1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế giữa các thương nhân bằng phương pháp trọng tài và thực tiễn ở việt nam

68 568 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế giữa các thương nhân bằng phương pháp trọng tài và thực tiễn ở Việt Nam
Tác giả Lý Thị Tiến
Người hướng dẫn PGS. TS. Hoàng Ngọc Thiết
Trường học Đại học Ngoại thương
Chuyên ngành Luật thương mại
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 230 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, đâycũng là thuận lợi cho các bên cha có nhiều kinh nghiệm trong thơng mại quốc tế bởi vì các bên tranh chấp không cần phải qui định quá chi tiết về qui tắc,thủ tục tố tụng mà

Trang 1

Lời nói đầu

Phơng pháp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thơng mại đã và đang pháttriển và phổ biến ở tất cả các nớc trên thế giới theo nền kinh tế thị trờng và xuhớng sử dụng các biện pháp ngoài toà án (ADR) đã mang tính toàn cầu ViệtNam cũng không nằm ngoài xu hớng đó

Trong làm ăn kinh tế, tranh chấp là điều tất yếu không thể tránh khỏi nhất

là trong thơng mại quốc tế do các bên có sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hoá,tập tục, trình độ, quyền và lợi ích ngoài ra cha kể đến các gian lận trong quan

hệ hợp tác Để giải quyết các tranh chấp này là điều không phải đơn giản việcgiải quyết có thể bằng con đờng thơng lợng, hoà giải, toà án hay trọng tài nh-

ng việc giải quyết thông qua trọng tài vẫn đợc dùng nhiều hơn cả do những u

điểm của phơng pháp này là giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng, triệt

để và bí mật

Trọng tài Việt nam tuy đã ra đời từ rất lâu song hoạt động cha có hiệu quả

do cơ chế pháp luật về trọng tài còn nhiều bất cập và một phần do các thơngnhân cha hiểu rõ về cách giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Mới đây, Quốchội Việt Nam đã ban hành pháp lệnh trọng tài thơng mại nhằm khắc phụcnhững thiếu sót về luật từ trớc tới nay, tạo điều kiện cho trọng tài thơng mại ởnớc ta phát triển Trong điều kiện đó, tôi chọn “Giải quyết tranh chấp trong th-

ơng mại quốc tế giữa các thơng nhân bằng phơng pháp trọng tài và thực tiễn ởViệt Nam” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình với mong muốn giúp chocác thơng nhân Việt Nam hiểu rõ hơn về trọng tài thơng mại và việc phát triểntrọng tài thơng mại ở Việt Nam

Tôi vô cùng biết ơn gia đình tôi đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôitrong quá trình học tập cũng nh trong thời gian làm khoá luận Tôi xin cám ơncác thầy cô giáo trờng Đại học Ngoại thơng đã dạy dỗ tôi và đặc biêt tôi xincám ơn PGS TS Hoàng Ngọc Thiết đã hớng dẫn tôi làm khoá luận này

Chơng i: lý luận chung về trọng tài

1.1 Trọng tài và thẩm quyền xét xử của trọng tài

1.1.2 Khái niệm trọng tài

Trọng tài thơng mại đợc hiểu ngắn gọn là trọng tài giải quyết các tranhchấp phát sinh trong lĩnh vực thơng mại Để hiểu đợc rõ hơn khái niệm “trọng

Trang 2

tài thơng mại” chúng ta tìm hiểu khái niệm “thơng mại” là gì ở các nớc kinh

tế thị trờng phát triển ở mức cao ngời ta thờng sử dụng khái niệm thơng mại vàquy định phạm vi của nó khá rõ ràng trong các văn bản pháp luật với phạm virộng Các quan hệ thơng mại đợc phân biệt với các quan hệ dân sự ở mục đích

sử dụng của nó: các quan hệ thơng mại là các quan hệ nhằm mục đích thu lợinhuận còn các quan hệ dân sự là các quan hệ chỉ nhằm mục đích thoả mãnnhu cầu cá nhân Ví dụ nếu nh ngời mua khiếu nại ngời bán thì đợc coi làquan hệ thơng mại, nhng nếu ngời tiêu dùng khiếu nại ngời bán thì lại đợc coi

là quan hệ dân sự

Luật Thơng mại Việt Nam quy định rõ trong điều 5 rằng “hoạt động thơngmại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi của thơng nhân, bao gồm việcmua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thơng mại và các hoạt động xúc tiến th-

ơng mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tếxã hội Dịch vụ thơng mại gồm những dịch vụ gắn liền với việc mua bán hànghoá Xúc tiến thơng mại là hoạt động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội muabán hàng hoá và cung ứng dịch vụ thơng mại” Nh vậy là Luật thơng mại quy

định khái niệm “thơng mại” theo nghĩa hẹp, tức là chỉ các hoạt động mua bánhàng hoá và những hoạt động gắn với việc mua bán hàng hoá

Trong phần chú thích của Điều 1 Luật mẫu UNCITRAL, ngời ta cho rằng

“khái niệm thơng mại cần phải đợc hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các vấn đềphát sinh từ tất cả các quan hệ có bản chất thơng mại, dù có hợp đồng haykhông Quan hệ có bản chất thơng mại bao hàm nhng không chỉ giới hạn vớicác giao dịch sau đây: bất kì giao dịch buôn bán nào nhằm cung cấp hoặc trao

đổi hàng hoá hay dịch vụ, hợp đồng phân phối; đại diện thơng mại hay đại lý,các công việc sản xuất, thuê máy móc thiết bị, xây dựng, t vấn thiết kế cơ khí,li-xăng đầu t, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, các hợp đồng khai thác hoặcchuyển nhợng, liên doanh và các hình thức khác của hợp tác công nghiệp hoặckinh doanh, vận tải hàng hoá hoặc hành khách bằng đờng không, đờng biển,

đờng sắt hoặc đờng bộ” Nh vậy, chúng ta có thể thấy rằng Luật mẫuUNCTRAL đã đa ra gợi ý về một phạm vi khái niệm thơng mại rất rộng so vớikhái niệm thơng mại của Việt Nam

Trong Pháp lệnh trọng tài thơng mại của Việt Nam mới đợc ban hànhngày 25/2/2003 vừa qua chúng ta đã có một sự đổi mới trong cách hiểu vềkhái niệm thơng mại Khoản 3 điều 2 của Pháp lệnh này quy định: “Hoạt động

Trang 3

thơng mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thơng mại của cá nhân, tổchức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hoá; cung ứng dịch vụ; phân phối;

đại diện; đại lý thơng mại; ký gửi; thuê; cho thuê; thuê mua; xây dựng; t vấn;

kỹ thuật; li-xăng; đầu t; tài chính; ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác;vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đờng không, đờng biểm, đờng bộ vàcác hành vi thơng mại khác theo quy định của pháp luật” Nh vậy ta có thểthấy Pháp lệnh trọng tài thơng mại đã mở rộng khái niệm thơng mại ra rấtnhiều và khái niệm này gần giống với Luật mẫu UNCITRAL

Từ đó, rút ra khái niệm trọng tài thơng mại là quá trình giải quyết tranhchấp phát sinh trong lĩnh vực thơng mại do các bên tự nguyện lựa chọn trong

đó bên thứ ba trung lập (trọng tài) sau khi nghe các bên trình bày sẽ đa ra mộtquyết định (phán quyết trọng tài) có tính chất bắt buộc đối với các bên tranhchấp

1.1.2 Các loại trọng tài

Trong những năm gần đây, số lợng những vụ tranh chấp trong thơng mạiquốc tế đợc giải quyết bằng trọng tài ngày càng tăng Các tổ chức trọng tàiphi chính phủ đã phát triển mạnh mẽ cha từng thấy ở khắp các nơi trên thếgiới, đặc biệt là ở khu vực Châu á- Thái Bình Dơng, nơi đợc coi là khu vựcphát triển kinh tế năng động nhất trên thế giới ở các quốc gia khác nhau,trọng tài thơng mại phi chính phủ có những tính chất, đặc điểm khác biệt, phùhợp với trình độ và đặc điểm phát triển kinh tế –xã hội của mỗi nớc Tuy vậy,nhìn chung, chúng ta có thể chia trọng tài kinh tế phi chính phủ ra làm hai loạichính dựa trên phơng pháp tiến hành tố tụng:

A/ Trọng tài đặc biệt hay trọng tài vụ việc (Ad-hoc arbitration)

Trọng tài đặc biệt là loại hình trọng tài mà do các bên tự thành lập để giảiquyết vấn đề họ yêu cầu, sau khi giải quyết xong vụ tranh chấp thì giải tán

Nh vậy, trọng tài đặc biệt hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự do thoả thuận của cácbên tranh chấp Các bên tranh chấp có toàn quyền lựa chọn bất kỳ một ngờinào làm trọng tài viên để giải quyết tranh chấp của mình Ngời này chỉ cần đ-

ợc các bên nhất trí chứ không bị giới hạn bởi bất kỳ một điều kiện nào nhngnếu các bên thống nhất lựa chọn một ngời không đủ khả năng thì chính họ làngời sẽ phải gánh chịu hậu quả do sự đề cử của mình đem lại Do đó, trọng tài

Trang 4

viên thờng là ngời có uy tín, kinh nghiệm, tinh thông nghiệp vụ trong lĩnh vựcthơng mại quốc tế và công minh trong xét xử Ngoài ra, các bên tranh chấpcòn có toàn quyền trong việc thoả thuận để tự thiết lập những thủ tục, nguyêntắc tố tụng riêng sao cho phù hợp với tranh chấp của mình chứ không nhấtthiết phải tuân theo bất kỳ một nguyên tắc sẵn có nào Nhng họ cũng có thểthoả thuận chấp nhận một hệ thống quy định mẫu về trọng tài, điển hình nhBản quy tắc trọng tài của UNCITRAL thông qua ngày 28/4/1976 hay Luậtmẫu UNCITRAL thông qua ngày 21/6/1985 Nh vậy, tổ chức và tố tụng củatrọng tài đặc biệt khá đơn giản, có thể tiết kiệm đợc thời gian và chi phí củacác bên liên quan Tuy nhiên trên thực tế, hình thức trọng tài đặc biệt chỉ thíchhợp với những tranh chấp có giá trị nhỏ, hoặc giữa các bên đơng sự am hiểupháp luật, dày dạn trên thơng trờng và có nhiều kinh nghiệm trong giải quyếttranh chấp.

