của Chính phủ, vai trò của cơ quan quản lý với hoạt động sảnxuất, kinh doanh của doanh nghiệp…

Ngày 9/9/2002, CCRA ra quyết định sơ bộ cho rằng giày xuất xứ từViệt Nam đợc bán phá giá vào Canada, và ngay lập tức áp dụng biện pháptạm thời, cộng thêm mức thuế chống phá giá rất cao (72 và 187%) vào hàngnhập khẩu từ Việt Nam

Cùng thời gian, lần lợt hai đoàn công tác của CCRA tới Việt Namlàm việc với các doanh nghệp bị kiện, và cơ quan quản lý liên quan Sauquá trình điều tra trực tiếp, ngày 9/12/2002, CCRA kết luận và gửi tới CITT

bộ hồ sơ thừa nhận Chính phủ Việt Nam không độc quyền ngoại thơng,không trợ cấp trong lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu giày Tuy nhiên, họ vẫncho rằng Việt Nam bán phá giá, nên chỉ giảm mứ thuế áp dụng từ 72%xuống trung bình 25,7%

Tại CITT, đại diện Hiệp hội Da giày Việt Nam cùng các bộ, ngành vàThơng vụ Việt Nam đã tham gia phiên điều trần, trả lời các câu hỏi củaCITT và luật s biện hộ cho SMAC Phía Việt Nam đã đợc những ngời tham

dự, đại diện ngời tiêu dùng và các nhà nhập khẩu Canada ủng hộ CITT đã

ra phán quyết cuối cùng ngày 7/1/2003 khẳng định mặt hàng giày và đếgiày không thấm nớc có nguồn gốc hoặc đợc xuất khẩu từ Việt Nam khônggây thiệt hại và cũng không đe dọa ngành sản xuất giày Canada, và bác bỏ

đơn kiện của SMAC

(Nghĩa Nhân , vnexpress.net/vietnam/kinhdoanh, ngày 9/1/2003)

Trang 12

Chơng II Nội dung vụ kiện cá tra, cá basa giữa Việt Nam và Mỹ

Đối với một số doanh nghiệp Việt Nam, Hiệp định Thơng mại

Việt-Mỹ đã trở thành một cơ hội tiềm năng cho việc xuất khẩu hàng hoá ViệtNam vào thị trờng Mỹ Cơ hội này, nếu căn cứ trên cơ sở thuế suất đợcgiảm thì sẽ mở ra một kênh thị trờng thờng xuyên lên đến hàng tỷ USD mỗinăm cho các doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, mọi việc không đơn giản

nh chúng ta nghĩ cho dù chúng ta có lợi thế so sánh đi chăng nữa Mặt hàngcá basa, cá tra đã thu đợc những thắng lợi ban đầu trên thị trờng Mỹ nhngngời Mỹ không chấp nhận điêù đó và họ phản công theo cách mà họ vẫnlàm: kiện bán phá giá Thời gian qua, sự kiện Hiệp hội chủ trại cá nheo Mỹ(CFA) chính thức đệ đơn dày hơn 200 trang khởi kiện 53 doanh nghiệp ViệtNam bán phá giá cá tra và cá basa vào thị trờng Mỹ đã trở thành trung tâm

điểm chú ý của d luận trong và ngoài nớc Vậy sự thật xung quanh vấn đềnày là nh thế nào? Các doanh nghiệp Việt Nam có bán phá giá cá tra và cábasa không? Vụ kiện này sẽ kết thúc ra sao? Trớc hết, chúng ta hãy cùng

điểm lại toàn bộ quá trình này kể từ những ngày đầu khi sản phẩm cá tra, cábasa của Việt Nam mới xuất hiện trên thị trờng Mỹ để từ đó có một cáchnhìn khách quan về vấn đề này

I thị trờng Mỹ trớc ngày CFA khởi kiện vasep (28/6/2002)

1 Nguyên nhân của vụ kiện

Thị trờng hải sản của Mỹ có sức tiêu thụ rất lớn, các tiêu chuẩn vệsinh an toàn thực phẩm có chặt chẽ nhng không khắt khe bằng EU nên đợccác doanh nghiệp Việt Nam rất chú ý để thâm nhập vào, đặc biệt là từ sauthời điểm Hiệp Định Thơng Mại Việt-Mỹ (BTA) có hiệu lực Trong các mặthàng hải sản Việt Nam nhập khẩu vào đây, mặt hàng có khối lợng lớn nhất

là tôm sau đó là cá phi-lê đông lạnh, cụ thể hơn là cá tra và cá basa Trớc

đây, từ năm 1995 tới năm 1999, khối lợng mặt hàng này xuất sang Mỹkhông lớn (năm 1999 xuất khoảng 2000 pound) Chỉ khi Hiệp Định ThơngMại Việt-Mỹ đợc tiến hành đàm phán và ký kết thì khối lợng mặt hàng nàytăng lên rõ rệt Cuối năm 2000 đầu 2001, khi Mỹ khan hiếm cá nheo, mộtmặt hàng sản xuất trong nớc của Mỹ thì khối lợng nhập khẩu cá tra và cábasa mới tăng vọt lên (năm 2001 lên tới hơn 17000 pound) Các nhà nuôi cá

Trang 13

của Mỹ cảm thấy bất an cho tơng lai của ngành và họ đã để ý đến con cátra, cá basa của Việt Nam Bắt đầu từ lúc này, “cuộc chiến catfish” nổ rathật sự trên các trận tuyến khác nhau.

2 Định nghĩa “catfish”

Thực ra thì catfish là gì vậy? Từ điển Oxford định nghĩa: catfish làcá nớc ngọt có các sợi râu giống nh ria ở quanh mồm Về mặt khoa học,Catfish đợc dùng để chỉ tất cả các loài cá da trơn (không có vẩy) gồm cátrê, cá tra, basa, cá lăng, cá bông lau v.v Theo hệ thống phân loại ng học,tất cả các loại cá trên thuộc bộ cá Nheo (Silurifemes) gồm khoảng 2500 đến

3000 loài cá khác nhau, phân bố khắp các vùng nớc ngọt, nớc mặn và nớc

lợ trên toàn thế giới Họ cá Nheo ở Mỹ là Ictaluridae, loại cá nuôi ở Mỹ làIctalurus punctatus còn cá tra (Pangasius hypophthalmus) và cá basa(Pangasius bocourty) đợc nuôi phổ biến ở đồng bằng Sông Cửu Long vànhập khẩu vào Mỹ là thuộc họ cá Da trơn Châu á (Pangasidae) Theo thông

lệ, cả cá nheo Mỹ và cá tra, cá basa đều có quyền mang tên catfish Trênthực tế rất nhiều nhà hàng Mỹ đã dùng cái tên này cho món cá mà nguyênliệu là cá tra hay cá basa Việt Nam Có điều là, khi mà cá Việt Nam nhậpvào Mỹ nhiều lên, thay chỗ của cá nheo Mỹ thì các chủ trại nuôi cá của Mỹkhông ngồi yên Tổ chức của họ là Hiệp hội các chủ trại nuôi cá nheo Mỹ(CFA) đã tiến hành nhiều biện pháp cả chính thức lẫn không chính thứcnhằm phản đối và chống lại sự có mặt của cá Việt Nam ở Mỹ

3 Những bớc suy tính đầu tiên cho vụ kiện

Đợc CFA tài trợ, Viện Cá Nheo Mỹ tiến hành một chiến dịch quảngcáo rầm rộ với nội dung bài xích cá Việt Nam và kêu gọi sử dụng cá nheo

Mỹ, nh là: “Đừng bao giờ tin vào sản phẩm catfish ngoại quốc”, rồi thì

“Ngời Mỹ ăn cá nheo Mỹ” và “Catfish nuôi của Mỹ” v.v tạo ra mộtkhông khí thù địch đối với các sản phẩm Việt Nam Họ tung ra d luận là cácatfish của Việt Nam rẻ là do nuôi không đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh,

do nhân công rẻ mạt, thậm chí nghị sĩ Marion Barry còn tuyên bố trên báo

Bu điện Washington rằng cá nuôi trên sông Mekong có thể chứa cả d lợngchất độc da cam mà Mỹ rải xuống đây thời kỳ chiến tranh, một lý luậnthiếu chứng cớ và hết sức vô lý Các chủ trại các giàu có của các bang miềnNam nuôi nhiều cá nheo nh là Mississipi, Arkansas tiến hành gây áp lực,

Trang 14

lôi kéo các nghị sĩ của bang mình tạo sức ép pháp lý chống lại việc nhậpkhẩu cá Việt Nam

Một mặt, các chủ trại lợi dụng một quy định của Luật pháp Mỹ, họ

đệ đơn xin xem xét lại việc giảm thuế đối với mặt hàng cá Việt Nam nhậpkhẩu, thậm chí Chủ tịch CFA đệ đơn lên Tổng Thống Mỹ G.Bush yêu cầu

ký kết một hiệp định riêng với Việt Nam về mặt hàng này Hành động nàytuy rất cực đoan nhng nó dựa trên một cơ sở pháp lý là Luật Thơng mại Mỹ,cho phép các ngành công nghiệp bị tổn thơng đệ đơn lên Uỷ Ban Mậu DịchQuốc Tế của Mỹ đề nghị Tổng thống loại bỏ một số loại thuế đã đợc cắtgiảm đối với hàng hoá nhập khẩu, nếu cần có thể đàm phán lại một hiệp

