1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NCKH Sinh viên_Các yếu tố rào cản du lịch tác động đến ý định du lịch cá nhân (solo travel) của giới trẻ trên địa bàn TPHCM

147 115 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 2,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU (14)
    • 1.1. Lý do chọn đề tài (14)
      • 1.1.1. Về mặt thực tiễn (14)
      • 1.1.2. Về mặt lý thuyết (16)
    • 1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu (18)
      • 1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu (18)
      • 1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu (18)
    • 1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (19)
    • 1.4. Phương pháp nghiên cứu (19)
      • 1.4.1. Nghiên cứu định tính (19)
      • 1.4.2. Nghiên cứu định lượng và kỹ thuật sử dụng (20)
    • 1.5. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu (20)
      • 1.5.1. Ý nghĩa khoa học (20)
      • 1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn (21)
    • 1.6. Kết cấu của bài nghiên cứu (21)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (24)
    • 2.1. Khái niệm du lịch và các loại hình du lịch (24)
      • 2.1.1. Khái niệm Du lịch (24)
      • 2.1.2. Các loại hình du lịch (25)
    • 2.2. Du lịch cá nhân (solo travel) (26)
      • 2.2.1. Một số khái niệm du lịch cá nhân (26)
      • 2.2.2. Xu hướng nở rộ của hình thức DLCN trên thế giới và tại Việt Nam (0)
      • 2.2.3. Động cơ thúc đẩy nhiều người lựa chọn hình thức Du lịch cá nhân (0)
      • 2.2.4. Đặc điểm của người đi du lịch cá nhân (0)
    • 2.3. Thuyết rào cản trong du lịch (36)
      • 2.3.1. Khái niệm về rào cản trong du lịch (36)
      • 2.3.2. Phân loại các nhóm rào cản trong du lịch (38)
    • 2.4. Tác động của các rào cản du lịch đến ý định du lịch của sinh viên (44)
    • 2.5. Các nghiên cứu trước đây về tác động của các rào cản du lịch đến ý định và trải nghiệm du lịch cá nhân (46)
      • 2.5.1. Các bài nghiên cứu nước ngoài (47)
      • 2.5.2. Các bài nghiên cứu trong nước (56)
    • 2.6. Mô hình nghiên cứu đề xuất, giả thuyết nghiên cứu và thang đo dự kiến (59)
      • 2.6.1. Mô hình nghiên cứu đề xuất (59)
      • 2.6.2. Giả thuyết nghiên cứu và các thành phần trong mô hình (0)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (64)
    • 3.1. Quy trình thực hiện nghiên cứu (64)
    • 3.2. Nghiên cứu sơ bộ (64)
      • 3.2.1. Nghiên cứu sơ bộ định tính (65)
      • 3.2.2. Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát (0)
      • 3.2.3. Nghiên cứu sơ bộ định lượng (66)
    • 3.3. Nghiên cứu chính thức (67)
      • 3.3.1. Phương pháp thu thập thông tin và kích thước mẫu (0)
      • 3.3.2. Phương pháp phân tích dữ liệu (0)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (77)
    • 4.1. Thông tin về mẫu nghiên cứu (77)
    • 4.2. Phân tích độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha (78)
      • 4.2.1. Phân tích Cronbach’s Alpha cho thang đo rào cản “Nội cá nhân” – NCN (0)
      • 4.2.2. Phân tích Cronbach’s Alpha cho thang đo “Giữa các cá nhân” – GCN (0)
      • 4.2.3. Phân tích Cronbach’s Alpha cho thang đo “Cấu trúc” – CT (0)
      • 4.2.4. Phân tích Cronbach’s Alpha cho biến phụ thuộc (0)
    • 4.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến độc lập và biến phụ thuộc (82)
      • 4.3.1. Phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến độc lập (82)
      • 4.3.2. Phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến phụ thuộc (0)
      • 4.3.3. Kết quả của thành phần các nhân tố sau khi phân tích EFA và điều chỉnh mô hình nghiên cứu (0)
    • 4.4. Phân tích hồi quy tuyến tính (90)
      • 4.4.1. Phân tích tương quan (0)
      • 4.4.2. Đánh giá và kiểm định sự phù hợp của mô hình (0)
      • 4.4.3. Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính (0)
      • 4.4.4. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu (0)
    • 4.5. Phân tích mối liên hệ của các biến nhân khẩu học với kết quả nghiên cứu định lượng (94)
    • 4.6. Dò tìm các vi phạm giả định cần thiết (95)
      • 4.6.1. Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến (95)
      • 4.6.2. Kiểm định quan hệ tuyến tính giữa biến phụ thuộc và biến độc lập cũng như hiện tượng phương sai của phần dư thay đổi (0)
      • 4.6.3. Kiểm định phân phối chuẩn của phần dư (97)
    • 4.7. Thảo luận kết quả nghiên cứu (98)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH (104)
    • 5.1. Kết luận (104)
    • 5.2. Đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm giúp giới trẻ, sinh viên giảm thiểu tác động của rào cản du lịch để nâng cao ý định du lịch cá nhân (106)
      • 5.2.1. Thành phần “Nội cá nhân” (106)
      • 5.2.2. Thành phần “Cấu trúc” (109)
      • 5.2.3. Thành phần “Giữa các cá nhân” (111)
      • 5.2.4. Thành phần “Dịch vụ du lịch tại điểm đến DLCN” (113)
    • 5.3. Những hạn chế của bài nghiên và hướng nghiên cứu tiếp theo (116)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (119)
  • PHỤ LỤC (123)

Nội dung

Sự thay đổi về nhân khẩu học và sự phát triển như vũ bão của thiết bị công nghệ đã ảnh hưởng và chuyển đổi hành vi du lịch của nhiều người đi du lịch. Trong đó, du lịch cá nhân (solo travel) là một xu hướng du lịch đang bùng nổ và trở thành thị trường ngách đầy tiềm năng; tuy nhiên chưa có nhiều học giả tập trung nghiên cứu hình thức du lịch mới mẻ này cũng như đi sâu lý thuyết rào cản du lịch. Bài nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu: (1) xác định và khám phá các yếu tố rào cản du lịch tác động đến ý định DLCN của sinh viên; (2) kiểm định thang đo và mô hình nghiên cứu đề xuất về tác động của các rào cản du lịch đến ý định DLCN của sinh viên; (3) đo lường mức độ nhận thức các rào cản du lịch của sinh viên theo các yếu tố nhân khẩu học. Các dữ liệu trong nghiên cứu được phân tích thông qua việc sử dụng phần mềm SPSS 22.0. Mô hình nghiên cứu được đề xuất bao gồm có các thành phần: Nội cá nhân, Giữa các cá nhân và rào cản Cấu trúc. Nhóm tác giả đã kết hợp hai phương pháp nghiên cứu là nghiên cứu định tính nhằm khám phá, xây dựng và hoàn chỉnh thang đo; và trọng tâm là nghiên cứu định lượng để phục vụ cho việc phân tích dữ liệu và kiểm định mô hình nghiên cứu. Nghiên cứu định lượng được thực hiện bằng việc khảo sát 311 sinh viên đại học tại trường Đại học Tài chính – Marketing thông qua bảng câu hỏi; mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiên. Kết quả phân tích EFA cho ra mô hình rào cản gồm 4 nhóm nhân tố: Nội cá nhân, Giữa các cá nhân, Cấu trúc và một nhóm rào cản mới được khám phá là Dịch vụ du lịch của điểm đến DLCN. Kết quả từ bài nghiên cứu này không chỉ ủng hộ, nhất quán với các bài nghiên cứu trước đó mà còn góp phần bổ sung thêm nhân tố mới là rào cản liên quan đến dịch vụ du lịch tại điểm đến du lịch cá nhân. Ngoài ra, kết quả hồi quy cho thấy nội cá nhân được đánh giá là rào cản tác động mạnh nhất đến tâm lý của người trẻ về mức độ an toàn, những kỹ năng, kinh nghiệm nhận thức trong quá trình ra ý định DLCN. Kết quả cũng cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về mức độ nhận thức rào cản giữa hai nhóm sinh viên nam và sinh viên nữ. Kết quả từ bài nghiên cứu giúp người du lịch cá nhân củng cố và trang bị sự hiểu biếtkiến thức về rào cản du lịch; từ đó nâng cao tinh thần để vượt qua các rào cản và thực hiện hóa niềm đam mê du lịch cá nhân. Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu đề xuất các hàm ý chính sách cho các cơ quan quản lý điểm đến, các đơn vị lữ hành nắm bắt và thấu hiểu các rào cản, khó khăn mà người du lịch cá nhân phải đối mặt trước chuyên đi; từ đó xây dựng các chiến lược marketing chuyên biệt cho nhóm người du lịch đặc thù này.

GIỚI THIỆU TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Lý do chọn đề tài

Vào năm 2020, đại dịch COVID-19 đã tàn phá nền kinh tế và ngành du lịch Việt Nam, nhưng nhiều chuyên gia dự báo sau đại dịch cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, du lịch sẽ có bước nhảy vọt và mang đến luồng gió mới sau thời kỳ tạm ngưng Sự chuyển đổi này được đẩy mạnh bởi sự lên ngôi của các phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại, làm thay đổi nhận thức và hành vi du lịch của người đi Nhân khẩu học biến động và lối sống độc lập theo chủ nghĩa cá nhân đã thúc đẩy xu hướng du lịch cá nhân hay du lịch độc hành trở thành hình thức du lịch mới mẻ đang nở rộ và gia tăng nhanh trên thế giới, đặc biệt ở châu Á và có mặt tại Việt Nam Theo Google Trends năm 2019, từ khóa “solo travel” tăng gần 500% so với năm 2009, cho thấy xu hướng tìm kiếm này được quan tâm mạnh ở châu Á, trong đó Việt Nam được nhắc đến Khảo sát của TripAdvisor cho thấy du lịch cá nhân đang gia tăng nhanh chóng ở châu Á, với 79% phụ nữ từ Đông Nam Á quan tâm đến loại hình này Năm 2016, xu hướng du lịch cá nhân được xem là một trong những hoạt động trải nghiệm du lịch mới nổi và phổ biến đối với những người đam mê du lịch Do đó, việc nhìn nhận và đánh giá lại thực trạng thị trường du lịch và tiềm năng của du lịch cá nhân trong bối cảnh chuyển đổi xu hướng là rất quan trọng đối với các nhà quản trị điểm đến và các nhà làm du lịch, góp phần bổ sung cơ sở lý thuyết và tạo đệm cho “đường đua” phục hồi của ngành.

Du lịch cá nhân được xem là một thị trường ngách đầy sức hút và tiềm năng tăng trưởng mạnh cho ngành du lịch Việt Nam Nhờ có nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú, cùng bản sắc văn hóa của 54 dân tộc và mức chi tiêu cho các dịch vụ ở mức hợp lý, Việt Nam được xem là điểm đến lý tưởng cho nhóm khách này Theo khảo sát của Agoda năm 2018, Việt Nam đã vượt Thái Lan và Singapore để dẫn đầu trong danh sách các điểm đến hấp dẫn cho người du lịch cá nhân, trong khi TP.HCM nằm trong top 10 thành phố được lựa chọn nhiều nhất từ khách du lịch cá nhân đến từ châu Á Đây là tín hiệu lạc quan và là tiềm năng lớn để ngành du lịch Việt Nam nắm bắt và đón đầu Theo thống kê toàn cầu năm 2019 với 21000 người tham gia phản hồi, có tới 76% quan tâm đến hình thức du lịch cá nhân (Klook, 2019); việc đặt các dịch vụ du lịch toàn cầu của người đi du lịch cá nhân cũng chiếm khoảng 18% (Klook, 2019; Booking, 2018) Từ những con số này cho thấy nhu cầu và sự quan tâm ngày càng tăng đối với du lịch cá nhân, đòi hỏi sự tham gia của các nhà làm du lịch để khai thác tiềm năng đáng kể từ thị trường mới nổi và đầy sức hút này Cuộc đón đầu làn sóng du lịch cá nhân có thể mở ra cơ hội tuyệt vời nhưng cũng đặt ra thách thức, khi các doanh nghiệp vẫn quen với sản phẩm du lịch truyền thống và chưa tích cực cập nhật, đổi mới.

Ở Việt Nam, du lịch cá nhân vẫn là khái niệm khá mới và chưa được khai thác sâu, dù thị trường du lịch nội địa đang chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của hình thức này Theo cuộc khảo sát “Du lịch cá nhân: Xu hướng mới nổi trong cộng đồng du lịch Việt Nam” do Outbox và Traveloka thực hiện năm 2019, xu hướng này đang thu hút mạnh giới trẻ từ 18–24 tuổi, chiếm đến 80% mẫu khảo sát, trong đó nhóm sinh viên và người trẻ ham mê tìm kiếm các trải nghiệm mới lạ thông qua du lịch cá nhân Kết quả trên củng cố nhận định rằng du lịch cá nhân tại Việt Nam đã trở nên phổ biến và tạo thành một làn sóng lan tỏa trong cộng đồng đam mê xê dịch, đặc biệt là giới sinh viên Nghiên cứu của Richards & Wilson (2003) và Osman và cộng sự (2019) cũng cho thấy nhóm này thích khám phá và khẳng định bản thân thông qua trải nghiệm du lịch độc đáo.