ở Việt Nam, trớc đây cha có qui định cụ thể về hình thức trọng tài đặc biệtnày Tuy nhiên, Pháp lệnh trọng tài thơng mại có hiệu lực từ ngày 01/7/2003

đã đa ra qui định về loại hình trọng tài này tại điều 26, chính thức công nhậnloại hình trọng tài này và đồng thời cũng đã đa ra đợc giải pháp đối với hạnchế nêu trên của trọng tài Ad-hoc

 Trọng tài thờng trực hay trọng tài qui chế (Institutional Arbiration)

Trọng tài thờng trực là trọng tài đợc thành lập ra và hoạt động thờng xuyêntheo một quy chế nhất định, có cơ quan thờng trực (trung tâm trọng tài) đốivới trọng tài thờng trực, khi lựa chọn trọng tài viên, các bên thờng chỉ đợc lựachọn trong một danh sách trọng tài viên của trung tâm trọng tài, hoặc ít nhấttrọng tài viên cũng phải đáp ứng đợc một số điều kiện tối thiểu do trung tâmtrọng tài đặt ra Khi xét xử, trọng tài thờng trực phải tuân theo qui tắc tố tụng

đã định trớc của trung tâm Nh vậy, đối với hình thức trọng tài thờng trực,quyền tự do của các bên bị hạn chế một phần nên có thể coi trọng tài thờngtrực là hình thức trung gian giữa trọng tài đặc biệt và toà án Tuy nhiên, đâycũng là thuận lợi cho các bên cha có nhiều kinh nghiệm trong thơng mại quốc

tế bởi vì các bên tranh chấp không cần phải qui định quá chi tiết về qui tắc,thủ tục tố tụng mà chỉ cần qui định trung tâm trọng tài nào sẽ giải quyết tranhchấp giữa các bên và chấp nhận qui tắc tố tụng của trung tâm trọng tài đó

Trang 5

Hình thức trọng tài thờng trực có rất nhiều u điểm, với một điều lệ và quytắc tố tụng độc lập, tơng đối ổn định, với thực tiễn và kinh nghiệm phong phú

đợc tích luỹ qua quá trình giải quyết các vụ việc tranh chấp, với một đội ngũnhững trọng tài viên là những chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau (th-

ơng mại quốc tế, hàng hải quốc tế, thanh toán quốc tế, luật quốc tế ) khiếncho quá trình tố tụng diễn ra một cách nhanh chóng và hiệu quả Do đó, các tổchức trọng tài phi chính phủ thờng trực đã đợc thành lập ở rất nhiều nớc trênthế giới Có những nớc nh Trung quốc, Thái Lan trọng tài thờng trực đợc tổchức dới hình thức các trung tâm trọng tài bên cạnh phòng thơng mại và côngnghiệp, nhng cũng có những nớc trọng tài thờng trực đợc tổ chức dới dạngcông ty hoặc hiệp hội trọng tài nh ở Nhật, Mỹ, Anh,

ở Việt Nam, Trung tâm trọng tài quốc tế bên cạnh phòng thơng mại vàcông nghiệp Việt Nam đợc thành lập theo quyết định số 204/TTG của Thủ t-ớng Chính phủ ngày 28/4/1993, trên cơ sở hợp nhất Hội đồng trọng tài hànghải và Hội đồng trọng tài ngoại thơng Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam

có nhiệm vụ xét xử các tranh chấp phát sinh từ quan hệ kinh tế quốc tế và từngày 15/4/1996, Trung tâm đợc phép mở rộng thẩm quyền xét xử sang cácquan hệ kinh tế phát sinh trong nớc Trung tâm hoạt động theo điều lệ riêng,xét xử theo quy tắc tố tụng riêng và là tổ chức trọng tài thơng mại có uy tínnhất hiện nay ở Việt Nam

Ngoài ra, còn có các trung tâm trọng tài kinh tế đợc thành lập theo NĐ 116tuy nhiên các trung tâm này hoạt động kém hiệu quả và ít đợc biết đến

1.1.3 Thẩm quyền xét xử của trọng tài

ở các nớc trọng tài đợc lập ra để xét xử các tranh chấp phát sinh trong

th-ơng mại và nhiều lĩnh vực khác Nhng đối với một tranh chấp cụ thể thì trọngtài không có thẩm quyền đơng nhiên Trọng tài chỉ có thẩm quyền xét xử khicác bên giao tranh chấp trong thơng mại cho trọng tài giải quyết chứ trọng tàikhông thể tự mình đem tranh chấp ra xét xử (trừ trờng hợp Trọng tài kinh tếNhà nớc ở Việt Nam nhng hiện nay đã chấm dứt hoạt động) Trong hoạt độngngoại thơng, thẩm quyền xét xử của trọng tài đối với các tranh chấp cụ thể cóthể đợc quy định trong hợp đồng, trong một văn bản thoả thuận riêng về trọngtài giữa các bên, hoặc trong điều ớc quốc tế có liên quan

Trang 6

*/ Theo thoả thuận trọng tài

Thoả thuận trọng tài (còn đợc gọi là hiệp nghị trọng tài) là thoả thuận giữacác bên cam kết đa ra trọng tài để giải quyết tất cả hoặc một số loại tranh chấpphát sinh giữa họ với nhau về một quan hệ pháp luật nhất định, theo hợp đồnghoặc ngoài hợp đồng Thoả thuận trọng tài có thể dới dạng một điều khoảntrọng tài trong hợp đồng hoặc một văn bản thoả thuận riêng (điều 7.1 Luậtmẫu UNCITRAL)

Trong khi đàm phán, ký kết hợp đồng, các bên có thể thoả thuận điềukhoản về trọng tài, trong đó qui định trọng tài nào có quyền giải quyết tranhchấp có thể phát sinh sau này Điều khoản trọng tài này trở thành một phầncủa hợp đồng Khi đó, điều khoản trọng tài trong hợp đồng đợc coi là mộthình thức của thoả thuận trọng tài Tất nhiên, vào lúc này cha thể xác định đợctranh chấp có xảy ra hay không và xảy ra tranh chấp gì Vì vậy, điều khoảntrọng tài thờng mang tính tổng quan, không đi vào chi tiết, tuy nhiên sẽ rấtthuận lợi nếu các bên thống nhất về việc chọn cơ quan trọng tài nào, ở đâu cóthẩm quyền giải quyết tranh chấp cũng nh thống nhất về thể thức chỉ địnhtrọng tài viên

Trong bản quy tắc trọng tài UNCITRAL 1976, điều 21 quy định nh sau:

“1 Uỷ ban trọng tài sẽ có quyền quyết định về việc phản đối uỷ ban trọngtài không có thẩm quyền giải quyết, kể cả bất cứ sự phản đối về việc tồn tạihoặc giá trị pháp lý của điều khoản trọng tài hoặc thoả thuận trọng tài riêng

2 Uỷ ban trọng tài sẽ có quyền quyết định về sự tồn tại hoặc giá trị pháp

lý của hợp đồng mà trong đó điều khoản trọng tài hợp thành nh là một phầncủa nó Vì mục đích của điều 21 này, một điều khoản trọng tài sẽ đợc xem nh

là một thoả thuận độc lập với các điều khoản khác của hợp đồng Một quyết

định bởi uỷ ban trọng tài cho rằng hợp đồng vô hiệu và không có giá trị sẽkhông kéo theo làm mất hiệu lực pháp lý của điều khoản trọng tài”

Nh vậy, điều khoản trọng tài trong hợp đồng là độc lập tơng đối so với hợp

đồng vì nó đợc coi nh một dạng của thoả thuận trọng tài Có nghĩa là khi hợp

đồng vô hiệu thì điều khoản trọng tài vẫn có hiệu lực trừ phi ngời ký kết hợp

đồng không đủ năng lực hành vi

Trang 7

Nếu trong hợp đồng không có điều khoản trọng tài, thì trong quá trình thựchiện hợp đồng, thờng là khi tranh chấp đã xảy ra nhng cũng có thể là khi tranhchấp cha xảy ra, các bên cũng có thể ký một văn bản thoả thuận giao tranhchấp cho một tổ chức trọng tài nào đó giải quyết; thoả thuận này, cũng có thể

đợc ghi nhận qua việc trao đổi th từ hoặc điện tín ( sau đây gọi chung là vănbản trọng tài) Văn bản trọng tài cũng đợc coi là một hình thức của thoả thuậntrọng tài Trong trờng hợp này văn bản trọng tài thờng chính xác, chi tiết hơn

so với điều khoản trọng tài vì các bên giao kết nắm đợc đầy đủ nguyên nhânxảy ra tranh chấp Nhng đây cũng là lý do mà văn bản trọng tài ít đợc xác lậptrên thực tế, do vụ tranh chấp đã làm đối lập quyền lợi của các bên, làm hạnchế đáng kể thoả thuận giữa họ

Thoả thuận trọng tài là cơ sở để khẳng định thẩm quyền của trọng tài đốivới tranh chấp trong thơng mại quốc tế Trọng tài chỉ có thẩm quyền khi thoảthuận trọng tài có hiệu lực Vậy thì khi nào thoả thuận trọng tài có hiệu lực?Thoả thuận trọng tài có hiệu lực khi nội dung và hình thức của nó phù hợp vớiluật pháp Về nội dung thì một thoả thuận trọng tài phải hàm chứa các nộidung sau

 Cơ quan giải quyết tranh chấp

 Quy tắc tố tụng trọng tài đớc áp dụng

 Trọng tài viên đợc chỉ định để giải quyết tranh chấp

 địa điểm giải quyết tranh chấp

Hầu hết luật pháp các nớc đều quy định thoả thuận trọng tài phải đợc lậpbằng văn bản, tuy nhiên có những nớc qui định thoả thuận trọng tài có thể lậpbằng miệng Công ớc New york 1958, công ớc Châu Âu 1961 đều qui địnhrằng: thoả thuận trọng tài phải đợc lập thành văn bản tuy nhiên lại có cách giảithích khác nhau về hình thức văn bản của thoả thuận trọng tài Công ớc Newyork 1958 khẳng định: “một thoả thuận trọng tài bằng văn bản đợc hiểu là

điều khoản trọng tài trong một hợp đồng bằng văn bản thoả thuận trọng tài

đ-ợc các bên ký kết bằng văn bản độc lập với hợp đồng hoặc đđ-ợc ghi nhận trongviệc trao đổi th từ hoặc điện tín” Công ớc Châu Âu 1961 mở rộng qui địnhhình thức văn bản của thoả thuận trọng tài còn bao gồm cả thoả thuận trọngtài hàm chứa trong Telex Trong Pháp lệnh trọng tài thơng mại Việt Nam 2003qui định thoả thuận trọng tài phải đợc làm băng văn bản, bao gồm cả những

Trang 8

hình thức nh th từ, tài liệu trao đổi giữa các bên Những qui định không giốngnhau này làm phát sinh khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp khi có sựxung đột pháp luật về hình thức của thoả thuận trọng tài.

Thoả thuận trọng tài sẽ là vô hiệu khi trái với qui định của pháp luật về nộidung và hình thức của thoả thuận Ngoài ra thoả thuận sẽ không có hiệu lựckhi ngời kí kết thoả thuận không có đủ năng lực hành vi theo qui định của luậtpháp

*/Theo điều ớc quốc tế

Việc giao tranh chấp cho trọng tài thơng mại xét xử cũng có thể đợc quy

định trong các điều ớc quốc tế Trớc đây, trong Điều kiện chung giao hànggiữa các nớc thành viên khối SEV qui định trọng tài của bên bị kiện có thẩmquyền xét xử tranh chấp giữa các bên mua bán hàng hoá Hiện nay, bản Điềukiện chung giao hàng này không còn hiệu lực nữa Trong các điều ớc quốc tếhai bên hay nhiều bên đang có hiệu lực không có qui định về thẩm quyền củatrọng tài Từ đó rút ra thẩm quyền của trọng tài hiện nay chỉ do các bên đơng

sự lập ra

Ngoài việc chấp nhận xét xử tranh chấp ra, trọng tài còn có thể từ chốikhông xét xử tranh chấp mặc dù hai bên tranh chấp có thoả thuận đa tranhchấp ra xét xử tài cơ quan trọng tài Đây có thể là những tròng hợp trọng tàixét thấy rằng tranh chấp đó không thuộc thẩm quyền của mình hoặc thoảthuận trọng tài vô hiệu do qui định pháp luật của một trong hai bên tranh chấp

mà họ không biết

1.2 Thủ tục tố tụng trọng tài

1.2.1 Thủ tục tố tụng trọng tài

Thủ tục tố tụng trọng tài thơng mại quốc tế đợc tiến hành theo đúng quytắc tố tụng của tổ chức trọng tài hoặc quy tắc tố tụng mà hai bên đã thống nhấtlựa chọn Mỗi trung tâm trọng tài thơng mại quốc tế ở một nớc đều xây dựngcho mình một bản qui tắc tố tụng phù hợp với đặc điểm luật pháp về trọng tàicủa nớc đó Tuy nhiên, để tăng sự hấp dẫn của các trung tâm trọng tài quốc tế

và để thuận tiện cho việc xét xử và công nhận phán quyết trọng tài, hầu hếtquy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài quốc tế đều có xu thế xích lại gần

Trang 9

với quy tắc của trọng tài ICC và quy tắc của Luật mẫu UNCITRAL Quá trình

tố tụng tại trọng tài quốc tế thờng bao gồm các bớc nh: đơn kiện, chọn và chỉ

định trọng tài viên, công tác điều tra trớc khi xét xử, phiên họp xét xử, kếtthúc xét xử

Theo một cách thông thờng nhất, tố tụng trọng tài sẽ bắt đầu khi đơn kiệncủa nguyên đơn đợc gửi tới trung tâm trọng tài Trung tâm trọng tài xem xét

đơn yêu cầu và bản tờng trình nội dung tranh chấp, nếu thấy tranh chấp là đốitợng của thoả thuận trọng tài và thoả thuận trọng tài giữa các bên là có giá trịhiệu lực pháp lý thì quá trình tố tụng sẽ bắt đầu và tiếp tục với việc hình thànhmột hội đồng trọng tài (hay còn gọi là uỷ ban trọng tài)