định riêng cho mặt hàng đó Rất may yêu cầu ký kết hiệp định riêng bị bác

bỏ Bên cạnh đó họ thuê công ty luật Nathan Associates thu thập thông tin

mở chiến dịch tuyên truyền hạ thấp uy tín cá Việt Nam, nhấn mạnh rằng docá Việt Nam nhập khẩu mà giá cá nheo ở Mỹ giảm 10%, tạo chứng cứ pháp

lý để kiện chống bán phá giá

Mặt khác, các nghị sĩ thuộc các bang nuôi nhiều cá nheo cũng tiếnhành nhiều hoạt động cản trở đối với các doanh nghiệp Việt Nam nhậpkhẩu cá vào Mỹ Ngày 9/2/2001, 12 nghị sĩ Mỹ gồm có 8 thợng nghị sĩ và 4hạ nghị sĩ đại biểu cho các bang nói trên đã cùng gửi th cho ông RobertZoellick, đại diện thơng mại Mỹ, kêu ca về việc cá tra và cá basa nhập khẩu

từ Việt Nam gây thiệt hại cho nghề nuôi cá nheo Mỹ và kiến nghị Chínhphủ Mỹ phải có biện pháp xử trí Ngày 11/7/2001, các thợng nghị sĩ bangMississipi Ronnie Shows và Bennie Thompson cùng với thợng nghị sĩ bangArkansas Marion Barry-vâng, chính ngời tuyên bố về chất độc da cam trongcá của Việt Nam, đã kêu gọi Quốc hội thông qua dự luật H.R.2439 “Ghinhãn về nguồn gốc xuất xứ” đối với cá nuôi nhập khẩu trong khâu bán lẻ,với những lập luận công khai bôi nhọ sản phẩm của nớc ta Tuy nhiên, dựluật này không đợc thông qua do Thợng viện Mỹ đã bác bỏ một dự luật t-

ơng tự đối với sản phẩm nông nghiệp nuôi trồng

Sau đó, ngày 15/8/2001, nghị sĩ Mỹ Mike Ross, một trong những

ng-ời bảo trợ chính cho dự luật H.R.2439 đã gửi th đề nghị cho biết các biệnpháp mà Việt Nam đã thực hiện đối với việc kiểm soát ghi nhãn nhập khẩucác sản phẩm cá xuất khẩu vào Mỹ Ngày 17/8/2001, Thứ trởng Bộ Thuỷsản Việt Nam Nguyễn Thị Hồng Minh đã có th thông báo về các biện pháp

mà Việt Nam đã và đang thực hiện về vấn đề này Ngày 27/9/2001, Cơquan Quản lý Thực phẩm và Dợc phẩm của Mỹ (FDA) đề nghị gửi mẫu

Trang 15

nguyên con của các loại cá da trơn Việt Nam cho Mỹ và đã đợc đáp ứngngay Nhng sự việc không chỉ dừng lại ở đó.

Ngày 5/10/2001, Hạ viện Mỹ thông qua dự luật H.R.2964 chỉ chophép sử dụng tên “catfish” cho các loài cá thuộc họ Ictaluriadae, thực chất

là cho riêng loài cá nheo Mỹ Ictalurus punctatus Catfish vốn là tên gọichung từ lâu của hơn 2500 loài cá khác nhau và đợc sử dụng trên toàn thếgiới Hành động này của Hạ viện Mỹ có thể nói là là một hành động hiếmthấy xa nay, thế giới không thể chấp nhận đợc Điều này cũng tạo nên tiền

lệ nguy hiểm cho các nớc khác trong việc đặt ra các rào cản thơng mại tơng

tự EU đã đặt ra một trờng hợp tơng tự khi yêu cầu chỉ có các loại cásardine đánh bắt ở Châu Âu mới đúng là sardine

Không ngừng lại ở đó, nửa đêm 24 rạng ngày 25/10/2001 giờ ViệtNam, Thợng viện Mỹ bỏ phiếu thông qua 35 điều luật bổ sung cho dự luậtH.R.2330 về phân bổ ngân sách nông nghiệp năm tài chính 2002, trong đó

có điều luật SA2000, quy định FDA không đợc sử dụng ngân sách cấp đểlàm thủ tục nhập khẩu các loài cá da trơn mang tên “catfish” trừ phi chúngthuộc họ Ictaluridae Thực chất là cấm nhập khẩu cá nớc ngoài mang tên

“catfish” Và ngày 28/11/2001, điều luật này đã có hiệu lực trong Luật

107-76 về Ngân sách Nông nghiệp năm tài chính 2001-2002 đợc Tổng thốngG.Bush ký phê chuẩn

Những ngời chủ trơng chống lại cá da trơn Việt Nam dựa vào lý lẽrằng catfish ở Mỹ thuộc họ Ictaluridae, trong khi loài nuôi ở Việt Nam cótên Pangasiidae Tuy nhiên, năm ngoái sau khi xem xét lại thuật ngữ củaHiệp hội Nuôi cá Mỹ, FDA đã cho phép sử dụng tên basa catfish đối vớihàng Việt Nam

Dự luật mang tính chất bảo hộ mậu dịch của Quốc hội Mỹ sẽ có hiệulực tới ngày 30/09/2002 nhng nghị sĩ một số bang miền Nam nuôi cácatfish của Mỹ đang tìm mọi cách để cấm vĩnh viễn việc nhập catfish từViệt Nam Các nhà ng học khẳng định cá da trơn của Việt Nam cũng làcatfish Trên thực tế, trong khi hô hào ủng hộ tự do thơng mại, chính quyềncủa Tổng thống Bush lại đang cố bảo hộ cho các nhà sản xuất trong nớcbằng cách áp dặt những điều lệ vô lý đối với hàng hoá nhập khẩu từ nớcngoài Để hỗ trợ các nhà nuôi cá Mỹ, chính quyền Liên bang đã quyết địnhchi 6 triệu USD để mua catfish cho chơng trình ăn tra của các trờng học.Việt Nam bắt đầu xuất khẩu cá basa và cá tra sang Mỹ từ năm 1996 Năm

1998, lợng cá file catfish không xơng đông lạnh của Việt Nam xuất sang

Trang 16

đây mới chỉ vẻn vẹn 260 tấn Sự thành công bất ngờ này đã gây thiệt hạinghiêm trọng cho các nhà nuôi catfish Mỹ và họ kết tội rằng, cá Việt Namthắng lớn chủ yếu nhờ sự thay đổi về chiến lợc tiếp thị Việt Nam thôi

không gọi sản phẩm của mình bằng cái tên basa và tra nữa mà bắt đầu tiêu thụ sản phẩm trên thị trờng Mỹ với nhãn hiệu basa catfish Sự xuất hiện của

sản phẩm cá da trơn giá rẻ từ Việt Nam đã khiến tổng giá trị catfish bán racủa các nhà nông nghiệp Mỹ giảm mạnh, từ 446 triệu USD năm 2000xuống còn 385 triệu USD năm 2001

Các nhà nuôi catfish Mỹ càng thêm điêu đứng khi sản phẩm của ViệtNam thờng có giá rẻ hơn từ 0,08 đến 1 USD/pound Phó Chủ tịch điều hànhCFA Hugh Warren quy chụp cho những lô cá xuất khẩu của Việt nam này

là những sản phẩm rẻ tiền, kém chất lợng mà ngời ta không thể nào tìmthấy ở một xởng sản xuất cỡ gia đình nh các trại cá của Mỹ Ông này chorằng, mặc dù sản phẩm hấp dẫn các nhà hàng, khách sạn, nhng "những nhàhàng, khách sạn này chỉ quan tâm tới giá cả chứ chẳng để ý tới chất lợngsản phẩm" Những ngời nuôi cá catfish Mỹ không thể nào chạy đua về giávới sản phẩm nhập khẩu của Việt Nam bởi chỉ chi phí đầu vào (đặc biệt lànhân công và thuế) quá cao Trớc sức ép của cá da trơn đến từ Việt Nam,giá catfish Mỹ đã rớt thê thảm từ 0,74 USD/pound năm 2000 xuống còn0,58 USD, thậm chí có lúc chỉ khoảng 0,20 USD/pound Theo Phó Chủ tịchWarren: "mức giá nh vậy không đủ bù cho chi phí sản xuất ít nhất phải bán

đợc 65-70 cent/pound, may ra ngời nuôi cá mới có thể hoà vốn"

Và hành động tối hậu, 3 giờ chiều ngày 28/6/2002 (tức 3 giờ sáng29/6/2002 giờ Việt Nam), CFA đâm đơn kiện các doanh nghiệp th nh viênành viênVASEP bán phá giá cá tra, basa Vụ kiện này ớc tính kéo dài 287 ngày, tốnkém khoảng 500.000 USD và nếu bên Việt Nam thua kiện thì mức thuế ápdụng cho các mặt hàng cá tra, cá basa sẽ lên rất cao (141% hoặc 191%),gây trở ngại nghiêm trọng cho việc xuất khẩu và giữ vững thị phần các sảnphẩm này ở thị trờng Mỹ

II Hiện trạng vụ kiện và hớng giải quyết đến ngày 15/5/2003

1 Bớc đi của phía Mỹ trong vụ kiện cá basa

Giai đoạn thứ nhất mới chỉ là…"phát súng cảnh cáo" của CFA, dựavào Luật ngân sách nông nghiệp 107-76 của Mỹ để cấm cá basa của ViệtNam đợc nhập vào nớc này với tên gọi catfish Hiệp đấu thứ hai, cũng doCFA khơi mào, đợc bảo trợ bởi đạo luật HR.2646 cấm hoàn toàn việc dùng