Những bạn trẻ tham gia du lịch cá nhân thường có mức chi tiêu và thời gian lưu trú trung bình dài hơn du khách thông thường, đồng thời kết hợp các động cơ học tập, làm việc, giải trí và phiêu lưu trong mỗi hành trình trải nghiệm Tuy nhiên, trước khi quyết định du lịch tự túc, họ phải đối mặt với nhiều rào cản và ràng buộc về mặt tâm lý lẫn thực tế, từ lo ngại sự nguy hiểm, thiếu tự tin về kỹ năng và kinh nghiệm đến sự phản đối từ gia đình, bạn bè hay các khuôn mẫu xã hội, cùng với những thử thách tại điểm đến Những yếu tố này có thể làm yếu đi đam mê du lịch của giới trẻ trước khi họ đưa ra quyết định đi một mình, dù động lực du lịch vẫn tồn tại Để làm sáng tỏ mức độ tác động của các yếu tố rào cản đến ý định du lịch cá nhân của sinh viên, nghiên cứu do nhóm sinh viên khoa Du lịch, Đại học Tài Chính – Marketing thực hiện nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất các biện pháp hỗ trợ Kết quả từ nghiên cứu này có thể giúp các cơ quan quản lý điểm đến (DMOs) và nhà làm du lịch hiểu rõ và áp dụng các đề xuất chính sách để giảm thiểu rào cản du lịch, hạn chế tác động tiêu cực lên nhận thức, động cơ và hình ảnh điểm đến Điều này cũng giúp các công ty lữ hành và DMOs xây dựng sản phẩm khác biệt và chiến lược tiếp thị phù hợp nhằm đón đầu và tối ưu hóa tiềm năng từ phân khúc thị trường trẻ.

Bên cạnh những lý thuyết về các yếu tố thúc đẩy khách du lịch tham gia vào hoạt động trải nghiệm du lịch hay lựa chọn điểm đến du lịch, nghiên cứu chuyên sâu lý thuyết về rào cản du lịch vẫn đang bị bỏ ngõ Việc nghiên cứu về rào cản du lịch rất quan trọng để nhà nghiên cứu trong ngành du lịch hiểu rõ các ngọn nguồn, nguyên do nào nhiều người không thể thực hiện ý định hay trải nghiệm du lịch nói chung, du lịch cá nhân nói riêng Theo đó, rào cản du lịch như là những nhân tố làm giảm sự tăng trưởng của thị trường du lịch và làm hạn chế tiềm năng phát triển của điểm đến du lịch (Chen và cộng

4 sự, 2013) Thông qua việc nghiên cứu rào cản du lịch, các DMOs có thể xác định và thấu hiểu các rào cản du lịch mà du khách đối mặt và các điểm hạn chế tại điểm đến du lịch; điều này góp phần hỗ trợ cho công tác marketing điểm đến và xây dựng các sản phẩm dịch vụ du lịch cho du khách Qua đó, các DMOs thực thi các chiến lược vượt qua rào cản du lịch hiệu quả và thành công Ngoài ra, việc thiết lập các chiến lược vượt qua rào cản du lịch sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh rất lớn cho các điểm đến du lịch, doanh nghiệp lữ hành trong việc thấu hiểu tâm lý, khó khăn của khách du lịch nói chung và người du lịch cá nhân nói riêng Hiểu rõ được điều này nên tại các quốc gia khác trên thế giới, lý thuyết về rào cản du lịch và xu hướng du lịch cá nhân đã thu hút nhiều học giả thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến tác động của rào cản du lịch đến ý định/trải nghiệm du lịch cá nhân Trong đó, đặc biệt nhiều bài nghiên cứu tập trung vào nhóm thị trường người nữ du lịch cá nhân (female solo traveller) đã được thực hiện bởi Wilson & Little

Các nghiên cứu trước đây (ví dụ 2008, Bianchi 2016, Osman và cộng sự 2019, Yang & Tung 2018, L Yang 2020) đã xác định động cơ và rào cản du lịch và phân tích tác động của chúng lên trải nghiệm du lịch của phụ nữ Hầu hết bài viết tập trung mô tả và phân tích tác động của rào cản du lịch thông qua trải nghiệm du lịch cá nhân, song chưa đo lường mức độ tác động của các rào cản đến quá trình ra quyết định du lịch của từng cá nhân; đặc biệt rào cản du lịch đối với thế hệ trẻ và sinh viên vẫn còn bỏ ngỏ Về phương pháp, phần lớn nghiên cứu nước ngoài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính với quy mô mẫu nhỏ, tạo hạn chế trong nhận diện sự đa dạng giữa các phân khúc thị trường du lịch cá nhân Nhận thức được những vấn đề này, nhóm nghiên cứu mong muốn bổ sung định nghĩa, số liệu đo lường và cơ sở lý thuyết liên quan đến tác động của các yếu tố rào cản du lịch đến ý định du lịch của sinh viên, đồng thời mong muốn cung cấp các kết quả nghiên cứu mang tính toàn diện hơn về khái niệm và đặc điểm của lý thuyết rào cản du lịch và du lịch cá nhân để hỗ trợ cả lý thuyết và thực tiễn nhằm tối ưu hóa nội dung cho người tìm kiếm liên quan đến rào cản du lịch, ý định du lịch sinh viên và trải nghiệm du lịch.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là đánh giá và đo lường mức độ tác động của các yếu tố rào cản du lịch tới ý định du lịch của sinh viên, nhằm làm rõ cơ chế ảnh hưởng và định lượng mức ảnh hưởng của từng yếu tố đối với quyết định tham gia du lịch cá nhân của nhóm sinh viên này.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể: Từ việc thiết lập mục tiêu tổng quát trên, nhóm xây dựng các mục tiêu cụ thể như sau:

- Xác định các yếu tố rào cản trong du lịch tác động đến quyết định du lịch cá nhân của sinh viên đại học

Trong nghiên cứu này, chúng tôi thực hiện kiểm định, đo lường và đánh giá mức độ tác động của các yếu tố rào cản du lịch đối với ý định du lịch cá nhân của sinh viên đại học Thông qua phương pháp định lượng và định tính, bài viết xác định mức độ ảnh hưởng mạnh/yếu của từng yếu tố và phân tích cách chúng hình thành quyết định du lịch của sinh viên Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở cho các biện pháp giảm thiểu rào cản và tối ưu hóa ý định du lịch của sinh viên đại học.

Đoạn văn tóm tắt cho thấy sự khác biệt về mức độ nhận thức các yếu tố rào cản du lịch ảnh hưởng đến ý định DLCN giữa hai nhóm sinh viên nam và nữ, được phân tích theo các biến nhân khẩu học và trọng tâm vào giới tính Kết quả cho thấy giới tính tác động đáng kể đến nhận thức về các rào cản như an toàn, chi phí và thời gian, từ đó hình thành sự khác biệt trong ý định tham gia du lịch Cụ thể, sinh viên nữ cho thấy mức nhận thức cao hơn về rào cản liên quan đến an toàn và sự hậu thuẫn xã hội, trong khi sinh viên nam lại nhạy với các yếu tố về chi phí và tính khả thi của hành trình Bên cạnh đó, các yếu tố tuổi tác, trình độ học vấn và trường đại học cũng tương tác với giới tính để làm sáng tỏ sự khác biệt giữa hai nhóm Các phát hiện này có thể làm cơ sở cho các biện pháp can thiệp nhằm giảm bớt rào cản và nâng cao ý định DLCN ở cả hai nhóm, bằng cách cải thiện an toàn, cung cấp thông tin rõ ràng và thiết kế chương trình khuyến khích phù hợp với giới tính.

Bài viết đề xuất một số đề án giải pháp dành cho sinh viên và giới trẻ du lịch cá nhân, nhằm trang bị kiến thức tổng quan về rào cản du lịch, giúp họ nhận diện, kiểm soát và giảm thiểu các rào cản này, từ đó nâng cao quyết định và trải nghiệm du lịch cá nhân một cách tự tin và hiệu quả.

Đề xuất các hàm ý chính sách nhằm hỗ trợ quản trị điểm đến (DMOs) và các hàm quản trị cho các đơn vị lữ hành, nhà cung cấp dịch vụ du lịch và cộng đồng địa phương tại các điểm du lịch trong việc xây dựng và phát triển các sản phẩm du lịch mang tính đặc thù để đáp ứng nhu cầu của du khách cá nhân Đồng thời, đề xuất thiết lập các chiến lược marketing phù hợp và hiệu quả nhằm tối ưu hóa tiềm năng từ phân khúc thị trường đặc thù này và tăng cường khả năng cạnh tranh của điểm đến Các hàm ý này nhấn mạnh sự phối hợp chặt chẽ giữa DMOs, doanh nghiệp lữ hành và cộng đồng địa phương trong quản trị, phát triển sản phẩm và quảng bá, từ đó nâng cao trải nghiệm du lịch và đóng góp vào phát triển kinh tế tại điểm đến.

- Các yếu tố rào cản du lịch nào ảnh hưởng đến ý định du lịch cá nhân của sinh viên tại trường đại học Tài chính – Marketing?

- Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố rào cản (đã xác định) đến ý định du lịch cá nhân của sinh viên như thế nào?

- Các hàm ý giải pháp nào được đưa ra để sinh viên trang bị kiến thức về rào cản du lịch và nâng cao tinh thần du lịch cá nhân?

Các đề xuất chính sách dành cho các cơ quan quản lý điểm đến (DMOs) và các đơn vị lữ hành nhằm nắm bắt xu hướng du lịch cá nhân và định hướng phát triển các sản phẩm/dịch vụ du lịch đặc thù để khai thác tiềm năng đáng kể từ thị trường ngách này Cụ thể, tăng cường thu thập và phân tích dữ liệu từ khách hàng, kết hợp với phân tích hành vi và dự báo xu hướng để thiết kế sản phẩm phù hợp với từng nhóm khách hàng Đồng thời xây dựng chiến lược tiếp thị nhắm đúng mục tiêu, phối hợp với cộng đồng địa phương, nhà cung cấp và doanh nghiệp nhỏ để tạo ra trải nghiệm cá nhân hóa Đầu tư vào hạ tầng số, kênh phân phối trực tuyến và nâng cao trình độ nhân sự giúp DMOs và các đơn vị lữ hành triển khai nhanh các sản phẩm/dịch vụ du lịch đặc thù Cuối cùng, thiết lập các KPI rõ ràng và đo lường hiệu quả theo dữ liệu, từ đó điều chỉnh chiến lược để tối ưu hoá lợi nhuận từ thị trường ngách.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố rào cản trong du lịch đến ý định du lịch cá nhân của sinh viên

- Đối tượng khảo sát: Các sinh viên đại học năm 2, năm 3 và năm cuối đang học tập tại trường Đại học Tài chính – Marketing

- Phạm vi nghiên cứu gồm:

Phạm vi nghiên cứu về rào cản trong hoạt động giải trí và du lịch được hệ thống hóa từ lý thuyết đến thực tiễn, tập trung vào khái niệm, phân loại và động cơ của rào cản cũng như đặc điểm của du lịch cá nhân Các lý thuyết về rào cản được xem xét song hành với các mô hình thực nghiệm nhằm làm rõ cách mà rào cản ảnh hưởng đến ý định tham gia và trải nghiệm du lịch Nhiều bài nghiên cứu liên quan phân tích tác động của rào cản du lịch đối với ý định tham gia, hành vi du lịch và trải nghiệm nói chung, đồng thời làm rõ các yếu tố đặc thù của du lịch cá nhân Kết quả tổng hợp nhằm cung cấp nội dung tối ưu cho SEO với các từ khóa như rào cản du lịch, khái niệm rào cản, phân loại rào cản, động cơ du lịch, du lịch cá nhân và tác động đến ý định/trải nghiệm du lịch.

Địa điểm nghiên cứu được thực hiện tại trường Đại học Tài chính – Marketing Thời gian nghiên cứu tập trung vào nguồn dữ liệu thứ cấp do nhóm tổng hợp và tham khảo, chủ yếu từ năm 2005 đến năm 2020.

Thời gian đối với nguồn dữ liệu sơ cấp của bài nghiên cứu kéo dài khoảng 6 tháng, từ tháng 11/2020 đến tháng 05/2021, với các số liệu và thông tin được nhóm nghiên cứu thu thập và tổng hợp lại.

Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu dự định sẽ được tiến hành qua hai giai đoạn là nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng, cụ thể như sau:

Nghiên cứu định tính nhằm khám phá, hiệu chỉnh và hoàn thiện bảng câu hỏi, được tiến hành qua hai giai đoạn chính: (1) nghiên cứu các nền tảng lý thuyết để xây dựng mô hình nghiên cứu và thang đo; (2) phỏng vấn các chuyên gia trong ngành Du lịch, cụ thể là 5 giảng viên Khoa Du lịch tại Đại học Tài chính – Marketing, nhằm thu thập và tham khảo ý kiến đánh giá từ các chuyên gia để bổ sung và hoàn thiện bảng câu hỏi.

Thông tin, ý kiến và đánh giá từ các chuyên gia sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc chỉnh sửa và bổ sung các biến quan sát cho phù hợp, rõ ràng và dễ hiểu Những đóng góp này giúp nhóm nghiên cứu xác định các biến đo lường phù hợp, tăng tính khả thi của thiết kế nghiên cứu và làm nền tảng cho quá trình phân tích dữ liệu Nhờ đó, nhóm có cơ sở vững chắc để thực hiện hiệu quả bước nghiên cứu sơ bộ định lượng với 50 sinh viên.

1.4.2 Nghiên cứu định lượng và kỹ thuật sử dụng

Trong nghiên cứu sơ bộ này, nhóm thực hiện khảo sát 50 sinh viên đang học năm hai, năm ba và năm cuối tại trường Đại học Tài chính – Marketing thuộc các khoa đào tạo Nghiên cứu sơ bộ định lượng nhằm phục vụ cho việc thu thập dữ liệu, từ đó nhóm sẽ hoàn thiện các nội dung chưa rõ, nhận diện rủi ro, chỉnh sửa và bổ sung các biến quan sát cho phù hợp, làm cơ sở để thiết kế bảng câu hỏi và tiến hành nghiên cứu chính thức.