Hội đồng trọng tài đợc chọn và thành lập theo đúng thoả thuận của cácbên Trong việc hình thành hội đồng trọng tài thì việc quan trọng nhất là việcchọn và chỉ định trọng tài viên

Thời gian chọn lựa và chỉ định trọng tài viên có thể do các bên thoả thuận.Thời gian này phải hợp lý, đảm bảo cho các bên lựa chọn đợc trọng tài phùhợp đồng thời vẫn đảm bảo cho quá trình giải quyết tranh chấp diễn ra nhanhchóng Nếu các bên không thoả thuận về vấn đề này thì sẽ căn cứ theo qui tắc

tố tụng hoặc luật trọng tài có liên quan Ví dụ theo Luật mẫu UNCITRAL, cácbên trong vòng 30 ngày không chỉ định trọng tài sẽ mất quyền chỉ định trọngtài và khi đó tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác sẽ thay mặt các bên chỉ

định trọng tài viên Theo quy tắc của Hiệp hội trọng tài Hoa kỳ thì thời giannày là 10 ngày, theo quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài quốc tế Việt Namthì thời hạn này là từ 30 ngày đến 2 tháng

Pháp luật trọng tài của các nớc khác nhau cũng quy định cách thức lựachọn trọng tài viên khác nhau Thông thờng nếu tranh chấp đợc giải quyếtbằng Hội đồng trọng tài gồm ba trọng tài viên thì mỗi bên (nguyên đơn, bị

đơn) chọn một trọng tài viên Hai trọng tài đợc chọn sẽ bầu một trọng tài viênthứ ba có tên trong danh sách trọng tài của trung tâm làm Chủ tịch Hội đồngtrọng tài Nếu tranh chấp đợc giải quyết bằng một trọng tài viên duy nhất thìcác bên tự thơng lợng chọn ra Đây là phơng thức chọn lựa phổ biến nhất theothông lệ quốc tế, ngoài ra mỗi nớc có thể có các cách qui định khác Ví dụ tại

Mỹ, ngoài phơng pháp truyền thống là việc chọn lựa trọng tài viên do các bênthực hiện, ngày nay có một phơng pháp mới đợc áp dụng rất phổ biến là: cơ

Trang 10

quan hành chính nhà nớc sẽ đứng ra là ngời thay mặt các bên đơng sự chỉ địnhtrọng tài , giúp việc cho cơ quan hành chính trong việc lựa chọn này là Hiệphội trọng tài Hoa Kỳ Cũng có khi, các thơng nhân thoả thuận luôn trong điềukhoản trọng tài nhờ hiệp hội trọng tài chỉ định luôn trọng tài viên khi có tranhchấp phát sinh.

Các bên đợc quyền lựa chọn và chỉ định trọng tài viên thì cũng có quyền từchối trọng tài viên do chính họ chỉ định Luật mẫu UNCITRAL quy định:

“một trọng tài viên có thể bị từ chối nếu có thể gây nên những nghi ngờ chính

đáng về sự công minh và tính độc lập khách quan của mình, hoặc khi trọng tàiviên không đủ điều kiện và trình độ chuyên môn nh các bên đã thoả thuận.”Quy tắc trọng tài của tung tâm trọng tài quốc tế Singapore cũng quy định: bất

kỳ trọng tài viên nào cũng có thể bị khớc từ, một bên chỉ có thể khớc từ trọngtài viên do chính mình chỉ định Phù hợp với thông lệ quốc tế, nghị định 116

CP và quy tắc tố tụng VIAC cũng có những quy định tơng tự Điều 18 nghị

định 116 CP ghi: “Trọng tài viên phải khớc từ hoặc bị bên yêu cầu khớc từ nếu

có căn cứ cho thấy trọng tài viên có thể không vô t trong việc giải quyết tranhchấp Mỗi bên chỉ có thể khớc từ trọng tài viên mà mình đã chọn Điều 11 quytắc tố tụng VIAC cũng quy định: “Các bên đơng sự có quyền khớc từ trọng tàiviên… nếu đ nếu đơng sự nghi ngờ về sự vô t của trọng tài viên.”

Thủ tục của việc khớc từ trọng tài viên do các bên thoả thuận hoặc tuântheo quy định của pháp luật Thông thờng, việc khớc từ sẽ do thành viên kháccủa uỷ ban trọng tài xem xét và quyết định Nếu thành viên không đi đếnquyết định hoặc nếu trờng hợp 2 trọng tài viên hoặc trọng tài viên duy nhất bịkhớc từ thì chủ tịch trung tâm trọng tài sẽ quyết định Việc khớc từ trọng tàiviên cũng để lại hậu quả pháp lý nhất định; nếu đơn khớc từ đợc chấp nhận thìviệc chọn và chỉ định trọng tài viên thay thế sẽ đợc tiến hành

Thay thế trọng tài viên khác khớc từ trọng tài viên ở chỗ: Khớc từ do cácbên đơng sự đề xuất dựa trên các căn cứ luật định còn thay thế trọng tài viên

do các điều kiện khách quan và chủ quan khiến trọng tài viên không thể tiếptục tham gia giải quyết tranh chấp (Ví dụ nh chết, ốm đau, đi công tác, cóquan hệ gần gũi với đơng sự mà trớc đó đơng sự không biết… nếu đ)

Sau khi thành lập hội đồng trọng tài, hoạt động tố tụng trọng tài sẽ đợc tiếptục với thủ tục chuẩn bị xét xử Địa điểm xét xử và ngôn ngữ xét xử cũng là

Trang 11

một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình tố tụng, chi phí đi lại vàphiên dịch có thể sẽ là không nhỏ nếu các bên không khôn khéo trong vấn đềnày Tuy nhiên, nếu các bên không thể thống nhất đợc vấn đề này thi Hội

đồng xét xử sẽ quyết định

Trong tố tụng trọng tài, nguyên đơn phải ứng trớc lệ phí trọng tài theo quy

định của biểu phí trọng tài Lệ phí trọng tài của các trung tâm trọng tài đợcquy định trong biểu phí trọng tài căn cứ theo trị giá vụ kiên

Trong quá trình tố tụng trọng tài, tính khách quan và việc xét xử công bằngphải đợc đảm bảo Hội đồng trọng tài xét xử không đợc có thành kiến với cácbên khi tố tụng, các bên phải đợc đối xử bình đẳng và đợc quyền trình bày về

vụ việc Các bên tranh tụng phải đợc thông báo về việc mở phiên xử và cóquyền tranh luận trực tiếp, đa ra mọi phơng tiện chứng minh để bảo vệ lý lẽcủa mình

Tố tụng trọng tài sẽ đợc đình chỉ nếu các bên đạt đợc sự hoà giải Biên bảnhoà giải (nếu đợc uỷ ban trọng tài chấp thuận) sẽ trở thành phán quyết trọngtài về điều kiện đợc thoả thuận Phán quyết này có giá trị hiệu lực nh phánquyết về nội dung vụ kiện

Tố tụng trọng tài sẽ đợc chấm dứt bởi một phán quyết chung thẩm hoặc khinguyên đơn rút đơn kiện, bị đơn chấp thuận và uỷ ban trọng tài công nhận lợiích chính đáng của họ trong việc có đợc một giải pháp cuối cùng về giải quyếttranh chấp hoặc khi uỷ ban trọng tài thấy rằng việc tiếp tục tố tụng có nhữngnguyên nhân trở nên không cần thiết và không thể đợc

Tóm lại, tố tụng trọng tài đợc bắt đầu khi nguyên đơn gửi đơn yêu cầu tớitrung tâm trọng tài, trung tâm trọng tài gửi đơn kiện của nguyên đơn cho bị

đơn mà bị đơn không có sự phản đối hoặc hợp pháp nào Trong quá trình tốtụng trọng tài, yếu tố thoả thuận luôn đợc tôn trọng và đa lên hàng đầu, việc

áp dụng luật chỉ xảy ra nếu các bên không thoả thuận đợc Quá trình tố tụng

đợc đình chỉ nếu nh các bên đạt đợc giải pháp tự nguyện Quá trình tố tụngchấm dứt khi có phán quyết chung thẩm giải quyết vụ kiện hoặc khi các bênyêu cầu chấm dứt hoặc khi việc giải quyết vụ kiện trỏ thành việc không cầnthiết, không thực hiện đợc

Trang 12

1.2.2 Sự khác biệt giữa tố tụng trọng tài và tố tụng toà án trong giải quyết tranh chấp trong thơng mại quốc tế.

Trọng tài và toà án đều là những cơ quan tài phán Mục đích đều nhằm giảiquyết những tranh chấp phát sinh Mỗi phơng pháp đều có những u điểm riêng

mà trong từng vụ việc cụ thể, sử dụng phơng pháp này hay phơng pháp kia sẽphát huy đợc lợi thế của chúng Khi nghiên cứu về giải quyết tranh chấp phátsinh từ hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế bằng phơng pháp trọng tài, việcnắm bắt những u điểm khác nhau của phơng pháp này so với phơng pháp giảiquyết tranh chấp bằng toà án là rất cần thiết

*/ Về thẩm quyền xét xử

Trọng tài và toà án đều không có thẩm quyền đơng nhiên đối với nhữngtranh chấp trong thơng mại quốc tế giữa các thơng nhân Tuy nhiên, điểmkhác biệt là ở chỗ khi tranh chấp phát sinh trong thơng mại quốc tế, muốnkiện ra toà án, các bên đơng sự phải kiện theo qui định theo pháp luật về thẩmquyền theo vụ việc, thẩm quyền theo giá trị vụ kiện, thẩm quyền theo lãnh thổtoà án Do đó, sự lựa chọn toà án là rất hạn chế Còn trong tố tụng trọng tài tạicác trung tâm trọng tài, thẩm quyền giải quyết tranh chấp không phụ thuộcvào quốc tịch của các bên tranh chấp, nơi có trụ sở thơng mại, nơi c trú củacác bên hoặc nơi có tài sản của các bên

*/ Về thủ tục tố tụng

Đây là điểm khác biệt quan trọng giữa hai hình thức Bản chất của trọng tài

là dựa trên cơ sở sự thoả thuận của các bên tham gia tranh chấp, do đó, trongsuốt quá trình tố tụng trọng tài, sự thoả thuận của các bên luôn đợc coi trọng.Các bên có quyền lựa chọn trọng tài viên cũng nh có quyền thoả thuận về thủtục tố tụng Trung tâm trọng tài chỉ định trọng tài viên trong trờng hợp các bênkhông thể lựa chọn đợc

Đối với tố tụng tại toà án thì thẩm quyền xét xử vụ tranh chấp do Chánh ánphân công, các bên đơng sự chỉ có quyền đề nghị thay đổi ngời tiến hành tốtụng trên cơ sở căn cứ luật định

*/ Phiên họp xét xử

Trang 13

Về cơ bản, đây là nơi mà thẩm phán cũng nh các trọng tài viên tiến hànhxét xử tranh chấp trên cơ sở những chứng cứ thu đợc ở giai đoạn trớc Thờigian và địa điểm tiến hành phiên toà trong tố tụng toà án do cơ quan t pháp ấn

định còn trong tố tụng trọng tài nó phụ thuộc vào ý chí của các bên đơng sự.Thông thờng, thời gian và địa điểm diễn ra phiên toà trong tố tụng toà ánphải vào giờ hành chính và tại phòng xử án mà toà án qui định Tuy nhiêntrong tố tụng trọng tài thì hoàn toàn khác Với mục đích đảm bảo uy tín và bímật trong kinh doanh, nơi diễn ra phiên xét xử cũng nh địa điểm diễn ra phiênxét xử do hai bên tự thoả thuận để phù hợp với điều kiện của mình, nếu cácbên không thoả thuận đợc thì địa điểm xét xử do Hội đồng trọng tài quyết

định Nó không nhất thiết phải diễn ra vào giờ hành chính hay ngày làm việc,cũng không nhất thiết phải ở trụ sở của trung tâm trọng tài mà có thể ở bất cứ