Trang 17

tên catfish cho các loài cá tra, cá basa của Việt Nam trong tất cả các khâubán lẻ, bán sỉ, nhà hàng, thông tin, quảng cáo… trong vòng 5 năm Chadừng ở đây, CFA vin tiếp vào điều khoản 10806 của đạo luật An ninh nôngtrại và Đầu t nông thôn mới nhất để xác lập chủ quyền tuyệt đối trên thơnghiệu catfish Chốt lại cuộc chiến này, CFA mở một đợt tấn công khác: khởikiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá vào ngày 28/6/2002 CFA đã

có tính toán rất kỹ lỡng cho cuộc đi kiện lần này Có thể thấy rõ điều đóngay từ các đệ đơn kiện lên Uỷ ban Hiệp thơng Quốc tế Mỹ: nộp đơn vào

đúng 4h chiều ngày làm việc cuối cùng trong tuần (thứ sáu - 28/6) Theoluật Mỹ thì chỉ sau 20 ngày nhận đơn kiện, bên bị kiện sẽ phải điều trần tr-

ớc Uỷ ban Hiệp thơng Quốc tế Mỹ Nh vậy, có thể hiểu phía Việt Nam đãmất đi 3 ngày để chuẩn bị cho cuộc giải trình lần 1 này (thứ sáu, thứ bảy,chủ nhật) Là đơn kiện nhng khối lợng khá đồ sộ với hơn 200 trang kèmtheo 37 phụ lục, trong đó phân tích chi tiết về tình hình thị trờng cá nheo

Mỹ, thị phần cá da trơn filê đông lạnh của Việt Nam tại Mỹ cũng nh ảnh ởng của sản phẩm "rẻ tiền" (theo cách gọi của CFA) đối với ngành sản xuấttrong nớc

h-Tiếp đó, đến ngày thứ hai đầu tuần (2/7/2002) , hai nghị sĩ MikeRoss và Ronnie Shows, đại diện cho CFA lại gửi th trực tiếp đến bà DeannaTanner Okim, Chủ tịch Uỷ ban Hiệp thơng Quốc tế Mỹ nên luận điểm:

"Đại diện cho những ngời nuôi catfish Mỹ, chúng tôi khẩn cấp đề nghị Uỷban cân nhắc một cách có thiện chí đối với đơn kiện của CFA về việc cábasa, ca tra filê đông lạnh nhập từ Việt Nam đợc bán phá giá, gây cạnhtranh thiếu lành mạnh trong kinh doanh mặt hàng này Việt Nam đang đợcbán tại thị trờng Mỹ với mức giá thấp hơn nhiều giá trị thực và gây thiệt hạilớn đối với các nhà nuôi trồng và chế biến catfish trong nớc" Lá th dài 2trang này còn giãi bày lý do tại sao CFA lại phải đi kiện những nhà xuất,nhập khẩu cá da trơn đông lạnh Việt Nam Trong đó, nói đi nói lại việc cá

da trơn Việt Nam cố tình đợc nhập vào Mỹ dới cái tên catfish khiến chongành sản xuất trong nớc lao đao và quy chụp đó là "một trong những kiểukinh doanh thiếu lành mạnh mà các nhà nhập khẩu cá tra, basa đông lạnh từViệt Nam áp dụng để đột nhập vào thị trờng catfish Mỹ" Còn việc doanh

số bán cá tra, basa filê đông lạnh Việt Nam liên tục tăng trong những nămqua, lá th này cho rằng, đó là nhờ việc áp dụng mức giá bán quá bất hợp lý

Từ luận điểm này, hai nghị sĩ Mike Ross và Ronnie Shows đa đến kết luận:

"Luật chống bán phá giá hiện nay là hiệu pháp duy nhất mà ngành sản xuất

Trang 18

trong nớc có thể trông cậy để chống lại việc kinh doanh đầy phi lý và bấtcông này" Mặc dù đã kiên quyết phản đối cá da trơn Việt Nam đợc nhậpvào Mỹ dới cái tên catfish, hai ông nghị sĩ này lại đòi hỏi cá Việt Nam phảichịu thuế nh thuế nhập khẩu catfish: Cá tra, basa đông lạnh Việt Nam thâmnhập thị trờng Mỹ dới nhãn mác "catfish" đã tăng từ 2 triệu pound năm

1999 lên tới hơn 17 triệu pound năm 2001 Hơn 3 triệu pound sản phẩm nàytiếp tục đợc nhập dới cái tên "catfish" trong 4 tháng đầu năm 2002 Điều đócũng cho thấy, lợng cá tra, basa Việt Nam đợc nhập vào Mỹ dới nhãn máccatfish nhng lại không chịu thuế nh thuế nhập khẩu catfish Cuối lá th, hai

ông Ross và Ronie Shows tiếp tục chỉ rõ mức độ nguy hại của các sản phẩmnhập khẩu giá rẻ đối với ngành chăn nuôi và chế biến catfish Mỹ, vốn đóngvai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế địa phơng Rồi từ đó, khẩnthiết yêu cầu: "Một lần nữa, chúng tôi đề nghị Uỷ ban cẩn trọng xem xét tớiyêu cầu cấp thiết của ngành chăn nuôi catfish để bảo vệ cho ngành sản xuấtquan trọng này khỏi những nguy cơ mà các sản phẩm cá tra, basa đônglạnh nhập từ Việt Nam mang lại Kính mong Bà yêu cầu các thành viên của

Uỷ ban thờng xuyên theo dõi diễn tiến của vụ việc này…"

Hãng luật mà CFA chọn mặt gửi vàng lần này là công ty AkinGump Công ty luật này mới đây cũng đã gửi lên Bộ trởng Bộ Thơng mại

Mỹ, Donald L Evans, Th ký Uỷ ban Hiệp thơng Quốc tế Mỹ, MarilynR.Abott lá đơn kiện liên quan tới vụ việc mà CFA nhờ cậy Nội dung lá đơnnêu: "Chúng tôi đệ trình lên Bộ Thơng mại Mỹ và Uỷ ban Hiệp thơng Quốc

tế Mỹ đơn kiện về việc cá filê đông lạnh của Việt Nam đợc bán phá giá trênthị trờng, chiểu theo điều 731 và 732 (b) của Điều luật Thuế quan Mỹ năm1930" Ngay trong phần đầu của đơn kiện, Akin Gump không quên khuyếncáo về việc phải tuyệt đối bảo mật thông tin trong lá đơn nhằm "bảo đảm lợithế cạnh tranh" trong vụ kiện này cho CFA

Tập tài liệu kèm theo lá đơn dài hơn 60 trang, gồm 5 phần với nộidung: thông tin chung nhất liên quan tới vụ kiện; dẫn chứng và lý lẽ chứng

tỏ cá filê đông lạnh nhập từ Việt Nam đợc bán với giá thấp hơn giá trị thực,trong đó có so sánh giá bán cá trên thị trờng Mỹ với chuẩn mực giá thànhcủa nền kinh tế phi thị trờng hiện nay của Việt Nam và so sánh với mức giácủa ấn Độ (một nớc có nền kinh tế và trình độ phát triển tơng đơng với ViệtNam); những tính toán về giá trị thực của sản phẩm (bao gồm các chi phí

đầu vào nh tiền mua cá nguyên liệu, phần hao hụt, tiền nớc, điện, các nhiênliệu khác, chi phí đóng gói sản phẩm, nhân công và các chi phí sản xuất

Trang 19

khác), giá xuất khẩu và khoảng chênh lệch bán phá giá (ớc tính); chứng cớ

và lập luận cho quan điểm rằng: chính cá tra, basa filê đông lạnh nhập từViệt Nam đã gây tổn hại cho ngành sản xuất trong nớc… Kèm theo các tàiliệu trên là bản chứng thực của đại diện Akin Gump, bà Valerie A Slater(với t cách luật s bên nguyên đơn) và 5 cam kết viết tay của Chủ tịch, Phóchủ tịch và các thành viên CFA nhằm chứng nhận rằng những thông tin mà

họ đa ra kiện là hoàn toàn không ngợc lại sự thật

(Thanh Thuỷ, Thanh Hải, vnexpress.net ngày 9/7/2002 )

2 Vụ kiện cá basa đang có chiều hớng tốt cho Việt Nam

Ngày 17/7/2002, đại diện của VASEP đã lên đờng sang Mỹ tham dựcuộc điều trần đầu tiên trớc Uỷ ban Hiệp thơng Quốc tế Mỹ (USITC) trong

vụ kiện bán phá giá cá basa do CFA khởi xớng (Phụ lục 2) Cuộc chiến cá

da trơn bớc vào giai đoạn căng thẳng nhất Sau khi trở về Việt Nam từ phiên

điều trần, đại diện VASEP rất lạc quan cho rằng vụ kiện cá basa đang cóchiều hớng tốt cho Việt Nam mặc dù đến 12/8/2002, USITC mới đa ra kếtluận cuối cùng Vẫn còn quá sớm để nói về kết quả cuối cùng, nhng có thể

đánh giá là chúng ta đã vợt qua giai đoạn đầu thành công, kết quả tốt hơn

dự liệu ban đầu Thái độ của USITC cũng khá thuận lợi, thiện chí Cácchuyên gia luật của chúng ta đã chỉ ra đợc nhng vi phạm về luật của nguyên

