Thực ra Điển cố trong Lục Vân Tiên xét về mặt chú giải nó nh chú giải những từ ngữ riêng lẻ thì các nhà su tầm biên khảo tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu toàn tập[10]
Trang 1mục lục
Trang
3 Đối tợng nghiên cứu và phạm vi, giới hạn của đề tài 5
3.2 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài 6
Chơng 1: Khái niệm Điển cố văn học, vai trò nghệ thuật của Điển cố
trong sáng tác văn học trung đại và trung sáng tác của
Nguyễn Đình Chiểu
1.1 Khái niệm Điển cố và vai trò nghệ thuật của Điển cố trong sáng
1.1.2 Vai trò nghệ thuật của Điển cố trong sáng tác văn học trung đại 101.2 Một cái nhìn chung về Điển cố trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu 111.2.1 Nguyễn Đình Chiểu - nhà thơ lớn của văn học trung đại Việt Nam
Chơng 2: Các loại Điển cố và ý nghĩa biểu đạt của Điển cố trong
3.1.2 Dùng Điển cố trong trần thuật, miêu tả qua ngôn ngữ nhân vât
Trang 2và ngôn ngữ tác giả 333.2 Vai trò ý nghĩa nghệ thuật của Điển cố trong Lục Vân Tiên
3.2.2 Một số Điển cố tiêu biểu mang tính nghệ thuật cao trong
3.2.3 Dấu ấn phong cách nghệ thuật của Nguyễn Đình Chiểu
Lời cảm ơn.
Luận văn này đợc hoàn thành là nhờ sự quan tâm giúp đỡ tận tình của thầy giáo
hớng dẫn TS Biện Minh Điền, thầy giáo phản biện Lê Văn Tùng cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô giáo khoa Ngữ Văn - trờng Đại học Vinh.
Qua đây tôi xin bày tỏ tấm lòng biết ơn chân thành sâu sắc đến thầy giáohỡng dẫn, thầy giáo phản biện và tất cả quý thầy cô giáo trong khoa
Mặc dù đã cố gắng nhiều nhng vì thời gian và nguồn tài liệu có hạn, hơnnữa lần đầu tiên làm quen với việc nghiên cứu khoa học nên luận văn còn nhiềuthiếu sót Chính vì vậy tôi kính mong đợc sự quan tâm, góp ý của quý thầy côgiáo
Vinh, ngày18 tháng 05 năm 2003.
Tác giả.
Trang 3mở đầu
1 Mục đích, ý nghĩa của đề tài.
1.1 Khi nói đến văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX, không ai khôngbiết đến Nguyễn Đình Chiểu - một tác gia lớn, một phong cách độc đáo, ông từng
đợc coi là ngọn cờ đầu của văn học yêu nớc nửa sau thế kỷ XIX Sự nghiệp sángtác của Nguyễn Đình Chiểu là cả một quá trình mày mò tìm kiếm và sáng tạobằng tất cả tài năng và tâm huyết của ông, thơ văn ông luôn hớng về chân, thiện,
mỹ, hớng về đạo lý làm ngời, đợc nhân dân yêu mến và giữ gìn nh những bài họcquý
Nghiên cứu vấn đề Điển Cố trong sáng tác nghệ thuật của Nguyễn ĐìnhChiểu, chung tôi hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu di sản vănhọc quý của nhà thơ
1.2 Nguyễn Đình Chiểu con ngời và thơ văn của ông đã đợc nhiều ngờiquan tâm ngay từ thời ông còn sống (những năm tám mơi của thế kỷ XIX) Lịchtrình nghiên cứu về Nguyễn Đình Chiểu đã có hơn một thế kỷ Đã có rất nhiềucông trình nghiên cứu về con ngời, cuộc đời cung nh sự nghiệp sáng tác của nhàthơ Tuy nhiên vấn đề Điển Cố trong sáng tác của ông vẫn cha đợc các nhànghiên cứu chú ý đến, hoặc có nói đến nhng cha đi sâu Chúng tôi nghiên cứuvấn đề này mong rằng sẽ góp đợc phần nhỏ của mình trong việc khắc phục nhữngkhiếm khuyết đó
1.3 Nguyễn Đình Chiểu là một tác gia tiêu biểu, giữ một vị trí đặc biệtquan trọng không chỉ trong lịch sử văn học dân tộc, mà cả trong chơng trìnhgiảng dạy ở học đờng Tìm hiểu nghiên cứu vấn đề "Điển cố" trong sáng tác nghệthuật của Nguyễn Đình Chiểu, khoá luận hy vọng ít nhiều góp phần vào việcgiảng dạy, tìm hiểu Nguyễn Đình Chiểu ở trờng phổ thông đợc tốt hơn
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
Trang 42.1 Cho đến nay có khoảng trên dới 400 công trình nghiên cứu và bài viếttìm hiểu về con ngời, cuộc đời của nhà thơ Những công trình nghiên cứu đó đã
đạt đợc những thành công không nhỏ Tuy nhiên vẫn còn không ít những vấn đề
về Nguyễn Đình Chiểu và thơ văn của ông cha đợc nghiên cứu hoặc có đợc đềcập đến nhng cha đợc đợc khảo cứu, tìm hiểu kỹ càng
2.2 Vấn đề Điển cố trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu quả thực là vấn đềcòn mới mẻ, đòi hỏi phải có sự tìm hiểu, khảo cứu công phu với một cái nhìnkhoa học hệ thống Công trình của chúng tôi với t cách là một luận văn tốt nghiệp
Đại học, mạnh dạn đi sâu vào vấn đề này nhng chỉ giới hạn ở một tác phẩm Lục Vân Tiên của nhà thơ.