đâu

Hơn nữa việc xét xử của toà án dựa trên nguyên tắc xét xử công khai,ngoài các bên đơng sự ra có nhiều ngời khác tham dự phiên xét xử, phiên xét

xử cũng có thể đựơc đa trực tiếp hoặc gián tiếp lên các phơng tiện thông tin

đại chúng nh báo chí, truyền thanh, truyền hình… nếu đ Điều này gây tổn hại đến

uy tín và gây nhiều bất lợi cho việc kinh doanh trong tơng lai của các bêntranh tụng Đây là một yếu điểm của hình thức giải quyết tranh chấp thơngmại bằng toà án Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài khắc phục đợc các yếu

điểm này Nguyên tắc xét xử của trọng tài là xét xử kín, ngoài các bên đơng sự

và trọng tài tham gia giải quyết tranh chấp ra sẽ không có một ai đợc tham dựphiên xét xử nếu nh không đợc sự đồng ý của các bên đơng sự Do đó, việc xét

xử bằng trọng tài đảm bảo cho các bên giữ kín đợc bí mật kinh doanh và bảotoàn uy tín kinh doanh trên thơng trờng Và chính đây là một trong những u

điểm nổi bật nhất khiến các thơng nhân a chuộng hình thức giải quyết tranhchấp bằng trọng tài

*/ Kết thúc xét xử

Quá trình tố tụng tại một cơ quan tài phán bao giờ cũng kết thúc bằng vănbản mang tính chất pháp lý Tại toà án, quá trình tố tụng kết thúc khi thẩmphán ra bản án có hiệu lực pháp luật hoặc đa ra những quyết định mà theo đó

vụ án chấm dứt Trong tố tụng trọng tài, quá trình tố tụng chấm dứt bằngquyết định trọng tài (hay còn gọi là phán quyết trọng tài)

Trang 14

Các bản án và quyết định của toà án có thể bị kháng cáo và trải qua thủ tụcphúc thẩm do toà án cấp cao hơn thực hiện Xuất phát từ đặc điểm xét xử mộtlần, phán quyết của trọng tài có tính chung thẩm Nó không bị xét xử lại bởi vìcác trung tâm trọng tài khác nhau thì độc lập với nhau, không giống sự phâncấp, phân vùng nh trong hệ thống toà án do đó một vụ việc đã giải quyết ởtrung tâm trọng tài này rồi không thể đem ra giải quyết tài một trung tâmtrọng tài khác Hơn nữa, trong tổ chức của một trung tâm trọng tài nhất định,thủ tục tố tụng là xét xử một cấp và thoả thuận trọng tài mang tính đích danh.

1.2.3 Ưu thế của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài so với toà án

Qua việc phân tích những điểm khác biệt giữa tố tụng trọng tài và tố tụngtoà án trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh trong thơng mại quốc tế, ta

có thể thấy những u thế nổi bật của tố tụng trọng tài Đó là sự kết hợp hài hoàgiữa phơng pháp hoà giải, thơng lợng và phơng pháp giải quyết tại toà án.Những u thế của trọng tài so với toà án chính là những u điểm của phơng pháphoà giải, thơng lợng đã đợc lồng vào một cơ chế pháp lý mới là trọng tài.Với đặc trng tôn trọng thoả thuận của các bên đơng tụng, hình thức giảiquyết tranh chấp bằng trọng tài cho phép các bên có quyền tự định đoạt khi cótranh chấp xảy ra Các bên có quyền lựa chọn hình thức trọng tài, có thể làtrọng tài Ad-hoc hoặc trọng tài quy chế tuỳ thuộc vào điều kiện hoàn cảnhgiữa các bên, các bên có thể lựa chọn trọng tài viên, thời gian xét xử, địa điểmxét xử… nếu đ Điều này giảm bớt sự cứng nhắc trong tố tụng đối với các bên

Về thời gian tố tụng, nếu nói rằng giải quyết tranh chấp bằng trọng tài sẽ

đảm bảo nhanh hơn giải quyết bằng toà án thì có thể không hoàn toàn chínhxác Bởi vì, nếu nh tranh chấp đợc giải quyết tại toà án sơ thẩm và không phảitrải qua thủ tục xét xử tại các toà án cấp cao hơn thì có khi thời gian giải quyếttranh chấp bằng toà án còn ngắn hơn thời gian giải quyết tranh chấp bằngtrọng tài Tuy nhiên, bản án xét xử sơ thẩm của toà án không có tính chungthẩm nó dễ dàng bị kháng cáo và trải qua các thu tục xét xử phúc thẩm, giám

đốc thẩm của toà án cấp cao hơn… nếu đcho nên trong nhiều trờng hợp, thời giangiải quyết tranh chấp bị kéo dài ra rất nhiều gây căng thẳng về tinh thần và tốnkém về chi phí cho các bên Trong những trờng hợp nh vậy thì giải quyết tranhchấp bằng trọng tài với thủ tục xét xử một cấp và phán quyết chung thẩm rõràng tiết kiệm và lợi hơn nhiều cho các bên tranh chấp

Trang 15

Đối với các vụ tranh chấp phát sinh từ thơng mại quốc tế, một bên tranhchấp thờng là ngời nớc ngoài (có khi cả hai bên), việc lựa chọn phơng phápgiải quyết tranh chấp bằng trọng tài giúp bên nớc ngoài gạt bỏ đợc mặc cảm

về việc đa vụ tranh chấp ra xét xử tại toà án của nớc khác Đây cũng là một lý

do làm cho hình thức trọng tài đợc sử dụng nhiều trong giải quyết tranh chấpphát sinh trong thơng mại quốc tế

Với những đặc trng nh thủ tục giải quyết dân chủ, đơn giản, linh hoạt, xét

xử nhanh chóng, đảm bảo bí mật, phán quyết tin cậy, tiết kiệm, giải quyếttranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán quốc tế hàng hoá bằng phơng pháptrọng tài mang tính thơng mại và phù hợp tâm lý chung cũng nh đòi hỏi củacác nhà kinh doanh Nh vậy, có thể nói, các trung tâm trọng tài đã góp phầngiảm bớt các gánh nặng của công tác xét xử, góp phần vào sự phát triển cácquan hệ kinh tế Thực tiễn đã và đang chứng minh điều đó, trọng tài ngày càngphổ biến và trở thành phơng thức chủ yếu để giải quyết tranh chấp không chỉtrong thơng mại quốc tế mà còn trong các quan hệ thơng mại khác

1.3 Phán quyết trọng tài

1.3.1 Khái niệm phán quyết trọng tài

Nh đã nói, việc xét xử đợc kết thúc bằng một quyết định của uỷ ban trọngtài Quyết định trọng tài là quyết định chung thẩm, các bên tranh chấp buộcphải thi hành

Với ý nghĩa là một phán quyết của một cơ quan tài phán, quyết định trọngtài kết thúc quá trình tố tụng Về hình thức, quyết định trọng tài tạo ra một sựkiện pháp lý mà theo đó tranh chấp chấm dứt Về nội dung, quyết định trọngtài đa ra các kết luận khách quan về tranh chấp, qui định các quyền và nghĩa

vụ mà các bên tham gia tranh chấp phải thực hiện Thông thờng, quyết địnhtrọng tài hàm chứa các nội dung:

 Các yêu sách, khiếu kiện của các bên đơng sự

 Phần giải thích nội dung sự việc trọng tài

 Các kết luận cuối cùng của trọng tài về vu việc tranh chấp

Trang 16

Quyết định trọng tài đề cập đến những vấn đề liên quan đến tranh chấp,phân tích nội dung tranh chấp, nghĩa vụ, trách nhiệm của bên vi phạm v.v… nếu đtừ

đó thoả mãn hay không thoả mãn yêu cầu của bên đi kiện

Trong một chừng mực nhất định, quyết định trọng tài đóng vai trò là mộtcăn cứ pháp lý, theo đó một bên có thể yêu cầu bên kia thực hiện đúng nhữngnghĩa vụ đợc qui định trong phán quyết hoặc có thể dùng phán quyết nh làmột chứng cứ pháp lý để yêu cầu những cơ quan có thẩm quyền áp dụng biệnpháp cỡng chế nếu nh phán quyết không đợc tự nguyện thi hành

Điều 27 luật trọng tài Malayxia qui định: “Một quyết định trọng tài dựatrên cơ sở một thoả thuận trọng tài, nếu đợc phép của toà án cấp cao sẽ đợc thihành theo thể thức giống nh thi hành một bản án cuả toà án” Qui tắc tố tụngcủa Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam cũng qui định: Nếu phán quyếtkhông đợc tự nguyên thi hành trong thời hạn qui định, sẽ áp dụng các biệnpháp cỡng chế theo pháp luật của nớc nơi phán quyết đợc thi hành và theo các

điều ớc quốc tế hữu quan có hiệu lực với loại vụ kiện này”

Phán quyết trọng tài đợc công bố cho các bên ngay sau khi phiên xét xửkết thúc hoặc có thể công bố cho các bên sau trong thời hạn luật định Phápluật trọng tài của hầu hết các nớc đều qui định thời hạn tối đa mà cơ quantrọng tài phải ra quyết định

Ví dụ: Điều 26, qui tắc trọng tài của Viện trọng tài Bộ t pháp Thái Lan qui

định: “Trừ khi có thoả thuận khác, quyết định sẽ đợc ra trong vòng 180 ngày

kể từ ngày mà ngời trọng tài viên cuối cùng đợc chỉ định”

Có thể nói, qui định này là cần thiết, nó làm cho cơ quan trọng tài có tráchnhiệm hơn trong qua trình tiến hành tố tụng để giải quyết dứt điểm tranh chấp.Phán quyết trọng tài sau khi công bố, Hội đồng trọng tài hoặc trọng tàiviên không đợc sửa chữa, trừ trờng hợp có sai sót về chính tả hoặc tính toán

1.3.2 Hiệu lực của phán quyết trọng tài

Pháp luật trọng tài hầu hết các nớc đều qui định phán quyết trọng tài có giátrị chung thẩm bởi hai lý do:

Trang 17

* Thứ nhất, trung tâm trọng tài là một loại hình tổ chức xã hội-nghềnghiệp, với đặc điểm thủ tục tố tụng xét xử một cấp, các trung tâm trọng tài là

độc lập với nhau, không có sự phân cấp, phân vùng xét xử

*Thứ hai, việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài là kết quả của sự thoảthuận giữa các bên Cho nên trọng tài nhân danh ý chí tối cao của các bên đ-

ơng sự Do vậy, các bên phải có nghĩa vụ tôn trọng kết quả của chính sự thốngnhất ý chí đó Các bên không có quyền kháng cáo mà có nghĩa vụ thực hiệnphán quyết ngay

*/ Điều 32 bản qui tắc trọng tài UNCITRAL qui định: “Quyết định trọngtài phải làm bằng văn bản và là quyết định cuối cùng ràng buộc đối với cácbên Các bên có trách nhiệm thực hiện ngay quyết định trọng tài” Phù hợp vớithông lệ quốc tế, pháp luật Việt Nam cũng qui định nh: “Quyết định này làquyết định chung thẩm không thể kháng cáo tại bất cứ toà án hay tổ chức nàokhác” hay “Quyết định giải quyêt tranh chấp của trung tâm trọng tài kinh tế

có hiệu lực thi hành không thể bị kháng cáo” Các qui định nêu trên xét vềmặt tinh thần có nghĩa là: một khi trọng tài đã ra quyết định thì các quyết định

đó bất di bất dịch, chỉ đợc phép chỉnh lý những vấn đề nhầm lẫn về tính toán,ghi chép (nếu có)

Tuy nhiên, để một phán quyết trọng tài đạt đợc tính hiệu lực chung thẩm

nh trên, phán quyết trọng tài phải là kết quả của một quá trình xét xử côngminh, vô t và phải đợc tuyên bố theo đúng thủ tục ra quyết định trọng tài màpháp luật qui định Thông thờng các qui định đó là:

 Phán quyết phải tôn trọng nguyên tắc đa số Trong trờng hợp có nhiềutrọng tài viên, bất kỳ một quyết định nào đợc coi là quyết định cuối cùng giảiquyết vấn đề giữa các bên phải đợc đa số trọng tài viên thông qua