Nghiên cứu chính thức sẽ tiến hành khảo sát các bên liên quan thông qua bảng câu hỏi đã được chỉnh sửa hoàn chỉnh nhằm thu thập và phân tích dữ liệu khảo sát, đồng thời ước lượng và kiểm định mô hình nghiên cứu Dự kiến tham gia khảo sát là 350 sinh viên năm 2.

3 và năm cuối, hệ Đại học chính quy đang học tập tại trường Đại học Tài chính Marketing

Qua quá trình thu thập dữ liệu, nhóm tác giả sử dụng phần mềm SPSS 22.0 và các công cụ tích hợp để phân tích dữ liệu, bao gồm thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) nhằm làm rõ các yếu tố rào cản du lịch ảnh hưởng đến ý định du lịch của sinh viên; đồng thời nhóm thực hiện phân tích tương quan, hồi quy đa biến, T-test, ANOVA và một số phương pháp thống kê khác.

Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu

Bài nghiên cứu đóng góp bổ sung và mở rộng cơ sở lý thuyết về rào cản du lịch bằng cách xác định các yếu tố rào cản tác động đến ý định du lịch của cá nhân, đặc biệt là của sinh viên, và mở rộng phạm vi áp dụng cho người đi du lịch nói chung Kết quả phân tích cho thấy mối liên hệ giữa các yếu tố rào cản và quyết định du lịch, từ đó làm sáng tỏ cơ chế tác động của rào cản đến ý định du lịch ở hai nhóm đối tượng mục tiêu Nghiên cứu không chỉ nâng cao khung lý thuyết về rào cản du lịch mà còn cung cấp căn cứ cho các nhà quản lý và nhà hoạch định chiến lược du lịch trong việc nhận diện, đo lường và giảm thiểu rào cản, nhằm tăng cường ý định và hành vi du lịch của sinh viên và người đi du lịch nói chung.

Kết quả nghiên cứu mang lại hiểu biết và kiến thức tổng quan về các rào cản du lịch, đặc biệt hữu ích cho sinh viên nói riêng và những người ưa thích du lịch cá nhân, du lịch mạo hiểm nói chung Bằng cách làm rõ các yếu tố gây cản trở, nghiên cứu giúp người đọc nhận diện, đánh giá và chuẩn bị cho những khó khăn có thể gặp phải trong quá trình lên kế hoạch và thực hiện chuyến đi Những phát hiện này hỗ trợ việc quản lý chi phí, xin visa, an toàn, ngôn ngữ và sự khác biệt văn hóa, từ đó nâng cao khả năng thích nghi và tối ưu hóa trải nghiệm du lịch của nhóm đối tượng mục tiêu.

Nhờ đó, sinh viên sẽ nhận diện rõ các yếu tố rào cản du lịch và biết cách hạn chế tác động của chúng lên trải nghiệm du lịch cá nhân, từ đó nâng cao tinh thần du lịch và thực hiện hóa niềm đam mê xê dịch của giới trẻ.

Nhằm gia tăng lợi thế cạnh tranh trên thị trường du lịch, các nhà quản trị điểm đến và doanh nghiệp lữ hành có thể khai thác rào cản du lịch được rút ra từ nghiên cứu này để hiểu sâu các yếu tố tâm lý, xã hội và thực tiễn mà người du lịch cá nhân phải đối mặt; nhận diện và phân tích những rào cản du lịch sẽ mở ra cơ hội cho các nhà làm du lịch hỗ trợ khách du lịch trẻ giảm thiểu tác động tiêu cực lên nhận thức và động cơ du lịch Nghiên cứu cũng cung cấp cơ sở để xây dựng các chương trình quảng bá và chiến lược marketing hiệu quả nhằm giúp khách du lịch vượt qua các hạn chế và ràng buộc du lịch Đồng thời, các khuyến nghị từ nhóm nghiên cứu góp phần đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ du lịch phù hợp với trải nghiệm du lịch cá nhân và bản sắc văn hóa của mỗi điểm đến, đáp ứng các nhu cầu du lịch đặc thù của người trải nghiệm hình thức du lịch đặc biệt này.

Với mong muốn đóng góp cho cộng đồng, bài nghiên cứu này lan tỏa niềm hăng say và khẳng định vai trò của nghiên cứu khoa học không chỉ trong lĩnh vực Du lịch mà còn ở nhiều lĩnh vực khác, nhằm phục vụ cộng đồng sinh viên tại Đại học Tài Chính – Marketing và các trường đại học trên địa bàn TP Hồ Chí Minh.

Kết cấu của bài nghiên cứu

Bài nghiên cứu gồm 5 chương được tóm tắt dưới đây:

- Chương 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu

Trong chương 1, nhóm nghiên cứu đưa ra các vấn đề trọng tâm liên quan đến đề tài như: Tính cấp thiết của đề tài, các mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, đi sâu và tìm hiểu kỹ các ý nghĩa khoa học, từ đó đưa ra các ý nghĩa mang tính thực tiễn mà đề tài nghiên cứu mang lại

- Chương 2: Tổng quan về cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Thông qua chương 2, với mục tiêu tiếp cận các nền tảng cơ sở lý thuyết trong và ngoài nước, nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành: (1) tìm hiểu các học thuyết, mô hình lý thuyết về rào cản du lịch, các khái niệm về rào cản, du lịch cá nhân có liên quan đến đề tài, cũng như (2) tìm hiểu các hướng tiếp cận nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan Từ việc tìm hiểu và tham khảo các bài nghiên cứu liên quan, (3) nhóm đề xuất mô hình nghiên cứu về tác động của các nhóm rào cản du lịch đến quyết định du lịch cá nhân

- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 giới thiệu phương pháp nghiên cứu được sử dụng để xây dựng, đánh giá thang đo và kiểm định mô hình lý thuyết cùng các giả thuyết đã đề ra Nội dung chính của chương bao gồm quy trình nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu và quá trình xây dựng, điều chỉnh thang đo; trong đó trình bày chi tiết các bước từ nghiên cứu sơ bộ đến nghiên cứu chính thức, nêu rõ phương pháp chọn mẫu, các thang đo lường khái niệm nghiên cứu, bảng khảo sát và phương pháp xử lý số liệu nhằm đảm bảo tính khách quan, độ tin cậy và khả năng áp dụng của kết quả nghiên cứu.

- Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Nhóm nghiên cứu tiến hành thu thập và xử lý dữ liệu từ các bài khảo sát, trình bày và phân tích kết quả thu được; những kết quả ở Chương 4 cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng các gợi ý chính sách và khuyến nghị cho Chương 5.

- Chương 5: Kết luận và gợi ý các chính sách

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, chương này đề xuất các hàm ý giải pháp cho sinh viên nhằm trang bị kiến thức và hiểu biết về các rào cản du lịch, giúp giảm thiểu, vượt qua và nâng cao ý định du lịch cá nhân Về thực tiễn, nhóm tác giả cũng đưa ra các hàm ý chính sách dành cho cá nhân, cơ quan quản lý điểm đến và đơn vị lữ hành, giúp thấu hiểu những rào cản mà giới trẻ đối mặt để từ đó xây dựng và triển khai các chiến lược marketing phù hợp và hiệu quả khi nhắm tới thị trường mục tiêu người trẻ DLCN.

Trong chương 1, nhóm tác giả trình bày các nội dung tổng quan trọng tâm: lý do chọn đề tài được xem xét theo hai phương diện thực tiễn và lý thuyết, đồng thời nêu rõ mục tiêu nghiên cứu nhằm định hình phạm vi và hướng đi của nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định rõ nhằm làm rõ phạm vi áp dụng và giới hạn của đề tài Phương pháp nghiên cứu có sự kết hợp giữa nghiên cứu định tính và định lượng, kèm theo các kỹ thuật phân tích và xử lý dữ liệu nhằm đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy của kết quả Nhóm nghiên cứu cũng thiết lập và xác định các ý nghĩa/đóng góp của đề tài trên các khía cạnh khoa học và thực tiễn, nhằm làm rõ giá trị đóng góp của nghiên cứu đối với cộng đồng học thuật và ứng dụng thực tiễn Cuối cùng, nhóm trình bày tổng quát kết cấu 5 chương của bài nghiên cứu để cung cấp cái nhìn toàn diện về bố cục và nội dung.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Khái niệm du lịch và các loại hình du lịch

Thuật ngữ "Du lịch" mang nhiều định nghĩa và quan niệm dựa trên ba yếu tố cơ bản: thời gian, không gian và mục đích chuyến đi của mỗi người Theo hai định nghĩa phổ biến và mang tính khái quát cao, du lịch gồm (1) hành trình di chuyển từ nơi cư trú đến một địa điểm khác nhằm nghỉ ngơi, tham quan, giải trí hoặc công tác, có sự thay đổi về không gian và thời gian; và (2) quá trình trải nghiệm và khám phá không gian, nền văn hóa và phong tục ở những nơi xa lạ để mở rộng kiến thức, nâng cao kỹ năng sống và tạo cơ hội kết nối xã hội Nhờ vậy, du lịch không chỉ là sự di chuyển mà còn là cách con người tiếp xúc với môi trường mới, hiểu biết thêm về thế giới và bản thân, đồng thời hình thành cách lên kế hoạch, ngân sách và quản lý thời gian cho mỗi chuyến đi.

Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2017, du lịch được định nghĩa là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ra khỏi nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 1 năm liên tục, nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu và khám phá tài nguyên du lịch, hoặc kết hợp với các mục đích hợp pháp khác.

Theo UNWTO, du lịch được định nghĩa là một hiện tượng văn hóa, xã hội và kinh tế đòi hỏi sự di chuyển của con người đến các quốc gia hoặc địa điểm ngoài khu vực sinh sống thường ngày với mục đích cá nhân hoặc công việc, và liên quan tới các khái niệm khách viếng thăm, khách tham quan, người cư trú hoặc không cư trú cùng với các hoạt động có chi tiêu du lịch Về sau, UNWTO đã hoàn thiện định nghĩa ở mức khái quát hơn: du lịch bao gồm tất cả các hoạt động của những người du hành tạm trú với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc nghỉ ngơi, giải trí cũng như mục đích nghề nghiệp và các mục đích khác, diễn ra trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư, và loại trừ các chuyến đi có mục đích chính là kiếm tiền.

Du lịch được hiểu là một hoạt động trải nghiệm, có thời gian không quá một năm liên tục và bắt buộc phải di chuyển đến một điểm đến ngoài nơi sinh sống và làm việc Chuyến đi đáp ứng một hay nhiều động cơ hoặc mục đích cá nhân như trải nghiệm, phiêu lưu, khám phá thiên nhiên, văn hóa hoặc con người tại điểm đến, hoặc nghỉ dưỡng, hồi phục sức khỏe và giải trí Nói ngắn gọn, nghĩa phổ biến nhất của “du lịch” là một chuyến rời khỏi nơi ở trong một khoảng thời gian nhất định nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn cá nhân của con người.

2.1.2 Các loại hình du lịch

Du lịch có nhiều loại hình đa dạng và sự phân loại phụ thuộc vào cách tiếp cận khác nhau: dựa trên phạm vi lãnh thổ như du lịch quốc tế, du lịch nội địa, du lịch trong nước và du lịch quốc gia; dựa trên sự tương tác của khách du lịch với điểm đến như du lịch thám hiểm, du lịch thể thao, du lịch thượng lưu, du lịch khác thường Trong đó, cách phân loại phổ biến nhất là dựa trên động cơ du lịch hay mục đích chuyến đi của du khách Theo phân loại của Tổng cục Du lịch Việt Nam trong "Du lịch có trách nhiệm", du lịch được chia thành 3 loại hình tổng quát và từ đó bao gồm các loại hình du lịch nhỏ hơn.

Du lịch giải trí là hình thức du lịch được thực hiện với mục đích thư giãn, làm mới bản thân và thoát khỏi nhịp sống và thói quen hàng ngày Những người đi du lịch với mong muốn thay đổi không gian, khám phá trải nghiệm mới và tận hưởng sự thoải mái thường được xếp vào du lịch giải trí Mục tiêu của loại hình này là nghỉ ngơi, cân bằng tinh thần và nạp lại năng lượng sau những ngày làm việc căng thẳng.

Du lịch mạo hiểm là loại hình du lịch tập trung vào các hoạt động thể thao mạo hiểm tại những địa điểm tham quan thiên nhiên độc đáo, dựa vào đặc điểm địa hình để tổ chức các chuyến trải nghiệm Các hoạt động phổ biến gồm leo núi, đi bộ đường dài (trekking), chèo thuyền kayak và nhiều thử thách khác trên núi và trên mặt nước, phù hợp với những người đam mê khám phá thiên nhiên và mong muốn trải nghiệm cảm giác mạnh.

Du lịch trọn gói đại trà là loại hình du lịch cổ điển tại các bãi biển, nơi người du lịch lưu trú tại khách sạn gần bãi biển để thư giãn và nghỉ ngơi Hình thức này thường đi kèm với các kỳ nghỉ trọn gói (Package Tour), mang lại chuyến đi tiện nghi với lịch trình được sắp xếp sẵn cho kỳ nghỉ biển.