Thực ra Điển cố trong Lục Vân Tiên xét về mặt chú giải nó nh chú giải
những từ ngữ riêng lẻ thì các nhà su tầm biên khảo tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu
(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu toàn tập)[10], Lục Vân Tiên [16] hoặc các tác
giả của một số sách "Từ điển", "Điển cố" (chẳng hạn nh Đinh Gia Khánh trong
"Điển cố văn học"[7], Nguyễn Ngọc San "Từ điển điển cố văn học trong nhà ờng"[12]) đã có làm Nhng tất cả đó mới chỉ là những chú giải những từ ngữ đơn
tr-thuần, cha phải là những tiểu luận nghiên cứu
Chúng tôi xem phát hiện của các tác giả trên là những gợi ý đáng quý để đisâu vào vấn đề mà mình quan tâm, nghiên cứu Và chung tôi xem những Điển Cốtrong sáng tác Nguyễn Đình Chiểu với t cách nh là những khái niệm, phạm trù có
ý nghĩa thẫm mỹ, góp phần thể hiện t tởng và quan niệm nghệ thuật của nhà thơ
2.3 Có thể nói công trình của chúng tôi (dẫu chỉ ở mức là một luận văn tốtnghiệp Đại học) là công trình đầu tiên đi sâu vào tìm hiểu vấn đề này một cách
hệ thống, toàn diện với một cái nhìn khoa học Chúng tôi mong rằng với côngtrình này sẽ có đóng góp một phần nhỏ thiết thực vào nghiên cứu t tởng, sựnghiệp sáng tác của nhà thơ
3 Đối tợng nghiên cứu và phạm vi, giới hạn của đề tài.
3.1 Đối tợng nghiên cứu.
Với đề tài này chung tôi tập trung đi sâu vào nghiên cứu Điển Cố trong
Lục Vân Tiên, từ đó phân loại và rút ra ý nghĩa việc dùng Điển Cố trong Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu
3.2 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Đề tài này chỉ đi vào tìm hiểu, nghiên cứu Điển cố và cách dùng Điển cố
trong truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu Tài liệu, văn bản mà khoá
Trang 5luận của chúng tôi dựa vào để khảo sát, nghiên cứu là cuốn Lục Vân Tiên
-Nguyễn Đình Chiểu do Ty Văn hoá thông tin Bến Tre xuất bản 1982 [12].
4 Nhiệm vụ nghiên cứu.
4.1 Giới thuyết khái niệm Điển cố, truyền thống dùng Điển cố trong vănhọc trung đại và trong sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Đình Chiểu
4.2 Khảo sát phân loại Điển cố và xác định khái quát ý nghĩa biểu đạt
Điển Cố trong Lục Vân Tiên.
4.3 Phân tích nghệ thuật dùng Điển cố và vai trò nghệ thuật của Điển cố
trong Lục Vân Tiên, xác định nét riêng mang dấu ấn nghệ thuật của Nguyễn
Đình Chiểu Cuối cùng rút ra một số kết luận về Điển cố trong Lục Vân Tiên.
5 Phơng pháp nghiên cứu.
Khoá luận xuất phát từ quan điểm phong cách học nghệ thuật, sử dụngnhiều phơng pháp khác nhau nh: khảo sát, thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh,
hệ thống để tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn.
6.1 Đóng góp.
Lần đầu tiên Điển cố trong Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu đợc
khảo sát phân tích một cách công phu, với cái nhìn hệ thống Cũng qua đây, luậnvăn có cơ sử khẳng định thêm nét riêng trong phong cách Nguyễn Đình Chiểu
qua việc dùng Điển cố của Nguyễn Đình Chiểu trong Lục Vân Tiên.
6.2 Cấu trúc.
Ngoài Mở đầu và Kết luận, Nội dung chính của luận văn đợc triển khai
trong ba chơng:
Chơng 1: Khái niệm Điển cố văn học, vai trò nghệ thuật của Điển cố trong
sáng tác văn học trung đại và trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu
Chơng 2: Các loại Điển cố và ý nghĩa biểu đạt của Điển cố trong Lục Vân Tiên.
Chơng 3: Nghệ thuật dùng Điển cố và vai trò nghệ thuật của Điển cố
trong Lục Vân Tiên.
Cuối cùng là Tài Liệu tham khảo.
Trang 6Chơng 1 Khái niệm Điển Cố văn học, vai trò nghệ thuật của Điển
Cố trong sáng tác văn học trung đại và trong sáng
tác của Nguyễn Đình Chiểu.
1.1 Khái niệm Điển cố và vai trò nghệ thuật của Điển cố trong sáng tác văn học trung đại.
1.1.1 Khái niệm Điển cố.
Ngời xa khi viết văn, làm thơ thờng mợn sự tích xa hay dẫn một câu thơ,câu văn cổ để diễn tả ý mình, biện pháp ấy gọi là dùng Điển cố Thực ra trongthực tế có rất nhiều quan niện về Điển cố:
Theo Đinh Gia Khánh, Điển cố là tất cả những điễn tích xa, những câu thơ,
những câu văn, những thành ngữ Hán - Việt đợc viễn dẫn nh "Bình địa ba
đào"[7].
Đào Duy Anh quan niệm: "Điển cố là những sự việc chép trong sách vở
x-a"[1,276] ý kiến này gạt ra ngoài những ý văn thơ lấy trong các tác phẩm cổ nh:
"hoa đào năm ngoái còn cời gió đông".
Từ điển Hán - Việt hiện đại (do Nguyễn Kim Thản chủ biên) cho rằng:
Trang 7Điển , nghĩa thứ 1: Chuẩn mực, mẫu mực.
nghĩa thứ 2: Sách kinh điển
Cố nghĩa thứ 1: Sự việc, sự biến, sự cố
nghĩa thứ 2: Xa cũ
"Điển cố là sự việc cũ đã trở thành mẫu mực đợc chép trong thơ văn"[15, 432].