 Quyết định trọng tài phải đợc lập thành văn bản và đợc các trọng tàiviên ký tên

 Nội dung của quyết định phải rõ ràng, đầy đủ Một quyết định trọng tàiphải có lý do trừ phi các bên nhất trí miễn nêu lý do

Mặc dù không có điều khoản nào qui định các căn cứ phản đối quyết địnhtrọng tài do sai sót của Hội đồng xét xử trong việc áp dụng luật Tuy nhiên,

Trang 18

các bên có thể kiện tới toà án yêu cầu toà án huỷ quyết định của trọng tàitrong các trờng hợp sau:

 Thoả thuận trọng tài do một bên không có đủ năng lực pháp lý lập rahoặc căn cứ vào pháp luật áp dụng thì thoả thuận trọng tài vô hiệu

 Trờng hợp các bên đơng sự của vụ kiện không đợc thông báo về quátrình trọng tài

 Quyết định của trọng tài vợt quá khuôn khổ đợc nghi nhận trong thoảthuận trọng tài

 Thành phần của hội đồng xét xử hoặc thủ tục xét xử trọng tài khôngtuân thủ thoả thuận trọng tài

 Quyết định trọng tài đi ngợc lợi ích chung của quốc gia

Nhìn chung, các qui tắc trọng tài ban hành đều tìm cách làm cho phánquyết trọng tài là quyết định cuối cùng Điều này làm cho phán quyết trọng tàimang tính chung thẩm, tạo điều kiện giải quyết tranh chấp một cách nhanhchóng Các trờng hợp huỷ quyết định của trọng tài do có sai sót liên quan đếnthủ tục tố tụng và rất hiếm khi xảy ra Do đó, giá trị chung thẩm của phánquyết trọng tài hầu nh đợc đảm bảo

1.4 Thi hành phán quyết trọng tài

Trên nguyên tắc, một khi trọng tài đã đa ra phán quyết thì phán quyết đó làchung thẩm, không thể kháng cáo trớc bất kỳ một Toà án hay tổ chức nàokhác Do đó, phán quyết trọng tài phải đợc thi hành một cách tự nguyện trongmột thời hạn nhất định Trên thực tế, sẽ có thể xảy ra các trờng hợp sau:

Trờng hợp 1: Cả hai bên đều tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài Cóthể vì họ thấy thoả mãn với phán quyết hay do họ muốn duy trì quan hệ làm

ăn lâu dài hoặc đơn giản vì họ thấy rằng việc phản đối phán quyết là phi thực

tế hay quá tốn kém về thời gian cũng nh chi phí Nhng dù sao thì phán quyếttrọng tài cũng sẽ đợc thi hành mà không cần có sự can thiệp của pháp luật.Trong trờng hợp này phán quyết trọng tài đợc thi hành tự nguyện

Trang 19

Trờng hợp 2: Cả hai bên đều phản đối quyết định của trọng tài Trờng hợpnày rất hiếm xảy ra bởi vì trọng tài là do chính các bên lựa chọn, tuy nhiên làkhông phải là không thể xảy ra Trong trờng hợp này tính cỡng chế của phánquyết bằng không vì rõ ràng phán quyết sẽ không đợc thực hiện

Trờng hợp 3: Chỉ có một bên không đồng ý với phán quyết của trọng tài.Bên không đồng ý này là bên thua trong phán quyết trọng tài Khi đó, bênthua mong muốn huỷ bỏ phán quyết và sẽ yêu cầu toà án huỷ phán quyếttrọng tài Trong trờng hợp này muốn phán quyết đợc thi hành thì toà án nơi thihành phải công nhận phán quyết để biến phán quyết thành một quyết định cógiá trị pháp lý nh là bản án của toà án thì phán quyết sẽ có tính cỡng chế caohơn Nếu tòa án không đợc phép làm nh thế thì rất có thể trọng tài đa ra phánquyết nhng phán quyết không đợc thi hành và không có một tổ chức nào cóthể cỡng chế việc thi hành phán quyết Khi đó, bên thắng kiện không thể thihành đợc phán quyết và cả hai bên chỉ tốn kém về thời gian và tiền bạc để thu

đợc một phán quyết không hề có giá trị gì

Trờng hợp 4: Chúng ta cũng không thể loại trừ khả năng vì một lý do nào

đó trọng tài đa ra một phán quyết không hợp lý Khi đó bên thua kiện không

có cách gì để có thể thay đổi hay huỷ bỏ phán quyết trọng tài Kết quả làquyền lợi của bên thua kiện sẽ bị xâm phạm cho dù cả hai bên đều biết rằngphán quyết đó là không thoả đáng nhng lại vẫn phải thi hành phán quyết vìphán quyết trọng tài mang tính chung thẩm

Tóm lại Nhà nớc phải đóng vai trò nhất định trong quá trình trọng tài Để

đảm bảo cho quá trình trọng tài hoạt động có hiệu quả, việc công nhận và chothi hành phán quyết trọng tài là việc cần thiết phải đợc qui định trong các vănbản pháp luật và thực hiện một cách nghiêm túc trên thực tế

Phán quyết trọng tài đợc chia làm hai loại: phán quyết trọng tài trong nớc

và phán quyết trọng tài ở nớc ngoài Về nguyên tắc, các phán quyết trọng tàitrong nớc không liên quan gì đến yếu tố nớc ngoài (nh tổ chức trọng tài, địa

điểm xét xử, quy tắc tố tụng) và nắm trong phạm vi thẩm quyền xem xét củamột quốc gia trong khuôn khổ các vấn đề nội bộ mà các vấn đề đó khôngthuộc phạm vi xem xét theo luật pháp quốc tế Trong khi đó phán quyết trọngtài nớc ngoài lại liên quan đến nhiều hơn một nớc, liên quan đến quan hệ giữacác nớc đó Do đó, nếu nh phán quyết trọng tài trong nớc chỉ chịu sự điều

Trang 20

chỉnh bởi luật quốc gia thì phán quyết trọng tài nớc ngoài lại chịu sự điềuchỉnh của không những luật quốc gia mà còn các điều ớc quốc tế, các tậpquán, thông lệ quốc tế… nếu đNh vậy việc công nhận và thi hành phán quyết trọngtài trong nớc và nớc ngoài cũng không giống nhau.

1.4.1 Thi hành phán quyết trọng tài trong nớc

Đặc điểm của tố tụng trọng tài là các bên có quyền tự do thoả thuận thànhlập uỷ ban trọng tài nhng một khi uỷ ban trọng tài đã đợc thành lập và ra phánquyết thì phán quyết trọng tài mang tính chung thẩm, không một toà án hay tổchức nào khác có quyền xét xử phán quyết trọng tài Để đảm bảo đặc trng trêncủa tố tụng trọng tài, luật pháp các nớc đều qui định nguyên tắc chung là phánquyết phải đợc các bên tự nguyện thi hành Trong trờng hợp một bên không tựnguyện thi hành, bên kia có quyền yêu cầu toà án công nhận và cho thi hànhtức là Nhà nớc hoá phán quyết trọng tài Khi nhận đợc yêu cầu đó, toà án phảicông nhận và cho thi hành phán quyết trừ khi toà nhận thấy rằng phán quyết

có những điểm sai sót Khi phán quyết đã đợc công nhận, phán quyết sẽ cóhiệu lực nh một quyết định của toà án và có thể đợc cỡng chế thi hành bằnglực lợng thi hành án theo qui định của pháp luật về thi hành án

ở các nớc việc toà án công nhận và thi hành phán quyết trọng tài trong nớc

đợc qui định rất rõ ràng Chẳng hạn tại Mỹ, điều 9 luật trọng tài liên bang Mỹ

về công nhận phán quyết trọng tài qui định: “các bên của một thoả thuận trọngtài có quyền yêu cầu toà án đợc chỉ định trong thoả thuận trọng tài hoặc nếuthoả thuận không chỉ định toà án nh vậy thì yêu cầu toà án tại bang mà ở đóphán quyết đợc đa ra, công nhận phán quyết trọng tài và toà án sẽ phải đa ralệnh công nhận phán quyết trọng tài trừ khi phán quyết trọng tài đó bị huỷ bỏhay sửa đổi (theo các điều 10,11 luật này) Yêu cầu công nhận phán quyếttrọng tài phải đợc đa ra trong thời hạn một năm kể từ ngày phán quyết đợctuyên”

Hay điều 2 Nghị định trọng tài Hồng Kông: “một phán quyết trọng tài khi

có lệnh của toà án có thể đợc thi hành nh một bản án của toà án và sẽ có hiệulực nh một bản án”

ở hầu hết các nớc có truyền thống về trọng tài thơng mại phi chính phủ,

đều có những quy định tơng tự về công nhận và thi hành phán quyết trọng tài

Trang 21

trong nớc Tuy nhiên, ở Việt Nam mãi cho tới Pháp lệnh trọng tài thơng mại

2003 mới có quy định về vấn đề này, còn trớc đây, phán quyết trọng tài trongnớc vẫn cha đợc công nhận và thi hành trong bất cứ một văn bản pháp luật nào

1.4.2 Thi hành phán quyết trọng tài nớc ngoài

Có thể nói nhu cầu về công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nớcngoài xuất phát từ sự giao lu quốc tế, đặc biệt từ sự phát triển các mối quan hệkinh tế quốc tế Do đó, đối với mỗi nớc, việc công nhận và thi hành quyết địnhcủa trọng tài nớc ngoài đợc xem là một trong những yếu tố quan trọng củamôi trờng đầu t, kinh doanh, một điều kiện quan trọng trong hội nhập kinh tếquốc tế

Khi vụ việc đợc giải quyết tại toà án, toà án sử dụng quyền lực của Nhà

n-ớc mà ở đây là quyền lực t pháp để xét xử Kết quả của quá trình xét xử là mộtbản án hay quyết định Để cho bản án hoặc quyết định đó đợc thực thi trênthực tế, toà án sử dụng nhiều phơng pháp khác nhau trong đó quan trọng vàhữu hiệu nhất là sử dụng bộ máy cỡng chế của mình Khác với toà án, trọngtài thơng mại với tính cách là một tổ chức xã hội - nghề nhiệp đứng ra giúp haibên giải quyết tranh chấp, trọng tài không có bộ máy cỡng chế riêng củamình Do đó, các phán quyết trọng tài rất khó đợc thực thi trên thực tế Hơnnữa, về nguyên tắc, quyết định trọng tài đợc tuyên ở nớc nào thì chỉ có hiệulực thi hành trên lãnh thổ nớc đó, tự chúng không thể có giá trị pháp lý và hiệulực thi hành trên lãnh thổ nớc khác

Muốn cho quyết định trọng tài có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành ở nớckhác thì theo pháp luật và tập quán quốc tế, nó phải đợc pháp luật hoặc cơquan t pháp có thẩm quyền (thờng là toà án) của nớc đó công nhận và quyết

định thi hành Do đó, đã hình thành các chế định công nhận và thi hành quyết

định trọng tài trong công pháp quốc tế

Các quy định pháp lý về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài

n-ớc ngoài đợc ghi nhận một mặt trong pháp luật của mỗi nn-ớc và mặt khác trongcác điều ớc quốc tế song phơng và đa phơng, trong các hiệp định thơng mại… nếu đ

nh công ớc NewYork năm 1958, công ớc Châu Âu năm 1961 về trọng tài

th-ơng mại

*/ Công nhận và thi hành phán quyết trọng tài trong các điều ớc quốc tế

Trang 22

Việc công nhận và thi hành quyết định trọng tài nớc ngoài ở nhiều nớc trênthế giới dựa trên nguyên tắc “có đi có lại” Các nớc ký kết với nhau các điều -

ớc song phơng và đa phơng qui định một nớc có trách nhiệm phải công nhận

và thi hành quyết định trọng tài của nớc còn lại Tại Việt Nam trong các hiệpdịnh tơng trợ t pháp với Tiệp Khắc (cũ), với Bungary đã chứa đựng những điềukhoản tơng ứng về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài

Tuy nhiên, đáng chú ý nhất trong các điều ớc quốc tế là công ớc New York

1958 về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nớc ngoài Công ớcnày đợc Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/8/1958 và có hiệu lựcthi hành ngày 7/6/1959

Công ớc NewYork với những nội dung cơ bản sau:

Điều I: Xác định khái niệm “Quyết định của trọng tài nớc ngoài” và phạm

vi áp dụng công ớc Điều đáng nói trong điều khoản này là đã chỉ rõ Công ớc

đợc áp dụng cho cả quyết định trọng tài vụ việc và quyết định trọng tài thờngtrực Khoản 3 điều này để ngỏ hai vấn đề cho các quốc gia gia nhập đợc quyềnbảo lu, đó là: việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại và việc xác định phạm vicác quan hệ pháp luật thơng mại theo pháp luật các nớc ký kết

Điều II và III quy định nghĩa vụ của nớc ký kết công nhận, hiệu lực phápluật của thoả thuận trọng tài, thẩm quyền của trọng tài đã đợc các bên lựachọn, công nhận giá trị ràng buộc của quyết định trọng tài và thi hành chúngphù hợp với quy định của pháp luật mỗi nớc

Điều IV quy định thủ tục gửi đơn công nhận và cho thi hành quyết địnhcủa trọng tài nớc ngoài

Điều V quy định 7 trờng hợp toà án hoặc cơ quan khác có thẩm quyền tạimỗi nớc có quyền từ chối công nhận và không cho thi hành quyết định củatrọng tài nớc ngoài Các trờng hợp này đợc chia thành hai loại: Các trờng hợp

do lỗi của trọng tài hoặc do lỗi của các bên ký kết thoả thuận trọng tài và cáctrờng hợp do có sự tự phán xét của toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền xemxét việc công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nớc ngoài

Điều VI quy định việc tạm hoãn thi hành quyết định của trọng tài nớcngoài

Mặc dù các diều ớc quốc tế về vấn đề này đều quy định rằng các nớc kýkết phải đảm bảo công nhân và thi hành phán quyết của trọng tài thơng mại n-

ớc ngoài Tuy nhiên, một nớc vẫn có thể từ chối cho thi hành phán quyết trọngtài nớc ngoài trong các trờng hợp sau:

Trang 23

Trờng hợp 1: Một bên đơng sự vắng mặt tại phiên toà xét xử của trọng tài do sơ suất của trọng tài.

 Trờng hợp 2: Phán quyết trọng tài cha có giá trị chung thẩm xét theoluật của nớc trọng tài

 Trờng hợp 3: Phán quyết trọng tài buộc bên thua kiện phải làm mộthành động không đợc phép làm theo luật của nớc công nhận thi hành phánquyết trọng tài

 Trờng hợp 4: Việc thi hành phán quyết trọng tài trái với trật tự côngcộng của nớc mà ở đó phán quyết đợc thi hành

Trong công ớc NewYork cũng quy định những trờng hợp từ chối côngnhận và thi hành phán quyết trọng tài nớc ngoài Đó là quy định của điều 5

nh sau:

 Thứ nhất, các bên ký kết thoả thuận trọng tài trong chừng mực nào đókhông có năng lực hành vi, hoặc là thoả thuận trọng tài không có hiệu lc theoluật mà các bên thống nhất lựa chọn, nếu các bên không xác định luật thì theoluật của nớc trong đó phán quyết đợc đa ra

 Thứ hai, khi bên phải thi hành phán quyết không đợc thông báo mộtcách hợp lệ về việc chỉ định trọng tài viên, về việc xét xử của trọng tài, hay vìmột lý do khách quan nào đó mà họ không thể trình bày đợc ý kiến của mình

 Thứ ba, phán quyết của trọng tài đa ra về một tranh chấp không đợcquy định hoặc không thuộc diện quy định của hiệp nghị trọng tài hay điềukhoản trọng tài trong hợp đồng, hoặc trong phán quyết có những điều qui định

về những vấn đề không thuộc phạm vi của hiệp nghị trọng tài Nhng, nếu cónhững điều qui định về những vấn đề nằm trong phạm vi của hiệp nghị trọngtài tách riêng khỏi các điều qui định về những vấn đề không nằm trong phạm

vi của hiệp nghị trọng tài thì những vấn đề quy định trong phạm vi hiệp nghịtrọng tài có thể đợc công nhận và thi hành

 Thứ t, nếu thành phần ban trọng tài hoặc quá trình tố tụng không phùhợp với thoả thuận của các bên đơng sự, còn khi thiếu thoả thuận trọng tài thìthành phần ban trọng tài không phù hợp với luật của nớc trọng tài

Thứ năm, nếu phán quyết của trọng tài cha có giá trị chung thẩm hoặc đã bị cơ quan có thẩm quyền của nớc trọng tài hoặc của nớc có luật đem áp dụng huỷ bỏ, hoặc đình chỉ việc thi hành.

Bên thua kiện có nghĩa vụ chứng minh trớc cơ quan có thẩm quyền của nớccông nhận và thi hành những tình hình này Ngoài ra, có thể từ chối côngnhận và thi hành phán quyết cuả trọng tài nớc ngoài nếu cơ quan có thẩmquyền của nớc công nhận và thi hành phán quyết đó thấy rằng tranh chấpchiếu theo luật nớc này không phải là đối tợng của việc xét xử bằng trọng tài

Trang 24

hoặc việc công nhận và thi hành phán quyết trái với trật tự công cộng của nớc

định của trọng tài nớc ngoài

Pháp lệnh có lời nói đầu, 24 điều đợc chia thành 3 chơng với nội dung vềcơ bản phù hợp với nội dung của Công ớc NewYork 1958 Theo đó, toà án cóthẩm quyền xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết

định của trọng tài nớc ngoài là toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ơng, nơi tổ chức phải thi hành phải có trụ sở chính, cá nhân phải thihành c trú, làm việc, hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành Và cũngtheo đó toà án Việt Nam xem xét công nhận và thi hành phán quyết của trọngtài nớc ngoài theo nguyên tắc:

Thứ nhất, chỉ áp dụng công ớc đối với việc công nhận và thi hành tại ViệtNam quyết định của trọng tài nớc ngoài đợc tuyên tại lãnh thổ các quốc gia làthành viên của Công ớc, đối với quyết định của trọng tài đợc tuyên tại lãnh thổcủa quốc gia cha ký kết hoặc tham gia Công ớc, Công ớc đợc áp dụng tại ViệtNam trên nguyên tắc có đi có lại

Thứ hai, chỉ áp dụng Công ớc đối với các tranh chấp phát sinh từ các quan

hệ pháp luật thơng mại

Thứ ba, mọi sự giải thích Công ớc trớc toà án hoặc cơ quan có thẩm quyềnkhác của Việt Nam phải tuân theo các quy định của hiến pháp và pháp luậtViệt Nam

Nh vậy, khi tham gia Công ớc NewYork, Nhà nớc Việt Nam cam kết thựchiện những nghĩa vụ sau:

Trang 25

 Công nhận và thi hành quyết định trọng tài đợc tuyên ở mỗi nớc, bất

kể đó là quyết định của trọng tài thờng trực hay là trọng tài Ad-hoc

 Công nhận giá trị pháp lý của thoả thuận trọng tài mà các bên tranhchấp đã ký kết, thẩm quyền của trọng tài mà các bên đã lựa chọn, nếu phápluật của Việt Nam quy định vụ tranh chấp đó có thể đợc giải quyết theo thểthức trọng tài và trong trờng hợp này sẽ từ bỏ quyền xét xử của toà án nớcmình đối với vụ tranh chấp đó

 Chỉ công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài chứ không xét

xử lại nội dung vụ tranh chấp đã đợc giải quyết

 Xây dựng chế định trọng tài quốc tế phù hợp với pháp luật và thông lệquốc tế

Nh vậy, có thể thấy toà án đã hỗ trợ công tác trọng tài thông qua việc côngnhận và cho thi hành các quyết định trọng tài Bằng hoạt động này, toà án đã

“pháp luật hoá” các quyết định của trọng tài và biến nó thành nh là một quyết

định của toà án và đợc đảm bảo thi hành bằng cỡng chế Nhà Nớc

Trang 26

Chơng 2: tổ chức và hoạt động của một số tổ chức trọng tài trên thế giới

Hiện nay, cùng với sự mở rộng thơng mại quốc tế và sự phát triển khôngngừng của tiến trình toàn cầu hoá kinh tế, nhu cầu giải quyết tranh chấp giữacác thơng nhân cũng vì thế mà tăng nhanh do sự phát sinh ngày càng nhiềucác mâu thuẫn tranh chấp trong làm ăn buôn bán với nhau Trong bối cảnh đó,việc giải quyết tranh chấp bằng các tổ chức trọng tài quốc tế là thực sự cầnthiết và đợc a chuộng hơn so với toà án hay trọng tài của một quốc gia riêngbiệt

Các tranh chấp ngày càng khó khăn và phức tạp hơn rất nhiều so với trớc

đây Thông thờng các bên trong tranh chấp có quốc tịch khác nhau, cùng với

sự khác biệt về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, và nhất là khác nhau về quyềnlợi Do đó, để giải quyết tranh chấp không phải là điều đơn giản Các bênmong muốn giải quyết tranh chấp một cách thoả đáng và đảm bảo lợi ích củamình không bị xâm hại Nếu đa tranh chấp ra giải quyết ở một toà án hay tổchức trọng tài của một bên thì bên kia sẽ không tin tởng vào tính khách quancủa phán quyết, họ nghi ngờ về tính không trung thực và sợ rằng thông tin cóthể bị làm cho sai lệch Vì vậy, việc lựa chọn một tổ chức quốc tế làm trunggian giải quyết tranh chấp đợc coi là một phơng án tối u nhất Các tổ chứctrọng tài quốc tế ra đời đã đáp ứng đợc yêu cầu này Đa số các tổ chức trọngtài quốc tế đều có qui tắc tố tụng của riêng mình và rất linh hoạt trong xét xử.Các bên khi đa tranh chấp ra xét xử tại các tổ chức này có quyền tự do lựachọn trọng tài , địa điểm, ngôn ngữ cũng nh luật áp dụng… nếu đ trong xét xử Trong phạm vi của khoá luận này, tôi xin giới thiệu một số tổ chức trọngtài quốc tế tiêu biểu và các tổ chức trọng tài của một số nớc

2.1 Hiệp hội trọng tài Mỹ (The American Arbitration AAA)

Association-Hiệp hội trọng tài Mỹ là cơ quan giải quyết tranh chấp theo Luật trọng tàiLiên bang Mỹ Từ năm 1980, AAA đã tiến hành giải quyết các tranh chấptheo luật Trọng tài thơng mại UNCITRAL Với hơn 75 năm hoạt động, Hiệphội trọng tài Mỹ là tổ chức hàng đầu có kinh nghiệm ít ai sánh kịp trong giảiquyết tranh chấp Hiệp hội có hơn 800 nhân viên làm việc tại 35 văn phòng tại

Mỹ, Dublin, và Ailen với hơn 8,000 trọng tài viên và hoà giải viên trên toàn

Trang 27

(Nguồn: American Arbitration Association - www.adr.org/index2.1.jsp?JSPssid=1685)

Cơ cấu của AAA gồm Ban giám đốc và các thành viên Ban giám đốc điềuhành hiệp hội, với không ít hơn 40 thành viên, chia làm 4 cấp, có nhiệm kỳ là

4 năm, đợc bầu ra ở cuộc họp thờng niên bởi các thành viên có quyền biểuquyết Các giám đốc sẽ giữ chức vụ của mình không qua 3 nhiệm kỳ Các chủtịch hiệp hội, giám đốc và lãnh đạo đã hết nhiệm kỳ là thành viên danh dựkhông có quyền biểu quyết của Hiệp hội Thành viên của Hiệp hội gồm nhiềuquốc tịch khác nhau và là những ngời có trình độ chuyên môn và nhiều kinhnghiệm trong lĩnh vực của mình

Khi bổ nhiệm trọng tài viên, AAA sẽ yêu cầu trọng tài viên phải có quốctịch khác với quốc tịch của bên yêu cầu giải quyết trừ khi các bên trong tranhchấp có thoả thuận bằng văn bản Khi có việc khớc từ trọng tài viên, AAA sẽ

bổ nhiệm một uỷ ban đặc biệt để giải quyết gồm ba ngời mà phần lớn trong số

đó có quốc tịch khác với quốc tịch của các bên đơng sự Tiêu chuẩn đạo đứccủa trọng tài viên đợc quy định bởi AAA và đoàn Luật s Mỹ (American BarAsociation) là căn cứ xem xét khi khớc từ trọng tài viên