đơn: CFA là các chủ trại nuôi nhng họ lại đi kiện cá filê đông lạnh, một sảnphẩm của các nhà chế biến Hơn nữa, sản phẩm bị kiện không rõ ràng vì cáfilê đông lạnh có thể gồm cả cá rô phi, cá chẽm, sản phẩm tẩm bột… Nếu

nh vậy, số ngời của nguyên đơn cha chắc đã đủ tỷ lệ để đứng đại diện, vànếu tính đủ thì thị phần của Việt Nam hết sức nhỏ Các nhà chế biến của

Mỹ thì cha chắc đã bị ảnh hởng, bởi giá cá rẻ họ có thể giảm chi phí đầuvào Ta cũng chỉ ra rằng, dù chỉ có 14 doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu cásang Mỹ nhng có tới 53 đơn vị bị kiện Giai đoạn đầu chỉ là xác định sơ bộxem sản phẩm nhập khẩu có thực sự gây thiệt hại vật chất cho sản phẩm sảnxuất trong nớc Mỹ hay không, hoặc có khả năng gây thiệt hại hay không.Ngày 12/8, USITC sẽ kết luận Trong trờng hợp xấu nhất, kết luận là "có"thì vụ việc đợc chuyển sang Bộ Thơng mại Mỹ điều tra, sau đó trả về choUSITC xem liệu có những bằng chứng hiển nhiên cho thấy việc gây thiệthại hoặc đe doạ gây thiệt hại không Nhng có gây thiệt hại vẫn cha có nghĩa

là bán phá giá Sẽ có điều tra về phá giá sau đó Vụ kiện có thể kéo dài 9tháng đến 1 năm Các bang phía nam thì ủng hộ CFA, nhng các bang khác

Trang 20

thì cho rằng đây là một vụ kiện vô lý Trớc đây, CFA rêu rao rằng: "Cá ViệtNam giống cá Mỹ nh con mèo giống con bò" Giờ họ quay lại nói rằng conmèo ấy đang gây hại cho con bò Đó là sự tráo trở trong lập luận mà không

ai, kể cả ngời Mỹ ng cả Tuy nhiên, CFA sẽ đợc sự ủng hộ của chính trờngcác bang phía nam vì đang ở giai đoạn tranh giành phiếu bầu Các nhà nhậpkhẩu thì cho rằng lý lẽ của CFA không đúng, bởi đây là hai nhóm cá khácnhau, tiêu thụ trên thị trờng khác nhau Một nhà nhập khẩu Mỹ đại diện choCông ty Maritime (bang Masachusette) có truyền thống buôn bán cá từ 4

đời nay, cho rằng basa và catfish tiêu thụ ở 2 khu vực thị trờng khác nhau,không phải là sản phẩm thay thế nhau mà chỉ mang thêm sự lựa chọn chokhách hàng Catfish chủ yếu tiêu thụ ở các bang miền nam nớc Mỹ, thị tr-ờng hạn chế hơn cá basa nhiều Việc CFA chống phá một loại cá rất lạ, mớinhập khẩu, thị phần nhỏ sẽ làm ngời tiêu dùng Mỹ tìm hiểu xem lý do và họ

sẽ biết cá basa Việt Nam là loại cá ngon, rẻ Đó là mặt lợi Nhng Việt Namcũng nh các doanh nghiệp Mỹ sẽ phải tốn phí nhiều

(Phúc Huy, Báo Tuổi Trẻ, số ra ngày 23/7/2002)

3 Mỹ sẽ tiếp tục vụ kiện bán phá giá cá basa

Ngày 7/8/2002, Cục quản lý trang trại bang Mississippi, nơi chiếmtới gần 45.000 ha nuôi catfish trong tổng số 76.900 ha của toàn nớc Mỹ, đãkêu gọi các nhà hàng, khách sạn ở trong bang đổi tên gọi catfish trong thực

đơn Từ trớc tới nay, họ quen dùng tên catfish cho các món ăn đợc chế biến

từ cá da trơn nhập khẩu của Việt Nam Vì vậy, Cục trởng David Waide đềnghị, chuỗi các cửa hàng ăn ở Mississippi nên dùng tên gốc (xuất xứ) củaloại cá này để đặt cho các món ăn

Ngày 8/8/2002, cuộc họp của USITC vừa kết thúc (lúc 1h giờ ViệtNam) với việc cả 5 thành viên tham dự bỏ phiếu đều thống nhất kết luận:

"Dựa trên kết quả điều tra sơ bộ, USITC thấy ngành nuôi cá catfish có thể

có nguy cơ bị đe doạ bởi mặt hàng cá da trơn filê đông lạnh nhập khẩu từViệt Nam" Kết quả này sẽ đợc USITC chính thức công bố vào ngày12/8/2002 Tiếp đó, vụ kiện sẽ đợc chuyển sang DOC để tiến hành điều tra,xem xét việc các doanh nghiệp Việt Nam có thực bán phá giá cá tra, basatại thị trờng Mỹ hay không

Tổng th ký VASEP, Nguyễn Hữu Dũng tỏ ý hoan nghênh việc toàn

bộ 5 uỷ viên USITC không xác định rằng nhập khẩu cá tra và basa của ViệtNam gây thiệt hại vật chất cho ngành sản xuất cá nheo Mỹ Tuy nhiên, ông

Trang 21

Dũng rất lấy làm tiếc là USITC đã không quyết định đình chỉ vụ kiện, vìcho rằng cá nhập khẩu vẫn có thể có khả năng đe doạ gây thiệt hại chongành sản xuất này trong tơng lai.

Trả lời phỏng vấn hãng tin AP ngay sau khi có kết quả cuộc bỏ phiếucủa USITC, Phó chủ tịch CFA - Hugh Warren nói: "CFA đã trải qua bớcquan trọng đầu tiên của vụ kiện Ngành nuôi cá nheo trong nớc đã phải chịuquá nhiều thiệt thòi Cái chúng tôi cần bây giờ là phải khôi phục lại giá bánsản phẩm" CFA đang tìm mọi cách để chứng minh rằng "loại cá rẻ tiền"của Việt Nam chiếm tới 20% thị phần cá da trơn filê đông lạnh ở Mỹ.Khoảng một tuần sau khi USITC chính thức công bố kết quả nói trên (đến19/8), DOC sẽ gửi câu hỏi điều tra tới các doanh nghiệp chế biến và xuấtkhẩu cá basa, cá tra của Việt Nam thông qua đại diện pháp lý là Công tyluật White & Case (Phụ lục 6) Số lợng các đơn vị phải tham gia cuộcphỏng vấn điều tra này không phải là 53 nh các buộc trớc đây của CFA mà

có thể ít hơn theo đề nghị từ phía Việt Nam (14 doanh nghiệp) Thời hạncuối cùng mà các doanh nghiệp phải nộp câu trả lời sẽ do DOC ấn định

Trong cáo buộc trớc đây, bên CFA khăng khăng cho rằng, cá da trơnfilê đông lạnh của Việt Nam là sản phẩm cạnh tranh trực tiếp với catfish.Nhng trong phiên điều trần ngày 19/7/2002, trớc những lý lẽ của bênVASEP, USITC nhận thấy rằng, ở Mỹ không có sản phẩm nào hoàn toàngiống (cạnh tranh trực tiếp) mà chỉ có những sản phẩm mang đặc trng vàcông dụng gần giống (không cạnh tranh trực tiếp) với sản phẩm bị kiện.USUTC cũng đồng ý với yêu cầu của VASEP cho rằng, trong nhóm nhữngsản phẩm tơng tự với cá da trơn filê đông lạnh nhập khẩu từ Việt Namkhông chỉ có catfish filê mà còn có một số sản phẩm khác nh cá lăn bột vàtẩm xốt của Mỹ Theo giới chuyên môn, việc USITC đa thêm 2 sản phẩm làcá lăn bột và tẩm xốt sẽ làm cho nội hàm nhóm các sản phẩm cạnh tranhvới sản phẩm bị kiện lớn hơn Tức là, tỷ trọng các sản phẩm basa, tra filê

đông lạnh nhập từ Việt Nam tại thị trờng Mỹ sẽ giảm xuống Điều này cũng

có nghĩa nếu cá Việt Nam đe doạ cho nền công nghiệp cá nheo Mỹ thì mối

đe doạ chỉ ở mức thấp

Theo quan điểm của USITC, ngành công nghiệp nội địa bao gồmnhững nhà sản xuất chịu trách nhiệm toàn bộ hay một phần chính các khâutrong cả quá trình chế biến sản phẩm Trên cơ sở định nghĩa này, cùng vớiviệc xem xét mối quan hệ giữa các nhà chế biến cá nheo với các chủ trạinuôi cá Mỹ, USITC đi đến kết luận: "Có những bằng chứng cho thấy các

Trang 22

chủ trang trại đóng vai trò quan trọng đối với các nhà chế biến và ngợc lại.Tuy nhiên, quá trình vận hành của ngành công nghiệp cá nheo Mỹ khôngbao gồm việc nuôi trồng catfish USITC không coi các chủ trang trại làthành viên của ngành công nghiệp này mà chỉ coi họ nh một điều kiện quantrọng khi xem xét năng lực cạnh tranh" Nh vậy, việc USITC không coi cácchủ trang trại cá Mỹ là thành viên của nền công nghiệp cá nheo nội địakhiến 500 chủ nông trại này bị loại ra khỏi danh sách nguyên đơn Chỉ còncác nhà chế biến catfish tại Mỹ (khoảng 8 doanh nghiệp) đợc phép theo tiếp

vụ kiện

Trong một diễn biến khác, theo yêu cầu của DOC, các doanh nghiệpViệt Nam (trong đó có 13 thành viên của VASEP) vừa hoàn tất bản báo cáodoanh số xuất cá basa, tra sang Mỹ Ngày 23/8/2002, Công ty Luật White