Từ điển tiếng việt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa: "Điển cố là sự việc
hay câu chữ trong sách đời trớc đợc dẫn trong thơ văn"[11, 324] đây chỉ là
những giải thích, cắt nghĩa đơn giản về Điển cố Từ góp độ phong cách học - kểcả phong cách học nghệ thuật và phong cách học ngôn ngữ, ta đều có thể thấy
Điển cố là một hình thức tu từ (hoặc là biện pháp tu từ) rất cơ bản của văn học cổ
điển trung đại Nó đợc dùng nh một ẩn dụ Trong sáng tác văn học trung đại, việcvận dụng Điển cố là một hiện tợng thông dụng và phổ biến Trần Đình Sử chobiết, trong sách Cổ Đại Hán Ngữ, Vơng Lực trên cơ sở khảo sát văn chơng cổTrung Hoa, đã xác định trong văn chơng cổ Trung Hoa có 8 phơng thức tu từ
thông dụng; 1 Kê Cổ, 2 Dẫn Kinh, 3 Đại Xng, 4 Đảo Trí, 5 ẩn Dụ, 6 Vu Hồi, 7
Uỷ Uyển, 8 Khoa Sức Trong đó "Kê Cổ" tức là kể cứu việc xa cụ thể là viện dẫn sự
việc của ngời xa để chứng thực cho ý kiến của mình [13]
Nh vậy có rất nhiều ý kiến khác nhau về Điển cố vì thế chúng tôi đa raquan niệm của mình: Điển cố là những sự việc, những câu chữa, ý văn thơ mẫumực từ xa đựơc viện dẫn vào văn, thơ Dấu hiệu để nhận biết ra nó là sự việc, câuchữ, ý văn thơ đợc sử dụng trong tác phẩm
Ví dụ: Khắc khoải sầu đa giọng lững lờ
ấy hồn Thục Đế chết bao giờ
(Quốc kêu cảm hứng - Nguyễn Khuyến)
"Hồn Thục Đế" lấy từ truyền thuyết vua nớc Thục tên là Đỗ Vũ mất nớc
khi chết hoá thành chim Đỗ Quyên ngày đêm khắc khoải không thôi "Thục
quốc", "Thục quốc" các nhà thơ về sau khi gặp hoàn cảnh "quốc phá, gia phong" thờng mợn Điển cố này để bộ lộ nỗi niềm nhớ nớc (Bà Huyện Thanh
Quan trong bài "Qua Đèo Ngang", Chu Mạnh Trinh trong bài "Cổ Loa Hữu
Cảm", Nguyễn Khuyến trong bài "Quốc Kêu Cảm Hứng" v.v ).
Có khi Điển Cố đợc dùng một vài chữ trong thơ văn cổ nh "Thiếp Bạc
Mệnh" (tên một bài thơ của Lý Bạch) "Thiếp bạc mệnh" là một câu thơ của Bà
Hứa hoàng hậu nhà Hán "Nại hà thiếp bạc mệnh" nghĩa là (làm sao thiếp xấu số) Ba chữ "Thiếp bạc mệnh" đợc dùng để chỉ về sự xấu số bạc mệnh của ngời
phụ nữ
Trang 8Trong sáng tác văn học vận dụng Điển cố là biện pháp dùng xa để nói nay,không cần phải dài dòng, chỉ nhắc lại việc xa vài ba câu chữ mà có sức gợi cảmsâu sắc, lời văn sinh động.
1.1.2 Vai trò nghệ thuật của Điển cố trong sáng tác văn học trung đại
Văn học trung đại thuộc loại hình văn học mang tính quy phạm chặt chẽ.Ngời nghệ sỹ khi sáng tác thơ văn trớc mắt họ đã có những khuôn mẫu định sẵn,
họ không thể không vận dụng mà vận dụng,thậm chí vận dụng đợc càng nhiều thìcàng tốt
Điển cố là tóm gọn chuyện cũ lời xa thành "đôi ba chữ" để đa vào văn
ch-ơng làm cho câu văn hàm súc, ngắn gọn, lời ít, ý nhiều Do quan niệm thẩm mỹcủa ngời xa yêu thích tập cổ, câu văn càng cổ, càng dẫn nhiều câu chuyện cổ thìcàng đợc xem là mẫu mực Từ đó tính sùng cổ trở thành một đặc trng của ngờitrung đại Khi sử dụng Điển cố ngời ta ít chú ý đến sáng tạo hình thức mới màxét hình thức nh một cái gì có sẵn đã hoàn hảo, không xét đến quá trình sinhthành ra nó Khi lần đầu tiên xuất hiện những từ ngữ cha phải là Điển cố, chúngchỉ có ý nghĩa biểu đạt thông thờng hệt nh những từ ngữ khác, tức là biểu đạtnhững gì hàm ẩn ngay trong từ ngữ ấy, nói cách khác biểu đạt cái nghĩa của từ
đó Dần dần một số từ ngữ gắn với các sự tích đợc xem là tiêu biểu, mẫu mựchoặc gắn với các câu nói, câu thơ nổi tiếng đợc tách ra và dùng trong những văncảnh, ngữ cảnh nào đó Vai trò nghệ thuật của Điển cố trong sáng tác văn họctrung đại là hết sức quan trọng Ví dụ: Bài thơ Lệ của Lý Thờng ẩn, nhà thơ nổitiếng vì dùng nhiều Điển cố, bản dịch của Lê Nguyễn Lu:
Hẻm tối quanh năm giận lụa là, Chia tay ngày vắng nhớ phong ba.
Sông Tơng hàng trúc dầm dầm vết, Núi Nghiễn đầu bia giọt giọt sa Ngời bỏ Tử đài thu vợt ải, Binh tàn Sở trớng tối nghe ca Sớm mai hàng liễu bờ sông Bá
Chửa chạm bào xanh tiễn ngọc kha.