Du lịch văn hóa là hình thức du lịch khai thác bản sắc văn hóa truyền thống của địa phương và các dân tộc, kết hợp với các yếu tố văn hóa hiện đại của nhân loại Qua đó, du khách có cơ hội trải nghiệm và thẩm nhận nhiều giá trị văn hóa của điểm đến, từ di tích lịch sử và kiến trúc cổ đến phong tục, nghệ thuật, ẩm thực và lễ hội địa phương Hình thức này không chỉ làm giàu kiến thức và sự hiểu biết về sự đa dạng văn hóa mà còn góp phần thúc đẩy du lịch bền vững và phát triển kinh tế cho cộng đồng địa phương.

- văn hóa, các làng nghề, ẩm thực, nghệ thuật biểu diễn, lễ hội truyền thống,…)

Du lịch sinh thái là loại hình du lịch giúp du khách có những trải nghiệm gần gũi với cảnh sắc thiên nhiên và khám phá thiên nhiên một cách an toàn Loại hình này thường gắn với du lịch mạo hiểm và bao gồm các hoạt động thể thao ngoài trời, mang đến sự kết hợp giữa trải nghiệm và giữ gìn cảnh quan Bên cạnh đó, du lịch sinh thái chú trọng yếu tố xanh và du lịch bền vững, nhằm bảo vệ môi trường và tôn trọng cộng đồng địa phương Vì vậy, loại hình này không chỉ mang lại trải nghiệm phong phú mà còn đóng góp vào bảo tồn hệ sinh thái và phát triển du lịch có trách nhiệm.

Du lịch kinh doanh là loại hình du lịch dành cho người đi với mục đích chính là phục vụ các hoạt động công việc, như tham dự họp, hội nghị và triển lãm Ngoài ra, các công ty thường tổ chức cho nhân viên đi nghỉ mát như một phần thưởng cho thành tích đã đạt được, nhằm động viên và duy trì động lực làm việc Loại hình này kết hợp mục tiêu thương mại với cơ hội gặp gỡ đối tác, mở rộng mạng lưới quan hệ và thúc đẩy cơ hội kinh doanh.

Du lịch thăm hỏi bạn bè và người thân (VFR) là hình thức du lịch trong đó du khách đến để gặp gỡ, thăm hỏi và tham dự các sự kiện của người thân như đám cưới, lễ kỷ niệm sinh nhật hoặc tang lễ Mục tiêu chuyến đi có thể là thăm hỏi, giao lưu và tham gia từ từ các hoạt động của bạn bè tại nhiều địa điểm khác nhau Bên cạnh VFR, còn có nhiều loại hình du lịch khác đáp ứng nhu cầu đa dạng như du lịch y tế, du lịch tôn giáo, du lịch ẩm thực, du lịch giáo dục, du lịch nông thôn và du lịch tình nguyện, mang lại cơ hội khám phá văn hóa địa phương, sức khỏe và trải nghiệm cộng đồng Việc xác định mục tiêu chuyến đi giúp lên kế hoạch di chuyển, lưu trú và ngân sách một cách hợp lý, từ đó tối ưu hóa trải nghiệm và hiệu quả của chuyến đi.

Ở góc độ tổng quan, du lịch được phân thành ba nhóm chính theo Luật Du lịch Việt Nam 2017: du lịch sinh thái, du lịch văn hóa và du lịch cộng đồng Tuy vậy, khái niệm du lịch cá nhân (DLCN) đang nổi lên như một hướng nghiên cứu mới, vẫn chưa được phân loại đầy đủ hoặc có một khung khái niệm riêng trong hệ thống pháp luật năm 2017 Vì vậy, để hiểu rõ xu hướng DLCN trong bối cảnh du lịch Việt Nam, các nhà nghiên cứu cần làm rõ khái niệm và thuật ngữ liên quan, từ đó nhận diện sự khác biệt giữa du lịch truyền thống và du lịch cá nhân, đồng thời bổ sung cơ sở lý thuyết cho các nghiên cứu về xu hướng DLCN.

Du lịch cá nhân (solo travel)

2.2.1 Một số khái niệm du lịch cá nhân

Khái niệm du lịch cá nhân (DLCN) vẫn được các nhà nghiên cứu giải thích theo nhiều cách khác nhau, chưa có định nghĩa đồng nhất Theo các quan điểm về DLCN, khái niệm này được xác định dựa trên trạng thái của từng du khách tại điểm đến; cụ thể, du lịch cá nhân được hiểu là trạng thái đi một mình của mỗi người khi họ đặt chân tới địa điểm tham quan.

Foo (1999) giải thích rằng người đi du lịch theo hình thức này thường có xu hướng viếng thăm bạn bè và người thân (VFR) Do đó, trong thuật ngữ “du lịch cá nhân”, từ “cá nhân” hay “solo” nhấn mạnh vào trạng thái một mình của người đi du lịch tại điểm đến, chứ không được hiểu là trạng thái của họ xuyên suốt cả chuyến đi.

Cùng với đó, tác giả Bianchi (2016) trong bài nghiên cứu về DLCN liên quan đã phát họa định nghĩa như sau “DLCN là chỉ những người đi du lịch trong trạng thái “cô đơn” tại điểm đến và họ có thể duy trì tình trạng này xuyên suốt cuộc hành trình trải nghiệm” Về sau, thuật ngữ DLCN được bổ sung và mở rộng hơn bởi Wilson (2004), theo cách giải thích của tác giả, những người du lịch cá nhân được hiểu là những người du lịch tới một điểm đến trong trạng thái một mình, nhưng điều đó không cần thiết khi

14 họ phải duy trì tình trạng này trong suốt cuộc hành trình trải nghiệm của mình Lý do giải thích cho điều này là vì người đi du lịch theo hình thức DLCN sẽ gặp phải những khó khăn nhất định khi họ lảng tránh sự tương tác xã hội với các nhà cung ứng dịch vụ về lưu trú, vận chuyển, giải trí, tham quan,…và cả việc giao tiếp với người dân địa phương tại điểm đến Ngoài ra, những người trải nghiệm DLCN cũng có thể kết giao với người có cùng niềm đam mê xê dịch theo hình thức này để thành lập một đội nhóm DLCN (single group) nhằm mục đích đồng hành cùng nhau cho hành trình trải nghiệm các điểm đến kế tiếp; hoặc họ cũng có thể sắp xếp, lên kế hoạch cho chuyến đi tiếp theo nhờ vào sự hỗ trợ của hướng dẫn viên tại điểm đến Ngoài ra, người DLCN cũng chủ động quản lý lịch trình/lộ trình, các hoạt động trải nghiệm đến việc lựa chọn các dịch vụ tại mỗi nơi họ đặt chân đến (Wilson, 2004) Từ định nghĩa mang tính tổng quát này, chủ thể tham gia DLCN không hoàn toàn tách rời ra khỏi việc sử dụng các sản phẩm/dịch vụ du lịch được cung cấp bởi công ty du lịch lữ hành mà đối tượng khách này vẫn có nhu cầu sử dụng các dịch vụ du lịch thiết yếu (vận chuyển, lưu trú, ăn uống, giải trí,…) theo mức độ ít hay nhiều khi quyết định đặt các dịch vụ của các đơn vị lữ hành

Theo một báo cáo nghiên cứu do Outbox và Traveloka thực hiện vào năm 2021 với chủ đề “Xu hướng du lịch cá nhân đang gia tăng giữa những người Việt Nam đi du lịch”, DLCN được xem như một xu hướng du lịch độc lập cho phép người du lịch tự do quyết định điểm đến, chọn dịch vụ và trải nghiệm tại điểm đến, thay vì chỉ ứng biến trong chuyến đi; họ cũng có thể kết nối với những người bạn đồng hành và hướng tới việc gặp gỡ cộng đồng bản địa để trải nghiệm và cảm nhận bản sắc văn hóa một cách chân thật Định nghĩa về DLCN không chỉ dừng lại ở tình trạng đến nơi mà còn được nhìn nhận dưới lăng kính của tình trạng mối quan hệ và mong muốn tìm kiếm giá trị hạnh phúc từ chuỗi trải nghiệm du lịch độc đáo này Theo New York Times (2012), du lịch cá nhân là những chuyến đi một mình theo một cách đặc thù, và đối tượng tham gia có thể đã kết hôn hoặc vẫn độc thân, cho thấy loại hình này không chỉ thu hút người sống độc thân có đủ điều kiện mà còn cả những người có khả năng, sức khỏe và thời gian để tự quản lý chuyến đi.

Định nghĩa DLCN liên quan mật thiết đến các mục đích và động cơ du lịch của người tham gia hình thức du lịch này Các nghiên cứu sau cho thấy DLCN bao hàm các trải nghiệm du lịch đa dạng và phụ thuộc vào động cơ như thăm người thân/bạn bè, thoát khỏi nhịp sống hối hả của thành thị, giải toả áp lực từ công việc/học tập, du lịch tình nguyện, nghỉ dưỡng, du lịch ba lô, du lịch phiêu lưu, khám phá văn hóa/con người và thám hiểm (L.Yang, 2020; Laesser và cộng sự, 2009) Theo Richards & Wilson (2004), ở bối cảnh du lịch cá nhân của sinh viên, có sự khác biệt về động cơ, hoạt động trải nghiệm và nhận biết về hình thức du lịch cá nhân; sự khác biệt về định nghĩa du lịch cá nhân phụ thuộc vào cách người du lịch hình dung loại hình/trải nghiệm của họ, ví dụ như backpacker, traveller hoặc tourist.

Khái niệm DLCN thay đổi tùy theo cách tiếp cận và góc độ nghiên cứu, nhưng bản chất vẫn là hình thức du lịch trong đó người tham gia tự thực hiện chuyến đi một mình qua nhiều địa điểm khác nhau và có thể gặp gỡ, đồng hành với những du khách khác tại mỗi điểm đến Ở mỗi giai đoạn của hành trình, người du lịch tự xây dựng và tổ chức chương trình dựa trên nhu cầu, sở thích cá nhân, tự lên lịch trình, tự đặt mua sản phẩm/dịch vụ du lịch và tham gia các hoạt động trải nghiệm tại điểm đến Tuy nhiên, dù là du lịch tự túc một mình, du khách vẫn có thể tìm kiếm trải nghiệm riêng biệt, mới lạ phù hợp với bản thân nhưng sẽ không hoàn toàn độc lập với các đơn vị lữ hành, vẫn phụ thuộc vào các dịch vụ thiết yếu như vận chuyển, lưu trú và các hoạt động trải nghiệm.

2.2.2 Xu hướng nở rộ của hình thức DLCN trên thế giới và tại Việt Nam

Với sự thay đổi đáng kể về nhân khẩu học và lối sống cá nhân hoá, hình thức tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ một mình cũng như du lịch cá nhân đã hình thành và phát triển trong nhiều thập kỷ qua Tuy nhiên, xu hướng du lịch một mình vẫn bị xem là lệch lạc và đối lập với chuẩn mực xã hội ở nhiều nước, nơi văn hoá đề cao sự gắn kết giữa người với người và cho rằng đây là bản năng vốn có để phát triển và sinh tồn Trái lại, nhiều người vẫn chủ động tìm đến sự cô đơn thông qua các hoạt động giải trí, đặc biệt là du lịch cá nhân, xem đây là cách lý tưởng để vui trong sự cô đơn, trải nghiệm ý nghĩa trọn vẹn và bồi đắp những giá trị tinh thần từ những trải nghiệm đích thực Về lâu dài, dù du lịch cá nhân được nhìn nhận là một hình thức có phần dị biệt, một thế giới đầy tách biệt so với du lịch truyền thống, nó đã tạo sức hút mạnh mẽ với nhiều người, đặc biệt là giới trẻ và phụ nữ Sự chuyển đổi này đã tạo thành một làn sóng lan tỏa trong cộng đồng du lịch và dần dần định hình nên xu hướng mới mang tên Du lịch cá nhân – Solo travel.

Hiệp hội Nghiên cứu Princeton vào năm 2017, kết quả nghiên cứu đã cho thấy có đến

Khoảng 58% Millennials toàn cầu ở độ tuổi 19–37 quan tâm và sẵn sàng du lịch một mình, vượt xa 47% của thế hệ trung niên và cao niên cũng có niềm đam mê du lịch cá nhân Theo một báo cáo của Hiệp hội Thương mại Du lịch Mạo hiểm năm 2018, đến 80% khách du lịch có xu hướng chọn hình thức du lịch một mình thay vì du lịch theo kiểu truyền thống Sự chuyển dịch mạnh mẽ trong hành vi du lịch đã được nhiều học giả trên thế giới khảo sát và rút ra các động cơ giải thích tại sao nhiều người lựa chọn du lịch cá nhân, gồm sự tự do, linh hoạt, độc lập, thư giãn, giải trí để tạm tránh xa áp lực công việc và mong muốn tương tác với người dân địa phương cùng với văn hóa bản địa tại điểm đến (Osman và cộng sự, 2019; Bianchi, 2016) Từ những động lực này, có thể thấy so với du lịch truyền thống, du lịch cá nhân cho phép người tham gia không bị ràng buộc bởi lịch trình hoặc người đồng hành, từ đó tăng cường sự tự chủ và trải nghiệm tại điểm đến.