AAA không có biểu mẫu về phí trọng tài viên mà thờng đợc tính trên cơ sởcác vụ việc giải quyết Thông tin về quá trình trọng tài sẽ đợc thực hiện thôngqua ban điều hành trọng tài trừ lúc xét xử

Về ngôn ngữ sử dụng trong xét xử thì ngoài các ngôn ngữ thông dụng làtiếng Anh, Pháp… nếu đ tuỳ theo từng vụ, theo yêu cầu của các bên hoặc do trọngtài xem xét lựa chọn có thể sử dụng ngôn ngữ khác AAA có hơn 1100 trọngtài và hoà giải viên biết ít nhất là hai ngôn ngữ

Các tranh chấp đa ra xét xử tại AAA là tất cả các loại tranh chấp trong

th-ơng mại quốc tế và các lĩnh vực kinh tế quốc tế khác nh tranh chấp trong hợp

đồng mua bán hàng hoá quốc tế, vận tải, bảo hiểm, thanh toán, đầu t, chuyểngiao công nghệ… nếu đ Nếu các bên yêu cầu, AAA cũng sẽ giải quyết các tranhchấp trong nớc Ngoài ra, AAA còn giải quyết nhiều tranh chấp thuộc các lĩnhvực khác nh tranh chấp về lao động, … nếu đ

AAA đã xét xử trên 2 triệu vụ tranh chấp các loại Riêng năm 2002 giảiquyết 230,255 vụ trong đó có 3,298 vụ tranh chấp thơng mại với tổng trị giá làhơn 250 triệu USD thông qua hoà giải, trọng tài, và các phơng pháp khácngoài toà án

(Nguồn: American Arbitration Association - www.adr.org/index2.1.jsp?JSPssid=15765)

Trang 28

Các bên trong tranh chấp là các bên trong quan hệ làm ăn buôn bán với cácthơng nhân Mỹ, bao gồm các thơng nhân của hầu hết các nớc trên thế giới.Cũng có trờng hợp các bên đơng sự đều là bên nớc ngoài

Phán quyết trọng tài của AAA có giá trị chung thẩm Nó đợc công nhận ởcác nớc tham gia công ớc New York và các nớc khác

Nh vậy, chúng ta thấy rằng AAA là một trong những tổ chức trọng tài lớnnhất hiện nay và phạm vi hoạt động của nó là toàn cầu Với một số lợngkhổng lồ các vụ tranh chấp đã đợc giải quyết tại đây chứng tỏ AAA là tổ chứctrọng tài có uy tín và phán quyết của nó có tính chính xác cao, các tổ chứctrọng tài ở Việt Nam nên tìm hiểu để học tập những kinh nghiệm về xét xử đểnâng cao nghiệp vụ trọng tài của mình

2.2 Toà án trọng tài quốc tế của Phòng thơng mại quốc tế ICC- (The ICC International Court of Arbitration)

Toà án trọng tài quốc tế là một tổ chức trọng tài thuộc Phòng thơng mạiquốc tế (ICC), đợc thành lập năm 1923 với t cách là tổ chức trọng tài của ICC.Toà án trọng tài quốc tế là tổ chức đi tiên phong trong lĩnh vực giải quyếttranh chấp thơng mại quốc tế

Chức năng của toà án là giải quyết những tranh chấp trong kinh doanh cótính chất quốc tế bằng phơng pháp trọng tài căn cứ vào các điều khoản trongbản điều lệ của ICC Bản quy tắc trọng tài của Phòng thơng mại quốc tế gồm

24 điều, trong đó có quy định cụ thể trình tự tố tụng trọng tài từ việc thành lậptoà án trọng tài, chỉ định trọng tài viên cho tới các thủ tục nộp đơn yêu cầu toà

án trọng tài giải quyết tranh chấp, phản tố, th bào chữa, trờng hợp không có

điều thoả thuận trớc về trọng tài, chi phí trọng tài, chuyển hồ sơ cho trọng tàiviên, điều lệ tiến hành tố tụng trọng tài, địa điểm tiến hành tố tụng trọng tài,thẩm quyền và quá trình tố tụng trọng tài Toà án trọng tài kết thúc toàn bộquá trình tố tụng trọng tài bằng một quyết định Quyết định này là cuối cùng

và có tính chất bắt buộc thi hành đối với các bên Khi đa vụ tranh chấp ra phân

xử bằng trọng tài của Phòng thơng mại Quốc tế, các bên xem nh đã cam kếtthi hành phán quyết trọng tài một cách không chậm chễ và đã từ bỏ quyềnkháng án dới bất kỳ hình thức nào trong mọi trờng hợp

Trang 29

Theo quy tắc trọng tài của Phòng thơng mại quốc tế, khi các bên đa tranhchấp ra Toà án trọng tài thì có quyền tự do chọn lựa trọng tài, luật áp dụng hayngôn ngữ, địa điểm xét xử Uỷ ban trọng tài có thể chỉ có một trọng tài viênhoặc hơn Khi các bên không lựa chọn đợc tài viên thì Toà án trọng tài sẽ làngời quyết định Không giống nh các tổ chức trọng tài khác, Toà án trọng tàikhông yêu cầu các bên phải lựa chọn trọng tài viên từ một danh sách sẵn có

mà có thể chọn trọng tài viên ngoài danh sách

Chức năng của Toà án trọng tài quốc tế là xét xử các tranh chấp thơng mạimang tính quốc tế theo quy tắc của ICC nhng cũng xét xử các tranh chấpkhông mang tính quốc tế nếu các bên có yêu cầu

Về tổ chức, Toà án trọng tài quốc tế có một chủ tịch, chín phó chủ tịch vàcác thành viên từ 77 quốc gia và khu vực trên thế giới Các thành viên đợc bầu

cử có nhiệm kỳ là 3 năm

Hiện nay, Toà án trọng tài quốc tế của ICC đợc đánh giá là một trongnhững trung tâm trọng tài có uy tín nhất trên thế giới và có nhiều kinh nghiệm.Toà án trọng tài quốc tế đã xét xử trên 1200 vụ tranh chấp liên quan đếnnhững hợp đồng thơng mại trên toàn thế giới và bao trùm hầu hết mọi lĩnh vực

về hoạt động thơng mại quốc tế Riêng năm 2002 xét xử 593 vụ Các bêntrong tranh chấp là các quốc gia, các cơ quan, công ty, xí nghiệp nhà nớc và tnhân, các cá nhân… nếu đ, Toà án trọng tài đã giải quyết nhiều vụ tranh chấp rấtphức tạp và khó khăn

(Nguồn: www.iccwbo.org/court/english/new-archives/2003/court.asp) Những phán xử của Toà án Trọng tài Quốc tế là mang tính chất quốc tế d-

ới mọi hình thức Mặc dù Toà án Trọng tài quốc tế và phòng th ký có trụ sở tạiParis nhng nó không có mối liên hệ riêng biệt với quốc gia hay một chính phủnào Tính chất “quốc tế” của nó đợc thể hiện ở những điểm sau:

*/ Trọng tài viên có thể thuộc mọi quốc tịch, tính đến nay đã có khoảngtrên 60 quốc tịch khác nhau

*/ Thủ tục trọng tài có thể diễn ra ở bất cứ nơi nào trên thế giới theo thoảthuận của các bên đơng tụng Nếu không có thoả thuận giữa các bên tranhchấp, Toà án trọng tài quốc tế sẽ tự chọn lấy nơi xét xử

Trang 30

*/ Ngôn ngữ xét xử có thể bằng mọi thứ tiếng mà các bên tranh chấp lựachọn Nếu không có thoả thuận vầ ngôn ngữ, mặc dù tiếng Anh, Pháp, Đức làngôn ngữ thông dụng nhất song toà án cũng có thể sử dụng tiếng Italia, TâyBan Nha, Nhật, Trung Quốc hoặc những thứ tiếng khác.

*/ Phòng th ký của Toà án trọng tài quốc tế có những cộng tác viên củanhiều nớc, nói nhiều thứ tiếng và có năng lực đảm nhận việc t vấn, giúp đỡ cácbên tranh chấp, đại diện của các bên tranh chấp và trọng tài

Nh vậy với tính chất “quốc tế” nổi trội của mình, Toà án trọng tài Quốc tế

là một tổ chức trọng tài quốc tế điển hình và là địa chỉ tin cậy của thơng giatrên toàn thế giới

2.3 Trọng tài thơng mại Trung Quốc

Do những u thế của phơng pháp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài,Trung Quốc ủng hộ và khuyến khích việc sử dụng trọng tài trong giải quyếttranh chấp thơng mại Việc thành lập Viện trọng tài thơng mại có liên quan

đến nớc ngoài ở Trung Quốc đợc tuyên bố vào đầu năm 1956 Qua 4 thập kỷ,trọng tài ở Trung Quốc đã đạt đợc những kết quả đáng ghi nhận Hiện nay Uỷban Trọng tài thơng mại và kinh tế Trung Quốc có phán quyết chính xác cao,

và tính công bằng của các phán quyết của Uỷ ban trọng tài này đợc công nhậnthống nhất ở cả trong nớc và quốc tế Các trờng hợp đã đợc công nhận phánquyết gồm các bên từ hơn 40 nớc và khu vực trên thế giới Trung Quốc đã trởthành một trung tâm trọng tài thơng mại lớn trên thế giới

*/Uỷ ban trọng tài thơng mại và kinh tế quốc tế Trung Quốc

Uỷ ban trọng tài thơng mại và kinh tế quốc tế Trung quốc (sau đây gọi là

Uỷ ban trọng tài, cũng có tên khác là toà án trọng tài của Phòng thơng mạiquốc tế Trung Quốc từ tháng 10 năm 2000) là một tổ chức trọng tài thơng mạiquốc tế lâu năm, giải quyết bình đẳng và độc lập, bằng các biện pháp trọng tàicác tranh chấp thơng mại và kinh tế có liên quan đến hợp đồng hoặc không

Uỷ ban trọng tài có thể cũng giải quyết bất kỳ các tranh chấp trong nớc màcác bên đồng ý đa ra trớc Uỷ ban trọng tài Uỷ ban trọng tài trớc đây có têngọi chính thức là Uỷ ban trọng tài ngoại thơng, đợc thành lập vào tháng 4 năm

1956 thuộc Hội đồng Trung Quốc về thúc đẩy thơng mại quốc tế phù hợp vớiquyết định ngày 6/5/1954 của Uỷ ban quản lý Chính phủ trớc đây của Chính

Trang 31

phủ Cộng hoà nhân dân Trung Hoa Cùng thời gian đó, các qui tắc tố tụng của

Uỷ ban trọng tài đợc đa ra bởi Uỷ ban xúc tiến thơng mại quốc tế Trung Quốc

Để đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng tăng của các mối quan hệ kinh tế

th-ơng mại của Trung Quốc và các nớc khác sau khi tiến hành cải tổ kinh tế, thựchiện chính sách mở, Uỷ ban trọng tài ngoại thơng đã đợc đổi thành Uỷ bantrọng tài thơng mại và kinh tế nớc ngoài vào năm 1980 và sau đó đợc đặt tênlại là Uỷ ban trọng tài kinh tế và thơng mại quốc tế Trung Quốc vào năm

1988 (China International Economic and Trade Arbitration CIETAC)

Commision-CIETAC sửa đổi qui tắc tố tụng vào các năm 1988, 1994, 1995, 1998 vànăm 2000 Qui tắc tố tụng trọng tài năm 1998 bắt đầu có hiệu lực từ ngày1/8/2000 Phòng thơng mại quốc tế Trung Quốc/ Uỷ ban xúc tiến thơng mạiquốc tế Trung Quốc có thể sửa đổi các qui tắc tố tụng của CIETAC và đa ranhững qui tắc bổ trợ khi nhu cầu phát sinh

Trụ sở của CIETAC đặt tại Bắc Kinh, chi nhánh ở Thiên Tân và Thợng Hải

đợc thành lập vào năm 1989 và 1990 nhằm mở rộng các hoạt động trọng tài.Trụ sở ở Bắc Kinh và các chi nhánh đều là một Họ sử dụng cùng một qui tắc

tố tụng và các trọng tài Sau hơn 4 thập kỷ cố gắng để cải tiến các hoạt độngcủa mình, CIETAC đã tạo đợc danh tiếng rộng rãi cả trong nớc và quốc tếbằng tính độc lập, công bằng, hiệu quả và nhanh chóng trong khi giải quyếttranh chấp và trở thành một trong số tổ chức trọng tài thơng mại lớn trên thếgiới Trong vài năm trở lại đây, nó đã nhanh chóng trở thành một tổ chứctrọng tài lớn hàng đầu trong giải quyết tranh chấp thơng mại Các bên từ 45 n-

ớc và vùng lãnh thổ tham gia vào các vụ kiện ra trọng tài CIETAC Phán quyếtcủa CIETAC đợc công nhận là công bằng và nó đợc công nhận có hiệu lực thihành ở 140 nớc và khu vực trên thế giới

Về tổ chức, CIETAC hoạt động theo hệ thống một uỷ ban Đứng đầu làmột Chủ tịch, vài phó chủ tịch và các thành viên Chủ tịch thực hiện chức năng

và nhiệm vụ của mình đợc qui định trong qui tắc của Uỷ ban Các phó chủ tịchthực hiện chức năng và nhiệm vụ của Chủ tịch theo sự uỷ quyền của Chủ tịch.Ngoài ra CIETAC còn có một Chủ tịch danh dự và các cố vấn

Trang 32

Trụ sở của CIETAC và các văn phòng chi nhánh đều có ban th ký riêng vàmỗi ban th ký có một Tổng th ký và một vài Phó tổng th ký Các th ký chịutrách nhiệm về các công việc hàng ngày dới sự lãnh đạo của Tổng th ký.