Đây là bài thơ tác giả tự thơng xót mình, tự ví mình với những sự việc, sốphận hẩm hiu, đau khổ nhất Hai câu đầu dẫn tích các cung nữ bị bỏ quên vàolãnh cung để chết già, câu 3 lấy tích hai ngời con gái vua Thuấn khóc cha đếnmức nớc mắt làm cả rừng trúc thành vết lốm đốm Câu 4 nhắc điển Dơng Hựutriều Tấn sau khi chết đợc ngời ta lập bia trên núi, khi truy điệu bia rơi nớc mắt.Câu 5 nói việc Vơng Chiêu Quân phải sang cống Hồ, gã Thiền Vu rời bỏ Tử Đài
Trang 9trong cung Hán Câu 6 nhắc tích Hạng Vũ bị vây khốn ở Cai Hạ, ở trong trớngnghe Sở ca vang dậy bốn bề Câu 7 nói tới tích Dơng Quan ở Đông Tràng An, nơichia tay ngời ta bẻ cành liễu tặng ngời qua ải Câu 8 nói tục học trò nghèo xa mặc
áo xanh (ngọc kha là thức trang sức quý giá trên đầu ngựa, chỉ ngời quyền quý).Các sự việc tuy khác nhau cũng xui ngời rơi lệ
1.2 Một cái nhìn chung về Điển cố trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu.
Sáng tác nào của Nguyễn Đình Chiểu cũng đều đợc ông dùng cố và dùng rất nhiều nhìn chung trong sáng tác thơ văn của ông việc dùng Điển cố có một ý nghĩa rất qua trong trong việc thể hiện t tởng tình cảm Điển cố làm cho thơ văn của ông thêm trang trọng, cổ kính, từ đó nhà văn bộc lỗ rõ t tởng của mình, mợn
xa để nói nay một cách rất kín đáo Việc dùng Điển cố trong sáng tác thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu đợc ông sàng lọc, lựa chọn rất chu đáo khi đa vào sử dụng, hơn thế nữa một số điểm đợc ông sử dụng nguyên dạng, còn một số điểm
đợc ông chế biến cho phù hợp với lời văn Nhng tổng quan lại thì Điển cố trong sáng tác thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu đợc xem nh là ẩn dự, hoán dụ hay tợng trng, mợn lời, mợn ý nhng tất cả đều mang một dấu ấn rất riêng của Nguyễn
Đình Chiểu
1.2.1 Nguyễn Đình Chiểu - nhà thơ lớn của văn học trung đại Việt Nam
ở giai đoạn cuối cùng.
Nguyễn Đình Chiểu - nhà thơ lớn tiêu biểu nhất cho dòng văn học yêu nớcchống Pháp nửa sau thế kỷ XIX Nói đến Nguyễn Đình Chiểu là nói đến một nhàthơ mà cuộc đời luôn gắn bó với vận mệnh dân tộc Sự nghiệp sáng tác của ông
đợc chia làm hai giai đoạn tơng ứng với hai giai đoạn hình thành và phát triển t ởng của ông, giai đoạn trớc 1958 và giai đoạn sau 1958
t-ở chặng đờng sáng tác thứ nhất có tác phẩm Lục Vân Tiên Lúc bấy giờNguyễn Đình Chiểu đang dạy học và bốc thuốc, ông cảm nhận một cách sâu sắcnỗi đau khổ của nhân dân trong xã hội phong kiến thời bấy giờ Qua tác phẩm
Lục Vân Tiên Nguyễn Đình Chiểu đã thể hiện rõ t tởng đấu tranh cho nhân
nghĩa, bênh vực nhân nghĩa Lý tởng nhân nghĩa của ông lúc này là mong một xãhội phong kiến lý tởng trong đó mọi mối quan hệ giữa con ngời và con ngời đềutốt đẹp
Bớc sang chặng đờng sáng tác thứ hai là chặng đờng thơ văn yêu nớcchống Pháp, đây là thời kỳ thực dân Pháp nổ súng xâm lợc nớc ta và đay cũng làchặng đờng phát triển cao trong t tởng Nguyễn Đình Chiểu Ông đã đi từ lý tởng nhânnghĩa đến lý tởng yêu nớc Tuy vậy giữa hai chặng đờng sáng tác của ông vẫn có mộtnội dung t tởng thống nhất là cái nghĩa vì dân, lấy dân làm gốc
Trang 10Thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu còn bị chi phối bởi ý thức hệ phong kiến
và hệ thống thi pháp trung đại chặt chẽ Trong sáng tác, Nguyễn Đình Chiểu luônchú trọng cách dùng Điển cố, và những Điển cố ông thờng đợc sàng lọc kỹ và cógiá trị biểu hiện t tởng, tình cảm cao
1.2.2 Lục Vân Tiên một tác phẩm văn học tiêu biểu, một điển hình độc đáo cho nghệ thuật dùng Điển cố của Nguyễn Đình Chiểu.
Quả vậy Lục Vân Tiên là một điển hình độc đáo cho việc dùng Điển cố
của Nguyễn Đình Chiểu vì trong tác phẩm này ông sử dụng hàng loạt Điển cố
Và các Điển cố đó đều có ý nghĩa thẩm mỹ cao, góp phần quan trong cho việcbiểu hiện t tởng, tình cảm, nghệ thuật của tác giả Có Điển cố thì mang ý nghĩaphê phán, tố cáo, có Điển cố thì mang ý nghĩa đề cao, ca ngợi có Điển cố thì đ -
ợc ông dùng nguyên dạng, có Điển cố thì đợc ông chế biến cho phù hợp với nộidung câu chuyện
Vị trí Lục Vân Tiên trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu có một tậm quan trọng đặc biệt Khi vừa ra đời Lục Vân Tiên ngay lập tức đợc nhân dân
Nam Bộ tiếp nhạn rất nộng nhiệt Từ tác phẩm chỉ đợc truyền miệng, chép tay, nónhanh chóng đợc truyền tụng khắp chợ cùng quê, gia nhập vào những sinh hoạt
dân gian của quần chúng nh: "Kể thơ", "Nói thơ", "Nát thơ Vân Tiên" chỉ mời
năm sau khi đặt chân lên mảnh đất Nam Bộ, một ngời Pháp G.Ôbarê, ngời dịch
Lục Vân Tiên ra tiếng Pháp, xuất bản 1864 đã nhận xét rằng: " ở Nam Kỳ lục
tỉnh, có lẽ không có một ngời chài lới hay một ngời lái đò nào lại không ngâm nga vài ba câu thơ Lục Vân Tiên khi đa đẩy mái chèo" Nguyễn Đình Chiểu -
một trí thức nhân dân suốt đời sống gắn bó với những ngời "dân ấp", "dân lân",
rất mực thẳng ngay và nhân hậu vì thế lý tởng đạo đức đợc thể hiện qua tác phẩm
Lục Vân Tiên mang tinh thần nhân nghĩa của đạo Nho nhng vẫn ngời sáng vẻ
đẹp đạo đức của nhân dân
Tác phẩm Lục Vân Tiên đợc sáng tác trớc khi thực dân Pháp xâm lợc.