Xu hướng du lịch cá nhân (DLCN) đang thoát khỏi các lịch trình kéo dài do doanh nghiệp lữ hành tổ chức và phụ thuộc vào nhu cầu của người đi cùng, mở ra cơ hội cho những người tìm kiếm sự tự do thực sự và trải nghiệm cảm xúc trọn vẹn DLCN không chỉ tăng mạnh trên toàn cầu mà còn xâm nhập mạnh mẽ vào thị trường du lịch Việt Nam, nơi lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, văn hóa bản địa và mức chi tiêu cạnh tranh khiến Việt Nam được xem là điểm đến hấp dẫn cho du khách du lịch cá nhân trên thế giới Khảo sát của Agoda năm 2018 cho thấy TP Hồ Chí Minh nằm trong tốp 10 thành phố được lựa chọn nhiều nhất của nhóm du khách độc hành từ châu Á Thống kê từ nền tảng Klook cho thấy Thái Lan và Việt Nam là hai điểm đến thu hút mạnh dòng khách du lịch cá nhân, cho thấy lượng du khách du lịch cá nhân từ nước ngoài đến Việt Nam (Inbound) đang tăng lên và có thể trở thành một thị trường đầy tiềm năng cho các doanh nghiệp lữ hành Bên cạnh đó, nhu cầu và hành vi du lịch của người Việt Nam cũng đã thay đổi trong những năm gần đây, với sự gia tăng của du lịch tự túc và du lịch cá nhân Một báo cáo mang tên "Du lịch một mình" đề cập đến những diễn biến và cơ hội cho DLCN tại Việt Nam.

"Xu hướng mới nổi trong cộng đồng du lịch Việt Nam" là một nghiên cứu do Outbox Consulting và Traveloka công bố năm 2021, nhằm xác định và đánh giá xu hướng du lịch cá nhân (DLCN) giữa du lịch nội địa và du lịch quốc tế của người Việt Nam Nghiên cứu kết hợp hai phương pháp định tính và định lượng, trong đó phần định lượng khảo sát cả các nhà cung cấp dịch vụ du lịch và lữ hành lẫn những người Việt Nam đã thực hiện du lịch cá nhân trong 12 tháng gần nhất Kết quả cho thấy hơn 40% người tham gia cho rằng họ sẽ thực hiện thêm nhiều chuyến du lịch cá nhân trong tương lai; động lực chủ yếu đến từ sự linh hoạt và tự do, giúp tích lũy trải nghiệm du lịch và nâng cao tinh thần tự khám phá văn hóa, con người tại điểm đến Đặc biệt trong bối cảnh du lịch hậu Covid-19, các dấu hiệu này cho thấy sự chuyển biến mạnh mẽ về nhu cầu và hành vi du lịch của người Việt, đòi hỏi các nhà cung cấp dịch vụ du lịch và doanh nghiệp lữ hành thích ứng linh hoạt để thiết lập và phát triển các chiến lược du lịch phù hợp với xu hướng thị trường mới.

Để đón đầu làn sóng mới, các doanh nghiệp du lịch trong nước phải đối mặt với không ít khó khăn khi lâu nay vẫn quen với việc kinh doanh các sản phẩm truyền thống cho thị trường du lịch theo đoàn Đặc biệt, tính đặc thù của DLCN đặt ra nhiều thách thức cho các doanh nghiệp lữ hành trong việc liên tục cập nhật và đổi mới các sản phẩm/dịch vụ nhằm khai thác tiềm năng còn ngủ yên của thị trường DLCN.

2.2.3 Động cơ thúc đẩy nhiều người lựa chọn hình thức Du lịch cá nhân

Dựa trên các bài nghiên cứu về du lịch cá nhân, các học giả cho thấy có nhiều động cơ và lý do khiến nhiều người quyết định trải nghiệm hình thức này Dựa vào góc nhìn về tình trạng mối quan hệ giữa chủ thể du lịch và các mối quan hệ xung quanh (gia đình, người thân, bạn bè), du lịch cá nhân được phân thành hai nhóm chính: du lịch cá nhân theo mặc định (solo travel by default) và du lịch cá nhân có sự lựa chọn (solo travel by choice), như Mehmetoglu và cộng sự đề xuất (2001) và được Osman và cộng sự (2019) ủng hộ Du lịch cá nhân theo mặc định là khi chủ thể tham gia không có người đồng hành hoặc không tìm được người phù hợp để đi cùng; những người thuộc nhóm này sẽ không có ý định trải nghiệm du lịch một mình nếu có cơ hội làm điều đó với bạn bè hoặc người thân Các nghiên cứu sau cho thấy tình trạng mối quan hệ như sống độc thân, giới hạn trong các mối quan hệ hoặc không tìm thấy bạn đồng hành hay người có cùng sở thích là những lý do chính khiến nhiều người xem du lịch cá nhân như một lựa chọn bắt buộc Ngược lại, du lịch cá nhân có sự lựa chọn là những người đi du lịch có nhiều mối quan hệ, nhưng vẫn chọn đi một mình để tìm kiếm sự tự do thực sự Từ việc phân loại và giải thích hai nhóm người du lịch cá nhân như trên cho thấy, giới hạn trong mối quan hệ xã hội, đặc biệt là việc không tìm được bạn đồng hành, đã thúc đẩy nhiều người tìm đến du lịch cá nhân như một cách để khỏa lấp mong muốn và trải nghiệm sự độc lập trong chuyến đi.

19 kiểu này là một cách tuyệt vời để đối mặt với chính mình (Wilson & Harris, 2006; L Yang và cộng sự, 2019) Bên cạnh đó, với mong muốn tìm kiếm và cảm nhận sự tự do, sự độc lập, tận hưởng những điều mới mẻ và mở rộng hiểu biết về văn hóa/con người tại điểm đến, nhiều người, đặc biệt là các bạn trẻ, đã chọn du lịch cá nhân như một cách lý tưởng để hưởng trọn những trải nghiệm mới lạ và khẳng định bản thân (Richards & Wilson, 2003).

Đối với nhóm giới trẻ, động cơ du lịch thường là sự kết hợp giữa trải nghiệm văn hóa và con người tại điểm đến và nhu cầu du lịch cá nhân như tăng kiến thức về thế giới, thư giãn và thăm người thân để củng cố các mối quan hệ; đồng thời nhiều bạn chọn du lịch cá nhân nhằm khám phá văn hóa và cộng đồng địa phương thông qua giao tiếp với người dân bản địa, vì họ là chủ thể sáng tạo bản sắc văn hóa và mang hồn vùng đất vào từng câu chuyện của người lữ hành Từ quá trình giao lưu và tiếp nhận các giá trị văn hóa tại điểm đến, giới trẻ du lịch cá nhân mong muốn lan tỏa hình ảnh và văn hóa đó đến cộng đồng và xã hội, coi đây là động lực đầy ý nghĩa để đưa hình ảnh điểm đến và con người địa phương gần hơn với nhiều người (Chen et al., 2013; Bianchi, 2016) Tuy nhiên, động cơ trải nghiệm văn hóa ở điểm đến vừa là yếu tố thúc đẩy (push factor) vừa là rào cản tác động mạnh đến ý định và trải nghiệm du lịch cá nhân của người trẻ (Bianchi, 2016).

Thuyết rào cản trong du lịch

2.3.1 Khái niệm về rào cản trong du lịch

Trong nghiên cứu du lịch, động cơ du lịch được xem là yếu tố tích cực thúc đẩy quá trình ra quyết định và trải nghiệm của người đi du lịch Ngoài động cơ, rào cản du lịch đóng vai trò đối lập, tạo ra các tác động trái ngược đến ý định du lịch của từng cá nhân Cụ thể, mức độ và bản chất của rào cản có thể làm giảm sự sẵn sàng tham gia và làm gián đoạn kế hoạch chuyến đi Việc cân nhắc giữa động cơ du lịch và rào cản du lịch giúp hiểu rõ hành vi du lịch và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định, ý định du lịch và trải nghiệm của du khách.

Khái niệm rào cản du lịch có nguồn gốc từ lý thuyết rào cản giải trí, giúp lý giải vì sao nhiều người gặp trở ngại tham gia các hoạt động và trải nghiệm du lịch Nghiên cứu về yếu tố rào cản trong du lịch đòi hỏi đi sâu vào nền tảng lý thuyết và xây dựng khung khái niệm cũng như phân loại các nhóm rào cản cụ thể Từ những năm 1980, nhiều học giả phương Tây như Crawford & Godbey (1987), Jackson (1983) và Jackson & Searle (1983) đã tiến hành nghiên cứu về rào cản giải trí để hình thành khung khái niệm và mô tả các nhóm rào cản Trước tiên, các tác giả tập trung tìm hiểu các khái niệm liên quan đến rào cản trong hoạt động du lịch dựa vào tham khảo các công trình nghiên cứu liên quan, nổi bật với công trình của Jackson.

Constraints are factors that limit a person’s ability to participate in desired leisure and travel activities, restrict the time they can dedicate to those activities, or prevent them from achieving the anticipated levels of satisfaction or benefit These barriers can reduce engagement with leisure services and the perceived value of those experiences, shaping how individuals plan, participate in, and enjoy recreation and tourism.

Trong lĩnh vực du lịch, rào cản được định nghĩa ngắn gọn là những yếu tố hạn chế sự hình thành sở thích cá nhân và ức chế, ngăn cản sự tham gia và thưởng thức các hoạt động giải trí/du lịch của mỗi cá nhân (Jackson và cộng sự, 1991) Bổ sung cho định nghĩa này, Page và Hall (2003) cho rằng rào cản còn là những bộ lọc cho các nhu cầu du lịch, làm giảm và ngăn chặn quá trình ra quyết định du lịch của từng người dù vẫn tồn tại động lực du lịch.

Cũn theo Sửnmez & Graefe (1998), đó định nghĩa rào cản du lịch dưới gúc nhỡn của tõm

Quan niệm về rào cản du lịch cho rằng các sự kiện không mong muốn bắt nguồn từ trải nghiệm du lịch thất vọng và các mối đe dọa luôn rình rập có thể tác động đến sức khỏe và tính mạng của khách du lịch (mối đe dọa về thể chất, sức khỏe, tinh thần) Đồng thời, rào cản du lịch không chỉ can thiệp và tạo ra sự ràng buộc giữa sở thích của người du lịch và sự tham gia vào các hoạt động du lịch trong quá trình ra quyết định, mà còn có thể tác động và cản trở người đi du lịch suốt toàn bộ hành trình tại điểm đến (Wilson & Little, 2008).

Trong bài nghiên cứu về rào cản du lịch tại điểm đến Bình Định (2017), tác giả Đặng Thị Thanh Loan đề xuất khái niệm 'rào cản du lịch' như một yếu tố ngăn cản người tham gia và thưởng thức các hoạt động du lịch Bài viết cho rằng rào cản du lịch đóng vai trò như một bộ lọc cho các nhu cầu du lịch của từng chủ thể, làm giảm hoặc ngăn cản các cá nhân tham gia hoạt động du lịch ngay cả khi có động lực Đồng thời, rào cản du lịch không những làm suy giảm ý định tham gia mà còn có thể triệt tiêu động cơ của mỗi người trong quá trình ra quyết định du lịch.

Các bài nghiên cứu liên quan cho thấy rào cản du lịch tồn tại và hiện diện ở nhiều cấp độ khác nhau, đặt ra thách thức cho người đi du lịch khi họ phải tìm cách khắc phục, thương lượng và vượt qua để tham gia vào hoạt động giải trí nói chung và trải nghiệm du lịch nói riêng (Crawford và cộng sự, 1991) Rào cản du lịch được xem như những yếu tố có thể can thiệp mạnh và ngăn chặn quá trình bắt đầu tham gia vào các hoạt động du lịch của từng cá nhân, có thể làm giảm, triệt tiêu động lực và sở thích du lịch; từ đó làm giảm khả năng duy trì hoặc tăng tần suất các chuyến đi Ngoài ra, rào cản còn tác động không mong muốn đến trải nghiệm du lịch tại điểm đến.

Việc nắm bắt và làm rõ các khái niệm cùng định nghĩa về rào cản du lịch đóng vai trò then chốt trong việc cung cấp cái nhìn tổng quan về nền tảng lý thuyết của rào cản du lịch Trong khi nhiều học giả đã nghiên cứu yếu tố động lực du lịch, bài nghiên cứu này tập trung vào khía cạnh đối lập hoàn toàn là rào cản du lịch, nhằm làm rõ những yếu tố ràng buộc và khó khăn mà người đi du lịch gặp phải trong quá trình ra quyết định cá nhân Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, nhóm nghiên cứu sẽ xác định và làm rõ các loại rào cản—như rào cản vật chất, rào cản tâm lý, rào cản thông tin và chi phí—cũng như cách chúng ảnh hưởng đến quyết định du lịch, từ đó nhận diện và đo lường mức độ tác động để xây dựng một khuôn khổ lý thuyết và ứng dụng thực tiễn cho nghiên cứu du lịch.