& Case, với t cách luật s bên bị, sẽ trực tiếp nộp các báo cáo này lên DOC.(Lu Quang, Báo Lao Động, số ra ngày 9/8/2002)

4 DOC hoãn thời hạn ra quyết định sơ bộ về vụ kiện cá basa

Ngày 27/8/2002, DOC tuyên bố sẽ lùi thời gian ra quyết định sơ bộ

về vụ kiện bán phá giá tra và basa Việt Nam cho đến ngày 24/01/2003,chậm 50 ngày so với lộ trình ban đầu Theo các chuyên gia, nếu DOC đa ramức thuế nhập khẩu tạm thời nhằm chống bán phá giá đối với sản phẩm cátra, basa filê đông lạnh nhập khẩu từ Việt Nam trong quyết định sơ bộ, thìthời gian hồi tố của mức thuế này sẽ đợc áp dụng vào ngày 26/10/2002 chứkhông phải ngay từ đầu tháng 9/2002 nh dự kiến Đây là thuận lợi cho một

số doanh nghiệp có lợng hàng lớn xuất sang thị trờng Mỹ (trong hai tháng 9

và 10/2002, sẽ cha bị áp thuế nhập khẩu cao) Tuy nhiên, theo đại diện củaWhite & Case, việc DOC kéo dài thời gian (lẽ ra kết thúc điều tra sơ bộ vàongày 5/12/2002) sẽ gây tâm lý mệt mỏi vì phải chờ đợi theo kiện cho phíaViệt Nam DOC sẽ tiến hành điều tra tình hình nuôi trồng và chế biến cátra, basa của ta theo cả hai hớng: Việt Nam là nớc có nền kinh tế thị trờng

và nền kinh tế phi thị trờng Nếu DOC xác định Việt Nam là nớc có nềnkinh tế thị trờng, bảng questionares sẽ gồm 4 nhóm câu hỏi: A, B, C và D.Trong trờng hợp ngợc lại, bảng này chỉ gồm 3 nhóm: A, C và D (không cócác câu hỏi nhóm B) (Phụ lục 6)

Ngày 17/9/2002, DOC đã gửi câu hỏi điều tra tới 4 doanh nghiệp chếbiến và xuất khẩu cá basa của Việt Nam, gồm Agifish (An Giang), Cataco(Cần Thơ), Nam Việt (An Giang) và Vĩnh Hoàn (Đồng Tháp) Đây là các

Trang 23

câu hỏi nhóm A gồm cả hai dạng (kinh tế thị trờng và phi thị trờng) Đoàncông tác của DOC sẽ trực tiếp hớng dẫn các doanh nghiệp trả lời câu hỏitheo đúng yêu cầu (Hải Vân, Thời báo Kinh tế Việt Nam, số ra ngày26/8/2002)

5 DOC cân nhắc xác định cơ chế nền kinh tế Việt Nam

Ngày 14/8/2002, DOC đã có th ngỏ, đề nghị mọi tổ chức, cá nhânkhắp nơi trên thế giới đa ra ý kiến về cơ chế nền kinh tế Việt Nam Về phíaViệt Nam, sau khi cung cấp ý kiến, còn có văn bản phản biện nhằm bẻ gãynhững cáo buộc của CFA

Ngày 18/9/2002 là hạn cuối cùng DOC nhận văn bản giải trình củacác bên liên quan về việc Việt Nam là nớc có nền kinh tế thị trờng haykhông Trên cơ sở đó, DOC sẽ tiến hành những bớc tiếp theo của quá trình

điều tra vụ kiện bán phá giá cá basa Phiá Việt Nam đang gấp rút hoànthành bản giải trình của mình, dựa trên các tiêu chí mà DOC đa ra nh: khảnăng chuyển đổi của VND (sang các ngoại tệ khác); mức lơng đạt đợc trêncơ sở thoả thuận tự do giữa lao động và giới chủ; mức độ mà các công tyliên doanh cũng nh các loại hình kinh tế khác đợc hoạt động tại Việt Nam;mức độ sở hữu và quyền kiểm soát của Chính phủ đối với các phơng tiệnsản xuất; quyền hạn kiểm soát của Chính phủ đối với việc phân phối tàinguyên cũng nh giá cả và đầu ra cho các doanh nghiệp; và một vài yếu tốcần thiết khác… Trong đơn kiện trớc đây, CFA không chỉ cáo buộc ViệtNam bán phá giá cá tra, basa filê đông lạnh vào thị trờng Mỹ mà còn lậpluận rằng, nền kinh tế Việt Nam không vận hành theo cơ chế thị trờng vàChính phủ Việt Nam đã hỗ trợ các doanh nghiệp và nông dân bán phá giá

Sau khi xem xét tất cả những ý kiến thu thập đợc, DOC sẽ đa ra đánhgiá của mình về thực trạng nền kinh tế Việt Nam, lấy đó làm căn cứ để điềutra tình hình sản xuất và chế biến cá da trơn, xét xem có bán phá giá haykhông (Song Linh, vnexpress.net, ngày 5/9/2002)

6 Đại diện DOC sang Việt Nam

Ngày 30/9/2002, Phó trợ lý Bộ trởng Thơng mại Mỹ (DOC) JosephA.Spetrini cùng 4 chuyên viên khác đã đến Việt Nam trong khuôn khổ cuộc

điều tra vụ kiện cá basa Mục đích chính của đoàn do phía Mỹ đa ra lànhằm hớng dẫn các doanh nghiệp Việt Nam trả lời đúng các bản câu hỏi

điều tra của DOC Sau khi làm việc với Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội, ngày

Trang 24

2/10 đoàn đã làm việc với Bộ Thuỷ sản và Bộ Thơng mại Việt Nam Ngày3/10, đoàn gặp Ban lãnh đạo VASEP tại Tp Hồ Chí Minh, và ngày 4/10

đoàn đã hớng dẫn 4 doanh nghiệp lớn chế biến và xuất khẩu cá tra, cá ba sacủa Việt Nam là AGIFISH, Nam Việt (An Giang), Cataco (Cần Thơ) vàVĩnh Hoàn (Đồng Tháp) trả lời câu hỏi điều tra của DOC

(Ngọc Thuỷ, Tạp chí Thơng mại Thuỷ sản, số tháng 10/2002)

7 Việt Nam là nớc có nền kinh tế thị trờng

Đó là khẳng định của các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp nớc ngoài

đang hoạt động tại Việt Nam, trong văn bản nêu nhận định về cơ chế nềnkinh tế của Việt Nam, vừa đợc gửi sang Washington ngày 14/10/2002 Theothông lệ, DOC sẽ căn cứ vào những ý kiến trên để đa ra quyết định cuốicùng, dự kiến sẽ vào tháng 3/2003

Đến nay, có 14 văn bản phúc đáp đã gửi về DOC Ngoài phần giảitrình phía Việt Nam và phần phản bác của CFA (thông qua đại diện pháp lý

là Akin Gump) là th của VASEP, Phòng Thơng mại và Công nghiệp ViệtNam (VCCI), phủ nhận cáo buộc nền kinh tế Việt Nam là phi thị trờng 11lá th ngỏ của các tổ chức quốc tế, các doanh nghiệp có vốn đầu t nứoc ngoài

đang hoạt động tại Việt Nam nh: Hội đồng Thơng mại ASEAN–Mỹ Mỹ, Hội

đồng Thơng mại Việt–Mỹ Mỹ, Phòng Thơng mại Mỹ tại Việt Nam, Tập đoànboả hiểm Citigtoup (Mỹ), Công ty quốc tế Chinfon (Đài Loan), Tập đoànsản xuất thức ăn gia súc Cargill (Mỹ), Công ty American Standard ViệtNam và Tập đoàn Bảo hiểm Mỹ New York Life International, các quanchức của IMF và WB Tất cả nhữg lá th này đều khẳng định Việt Nam là n-

ớc có nền kinh tế thị trờng hoặc đang vận hành theo hớng thị trờng Đồngthời, đề nghị DOC xác định quy chế nền kinh tế thị trờng cho Việt Nam.Toàn bộ 14 văn bản phúc đáp trên đang đợc đăng tải công khai trên trangweb của DOC Bạn đọc quan tâm có thể down load những tài liệu này đểbiết thêm chi tiế

(Song Linh, vnexpress.net, ngày 15/10/2002)

8 Vụ kiện cá basa tiến triển bất lợi cho Việt Nam

Ngày 10/11/2002, Phòng chính sách của DOC vừa kiến nghị coi nềnkinh tế Việt Nam là phi thị trờng Trong trờng hợp DOC chấp thuận đề nghịnày, cách tính biên phá giá đối với các sản phẩm cá basa philê đông lạnhcủa Việt Nam sẽ đợc căn cứ vào giá thành ở một nớc thứ 3 nhng DOC vẫn

Trang 25

cha có ý kiến chính thức về đề nghị của Phòng Chính sách Bên CFA đềnghị chọn ấn Độ là nớc thứ ba để áp dụng mức chi phí tính biên phá giá,trong trờng hợp DOC chấp thuận đề nghị trên Đại diện Công ty Luật White

& Case cho biết, nếu bị coi là t cách kinh tế phi thị trờng, Việt Nam cũng sẽchọn ấn Độ bởi đây là nớc có nền kinh tế tơng tự với chúng ta, cũng nuôitrồng cá basa và có mức giá tơng đối thấp so với các nớc khác

Hiện tại, 5 doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu cá basa Việt Nam