Ông sáng tác trong hoàn cảnh đôi mắt bị mù Nhng với Lục Vân Tiên - Nguyễn
Đình Chiểu đã kế thừa đợc nhiều mặt truyền thống u tú của văn học quá khứ,nhất là văn học dân gian và Truyện Nôm bình dân
Nhìn chung với Lục Vân Tiên , Nguyễn Đình Chiểu đã sử dụng rất thành
công Điển cố, mọi Điển cố đợc ông chọn kỹ khi đa vào sử dụng vì thế nó có ý
nghĩa rất lớn Vấn đề đặt ra cho ngời nghiên cứu Điển cố trong Lục Vân Tiên là
phải biết cách phân loại các Điển cố, tìm ý nghĩa biểu đạt của nó trong tác phẩm,
Trang 11xác định đợc nét riêng đặc sắc của Nguyễn Đình Chiểu trong sáng tác nghệ thuậtkhi sử dụng Điển cố
Chơng 2 Các loại Điển Cố và ý nhĩa biểu đạt của Điển Cố
trong Lục Vân Tiên.
Lu Hớng giảng kinh mà lòng không vui).
Trong hai câu thơ này Đỗ Phủ đã dẫn hai Điển cố, tác dụng của nó là làmcho Đỗ Phủ so sánh với hai nhân vật lu danh sử xanh là Lu Hớng và KhuôngHành, từ đó mà biểu hiện cảnh ngộ cùng khốn của Đỗ Phủ Nhng các bộ phậncủa bài thơ thì phần lớn dừng lại ở ý nghĩa mặt chữ không hề chịu ảnh h ởng cuảhai Điển cố này
Trang 12Điển cố chỉnh thể: đợc vận dụng để tạo ra một ý nghĩa mới quán xuyến toànthể bài thơ, đồng thời nó cũng phát huy tác dụng nh một nguyên tắc tổ chức.
Ví dụ: Bài "Vũ Miếu" của Đỗ Phủ
Dịch thơ: Vũ Miếu trong núi vắng
Gió thu nắng xế tà Sân hoang quýt, bởi rũ, Nhà cũ vẻ long xà Hơi mây ám tờng thẩm Tiếng sông làm cát trôi.
Biết ngài đi thuỷ bộ Đục đá thông "Tam Ba".
Tất cả các câu thơ đều nói lên công tích vĩ đại của vua Vũ Vơng, là một
anh hùng trị thuỷ, thông qua thần lực của mình, ông có thể xuất hiện trong tất cảcác sự vật liên quan đến nớc Với sự đối chiếu với các công lao của vua Vũ, nótạo ra hình ảnh vua Vũ cao lớn phi thờng nó quán xuyến toàn bài thơ
Trần Đình Sử cho biết: theo Vơng Lực trong sách "Cổ đại Hán Ngữ" thì trong văn chơng cổ có 8 phơng thức tu từ thông dụng Đó là: 1 kê cổ, 2 dẫn kinh,
3 đại xng, 4 đảo trí, 5 ẩn dụ, 6 vu hồi, 7 uỷ uyển, 8 khoa sức Trong đó "Kê cổ"
tức là kê cứu việc xa, cụ thể là viện dẫn sự việc của ngời xa để chứng thực cho ýkiến của mình, đây là một trong những mầm mống của việc dùng Điển cố
Ví dụ: trong th trả lời Nhậm An của T Mã Thiên có đoạn mà Vơng Lực
dẫn: "ngời xa giàu sang mà danh bị vùi dập kể không sao hết Chỉ có những ngời
trác việt phi thờng là đợc ngời ta nhắc đến mà thôi Văn Vơng bị giam diễn giải Chu Dịch, Trọng Ni gặp nạn làm Kinh Xuân Thu, Khuất Nguyên bị đuổi nên ngân Ly Tao, Tả Khâu bị mù nên có Quốc ngữ " ở đây "Kê cổ" có ý nghĩa nh
dẩn chứng sự tích lịch sử trong văn nghị luận Tuy vậy do cội nguồn đó mà Điển
cố có cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp Nghĩa rộng bao gồm cả dẫn ngữ, nghĩa hẹp thìchỉ có sự tích, sự việc
Tham khảo cách phân loại trên của các nhà nghiên cứu, chúng tôi mạnhdạn đa ra cách phân loại của mình là, chia Điển cố thành hai loại, Điển cố từ ch -
Trang 132.2 Các loại Điển cố và ý nghĩa biểu đạt của Điển cố trong Lục Vân Tiên.
2.2.1 Điển cố từ chơng.
Trong qua trình khảo sát thống kê thì chúng tôi thấy trong Lục Vân Tiên
Nguyễn Đình Chiểu đã sử dụng trên 60 Điển cố từ chơng, môic Điển cố đợc xem
nh là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc, thể hiện rõ tính cách của các nhân vật trongtruyện
Ví dụ khi nói về việc dùi mài kinh sử của n, Nguyễn Đình Chiểu viết:
Theo thầy nấu sử sồi kinh
Tháng ngày bao quản Sân Trình lao đao.