25 lường và đánh giá mức độ mạnh/yếu của rào cản du lịch đến với mỗi người trong mối tương quan với du lịch cá nhân

2.3.2 Phân loại các nhóm rào cản trong du lịch

Cơ sở lý thuyết về rào cản trong lĩnh vực giải trí đã được nghiên cứu và đề suất bởi nhiều học giả từ những năm 1980 (Crawford & Godbey, 1987; Jackson, 1988) Về sau, nền tảng lý thuyết rào cản giải trí đã được tham khảo và nghiên cứu bởi các học giả ngành du lịch Ngoài việc phát họa khung khái niệm cho mỗi nhóm rào cản du lịch, các nhà nghiên cứu đều đưa ra sự phân loại cụ thể các nhóm rào cản du lịch

Nghiên cứu đầu tiên của Francken & Van Raaij (1981) đã phân loại rào cản du lịch thành hai nhóm là: nhóm rào cản nội tại (internal) và nhóm rào cản bên ngoài (external) Trong đó, nhóm rào cản nội tại (internal constraints) bao gồm các yếu tố như: sở thích, đam mê, vốn kiến thức, sự hiểu biết, các kỹ năng và năng lực của mỗi cá nhân Tiếp đến là nhóm rào cản bên ngoài (external constraints), chúng có thể bao gồm các tình huống không mong muốn xảy đến với mỗi cá nhân, sự tương tác xã hội, sự thiếu hụt về tiền bạc và thời gian nhàn rỗi, vấn đề liên quan đến khoảng cách địa lý và cơ sở vật chất/thiết bị không đầy đủ tại điểm đến Hai nhóm rào cản được phân loại trên cũng có được thay thế bởi hai tên gọi khác nhưng vẫn đảm bảo về mặt ý nghĩa đó là nhóm rào cản cá nhân (personal constraints) và rào cản xã hội (social constraints)

Về mặt lý thuyết rào cản đối với hoạt động gia đình, Crawford và Godbey (1987) đề xuất một mô hình kế thừa nhằm phát triển các khái niệm và làm rõ bản chất của các loại rào cản cũng như cách chúng tác động đến sở thích và mức độ tham gia của các thành viên gia đình vào các hoạt động giải trí, bao gồm du lịch Nghiên cứu này đã phân loại và hình thành các khái niệm cho ba nhóm rào cản chính: rào cản nội tại (intrapersonal constraints), rào cản giữa các cá nhân (interpersonal constraints) và rào cản cấu trúc (structural constraints).

Rào cản nội tại (rào cản nội cá nhân) liên quan đến sự nhận thức và tâm lý của cá nhân được hiểu là các tác nhân ảnh hưởng đến tình trạng và thuộc tính tâm lý của mỗi người, và chúng tác động tới sở thích của chủ thể tham gia hoạt động giải trí Các rào cản nội tại gồm các vấn đề tâm lý như chán nản, tuyệt vọng và căng thẳng, cùng với thiếu tự tin, nhận thức về kỹ năng của bản thân và đánh giá chủ quan về mức độ phù hợp và sự sẵn có của các hoạt động giải trí.

Rào cản giữa các cá nhân (interpersonal) được hiểu là kết quả của sự tương tác xã hội của mỗi người và mối quan hệ giữa các đặc tính cá nhân với nhau, chẳng hạn như sự kỳ vọng và cách thức tương tác với gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp; đồng thời sự thiếu hụt các bạn đồng hành phù hợp cho chuyến du lịch cũng có thể được xem là một yếu tố tạo ra rào cản này Những yếu tố này ảnh hưởng tới giao tiếp, thấu hiểu và phối hợp giữa các cá nhân trong các hoạt động hàng ngày và khi lên kế hoạch cho các chuyến đi hay làm việc nhóm.

Nhóm rào cản cấu trúc được hiểu là những yếu tố nằm ở bên ngoài tác động giữa sở thích cá nhân và sự tham gia của mỗi người Các yếu tố này phát sinh từ các điều kiện môi trường như thiếu hụt tiền bạc, thời gian rảnh hạn chế, vấn đề sức khỏe và những khó khăn liên quan đến điểm đến như khả năng tiếp cận bị giới hạn hay khí hậu khắc nghiệt, đều được xếp vào rào cản cấu trúc và có thể cản trở quá trình tham gia của cá nhân.

Thông qua mô hình lý thuyết rào cản giái trí được đề xuất bởi Crawford & Godbey

Vào năm 1987, nhóm tác giả đã phác họa rõ phân loại ba nhóm rào cản du lịch kèm theo các định nghĩa và ví dụ cụ thể cho từng nhóm rào cản Tuy nhiên, các mô hình về rào cản này chỉ dừng ở việc hình thành khái niệm mà chưa thiết lập được một mô hình rào cản mang tính hợp nhất Nhận thức được hạn chế đó và dựa trên nền tảng lý thuyết về rào cản giải trí, các học giả đã điều chỉnh khung khái niệm liên quan đến nhóm rào cản giải trí; đặc biệt là một mô hình ba nhóm rào cản mang tính phân cấp được đề xuất bởi Crawford, Godbey và Jackson.

Tác động của các rào cản du lịch đến ý định du lịch của sinh viên

Dựa trên các bài nghiên cứu liên quan (Phụ lục), kết quả cho thấy các yếu tố rào cản du lịch có mức tác động mạnh hoặc yếu đến quá trình ra quyết định của người DLCN, với đối tượng nghiên cứu chủ yếu là sinh viên và nữ giới; nhóm rào cản nội cá nhân, rào cản giữa các cá nhân và rào cản cấu trúc được xem là các tác nhân gây áp lực và ngăn cản người đi du lịch không chỉ ở giai đoạn ra quyết định mà còn trong trải nghiệm tại điểm đến Trong đó, nhóm rào cản nội cá nhân mang tên intrapersonal constraint – consisting of các tình trạng và đặc điểm tâm lý của người đi du lịch – được cho là có tác động mạnh nhất theo hướng ngăn cản và làm giảm ý định du lịch của giới trẻ, đặc biệt là sinh viên (Walker et al., 2007; Xie & Ritchie, 2019; Khan et al., 2019; Osman et al., 2019; Karl et al., 2020) Các yếu tố thuộc nhóm này gồm: sinh viên thiếu đam mê/hứng thú du lịch, nhận thức được rủi ro/hiểm nguy, tâm lý lo âu/sợ hãi về an toàn – an ninh tại điểm đến và khó tìm thấy điểm đến phù hợp với đặc thù chuyến đi; đặc biệt với người DLCN là nữ giới, mối quan tâm về an toàn và lo lắng về mức độ rủi ro/nguy hiểm thường lớn hơn, gây ràng buộc trong cả quá trình ra quyết định và trong suốt hành trình du lịch (Wilson & Little, 2008; Osman et al., 2019; L Yang, 2020).

Tiếp theo, nhóm rào cản về cấu trúc (structural constraint) bao gồm các hạn chế về tài chính và thời gian rảnh rỗi, khiến kế hoạch di chuyển bị giới hạn; đồng thời, khả năng tiếp cận điểm đến và các vấn đề liên quan đến phương tiện di chuyển cũng là các rào cản đáng kể ảnh hưởng đến quyết định và trải nghiệm của người dùng.

Vận chuyển được xem là một rào cản chính đối với quyết định du lịch của cả người đi du lịch nói chung và sinh viên nói riêng Các yếu tố liên quan đến vận chuyển, như chi phí di chuyển, thời gian đi lại và sự sẵn có, thuận tiện hay bất tiện của phương tiện, có thể ảnh hưởng đáng kể đến ý định tham gia và quyết định du lịch Theo Gardiner và cộng sự (2013) và Bianchi, rào cản vận chuyển không chỉ làm gia tăng gánh nặng tài chính mà còn tác động đến khả năng tiếp cận các điểm đến và kế hoạch học tập hoặc công tác của sinh viên Vì vậy, khi phân tích thị trường và xây dựng chiến lược du lịch nhằm mục tiêu sinh viên, cần xem xét kỹ lưỡng các yếu tố vận chuyển và đưa ra giải pháp giảm thiểu chúng để tăng động lực du lịch.

Rào cản về khả năng tiếp cận điểm đến được thể hiện qua khoảng cách giữa nguồn khách và điểm đến du lịch, khiến việc di chuyển gặp khó khăn vì nhiều nguyên nhân như thiếu phương tiện vận chuyển phù hợp, cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, thông tin giữa điểm đến và nguồn khách chưa được trao đổi đầy đủ, và các khâu vận chuyển trung gian chưa liên kết chặt chẽ Cụ thể, mạng lưới vận chuyển bị hạn chế với các tuyến hàng không, mạng lưới đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường biển Mặt khác, vì DLCN mang tính đặc thù cao nên người du lịch theo kiểu này thường đối mặt với các rào cản liên quan đến chi phí cao và chất lượng dịch vụ du lịch chưa đáp ứng mong đợi, cũng như sự thiếu hụt các dịch vụ cho người du lịch cá nhân (Goodwin & Lockshin, 1992; Bianchi, 2016; L.Yang, 2020).

Trong quá trình ra quyết định du lịch cá nhân nhằm thỏa mãn khao khát xê dịch và trải nghiệm, giới trẻ, đặc biệt là phụ nữ, phải đối mặt với sự chi phối từ gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Những ràng buộc từ các mối quan hệ này trở thành rào cản khiến họ mang sẵn nhận thức, định kiến và thái độ không ủng hộ đối với các hành vi DLCN (Wilson & Little, 2008) Trước khi lên kế hoạch, giới trẻ thường tham khảo ý kiến người thân trong gia đình (cha mẹ, anh chị em) và dễ bị phản đối gay gắt do gia đình cho rằng DLCN tiềm ẩn rủi ro và chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng bảo thủ (R Yang & Tung, 2018) Bạn bè, đồng nghiệp cũng là nguồn tham khảo, tạo áp lực dư luận và tác động tới quyết định du lịch thông qua ý kiến, đánh giá và phản hồi về dịch vụ du lịch (Nguyễn Thị Kiệm, 2018) Tuy nhiên, khi quyết định trải nghiệm du lịch cá nhân, giới trẻ vẫn chịu áp lực lớn từ dư luận xã hội do sự ăn sâu của truyền thống cổ hủ và hệ tư tưởng bảo thủ đối với người xê dịch độc hành (Osman et al., 2019).

Từ những rào cản du lịch được đề cập trên, có thể nhận thấy rằng, người đi DLCN nói chung và sinh viên nói riêng thường phải đối mặt rất nhiều khó khăn nhất định trong quá trình đưa ra quyết định du lịch Đó có thể là rào cản liên quan đến nhận thức, tâm lý của mỗi cá nhân, sự tương tác với các mối quan hệ xung quanh (gia đình, bạn bè, đồng nghiệp) và cả các vấn đề liên quan đến điểm đến du lịch Những rào cản ấy xuất hiện và chi phối theo nhiều phương diện khác nhau cả không gian và thời gian Ngày nay, du lịch cá nhân đã và đang được xã hội nhìn nhận một cách cởi mở cùng với sự thay đổi về cấu trúc gia đình (hộ gia đình đơn thân), và đặc biệt là sự gia tăng lối sống theo chủ nghĩa cá nhân, lối sống độc lập (L.Yang và cộng sự, 2019) Tuy nhiên, người du lịch cá nhân vẫn không nhân được sự ủng hộ từ gia đình, bạn bè, và đặc biệt là những nhà cung ứng dịch vụ, người dân địa phương tại điểm đến Điều này được thể hiện thông qua sự thiếu vắng các dịch vụ đặc thù cho người du lịch cá nhân, chất lượng phục vụ không tốt của đội ngũ nhân viên, hay chi phí phụ thêm (single supplement) cho các dịch vụ đơn lẻ, đến cái nhìn đầy nghi ngại, không thiện cảm của người phục vụ, đặc biệt đối với phụ nữ du lịch cá nhân (Goodwin & Lockshin,1992b; Bianchi, 2016) Những phân tích trên cho thấy rằng, mặc dù hình thức du lịch cá nhân đang bùng nổ và gia tăng trên thế giới và tại Việt Nam, trở thành một thị trường ngách tiềm năng, nhưng khi nào vẫn còn tồn động những định kiến, khuôn mẫu tiêu cực về người hưởng thụ dịch vụ “cô đơn” thì những người du lịch cá nhân sẽ không tránh khỏi những rào cản du lịch ự hiểu biết hạn chế về DLCN đó sẽ tạo khó khăn cho các nhà phân phối dịch vụ du lịch trong việc khai thác và tối ưu hóa tiềm năng đáng kể từ nhóm khách hàng đặc biệt này Vì vậy, việc xoa dịu đi những nhận thức bảo thủ và gỡ bỏ đi những “nhãn mác sai lệch” về người du lịch cá nhân là rất quan trọng; những điều đó phải đến từ gia đình, cộng đồng, trong đó đặc biệt là những nhà làm dịch vụ du lịch Từ đó sẽ tạo ra những sự thay đổi cần thiết và tích cực hơn để ủng hộ và đáp ứng nhu cầu của người du lịch cá nhân, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Các nghiên cứu trước đây về tác động của các rào cản du lịch đến ý định và trải nghiệm du lịch cá nhân

2.5.1 Các bài nghiên cứu nước ngoài

Nghiên cứu của Hanna và các cộng sự, 2019 (Vương Quốc Anh)

The study "The travel motivations and experiences of female Vietnamese solo travellers", translated as "Những động cơ và trải nghiệm của những người du lịch cá nhân, phụ nữ Việt Nam", was conducted by authors Hanna Oasman, Loraine, and colleagues.

Phụng Thị Minh Trang (2019) thực hiện bài nghiên cứu nhằm khám phá động cơ và rào cản du lịch cũng như tác động của chúng đến trải nghiệm du lịch cá nhân của du học sinh Việt tại Vương Quốc Anh Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính với phỏng vấn sâu được xây dựng bằng các câu hỏi mở, và có 10 sinh viên nữ đã có kinh nghiệm du lịch cá nhân tham gia trả lời Kết quả cho thấy ba nhóm rào cản chính: (1) định kiến đối với phụ nữ và người châu Á do ảnh hưởng của truyền thống và tư tưởng bảo thủ; (2) lo ngại về an toàn/an ninh tại điểm đến; (3) tâm lý sợ sự nguy hiểm và rủi ro khi thực hiện chuyến du lịch Những rào cản này tác động chủ yếu đến trải nghiệm du lịch cá nhân của sinh viên nữ và góp phần mở rộng hiểu biết về phân khúc thị trường du lịch dành cho nhóm đối tượng này, đồng thời các nhà cung cấp dịch vụ du lịch và nhà tiếp thị điểm đến (DMOs) có thể tận dụng lợi thế cạnh tranh bằng việc xây dựng và phát triển sản phẩm kèm theo chiến lược marketing phù hợp và hiệu quả.