Cuộc họp của các thành viên CIETAC, cuộc họp của Chủ tịch, của cácTổng th ký và Uỷ ban cố vấn chuyên gia đợc tổ chức định kỳ

CIETAC thành lập 5 văn phòng ở Dialan, Fuzhou, Changsha, Chuping vàChengdu Năm văn phòng cùng đóng góp để xây dựng những biện pháp xúctiến trọng tài và cung cấp cho các bên tranh chấp các dịch vụ t vấn trọng tài.CIETAC giải quyết các vụ việc độc lập và công bằng, bằng những biệnpháp trọng tài, những tranh chấp phát sinh từ các giao dịch thơng mại và kinh

tế, có liên quan đến hợp đồng hay không

Các tranh chấp bao gồm:

+ Những tranh chấp liên quan đến nớc ngoài hoặc quốc tế

+ Những tranh chấp liên quan đến các quan hệ làm ăn với đặc khu HồngKông, khu vực Macao, và Đài Loan

+ Những tranh chấp giữa các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài vớinhau, các tranh chấp giữa các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài và cácpháp nhân Trung Quốc khác, với cá nhân và /hoặc các tổ chức kinh tế

+ Những tranh chấp phát sinh từ các dự án tài chính, mời thầu, đấu giá, xâydựng và các hoạt động khác đợc các pháp nhân Trung Quốc, cá nhân hoặc các

tổ chức kinh tế thực hiện qua việc sử dụng vốn công nghệ và dịch vụ từ nớcngoài, các tổ chức quốc tế hoặc từ đặc khu Hồng Kông, khu vực Macao và ĐàiLoan

+ Những tranh chấp phát sinh có thể đợc (phân biệt) nhận biết bởi Uỷ bantrọng tài liên quan đến các điều khoản đặc biệt của hoặc phụ thuộc vào các qui

định của luật hoặc các qui tắc quản lý của Cộng hoà dân chủ nhân dân TrungHoa

+ Bất kỳ các tranh chấp trong nớc mà các bên đồng ý giải quyết bằng trọngtài thông qua Uỷ ban trọng tài

Trang 33

Là một tổ chức trọng tài thơng mại quốc tế lâu năm , CIETAC có những

đặc trng riêng biệt ngoài nhiều u điểm chung của trọng tài Cụ thể, những đặctrng này là: 1 Giám sát qua các trờng hợp Uỷ ban trọng tài chấp nhận xemxét lại những phán quyết (sơ thẩm) phác thảo, giám sát và điều hành qua trìnhtrọng tài để đảm bảo tính công bằng cho các phán quyết 2 Kết hợp giữa giảiquyết bằng trọng tài với hoà giải Kết hợp những lợi ích của giải quyết bằngtrọng tài và hoà giải, Hội đồng thẩm phán có thể hoà giải vụ việc trớc hoặc saukhi giới thiệu các thủ tục tiến hành trọng tài nếu các bên cũng mong muốn nhvậy Nếu hoà giải không thành công, hội đồng trọng tài lại tiến hành các thủtục trọng tài nh bình thờng cho đến khi phán quyết đợc đa ra Điều then chốt ở

đây là các trọng tài có thể kết hợp thực hiện chức năng của các hoà giải viên,nếu cần thiết, theo cùng thủ tục tức là thủ tục trọng tài 3 Chi phí thấp Theoqui tắc trọng tài thì phí của Uỷ ban trọng tài là rất thấp so với các tổ chứctrọng tài lớn khác trên thế giới Uỷ ban trọng tài cố gắng cung cấp những dịch

vụ thuận tiện nhất và tốt nhất cho các bên với chi phí thấp nhất

Uỷ ban trọng tài có một danh sách trọng tài viên Các trọng tài viên đợctuyển chọn từ những ngời Trung Quốc và cả ngời nớc ngoài với điều kiệnnhững ngời này phải có kiến thức hiểu biết và kinh nghiệm thực tiễn trong th-

ơng mại kinh tế, khoa học và công nghệ, luật pháp và những lĩnh vực khác.Các bên chỉ có thể chọn trọng tài viên trong danh sách trọng tài viên của Uỷban trọng tài Danh sách hiện nay của Uỷ ban trọng tài gồm 492 trọng tài viêntrong đó có 158 trọng tài từ đặc khu Hồng Kông và các nớc và khu vực khác CIETAC chỉ chấp nhận đơn kiện đợc lập thành văn bản Uỷ ban trọng tài

có thể xét xử chỉ dựa trên hồ sơ, tài liệu hoặc có thể xét xử miệng Các bên cóquyền tự bào chữa bằng mọi biện pháp trong thời gian xét xử vụ tranh chấp.Trong trờng hợp xét xử chỉ dựa trên hồ sơ, phán quyết phải đợc ra trongvòng 90 ngày kể từ ngày thành lập hội đồng trọng tài Còn nếu xét xử miệngthì thời gian để ra phán quyết là trong vòng 30 ngày kể từ ngày xét xử Hội

đồng xét xử có thể yêu cầu Tổng th ký của CIETAC gia hạn thời hạn ra phánquyết nếu nh có những lý do hợp pháp Phán quyết của trọng tài phải đợc sựnhất trí bởi đa số các trọng tài viên Uỷ ban trọng tài xét xử vụ kiện có thể ramột phán quyết phác thảo và gửi tới CIETAC trớc khi ký vào phán quyết.Phán quyết trọng tài là chung thẩm và ràng buộc đối với các bên và không thểkháng án trớc bất kỳ một toà án hay một tổ chức trọng tài nào khác

Trang 34

Nh vậy, Uỷ ban trọng tài thơng mại và kinh tế quốc tế Trung Quốc là một

tổ chức trọng tài độc lập và có qui tắc tố tụng riêng Tuy nhiên, so với các tổchức trọng tài quốc tế khác, thì Uỷ ban trọng tài có sự quản lý và chi phốinhiều hơn của Nhà nớc mà cụ thể ở đây là Uỷ ban xúc tiến thơng mại TrungQuốc

*/ Hội đồng trọng tài hàng hải Trung Quốc

Ngoài CIETAC ra, ở Trung Quốc còn có Hội đồng trọng tài hàng hải(CMAC) trực thuộc Uỷ ban xúc tiến thơng mại Trung quốc CMAC chuyêngiải quyết các tranh chấp phát sinh trong vận chuyển hàng hoá bằng đờng biển

và các tranh chấp khác có liên quan đến hàng hải nh bảo hiểm hàng hoáchuyên chở bằng đờng biển, bảo hiểm thân tàu, các tranh chấp phát sinh trongviệc mua bán, thuê, sửa chữa, đóng tàu, CMAC có cơ cấu tổ chức và hoạt

động gần tơng tự nh CIETAC

2.3 Viện trọng tài Thái Lan (Thai arbitration institute- TAI)

Viện trọng tài Thái Lan là tổ chức trọng tài trực thuộc Bộ T pháp Thái Lan

đợc thành lập nhằm giải quyết các tranh chấp thơng mại có tính quốc tế bằngphơng pháp trọng tài và các phơng pháp khác ngoài toà án TAI giải quyếttranh chấp theo qui tắc trọng tài của Bộ T pháp Thái Lan Bản qui tắc này gồm

35 điều trong đó đa ra các định nghĩa, qui định về thủ tục trọng tài, các qui

định về chỉ định trọng tài viên, thể thức trọng tài

Thẩm quyền của TAI là giải quyết các tranh chấp quốc tế thuộc các lĩnhvực: buôn bán quốc tế, quyền sở hữu trí tuệ, chuyên chở hàng hóa bằng đờngbiển, hợp đồng xây dựng,… nếu đ

Các tranh chấp thuộc thẩm quyền của TAI là các tranh chấp quốc tế, tuynhiên nếu các bên yêu cầu thì TAI cũng sẽ giải quyết các tranh chấp trong n-ớc

Theo bản qui tắc trọng tài của Bộ T pháp thì ủy ban trọng tài có thể gồmmột hoặc ba trọng tài viên đợc các bên lựa chọn trong danh sách trọng tài viêncủa Viện Các trọng tài viên là những ngời Thái và ngoài ra cũng có thể cótrọng tài là ngời nớc ngoài Hiện nay trong danh sách trọng tài của TAI có hơn

200 luật s và các chuyên gia để các bên lựa chọn Ngoài ra, còn có 19 trọng tàiviên là ngời nớc ngoài Các bên không nhất thiết phải chọn trọng tài viên trongdanh sách này mà có thể chọn trọng tài viên ở ngoài danh sách Các bên có

Ngày đăng: 25/12/2013, 20:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Hiệp định thơng mại Việt Nam- Hoa Kỳ năm 2000, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định thơng mại Việt Nam- Hoa Kỳ năm 2000
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
19. www.iccwbo.org/court/english/intro-court/introduction.asp20. www.iccwbo.org/court/english/new-archives/2003/court.asp21. www.adr.org/index2.1.jsp?JSPssid=15765 Link
27.Sunflower.singnet.com.sg/~arbiter/thairule.html Link
1. Pháp lệnh trọng tài thơng mại ngày 25/2/2003 Khác
2. Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài n- ớc ngoài (1995) Khác
3. Đạo luật mẫu về thơng mại quốc tế của UNCITRAL Khác
4. Công ớc New York 1958 về công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nớc ngoài Khác
5. Qui tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam năm 1993 Khác
6. Giáo trình pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại- Trờng đại học Ngoại thơng ( Nguyễn Thị Mơ- Hoàng Ngọc Thiết) Khác
8. Giáo trình luật thơng mại quốc tế (Trờng Đại học Kinh tế quốc dân) 9. Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam năm 2003 Khác
13. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 10/10/1990 14. Qui tắc trọng tài UNCITRAL 1976 Khác
15. Quyết định số 204/TTg của Thủ tớng Chính phủ ngày 28/4/1993 16. Quyết định số 114/TTg của Thủ tớng Chính phủ ngày 16/2/1996 Khác
17. Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam (2002: 50 Phán quyết trọng tài quốc tế chọn lọc Khác
18. Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (2002), Báo cáo kết quả hoạt động nhiệm kỳ II (1998- 2001) và phơng hớng hoạt động nhiệm kỳ III (2002- 2005) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Tranh chấp kiện đến VIAC - Giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế giữa các thương nhân bằng phương pháp trọng tài và thực tiễn ở việt nam
Bảng 2.2 Tranh chấp kiện đến VIAC (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w