Sân Trình có nghĩa là sân của Trình Di - một danh nho đời Tống, học trò
đến xin học rất đông Khi Du Tạc và Dơng Thời đến ra mắt thầy, họ Trình đangngồi lim dim nhắm mắt nghĩ ngợi Hai nmgời cứ đứng chờ dới sân, không gián
động đến khi Trình mở mắt nhìn thấy, thì tuyết đã xuống chỗ đứng của hai ngời
dày đến một thớc Văn học cổ thờng dùng Điển cố Sân Trình để chỉ trờng học
đạo nho hoặc sự quyết tâm cầu học ở đây Nguyễn Đình Chiểu dùng Điển cố này
để nói lên ý chí quyết tâm "Nấu sử sồi kinh" của Lục Vân Tiên
Hoặc khi nói đến đoạn Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga khỏi tớng cớpPhong Lai:
Vân Tiên tả đột hữu xông
Khác nào Triệu Tử mở vòng Đơng Dang.
Nguyễn Đình Chiểu lấy Điển Cố "Triệu Tử mở vòng Đơng Dang" (từ
Đ-ơng Dang là ngôn ngữ của Nguyễn Đình Chiểu còn ở đây có nghĩa là ĐĐ-ơng
D-ơng) trong truyện ''Tam Quốc'', khi Lu Bị bị Tào Tháo đánh bại ở Tân Giã phải
bỏ chạy, quân Tào Tháo đuổi đến Đơng Dơng, Lu Bị phải bỏ cả vợ con mà chạy.Triệu Tử Long một mình đánh phávòng vây trùng điệp của quân Tào cứu A Đẩu,vợt cầu Trờng Bản, tìm gặp Lu Bị Nguyễn Đình Chiểu dùng tích này để nói lên ý
chí anh hùng không sợ hiểm nguy của Lục Vân Tiên khi lao vào vòng vây của
bọn cớp cứu Kiều Nguyệt Nga
Hay khi Nguyệt Nga làm thơ tặng Lục Vân Tiên và Lục Vân Tiên khen
hay:
Đã mau mà lại thêm hay,
Chẳng phen Tạ Nữ cùng tày Từ Phi.
Nguyễn Đình Chiểu dùng Điển cố "Tạ Nữ, Từ Phi" Tạ Nữ tức Tạ Đào Uẩn đời nhà Tấn nổi tiếng thông minh giỏi thơ văn Còn Từ Phi tên Huệ ngời đời
Đờng tám tuổi đã giỏi văn thơ Điển Tạ Nữ, Từ Phi dễ dàng thể hiện rõ tài năng
thơ văn của Nguyệt Nga
Trang 14Và cũng vậy, khi nói đến tấm lòng Nguyệt Nga nguyện cùng Lục Vân
Tiên, Nguyễn Đình Chiểu đã dúng các Điển cố trực tiếp "Nguyệt lão", "Ngu Lang", "Chức Nữ".
Hữu tình hai chữ uyên ơng Chuỗi sầu ai khéo vấn vơng vào lòng.
Nguyện cùng Nguyệt Lão hợi ông
Trăm năm cho vẹn chữ tòng mấy ai.
Hữu tình chi bấy Ngu Lang Tấm lòng Chức Nữ vì chàng mà nghiêng.
"Nguyệt Lão": Điển cố lấy từ "Tục U Quái Lục" Vi Cố đời Đờng, nhân
qua chơi Tống Thành, gặp một ông già ngồi dới trăng đang kiểm sổ sách và thấytrong túi ông mang theo cuộn dây đỏ, Vi Cố bèn hỏi thì ông già đáp: "đây làcuốn sổ hôn nhân và cuộn dây đỏ dùng để buộc chân nam nữ Dẫu cho gia đìnhhai bên có thù hằn với nhau hoặc ở cách xa nhau, nhng đã lấy dây đó buộc chân
đôi nam nữ lại với nhau thì tất sẽ thành vợ chồng"
Ngu Lang - Chức Nữ: tên một ngôi sao ở phía Bắc sông Ngân Hà, đối diện với sao Khiên Ngu Chức Nữ và Khiên Ngu lại là hai nhân vật thần thoại Theo kinh sở tuế thời Ký, Chức Nữ là cháu trời làm nghề dệt vải rất siêng năng, trời đem gả cho Khiên Ngu (Ngu Lang) làm nghệ chăn trâu Hai vợ chồng qua
âu yếm nhau, không giữ đợc đúng phép trời Trời phạt, đem đày mỗi ngời ở mộtbên sông Ngân Hà, trời chỉcho phép hai vợ chồng qua sông gặp nhau một lần vào
đêm mồng bảy tháng bảy ấm lịch
Qua các Điển cố này Nguyễn Đình Chiểu đã nói lên đợc tấm lòng Nguyệt
Nga tuy mới gặp nhng một lòng một dạ nguyện cùng Lục Vân Tiên dù cho khó
Ghét đời Kiệt Trụ mê dâm
Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang
Ghét đời U Lệ đa đoan
Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần
Ghé đời Ngũ Bá phân vân
Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn
Trang 15Ghét đời Thục Quý phân bằng
Sớm đầu tối đánh, lằng xằng rối dân.
Nguyễn Đình Chiểu đã sử dụng hàng loạt các Điển cố vua chúa là Kiệt Trụ, U Lệ, Ngũ Bá Là những ông vua bạo ngợc, vô đạo, hoang dâm, chúng
làm cho nhân dân điêu đứng với các Điển cố này Nguyễn Đình Chiểu dành đểrăn đe Bùi Kiệm, Trịnh Hâm với tính cách ngang tàng, xấu xa của mình
Còn khi ngầm ý đề cao Vân Tiên, Tử Trực, ông đã dùng các Điển cố:
Thơng là: Thơng Đức thánh nhân Khi nơi Tống Vệ lúc Trần, lúc Khuông Thơng thầy Nhan Tử dở dang
Ba mơi mốt tuổi tếch đàng công danh
Thơng ông Gia Cát tài lành Gặp cơn Hớn Mạt đã đành phui pha Thơng thầy Đổng Tử cao xa
Chí thời có chí ngôi mà không ngôi
Thơng ngời Nguyên Lợng ngùi ngùi
Lỡ bề giúp nớc lại lui về cày
Thơng ông Hán Dũ chẳng may
Sớm dng lời biểu tối đày đi xa
Thơng thầy Liêm Lạc đã ra
Bị lời xua đuổi về nhà giáo dân.