đang gấp rút hoàn tất phần trả lời câu hỏi điều tra để có thể gửi sang DOCtrớc 31/12/2002 Theo kế hoạch, đến 24/1/2003, DOC sẽ chính thức quy

định mức thuế chống bán phá giá đối với các sản phẩm cá tra, basa philê

đông lạnh của Việt Nam xuất sang thị trờng Mỹ

(Song Linh, vnexpress.net, ngày 12/112002)

9 CFA đa thêm luận điểm chống lại cá basa Việt Nam

Ngày 28/11/2002, CFA vừa nộp đơn lên DOC cho rằng, đã xuất hiện

"tình trạng khẩn cấp" trong vụ kiện cá basa Những luận điểm cơ bản đó là:

(1) Các nhà xuất khẩu Việt Nam biết cá basa filê đã bị bán phá giá; (2) Các nhà xuất khẩu có thông tin về việc áp thuế chống phá giá đốivới công ty mình ở mức 25% hoặc cao hơn nữa trong giai đoạn điều tra ban

đầu của DOC (kết thúc vào ngày 24/1/2003);

(3) Các nhà xuất khẩu Việt Nam đã tăng số lợng hàng sang Mỹ saukhi CFA nộp đơn yêu cầu điều tra chống phá giá (ngày 28/6/2002);

(4) Tính từ ngày 28/6/2002, số lợng hàng xuất khẩu sang Mỹ tăng ởmức 15% hoặc cao hơn nữa so với thời gian trớc ngày nộp đơn yêu cầu điềutra chống phá giá;

(5) Cần áp dụng hồi tố thuế chống phá giá để đảm bảo hiệu quả củathuế chóng phá giá sẽ đợc ban hành vào ngày24/1/2003

Điều này có nghĩa là, thuế chống phá giá có thể đợc áp dụng đối vớicác chuyến hàng nhập khẩu vào Mỹ kể từ ngày 26/10/2002 trở lại đây, nếu

nh DOC và Uỷ ban Hiệp thơng Quốc tế (USITC) quyết định là "trờng hợpkhẩn cấp" tồn tại

Quy định về "tình trạng khẩn cấp" theo Luật Chống phá giá của Mỹ

là nhằm đề phòng các nhà xuất khẩu tăng lợng hàng xuất trớc khi DOC ápdụng thuế chống phá giá Tuy nhiên, DOC chỉ quyết định có xuất hiện tìnhtrạng này khi có hai điều kiện:

Trang 26

(1) Một công ty đã từng bán phá giá mặt hàng bị điều tra tại Mỹ hoặctại nớc khác; nhà nhập khẩu đã biết hoặc đáng lẽ phải biết rằng mặt hàng bị

điều tra đã bán phá giá,

(2) Mặt hàng bị điều tra đã đợc nhập khẩu ồ ạt trong thời gian tơng

đối ngắn

Trong vụ kiện cá basa này, tất cả các nhà xuất khẩu đều xuất hàngcho các công ty không liên kết Do vậy, nếu DOC khẳng định là "trờng hợpkhẩn cấp" có tồn tại, thì thuế suất sẽ là 25% Để xác định lợng hàng xuấtkhẩu sang có phải là ồ ạt trong "một khoảng thời gian tơng đối ngắn" haykhông, DOC sẽ so sánh lợng hàng đợc xuất sang Mỹ sau khi khởi sự điềutra với lợng hàng xuất khẩu trong khoảng thời gian ngay trớc khi tiến hành

điều tra xem mức chênh lệch có tới 15% hay không

Ngoài ra, để xác định "trờng hợp khẩn cấp", cần phải có quyết địnhcủa cả DOC và USITC và bên nguyên còn phải chứng minh "có thiệt hại

đáng kể" vào thời điểm hiện nay, USITC mới có quyết định là có xuất hiệntình trạng khẩn cấp Trong vụ kiện này, quyết định sơ bộ của USITC chỉ là

"có nguy cơ gây thiệt hại nghiêm trọng" chứ không phải là "có thiệt hại

đáng kể vào thời điểm hiện tại" Vì thế, khả năng USITC ra quyết định thừanhận sự tồn tại của cái gọi là "trờng hợp khẩn cấp" là rất thấp Cáo buộc củaCFA làm cho quá trình điều tra thêm phức tạp Vì nó đòi hỏi các nhà xuấtkhẩu phải cung cấp thông tin bổ sung và các nhà nhập khẩu phải giải quyếtcác vấn đề phát sinh trong vụ kiện này Trờng hợp xấu nhất, phải chịu thuếchống phá giá đối với các lô hàng nhập khẩu vào Mỹ sau ngày 26/10/2002,

sẽ ảnh hởng nghiêm trọng đến việc xuất khẩu cá filê của Việt Nam vào Mỹ

10 VASEP chọn Bangladesh làm nớc thứ ba cho vụ kiện cá basa

Ngày 11/12/2002, VASEP vừa chính thức đề nghị DOC dùngBangladesh làm nớc thay thế để tính chi phí sản xuất trong vụ kiện chốngbán phá giá cá basa và cá tra Quyết định này đợc đa ra sau chuyến khảo sát

ấn Độ và Bangladesh của VASEP Theo ông Nguyễn Hữu Dũng, Tổng th kýVASEP, Bangladesh là thích hợp nhất để sử dụng làm nớc thay thế bởi họ

có mức thu nhập quốc dân tính theo đầu ngời gần với Việt Nam nhất (380USD/ngời) Cả Bangladesh và Việt Nam đều là những nớc nằm ở châu thổcủa nhiều hệ thống sông lớn, là điều kiện tốt để nuôi cá nớc ngọt DOC đã

đa ra 5 nớc để Việt Nam tham khảo bao gồm Bangladesh, ấn Độ, Guinea,Kenya và Pakistan Ban đầu, VASEP dự định chọn ấn Độ, nhng sau chuyến

Trang 27

làm việc tại Bangladesh tuần trớc, VASEP thấy nớc này có nhiều yếu tố

t-ơng đồng với Việt Nam hơn Bangladesh có giống cá pangasius rất giống cábasa và điều kiện nuôi trồng tơng tự nh ở Việt Nam, trong khi ấn Độ chỉ códuy nhất một loại cá mang một số đặc điểm hơi giống cá basa (Phụ lục 7)

Do đó, giá thành, chi phí sản xuất, xuất khẩu của ngành cá Bangladesh sátvới thực tế của Việt Nam hơn

(Song Linh, vnexpress.net, ngày 12/12/2002)

11 DOC áp thuế bán phá giá cá basa Việt Nam

Rạng sáng 28/1/2003 (giờ Việt Nam), DOC đa ra phán quyết bất lợicho ngành cá da trơn nớc ta với tuyên bố “các doanh nghiệp Việt Nam xuấtkhẩu hàng sang Mỹ bán phá giá” Quyết định này đồng nghĩa với việc mứcthuế nhập khẩu cá basa vào Mỹ sẽ ở mức 37,94 –Mỹ 63,88% Việt Nam sẽtiếp tục theo vụ kiện bán phá giá cá basa, đó là quyết định của VASEP đa ranhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của những ngời sản xuất cábasa Việt Nam trớc phán quyết áp thuế bán phá giá cá basa của DOC

VASEP khẳng định, DOC đã không sử dụng phơng pháp tính toàn bộcác yếu tố của quá trình sản xuất khép kín (từ sản xuất cá giống, nuôi thơngphẩm đến chế biến xuất khẩu) đúng nh các doanh nghiệp Việt Nam đangthực hiện DOC cũng cố tình bỏ qua lợi thế cạnh tranh của nông dân ViệtNam trong công nghệ nuôi cá mật độ cao với giá hạ; không công bằngtrong việc tính giá thành sản xuất cá filê của các nhà xuất khẩu Việt Namkhi cố tình không sử dụng các số liệu về giá nguyên liệu của loài Pangasiussản xuất tại Bangladesh do VASEP cung cấp mà sử dụng số liệu khác vớigiá cao gấp đôi

Theo Thứ trởng Bộ Thơng mại Lơng Văn T, quyết định trên một lầnnữa cho thấy việc điều tra của DOC chỉ nhằm mục đích bảo hộ cho nền sảnxuất cá da trơn của Mỹ Điều này hoàn toàn đi ngợc lại tinh thần của Hiệp

định Thơng mại Việt–Mỹ Mỹ và không phù hợp với tuyên bố của Tổng thốngG.W.Bush tại Hội nghị cấp cao APEC–Mỹ 10 vừa qua là hớng tới một hàngrào thuế quan ở mức 0-5% vào năm 2015

Bộ Thơng mại Việt Nam khẳng định, Việt Nam không bán phá giá cátra và basa filê đông lạnh vào thị trờng Mỹ và yêu cầu DOC xem xét lạiquuyết định sơ bộ của mình trên cơ sở phân tích cẩn thận và chính xác cácthông tin để đa ra các quyết định cuối cùng một cách khách quan, công

Trang 28

bằng với tinh thần xây dựng, nhằm phát triển mối quan hệ thơng mại Mỹ.