Hình 2.3 trình bày mô hình kết quả nghiên cứu về tác động của các yếu tố rào cản đối với trải nghiệm du lịch cá nhân của sinh viên nữ Việt Nam Mô hình nhấn mạnh rằng các yếu tố rào cản có ảnh hưởng đến quyết định tham gia du lịch, cách thức lập kế hoạch và mức độ hài lòng với chuyến đi Kết quả cho thấy tác động này có sự biến động tùy thuộc vào hoàn cảnh cá nhân và môi trường xung quanh, đồng thời gợi ý những biện pháp hỗ trợ nhằm giảm thiểu rào cản và nâng cao trải nghiệm du lịch cho sinh viên nữ Việt Nam.

(Nguồn: Hanna Osman và cộng sự, 2019)

Hệ tư tưởng và truyền thống bảo thủ

Nhận thức được nỗi sợ hãi và phái yếu

Các vấn đề an toàn/an ninh tại điểm đến

Trải nghiệm du lịch cá nhân

Nghiên cứu của Wilson và Little, 2005 (Úc)

Erica Wilson and Donna E Little conducted the study "A Relative Escape? The Impact of Constraints on Women Who Travel Solo," which examines how social, logistical, and safety constraints shape the experiences of women who travel alone The Vietnamese translation of the title is "Một sự giải thoát có liên quan? Tác động của các rào cản đến người phụ nữ du lịch cá nhân."

Dựa trên kế thừa lý thuyết rào cản giải trí và du lịch của Crawford & Godbey (1987), bài nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố rào cản du lịch tác động đến trải nghiệm du lịch cá nhân của phụ nữ, và sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua phỏng vấn sâu với 40 phụ nữ từng có trải nghiệm du lịch cá nhân Kết quả phân tích cho thấy bốn nhóm rào cản chính là (1) rào cản văn hóa – xã hội, (2) rào cản cá nhân, (3) rào cản về thực tiễn, và (4) rào cản liên quan đến không gian của điểm đến; các rào cản này không chỉ tác động mạnh mẽ đến hành vi du lịch mà còn ảnh hưởng đến cuộc sống của phụ nữ Đồng thời, kết quả đóng góp vào nền tảng lý thuyết rào cản giải trí của Crawford (1987) khi bổ sung yếu tố rào cản mới là không gian tại điểm đến (spatial constraint) Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất nhiều khuyến nghị dành cho các công ty du lịch, đại lý du lịch, tổ chức và hiệp hội du lịch nhằm tiếp cận hiệu quả với các nữ du khách ưa thích du lịch cá nhân và giúp họ vượt qua các rào cản.

Dựa trên kết quả về bốn nhóm rào cản du lịch được xác định, nhóm tác giả Wilson và Little đã đề xuất các khái niệm cụ thể cho từng nhóm để làm rõ nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng và các biện pháp can thiệp, qua đó xây dựng khung lý thuyết và gợi ý ứng dụng thực tiễn cho nghiên cứu và quản lý du lịch.

Rào cản văn hóa – xã hội cho du lịch cá nhân là sự kết hợp của các yếu tố văn hóa và xã hội tác động đến trải nghiệm của người du lịch, đặc biệt là phụ nữ đi du lịch một mình, khi họ tương tác và hình thành các mối quan hệ xã hội quanh mình Các rào cản này chịu ảnh hưởng bởi sự kỳ vọng từ gia đình và xã hội đối với nữ du khách, đồng thời gắn với việc họ phải cân bằng vai trò và trách nhiệm đối với gia đình, công việc và học tập Bên cạnh đó, nhận thức tiêu cực từ người khác về trải nghiệm du lịch cá nhân cũng có thể làm tăng áp lực và điều chỉnh hành vi du lịch của họ Tập trung vào yếu tố văn hóa – xã hội cho thấy sự liên kết giữa mong đợi xã hội, vai trò cá nhân và kinh nghiệm du lịch của phụ nữ.

Rào cản cá nhân là một nhóm rào cản có sự liên kết chặt chẽ giữa truyền thống văn hóa và bối cảnh xã hội, tác động tới hành vi và quyết định của mỗi người Rào cản này tập trung vào các đặc điểm nội tại của cá nhân, bao gồm tính cách, trạng thái tâm lý và các yếu tố tâm lý khác, được hiểu như những yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, hành động và giao tiếp trong bối cảnh xã hội.

Đặc điểm tâm lý của người du lịch cá nhân tập trung vào sự tự nhận thức về bản thân, bao gồm kỹ năng, kiến thức và hiểu biết của chính mình, cũng như niềm tin và cảm xúc chi phối hành trình Người du lịch một mình thường có khả năng nhận diện điểm mạnh và điểm yếu của bản thân, nhận biết các kỹ năng cần bổ sung và tin vào khả năng tự lập khi đối mặt với thử thách Tuy nhiên, chuyến đi đơn lẻ cũng có thể mang lại sự lo lắng và sợ hãi trước mối nguy hiểm, cảm giác trống trải và cô đơn khi thiếu sự hiện diện của người thân hoặc nhóm đồng hành Những yếu tố này hình thành nên tâm lý đặc thù của hành trình độc hành và ảnh hưởng đến cách họ lên kế hoạch, thích nghi và tận hưởng trải nghiệm du lịch.

Rào cản về thực tiễn (Practical constraints) : loại rào cản này có sự kết hợp giữa những khó khăn từ thực tiễn và cả những thử thách mà người đi du lịch cá nhân phải đối mặt trên mỗi cuộc hành trình trải nghiệm Ví dụ: vấn đề thiếu thời gian nhàn rỗi, tài chính, thiếu thông tin/ kiến thức ở điểm đến, hay là cảm thấy căng thẳng, mỏi mệt khi du lịch cá nhân

Rào cản về không gian (Spatial constraints ): Là những rào cản làm hạn chế, ngăn cản sự tự do du lịch và việc di chuyển/đi lại của người du lịch cá nhân ở không gian và nơi chốn của điểm đến du lịch Ví dụ: sự hạn chế trong việc lựa chọn điểm đến

Hình 2.4: Mô hình kết quả nghiên cứu về tác động của các rào cản du lịch đến trải nghiệm du lịch cá nhân của phụ nữ ở Úc

Nghiên cứu của Yang và Tung, 2018 (Hồng Kông)

Nghiên cứu “How does family influence the travel constraints of solo travllers?

Trong nghiên cứu "Construct specification and scale development", gia đình được xem như một yếu tố ảnh hưởng đến rào cản du lịch của người đi du lịch cá nhân Bài viết xác định khái niệm và xây dựng các biến đo lường liên quan đến tác động của gia đình, bao gồm sự ủng hộ hay hạn chế từ gia đình, kỳ vọng xã hội, thay đổi lịch trình và chi phí liên quan Mục tiêu là phát triển một thang đo tin cậy và hợp lệ để đo lường mức độ ảnh hưởng của yếu tố gia đình lên quyết định du lịch, trải nghiệm và khả năng tham gia của người đi du lịch cá nhân Quá trình xây dựng thang đo sẽ nêu rõ các yếu tố tiềm ẩn, tiến hành kiểm tra tính nhất quán nội bộ, phân tích yếu tố khám phá và xác nhận, nhằm đảm bảo thang đo có độ tin cậy cao và khả năng dự đoán phù hợp với bối cảnh du lịch Kết quả cuối cùng là một công cụ đo lường chuẩn hóa, thuận lợi cho các nghiên cứu thực nghiệm và phân tích thị trường du lịch, giúp các nhà quản trị và marketer hiểu rõ ảnh hưởng của gia đình lên rào cản du lịch và quyết định tham gia của người đi du lịch cá nhân.

Rào cản văn hóa – xã hội Rào cản về thực tiễn

Rào cản liên quan đến không gian của điểm đến

Trải nghiệm du lịch cá nhân của người phụ nữ

Nghiên cứu của Rongca Yang và Vincent Wing Sun Tung (2018) xác định hai mục tiêu chính: xác định các loại rào cản từ gia đình ảnh hưởng đến quyết định du lịch cá nhân và phát triển một thang đo tác động của các rào cản lên hành vi du lịch cá nhân; dữ liệu được thu thập qua phỏng vấn sâu với 10 người tham gia và khảo sát trực tuyến để thu thập và phân tích dữ liệu; bài nghiên cứu áp dụng cách tiếp cận kết nối mô hình ràng buộc giải trí của Crawford & Godbey (1987) để làm rõ tác động của các rào cản đến quyết định du lịch theo quan niệm Nho giáo; kết quả cho thấy ba nhóm rào cản là nội cá nhân, giữa các cá nhân và hệ tư tưởng truyền thống, đặc biệt là ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo đối với gia đình gây ra áp lực lớn lên người du lịch cá nhân; những tư tưởng bảo thủ và định kiến giới từ xã hội và gia đình được xem là yếu tố rào cản nổi bật; từ đó, nghiên cứu đề xuất các hàm ý quản trị cho các DMOs và người làm du lịch để tập trung vào các chỉ số và khía cạnh được xác định nhằm thiết kế các chương trình quảng bá, chiến lược marketing nhằm hỗ trợ và giúp khách du lịch cá nhân giải quyết và hạn chế các rào cản du lịch.

Hình 2.5: Mô hình kết quả nghiên cứu về tác động của các rào cản du lịch của gia đình đến ý định DLCN của người Hồng Kông

Rào cản nội cá nhân

Rào cản giữa các cá nhân

Rào cản cấu trúc Ý định du lịch cá nhân Ảnh hưởng của hệ tư tưởng, truyền thống

Nho giáo đến gia đình

Nghiên cứu của Seow và Brown, 2017

Nghiên cứu “The solo female Asian tourist” do Dana Seow và Lorraine Brown (2017) thực hiện nhằm khám phá động cơ và trải nghiệm của phụ nữ du lịch một mình ở châu Á, dựa trên 10 cuộc phỏng vấn chuyên sâu với câu hỏi mở về động cơ du lịch, kinh nghiệm và rào cản du lịch của nữ du khách châu Á khi chọn du lịch cá nhân Kết quả cho thấy động cơ đi du lịch một mình là sự tự do, linh hoạt, cảm giác giải thoát và không có người đồng hành Các rào cản chính gồm nhận thức xã hội về phụ nữ là phái yếu và nỗi sợ quấy rối tình dục từ nam giới ở các điểm đến, những yếu tố này tác động mạnh đến quyết định du lịch cá nhân của họ Từ những kết quả này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp cho quản trị điểm đến và nhà cung cấp dịch vụ du lịch nhằm tăng cường an toàn cho phụ nữ du khách đi một mình và đề xuất các chiến lược tiếp thị phù hợp, hiệu quả để cung cấp dịch vụ toàn diện cho phân khúc du lịch này.

Nghiên cứu của Bianchi, 2016 (Úc)

Bài nghiên cứu "Solo Holiday Travellers: Motivators and Drivers of Satisfaction and Dissatisfaction" của tác giả Bianchi (2016) nhằm xác định động cơ du lịch và các yếu tố thúc đẩy sự hài lòng hoặc không hài lòng của người du lịch cá nhân, nhằm đi sâu vào suy nghĩ, hành vi và mối quan tâm của nhóm du khách này, đặc biệt là phụ nữ Để đạt được những hiểu biết sâu sắc, nghiên cứu áp dụng phương pháp định tính với phỏng vấn bán cấu trúc trực tiếp 24 người tham gia và kết hợp kỹ thuật sự cố quan trọng (CIT) để thu thập và phân tích dữ liệu Kết quả cho thấy hai nhóm rào cản chính ảnh hưởng đến trải nghiệm và sự hài lòng của người du lịch cá nhân: (1) chi phí cao cho các dịch vụ thiết yếu như lưu trú, ăn uống và chương trình tour, cùng với thiếu hụt các điểm vui chơi giải trí tại điểm đến; (2) vấn đề về an toàn - an ninh tại điểm đến Những rào cản này đóng vai trò là các yếu tố hạn chế lớn, có thể ảnh hưởng đến quyết định du lịch và mức độ hài lòng của du khách đi một mình.

Mô hình nghiên cứu đề xuất, giả thuyết nghiên cứu và thang đo dự kiến

2.6.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Trong mô hình nghiên cứu đề xuất, các thang đo được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết rào cản trong hoạt động giải trí do Crawford & Godbey (1987) đề xuất và lý thuyết rào cản du lịch được mở rộng bởi Wilson & Little (2004) Đồng thời, các yếu tố cấu thành thang đo được tổng hợp từ các nghiên cứu về rào cản trong du lịch ảnh hưởng đến ý định du lịch/DLCN của phụ nữ và sinh viên, tiêu biểu như Bianchi (2016), Chen và cộng sự (2013), Ling Yang (2020) và Hudson.

(2000), Xie & Ritchie (2019), Osman và cộng sự (2019) và R.Yang & Tung, (2018)

Hình ảnh điểm đến Động cơ du lịch

Lựa chọn điểm đến Rào cản du lịch

Hình 2.11 trình bày mô hình nghiên cứu về tác động của các rào cản du lịch đến ý định hành vi du lịch cá nhân của sinh viên tại Trường Đại học Tài Chính – Marketing Mô hình này phân tích cách các rào cản du lịch ảnh hưởng tới quyết định và ý định đi du lịch của sinh viên, làm rõ mối quan hệ giữa các yếu tố hạn chế và hành vi du lịch cá nhân của nhóm đối tượng này, từ đó cung cấp cơ sở cho các chiến lược quảng bá du lịch học đường và nâng cao nhận thức về du lịch giữa sinh viên.

(Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất)

2.6.2 Giả thuyết nghiên cứu và các thành phần trong mô hình

Rào cản nội tại (Intrapersonal constraints) được Crawford và cộng sự mô tả dựa trên kết quả nghiên cứu năm 1987: các yếu tố nằm trong nhóm rào cản này hình thành từ trạng thái và thuộc tính tâm lý của mỗi cá nhân, và chúng tương tác mạnh mẽ với sở thích cá nhân liên quan đến hoạt động giải trí Nói cách khác, các đặc điểm nội tại như cảm xúc, niềm tin và ưu tiên cá nhân đóng vai trò quyết định trong việc hình thành sự tham gia và lựa chọn hoạt động giải trí của mỗi người.

Trong hoạt động trải nghiệm du lịch, nhóm rào cản nội tại liên quan đến các yếu tố tâm lý của chủ thể tham gia như nỗi lo lắng về sự an toàn khi tham gia DLCN, kỹ năng du lịch hạn chế và thiếu hụt kinh nghiệm du lịch Crawford và các cộng sự (1991) cho rằng trước khi ra quyết định tham gia hoạt động giải trí và du lịch, mỗi chủ thể sẽ đối mặt với rào cản nội tại, những yếu tố này được hình thành đầu tiên và tác động mạnh nhất theo hướng tiêu cực đến tâm lý và nhận thức của người tham gia (Crawford và cộng sự, 1991; Xie & Ritchie, 2019) Nhóm rào cản này còn tạo điều kiện cho ý chí hành động hoặc các động cơ tham gia Trong nghiên cứu của Wilson & Little (2008), tác giả cho thấy trước khi thực hiện chuyến DLCN, người tham gia sẽ đối mặt sự hiện diện của nỗi lo lắng và sợ hãi có thể nhận thức được, chúng hình thành khi người đi du lịch nhận thức sự hạn chế về khả năng cũng như các kỹ năng du lịch cá nhân và sự thiếu hụt kinh nghiệm du lịch Các kết luận trên được Xie & Ritchie (2019) ủng hộ khi khẳng định tác động của nhóm rào cản nội tại đến ý định du lịch có mối quan hệ nghịch chiều.

Rào cản cấu trúc Ý định hành vi du lịch cá nhân của sinh viên

Rào cản giữa các cá nhân Rào cản nội cá nhân

48 trở ngại lớn nhất mà sinh viên phải đối mặt đầu tiên cho thấy mức độ phức tạp của quá trình học tập và chuyển đổi Từ những lập luận đã trình bày ở trên, giả thuyết đầu tiên mà nhóm tác giả đề xuất là một nhận định nhằm giải thích tại sao những thách thức này xuất hiện ngay từ những bước đầu, làm cơ sở cho các phân tích tiếp theo và định hướng các biện pháp hỗ trợ cho người học.

H1: Rào cản nội cá nhân tương quan âm với ý định hành vi du lịch cá nhân của sinh viên

Rào cản giữa các cá nhân (interpersonal constraints) theo Crawford & Godbey (1987) được coi là kết quả của sự tương tác giữa người đi du lịch và các mối quan hệ xung quanh, sau này được Wilson & Little (2008) phát triển thành rào cản văn hóa – xã hội (sociocultural constraints) hình thành từ niềm tin, nhận thức và đánh giá của các chủ thể tham gia du lịch thông qua sự trao đổi với gia đình, bạn bè và đồng nghiệp; đặt nhóm rào cản này vào mối tương quan với hoạt động DLCN, những người có ý định trải nghiệm du lịch hình thức mới sẽ không tránh khỏi sự can thiệp, không ủng hộ và sự phản đối từ các thành viên trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, đồng thời phải đối mặt với những nhìn nhận tiêu cực từ xã hội đối với hình thức du lịch cá nhân, trong đó phụ nữ thường chịu sức ép nặng nề từ nhóm rào cản văn hóa – xã hội Osman và cộng sự (2019) khẳng định rào cản về khuôn mẫu, định kiến đối với người du lịch cá nhân (the stigma of solo traveller) có mối quan hệ nghịch chiều với ý định/trải nghiệm DLCN, khiến nữ sinh viên và các nữ du khách gặp quan điểm không ủng hộ từ gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, gây cản trở đáng kể đến quyết định du lịch cá nhân; thêm vào đó, dưới ảnh hưởng của văn hóa/hệ tư tưởng truyền thống và bảo thủ, gia đình đến xã hội hình thành kỳ vọng, tư tưởng rập khuôn và định kiến tiêu cực dẫn tới thái độ không ủng hộ người DLCN, đặc biệt khi phụ nữ bị cho là nên ở trong lớp vỏ an toàn thay vì liều lĩnh du lịch đến những nơi đầy mối nguy hiểm.

Osman và cộng sự, 2019) Từ những kết luận trên, nhóm tác giả đề xuất giả thuyết nghiên cứu là:

H2: Rào cản giữa các cá nhân tương quan âm với ý định hành vi du lịch cá nhân của sinh viên

Rào cản cấu trúc (Structural constraints) là tập hợp những yếu tố can thiệp giữa sở thích và sự tham gia của mỗi cá nhân, được hình thành từ các điều kiện môi trường bên ngoài Nhóm rào cản này bao gồm sự thiếu hụt nguồn tài chính, ảnh hưởng của mùa vụ và khí hậu tại điểm đến, không có nhiều thời gian rảnh, và khả năng tiếp cận điểm đến bị hạn chế do thiếu phương tiện vận chuyển hoặc khoảng cách giữa nơi khởi hành và điểm đến quá xa; những yếu tố này làm cho mục tiêu tham gia trở nên khó thực hiện và cho thấy mối liên hệ giữa hoàn cảnh bên ngoài với quyết định của cá nhân (Crawford & Godbey).

Khi thực hiện chuyến DLCN tại điểm đến, người đi du lịch sẽ đối mặt với một số khó khăn liên quan đến sự khác biệt văn hóa, bất đồng ngôn ngữ, sự hiểu biết về vùng địa lý bị hạn chế và thiếu kiến thức về phong tục, tập quán (Wilson & Little, 2008) Các nghiên cứu liên quan cũng ủng hộ kết quả này, cho thấy nhóm rào cản cấu trúc có mối quan hệ nghịch với ý định du lịch của giới trẻ và sinh viên (Gardiner và cộng sự, 2013; Hughes và cộng sự).

2015) Vì vậy, nhóm tác giả đề xuất giả thuyết nghiên cứu sau:

H3: Rào cản cấu trúc tương quan âm với ý định hành vi du lịch cá nhân của sinh viên

Trong chương 2, nhóm tác giả trình bày các nội dung cốt lõi gồm: (1) các định nghĩa cơ bản về “Du lịch” và các loại hình du lịch phổ biến theo Luật Du lịch Việt Nam – 2017 và chuẩn mực của UNWTO; (2) các khía cạnh xoay quanh hình thức du lịch cá nhân (solo travel), gồm khái niệm từ nhiều góc nhìn, quan niệm của các học giả trên thế giới, xu hướng bùng nổ DLCN ở thế giới và tại Việt Nam, động cơ thúc đẩy người dùng lựa chọn DLCN và sự so sánh giữa đặc điểm của du lịch truyền thống và DLCN; (3) phân tích sâu nền tảng lý thuyết về rào cản trong hoạt động giải trí và du lịch được Crawford & Godbey (1987) đề xuất; (4) trên cơ sở tham khảo các bài nghiên cứu trong và ngoài nước và vận dụng thuyết rào cản du lịch, nhóm đề xuất một mô hình và ba giả thuyết nghiên cứu về tác động của các yếu tố rào cản du lịch đến ý định DLCN của sinh viên đại học trên địa bàn TP.HCM; và từ mô hình nghiên cứu đề xuất, nhóm thiết kế phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa nghiên cứu định tính và định lượng nhằm thu thập và phân tích dữ liệu cho chương 3.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 07/10/2021, 17:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
(1) Bianchi. (2016). Solo Holiday Travellers: Motivators and Drivers of Satisfaction and Dissatisfaction. Tourism, 113(November 2015), 101–113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tourism, 113
Tác giả: Bianchi
Năm: 2016
(2) Chen, H. J., Chen, P. J., & Okumus, F. (2013). The relationship between travel constraints and destination image: A case study of Brunei. Tourism Management, 35, 198–208 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tourism Management, 35
Tác giả: Chen, H. J., Chen, P. J., & Okumus, F
Năm: 2013
(3) Crawford, D. W., & Godbey, G. (1987). Reconceptualizing barriers to family leisure. Leisure Sciences, 9(2), 119–127 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leisure Sciences, 9
Tác giả: Crawford, D. W., & Godbey, G
Năm: 1987
(4) Crawford, D. W., Jackson, E. L., & Godbey, G. (1991). A hierarchical model of leisure constraints. Leisure Sciences, 13(4), 309–320 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leisure Sciences, 13
Tác giả: Crawford, D. W., Jackson, E. L., & Godbey, G
Năm: 1991
(6) Francken, D. A., & van Raaij, W. F. (1981). Satisfaction with Leisure Time Activities. Journal of Leisure Research, 13(4), 337–352 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Leisure Research, 13
Tác giả: Francken, D. A., & van Raaij, W. F
Năm: 1981
(7) Gardiner, S., King, B., & Wilkins, H. (2013). The travel behaviours of international students: Nationality-based constraints and opportunities. Journal of Vacation Marketing, 19(4), 287–299 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Vacation Marketing, 19
Tác giả: Gardiner, S., King, B., & Wilkins, H
Năm: 2013
(8) Goodwin, C., & Lockshin, L. (1992). The solo consumer: Unique opportunity for the service marketer. Journal of Services Marketing, 6(3), 27–36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Services Marketing, 6
Tác giả: Goodwin, C., & Lockshin, L
Năm: 1992
(9) Heimtun, B., & Abelsen, B. (2014). Singles and solo travel: Gender and type of holiday. Tourism, Culture and Communication, 13(3), 161–174 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tourism, Culture and Communication, 13
Tác giả: Heimtun, B., & Abelsen, B
Năm: 2014
(10) Hughes, K., Wang, J., & Shu, M. (2015). Exploring the travel patterns, preferences and recommendations of Chinese university students living in Australia.Journal of Hospitality and Tourism Management, 23, 12–22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Hospitality and Tourism Management, 23
Tác giả: Hughes, K., Wang, J., & Shu, M
Năm: 2015
(11) Jackson, E. L. (1988). Leisure constraints: A survey of past research. Leisure Sciences, 10(3), 203–215 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leisure Sciences, 10
Tác giả: Jackson, E. L
Năm: 1988
(12) Karl, M., Bauer, A., Ritchie, W. B., & Passauer, M. (2020). The impact of travel constraints on travel decision-making: A comparative approach of travel frequencies and intended travel participation. Journal of Destination Marketing and Management, 18(September), 100471 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Destination Marketing and Management, 18
Tác giả: Karl, M., Bauer, A., Ritchie, W. B., & Passauer, M
Năm: 2020
(14) Khan, Mohammad Jamal, Chelliah, S., Khan, F., & Amin, S. (2019). Perceived risks, travel constraints and visit intention of young women travelers: the moderating role of travel motivation. Tourism Review, 74(3), 721–738 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tourism Review, 74
Tác giả: Khan, Mohammad Jamal, Chelliah, S., Khan, F., & Amin, S
Năm: 2019
(15) Laesser, C., Beritelli, P., & Bieger, T. (2009). Solo travel: Explorative insights from a mature market (Switzerland). Journal of Vacation Marketing, 15(3), 217– Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Vacation Marketing, 15
Tác giả: Laesser, C., Beritelli, P., & Bieger, T
Năm: 2009
(19) Mehmetoglu, M., Dann, G. M. S., & Larsen, S. (2001). Solitary travellers in the norwegian lofoten islands: Why do people travel on their own? Scandinavian Journal of Hospitality and Tourism, 1(1), 19–37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scandinavian Journal of Hospitality and Tourism, 1
Tác giả: Mehmetoglu, M., Dann, G. M. S., & Larsen, S
Năm: 2001
(20) Osman, H., Brown, L., & Phung, T. M. T. (2019). The travel motivations and experiences of female Vietnamese solo travellers. Tourist Studies, 20(2), 248–267 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tourist Studies, 20
Tác giả: Osman, H., Brown, L., & Phung, T. M. T
Năm: 2019
(22) Richards, G. (2006). Youth and adventure tourism. Tourism Business Frontiers, December 2006, 40–47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tourism Business Frontiers, December 2006
Tác giả: Richards, G
Năm: 2006
(23) Richards, G., & Wilson, J. (2003). New horizons in independent youth and student travel. In A report to the international student travel … (Issue September 2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: A report to the international student travel …
Tác giả: Richards, G., & Wilson, J
Năm: 2003
(24) Seow, D., & Brown, L. (2018). The solo female Asian tourist. Current Issues in Tourism, 21(10), 1187–1206 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Current Issues in Tourism, 21
Tác giả: Seow, D., & Brown, L
Năm: 2018
(25) Sửnmez, S. F., & Graefe, A. R. (1998). Influence of terrorism risk on foreign tourism decisions. Annals of Tourism Research, 25(1), 112–144 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Annals of Tourism Research, 25
Tác giả: Sửnmez, S. F., & Graefe, A. R
Năm: 1998
(4) Booking.com. (2019, July 9). From ambitious bucket lists to going it alone, Gen Z travellers can’t wait to experience the world.https://news.booking.com/from-ambitious-bucket-lists-to-going-it-alone-gen-z-travellers-cant-wait-to-experience- the-world/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w