Nguyễn Đình Chiểu chỉ ra các bậc danh nho lẫy lừng trong sử sách nh:
Nhan Tử, Gia Cát, Đổng Tử, Nguyên Lợng, Hàn Dũng, Liêm Lạc để nêu cao
tình thần học tập cho Tử Trực và Vân Tiên
Cũng vậy khi nói đến các thầy bói, thầy lang ông cũng dẫn rất nhiều tích,nhiều Điển cố để có vẻ nh họ là những bậc danh y, thần thông quảng đại, nhngthực chất là nhửng tay lang băm lừa lọc kiếm tiền của ngời dân lơng thiện
Nguyễn Đình Chiểu cũng đề cao những tấm lòng nh ông Ng, ông Tiều, lãobà:
Ng rằng: Tôi chẳng lòng sờn Xin tròn nhơn ngãi còn hơn bạc vàng
Nhớ xa trong núi L San
Có ông Ng Phủ đa chàng Ngũ Viên
Tới sau đình trỡng đỗ thuyền
Giúp ngời Hạng Võ qua miền Ô Giang
Trang 16Nguyễn Đình Chiểu đã dùng Điển cố: Ngũ Viên theo sử ký Ngũ Viên tên
tự là Tử T, ngời nớc Sở cha anh bị Sở Bình Vơng giết chết Tử T chạy sang nớcNgô, dọc đờng phải nhịn đói Qua L San gặp một ông chài cho ăn cơm rồi chởqua sông Tử T sang Ngô phải đi thổi sáo ăn xin Về sau Tử T đợc vua nớc Ngôbiết và trọng dụng Tử T làm tớng đa quân đánh nớc Sở và kéo quân vào kinh đô,
đào mả Bình Vơng, nọc thây đánh ba trăm roi Khi nớc Ngô đánh thắng nớc Việt,vua nớc Việt xin hoà, vua Ngô là Phù Sai muốn cho hoà Tử T bèn can nhng PhùSai cho đa gơm đến bắt Tử T phải chết, Tử T bảo ngời hầu rằng: "Khoét mắt tao
đem treo ở trên cửa Đông nớc Ngô để ta xem quân Việt vào diệt nớc Ngô" PhùSai đợc tin cả giận sai bọc thây Tử T vào da thả trôi sông Về sau quả đúng nh lời
Tử T, nớc Việt diệt nớc Ngô Với Điển cố này Nguyễn Đình Chiểu muốn đề caonhững tấm lòng nhân nghĩa của nhửng ngờ dân thơng ngời
Còn khi phê phán những kẻ thay lòng đổi dạ thấy ngời đỗ đạt thì muốn làm
vợ, cNguyễn Đình Chiểu đã lột tả đợc bộ mặt giả dối của Võ Thể Loan:
Trực rằng: Ngòi bút dĩa nghiên Anh em xa có thề nghuyền cùng nhau,
Vợ Tiên là Trực chị dâu Chị dâu em bạn dám đâu lỗi nghì!
Chẳng hay ngời đọc sách chi Nói sao những tiếng dị kỳ khó nghe!
Hay là học thói nớc Tề
Vợ ngời Tử Cũ đa về Hoàn Công?
Hay là học thói Đờng Cung
Vợ ngời Tiều Lạc sánh cùng Thế Dân
Ngời nay nào phải nhà Tần
Bất Vi gả vợ Dị Nhân lấy nhầm?
"Tử Cũ" là anh Hoàn Công nớc Tề bị Hoàn Công giết chết rồi cớp lấy vợ.
"Tiều Lạc" bị em là Thế Dân giết và cớp vợ rồi lên ngôi, tức Đờng Thái Tôn.
"Bất Vi" đem vợ mình đang có mang dâng cho Dị Nhân tức Tần Trang Nhơng
Vơng, sau sinh ra Tần Thuỷ Hoàng Tử Trực đa ra những tấm gơng xấu về đạoanh em, vợ chồng nhằm chê trách sự bất chính của chị dâu và khặng định tínhkiên định thẳng ngay của mình
Khi Kiều Nguyệt Nga bị thái s dùng kế đa nàng sang cống nớc Ô Qua,Kiều Công bắt buộc phải đồng ý, Nguyệt Nga cũng phải vâng lời, nhng để thể
Trang 17hiện tấm lòng chung thuỷ với Vân Tiên, Nguyệt Nga đã nhảy xuống sông tự vẫn,Nguyễn Đình Chiểu đã dẫn ra một số tích:
Chiêu Quân xa cũng cống Hồ Bởi ngời Diên Thọ hoạ đồ gây nên.