Việt-Chiều 28/1/2003, Đại sứ quán Mỹ tại Hà nội đã có cuộc họp nghịbàn tròn thảo luận về phán quyết của DOC Một quan chức cho biết, đâymới chỉ là kết quả sơ bộ của vụ kiện.Tới đây, phía Mỹ sẽ cử một phái đoànsang Việt Nam để tiếp tục khảo sát tình hình nuôi trồng và chế biến cá basa

Đoàn sẽ tìm hiểu quá trình sản xuất khép kín của các doanh nghiệp ViệtNam để áp dụng phơng pháp tính toàn bộ Đề cập đến các bớc tiếptheo,VASEP cho biết sẽ tích cực hợp tác với DOC để giải quyết các vấn đềcòn lại DOC biết rất rõ, khi áp dụng phơng pháp tính toàn bộ quá trình sảnxuất từ con giống đến xuất khẩu, biên độ chống phá giá của tất cả cácdoanh nghiệp thanh viên VASEP sẽ là 0%

(Phong Lan, vnexpress.net, ngày 28/1/2003)

12 DOC sửa mức thuế phá giá đối với cá basa Việt Nam

Ngày 1/3/2003, DOC vừa quyết định sửa lại mức thuế phá giá ápdụng cho các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu cá tra, cá basa filê đônglạnh của Việt Nam vào Mỹ Trong đó, trờng hợp của Công ty Cổ phần Xuấtkhẩu Thuỷ sản An giang Agifish đợc sửa nhiều nhất, từ mức thuế 61,88%hạ xuống còn 31,45% Các Công ty tham gia vụ kiện đợc sửa từ 49,16%xuống còn 36,76% Riêng hai công ty Vĩnh Hoàn và Cataco vẫn giữ nguyênmức thuế tơng ứng 37,94% và 41,06% Đối với các công ty không tham gia

vụ kiện mức thuế vẫn áp ở mức 63,88%

Việc sữa chữa một phần các sai sót của DOC đã giảm đáng kể biênphá giá xác định cho một số doanh nghiệp so với công bố trong quyết địnhsơ bộ trớc đây Đây là bớc đi tích cực đầu tiên của DOC đáp ứng yêu cầucủa VASEP và các doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, VASEP vẫn tiếp tục

đề nghị DOC phải thay đổi hoàn toàn quyết định sơ bộ của mình

(Song Linh, vnexpress.net, ngày 1/3/2003)

13 DOC điều tra về tình hình nuôi cá basa ở An Giang

Ngày 18/3/2003, đoàn công tác gồm 6 ngời của DOC đang tiến hành

điều tra tình hình nuôi cá tra, cá basa tại An Giang Theo chơng trình, họchia làm hai nhóm xem xét tình hình cụ thể của 4 công ty thuỷ sản lớn.Trong tuần này, DOC sẽ điều tra Agifish, Cataco, còn Vĩnh Hoàn và NamViệt sẽ làm việc vào tuần sau Theo VASEP, mức thuế mà DOC đa ra

Trang 29

không xem xét đến bản chất quy trình khép kín của công nghiệp sản xuất cátra và cá basa Việt Nam, cũng nh số kiệu về các yếu tố sản xuất thực tế màphía Việt Nam đã cung cấp "Cuộc khảo sát lần này sẽ là cơ hội để cácdoanh nghiệp chế biến Việt Nam chỉ rõ cho DOC thấy họ nuôi và chế biếncá tra, cá basa nh thế nào" một quan chức của VASEP nói Đoàn công táccủa DOC cũng sẽ tiến hành khảo sát tình hình nuôi, chế biến và các chi phísản xuất cá tra, basa của bà con nông dân tại khu vực đồng bằng sông CửuLong Cuộc làm việc của DOC dự kiến sẽ kết thúc vào ngày 28/3/2003 Sauchuyến đi này, DOC sẽ chuyển các kết luận tới Uỷ ban Hiệp thơng Quốc tế

Mỹ (USITC) và Việt Nam sẽ có buổi điều trần tại đây

(Nguyên Khải , Tạp chí Thơng mại Thuỷ sản, số tháng 3/2003)

14 Mỹ đề xuất áp dụng hạn ngạch với cá basa Việt Nam

Ngày 26/3/2003, Bộ Thơng mại Việt Nam cho biết, DOC đã đề nghịViệt Nam thảo luận một Hiệp định nhằm đình chỉ vụ kiện bán phá giá cátra, cá basa và thay bằng việc áp dụng hạn ngạch và giá đối với việc xuấtkhẩu mặt hàng này Theo đề nghị trên, tuy không phải chịu mức thuế caosong cá tra, basa của Việt Nam nhập và bán ở thị trờng Mỹ sẽ bị áp giá sàn

và chỉ đợc xuất sang thị trờng này với một lợng nhất định Với việc áp dụnghạn ngạch, Mỹ sẽ khống chế đợc lợng cá tra và basa của Việt Nam xuấtsang thị trờng này

Hiện nay, phía Việt Nam đang xem xét đề nghị của DOC Nếu ViệtNam đồng ý, trong tháng 4/2003, DOC sẽ cử đại diện sang thảo luận Tuynhiên, nếu lựa chọn giải pháp này thì các doanh nghiệp xuất khẩu cá củaViệt Nam vẫn gặp bất lợi do bị phía Mỹ khống chế, giảm sức tiêu thụ vàcạnh tranh trên thị trờng này

(Lu Nguyên, báo Thanh Niên, số ra ngày 26/3/2003)

15 VASEP đề xuất áp dụng hạn ngạch đối với cá basa

Ngày 4/4/2003, theo đề nghị của VASEP, việc áp dụng hạn ngạch(quota) xuất khẩu sản phẩm filê đông lạnh cá tra và cá basa sang Mỹ sẽ đợcthực hiện trong ba năm tới với mức: năm 2003 bằng 90%; năm 2004 bằng95% và năm 2005 bằng 100% mức năm 2002 Cũng theo đề xuất trên, saunăm 2005 sẽ không áp dụng hạn ngạch Quota sẽ đợc phân bố công khai vàminh bạch cho các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu (dựa trên sản lợngxuất sang Mỹ trớc đây của mỗi đơn vị) Việc thực hiện quota sẽ đợc kiểm

Trang 30

soát nghiêm ngặt bằng các chế tài của Bộ Thuỷ sản và các cơ quan Chínhphủ Việt Nam Các doanh nghiệp xuất khẩu vợt quá mức quota đã đợc phân

bổ cho năm 2003 và 2004 sẽ bị cắt giảm 25% hạn ngạch của năm sau; trongtrờng hợp xuất quá mức quota năm 2005 sẽ bị hải quan từ chối làm thủ tụcxuất khẩu các lô hàng đó Doanh nghiệp vi phạm nghiêm trọng sẽ bị rúttoàn bộ quota để cấp cho đơn vị khác, đồng thời sẽ áp dụng xử phạt hànhchính theo pháp luật hiện hành

(Phong Lan, vnexpress.net, ngày 4/4/2003)

16 Sự từ chối của CFA

Ngày 8/4/2003, CFA đã không chấp nhận đề xuất của VASEP đa ra.Phó chủ tịch CFA Hugh Warren cho rằng CFA sẵn sàng đàm phán vớiVASEP nhng hạn ngạch các nhà sản xuất Việt Nam đề nghị quá cao Họ

đang chờ đợi mức hợp lý hơn Warren khẳng định: "Thoả thuận sẽ do Chínhphủ Mỹ và Việt Nam quyết định, tuy nhiên cũng phải xem xét đến tiếng nóicủa các nhà sản xuất hai nớc" Tới đây, CFA và VASEP sẽ có cuộc gặp đểbàn thảo về những đề xuất đã đa ra Khoảng một tuần nữa sẽ có thời gian vàlịch trình cụ thể

(Phong Lan, vnexpress.net, ngày 8/4/2003)

17 Việt Nam và Mỹ vẫn bất đồng về vụ kiện cá basa

Ngày 15/5/2003, Bộ Thơng mại Việt Nam ra thông báo về kết quả

đàm phán “Thỏa thuận đình chỉ vụ kiện cá tra, basa philê đông lạnh” diễn

ra từ 5-9/5/2003 tại Washington Trong đó nêu rõ, hai bên không đạt đợcthoả thuận cuối cùng do quan điểm rất khác nhau, cả về phơng pháp luận vàmức tiếp cận thị trờng Mỹ cho mặt hàng này

Trớc đó, chính Bộ Thơng mại Mỹ (DOC) đã đa ra gợi ý cùng với BộThơng mại Việt Nam đàm phán về thỏa thuận đình chỉ vụ CFA kiệnVASEP bán phá giá cá tra, basa philê đông lạnh Dù đã nhiều lần khẳng

định không bán phá giá các sản phẩm này, phía Việt Nam vẫn chấp nhận đềnghị đàm phán và cử chuyên gia các bộ Thơng mại, Thủy sản, Ngoại giao,

T pháp và Văn phòng Chính phủ sang Washington để thơng thảo

DOC đã dùng phơng pháp luận tính cho vụ kiện thép cán nóng củaNga bán phá giá vào thị trờng Mỹ năm 1997 để làm căn cứ cho phơng án

đàm phán của họ Trên cơ sở đó, phía Mỹ đa ra hạn ngạch nhập khẩu cho cá

Trang 31

tra, cá basa philê đông lạnh của Việt Nam với mức rất thấp, đồng thời yêucầu phải bán sản phẩm với giá rất cao

Phía Việt Nam cho rằng cách tiếp cận này là không hợp lý vì thépcán nóng là một sản phẩm công nghiệp, còn cá tra, cá ba sa của Việt Nam

là sản phẩm nông nghiệp đợc sản xuất theo chu trình kín, từ nuôi trồng đếnchế biến Hơn nữa, trong vụ kiện thép cán nóng của Nga, Uỷ ban Thơngmại Quốc tế Mỹ (USITC) đã kết luận mặt hàng này của Nga bán vào thị tr-ờng Mỹ đã “gây thiệt hại cho ngành công nghiệp trong nớc” Còn ở vụ kiệncá tra, cá basa của Việt Nam, USITC mới kết luận là “đe doạ gây thiệt hạicho ngành sản xuất trong nớc”

Trong lịch sử các vụ kiện bán phá giá, rất ít trờng hợp hai bên đạt đợcthỏa thuận đình chỉ Theo Bộ Thơng mại Việt Nam, vụ cá basa sẽ đợc tiếptục giải quyết theo các phơng thức khác Việt Nam yêu cầu Mỹ có thái độkhách quan và công bằng khi xử lý các bớc tiếp theo trong vụ kiện này, gópphần thúc đẩy quan hệ kinh tế thơng mại song phơng

Chính phủ Việt Nam cũng đã chỉ đạo các bộ Thơng mại, Thủy sản vàcác bộ, ngành liên quan thực hiện những biện pháp bảo đảm xuất khẩu cátra, basa, giúp tiêu thụ sản phẩm cho ngời nông dân

(Lu Nguyên, báo Thanh Niên, số ra ngày 16/5/2003)

III Lợi thế so sánh cá tra, cá basa của Việt Nam

Trang 32

Việt Nam rất cao, đạt đến 170 kg cá trong 1m3 nớc bè nuôi nên năng suất

và hiệu quả rất cao (Phụ lục 8) Phía các nhà máy chế biến cũng đã có nhiềubiện pháp giảm giá thành nh đầu t thêm thiết bị để lột da cá, tận dụng phếliệu, đa dạng hoá sản phẩm… Đồng bằng sông Cửu Long có những điềukiện tốt để nuôi các tra và cá basa Tại Mỹ, ngời nuôi cá nheo phải đầu tvốn rất lớn mới có thể tạo ra các điều kiện cần thiết cho cá phát triển Ngời

ta thờng nuôi cá trong hồ nên không thể nuôi với mật độ dày lại phải đầu tcho công nghệ quậy nớc khiến giá cá bị đẩy lên cao Các trang trại Mỹ đãduy trì phơng pháp chăn nuôi suốt 15 năm không hề thay đổi Sản lợngcatfish của các nông trại Mỹ đợc nuôi trong các ao nhân tạo với nguồn nớcngầm đợc bơm lên từ giếng khoan và bị lu lại trong suốt 8 năm liền, biếnthành một nguồn nớc bẩn, gây bệnh cho cá nuôi Đối phó với thực trạng đó,các chủ trại Mỹ phải dùng tới nhiều loại hóa chất trong đó có cả những chất

đã bị cơ quan bảo vệ môi trờng cấm sử dụng Giá lao động nuôi và chế biếncá ở Việt Nam chỉ bằng 1/40 so với giá nhân công ở Mỹ, cha kể nhiều loạichi phí sản xuất khác ở Việt Nam rất thấp so với mức giá của Mỹ

Nh vậy, xét về các yếu tố giá, catfish Mỹ không thể cạnh tranh bình

đẳng với cá tra và cá basa Việt Nam đợc Hơn thế, chất lợng cá tra và cábasa Việt Nam hơn hẳn và đợc các nhà nhập khẩu xem là có "đẳng cấp" caohơn cá Mỹ Một thực tế không thể phủ nhận là các sản phẩm cá da trơn ViệtNam đợc xuất khẩu đi hơn 20 nớc và xuất hiện trong hầu hết các hệ thốngnhà hàng lớn nhất nớc Mỹ thì catfish của Mỹ chỉ xuất khẩu đợc một số lợngnhỏ sang Đức

2 Phân tích giá thành tại hồ nuôi cá tra, cá basa

2.1 Chi phí đầu t ban đầu Khoản đầu t ban đầu lớn nhất là bè cá Bè là nơi

mà ngời dân nuôi cá và sinh hoạt, ăn ở hàng ngày Vì vậy, đây chính là nhàcủa ng dân vùng đồng bằng sông Cửu Long Giá đóng bè tuỳ thuộc kích th-

ớc bè và nguyên liệu sử dụng Với bè nuôi khoảng 30 tấn cá thành phẩm thìchi phí đóng bè khoảng 100 triệu đồng Bè nuôi 50-60 tấn chi phí đóng bèkhoảng 200 triệu Còn với những bè nuôi khoảng 100 tấn chi phí khoảng350-380 triệu Thông thờng, tiền đóng bè đợc lấy từ vốn tích luỹ của ngdân Sau khi đóng bè, họ có thể dùng bè để thế chấp vay vốn ngân hàng (với

điều kiện là bè đã đợc đăng ký với địa phơng) Ngoài chi chí đóng bè, ngdân còn phải mua sắm các máy móc, thiết bị nh máy cho cá ăn (khoảng 3-4triệu) và máy nấu, trộn cám (khoảng 5-6 triệu)

Trang 33

2.2 Giống cá Hai loại giống cá thờng đợc nông dân sử dụng là cá basa và

cá tra Giá cá giống phụ thuộc vào kích cỡ con giống Cá basa giốngkhoảng 3500 đồng/con, trong khi đó cá tra giống chỉ khoảng 500-1500

đồng/con

2.3 Thức ăn Thức ăn của cá tra, cá basa do ngời dân tự chế từ tấm, cám,

bắp, rau muống, bí đỏ, khoai lang, cá biển (cá linh, cá cơm, cá trích ) hoặcbột cá với giá khoảng 2000 đồng/kg Vào mùa lũ, nguồn cá tạp rất nhiều,nông dân vớt cho cá ăn Nhờ những yếu tố trên mà giá thành bình quân một

kg thức ăn tự chế chỉ khoảng 1.800-2000 đồng, thậm chí còn thấp hơn đốivới cá tra nuôi hầm (tức là nuôi trong ao) Ngời dân tính toán rằng để đợc1kg cá thành phẩm, phải tốn khoảng 3kg thức ăn (đối với cá tra) và khoảng4kg thức ăn (đối với cá basa)

2.4 Thuê lao động Các chủ hộ nuôi cá tra, cá basa thờng thuê thêm 2 lao

động (ngoài lao động trong gia đình) cho mỗi bè cá Những lao động nàythờng là ngời bản địa Tuy nhiên ở Vĩnh Long vì cha có nhiều ngời địa ph-

ơng biết nuôi cá nên hầu hết các bè và hầm cá phải mợn ngời từ An Giangxuống Họ phải làm việc rất vất vả từ sáng đến đêm, vì một ngày phải chocá ăn vài lần, thậm chí 5-6 lần Tiền công trả cho mỗi lao động là khoảng550.000-700.000 đồng/tháng, không bao gồm tiền ăn, và 750.000

đồng/tháng, bao gồm cả tiền ăn

2.5 Chi trả lãi vay ngân hàng Các hộ thờng thế chấp bè cá để vay vốn từ

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Ngân hàngCông thơng hoặc vay qua các công ty chế biến, xuất nhập khẩu Lãi suấtvay ngân hàng khoảng 0,75%/tháng và vay công ty khoảng 0,85%-0,9%/tháng (do công ty tính thêm chi phí quản lý) Thời hạn vay khoảng 6-12tháng, tức là trong khoảng một vụ nuôi Để đợc quyền vay công ty, ngờidân phải ký hợp đồng bao tiêu với công ty đó Ngời dân ở đây thờng vay từvài chục đến vài trăm triệu để mua giống, thức ăn, v.v… Tuy nhiên, có điềurất phổ biến là có rất nhiều hộ còn phải vay nặng lãi của t thơng bên ngoài(từ 2-3%/tháng, cá biệt có trờng hợp 4%/tháng) để duy trì bè, mua thức ăncho cá, v.v… và vì vậy thờng bị họ ép giá khi thu hoạch cá Ngoài các chiphí chính nêu trên, các hộ nuôi cá tra, cá basa còn phải chịu các chi phíkhác nh chi phí phòng và điều trị bệnh, chi phí nhiên liệu , chất đốt (đểchạy máy nghiền thức ăn) và thuế môn bài (khoảng vài trăm nghìn đến mộttriệu đồng, tuỳ theo số lợng bè) Tổng cộng các chi phí này vào khoảng vàitriệu đồng cho một vụ cá Các chi phí này ở các hộ khác nhau thờng khác

Trang 34

biệt nhau chút ít Vì vậy, giá thành của các hộ cũng khác nhau Có hộ nuôi

đợc với giá 8.000 đồng/kg, nhng cũng có hộ khẳng định “giá thành khôngthể thấp hơn 10.500 đồng/kg”

Ngày đăng: 25/12/2013, 21:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình Kinh tế quốc tế, PGS.TS. Đỗ Đức Bình và TS. Nguyễn Thờng Lạng (chủ biên), NXB Lao động–Xã hội, Hà Nội 2002 Khác
2. Hiệp định Thơng mại Việt–Mỹ, NXB Thống kê, Hà Nội 2001 Khác
3. Pháp luật thơng mại quốc tế và Việt Nam, Luật gia Lê Quang Liêm (su tầm), NXB thống kê, Tp. Hồ Chí Minh 1996 Khác
4. Antidumping Duty Investigation of Certain Frozen Fish Fillets from the Socialist Republic of Vietnam-Determination of Market Economy Status, Shauna Lee Alaiav, Office of Policy, Import Administration, 7/2001 Khác
5. Tạp chí Thơng Mại Thuỷ Sản, của VASEP phát hành các số từ Tháng 7/2002 đến Tháng 4/2003.Những web site tham khảo 1. www.fpt.vn2. www.vnexpress.net Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w