Hạnh Ngơn xa cũng chẳng yên Bởi chng L Kỷ cựu hiền còn ghi
Nàng Chiêu Quân (tên tự của Vơng Tờng) Một cung nữ đời Hán Nguyên
Đế là một ngời có tài sắc Chiêu Quân bị vua Hán đem gả cho chúa Hung Nô làThuyền Vu Vì không đút lót cho Mao Diên Thọ nên tên này cho vẽ nàng xấu đi
Đến khi cho dẫn Chiêu Quân ra vua Hán mới biết sắc đẹp của nàng nhng sự đãrồi, khi qua cửa ải Chiêu Quân đã gảy khúc đàn tỳ bà tỏ lòng nhớ nớc nhớ nhà vôhạn
Hạnh Ngơn (tức Hạnh Nguyên): Nhân vật trong truyện Nhị Độ Mai Hạnh
Nguyễn đã đính hôn với Mai Lơng Ngọc, con Mai Bá Cao ép Hạnh Nguyên lấycon mình không đợc, L Kỹ cùng Hoàng Trung tìm cách khép Bá Cao vào tộichết, truy nã cả gia tộc họ Mai, sau đó bắt Hạnh Nguyên cống cho giặc Hồ Khi
đến đất Hồ Hạnh Nguyên nhảy xuống Hồ Tri Linh tự tử nhng có ngời cứu giúp
đ-a về Trung Quốc Sđ-au đó Hạnh Nguyên và Mđ-ai Lơng Ngọc lại đợc sum họp
Với hai Điển cố này Nguyễn Đình Chiểu đã dựng lên đợc tình cảnh éo le,
đáng thơng của Kiều Nguyệt Nga khi bị đa sang cống Ô Qua
Còn khi Kiều Nguyệt Nga đợc cứu sống nhng lọt vào nhà của cha con BùiKiệm, cha con Bùi Kiệm đã rủ rê nàng nhng nàng không chấp thuận Nàng đãchửi thẳng vào mặt cha con Bùi Kiệm và khẳng định đức tính, chữ trinh của ngờicon gái để tỏ bản chất của mình:
Nàng rằng: Xa học sử kinh Làm thân con gái chữ trinh làm đầu
Chẳng phen thói nớc Trịnh đâu
Hẹn ngời tới giữa vờn dâu tự tình
"Thói nớc Trịnh": Thói tà dâm trai gái nớc Trịnh trèo tờng đón ngõ rủ rê
nhau ra nơi đồng nội để thoả lòng dục Kiều Nguyệt Nga không thể bắt chớc điều
đó
Còn Bùi Kiệm thì dẫn ra rất nhiều Điển cố phù hợp với ý hắn để rủ rêNguyệt Nga:
Kệm rằng: Đã biết sử kinh Sao không soi xét để mình ngồi không?
Trang 18Hồ Dơng xa mới goá chồng Còn mơ nhan sắc Tống Công cũng vừa Hạ Cơ lớn nhỏ đều a
Sớm đa Doãn, Phủ tối ngừa Trần Quân Hớn xa Lữ Hậu thanh xuân
Còn vua Cao Tổ mấy đừng Dị Ky Đờng xa Võ Hậu thiệt gì
Di Tôn khi trẻ Tam T lúc già.
"Hạ Cơ": con gái Trịnh Mục Công có chồng nhng vẫn ngoại tình với nhiều ngời "Lữ Hậu": vợ Hán Cao Tổ, Cao Tổ mất, Lữ Hậu t thông dâm dục với Dị Ky "Võ Hậu": Thông tình với hai anh em Trơng Xơng Tông và Trơng
Dịch Chi Với các Điển cố này Nguyễn Đình Chiểu đã lột trần đợc bộ mặt dân
đảng của Bùi Kiệm
Mô tả Lục Vân Tiên đợc sáng mắt, về nhà vúng viếng mẹ già, Nguyễn
Đình Chiểu dùng Điển cố:
Suy ngời nằm gía khóc măng
Hai mơi bốn thảm chẳng bằng ngời xa
"Suy ngời nằm giá khóc măng" Điển cố "nằm giá" kể về Vơng Tờng
(trong ruyện "Nhị Thập Tứ Hiếu") đối với mẹ ghẻ, rất có hiếu Tơng truyền giữa
mùa đông tháng giá, bà mẹ ghẻ muốn ăn cá chép, sông đóng băng (giá), Vơng
T-ơng ra nằm úp trên băng cho băng tan bắt đợc cá chép mang về cho mẹ "Khóc măng" cũng theo truyện Nhị Thập Tứ Hiếu, Ngô Mạnh Tông là ngời con rất có
hiếu Mùa đông mẹ muốn ăn măng trúc, Mạnh Tông tìm mãi không ra, bèn ômcây trúc mà khóc Cây trúc tự nhiên ra chồi măng cho mạnh Tông bẻ mang vềcho mẹ, với hai Điển cố Nguyễn Đình Chiểu đã thể hiện đợc một cách rất sinh
động tấm lòng trung hiếu của Lục Vân Tiên đối với mẹ.
Và cũng nh vậy khi nói đến nhân vật Thái S một kẻ rất thâm độc, muốn
c-ớp ngôi vua, Nguyễn Đình Chiểu đã dùng Điển cố:
.vậy cùng đạo chúa ngãi tôi Thái S ý muốn cớp ngôi chín trùng
Hớn xa có gã Đổng Công Nuôi thằng Lữ Bố cớp dòng họ Lu
"Đổng Công" (tức Đổng Trác) khi xa đã nhận Lữ Bố làm con nuôi nhng
cuối cùng Lữ Bố giết chết Đỗng Trác bảo vệ ngời vợ vợ của mình
Trang 19Trên đây chúng tôi chỉ phân tích một số Điển cố từ chơng đợc Nguyễn
Đình Chiểu sử dụng rất có hiệu quả nghệ thuật trong Lục Vân Tiên Nhìn chung
các Điển Cố đợc sử dụng đã tạo cho tác phẩm một giá trị lớn về mặt nội dungcũng nh nghệ thuật thể hiện
Để hiểu thêm về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Đình Chiểu ta sẽ đi
sâu vào tìm hiểu cách Điển Cố phân hoá trong Lục Vân Tiên.
2.2.2 Điển Cố phân hoá.
Đây là loại Điển Cố đợc dùng gián tiếp tức đã qua sự chế biến của tác giả
Trong Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu cũng đã sử dụng khá nhiều loại Điển
Cố này (có đến trên 20 Điển Cố), các Điển Cố đợc Nguyễn Đình Chiểu sử dụngrất tinh tế mang ý nghĩa nghệ thuật cao
Ví dụ: khi nói về số phận của Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu viết:
Bao giờ cá nớc gặp duyên
Đặng cho con thảo thuỷ nguyền tôi ngay
Nguyễn Đình Chiểu đã lấy ý từ câu nói của Lu Bị: "Ta đợc Gia Cát Lợng
nh cá đợc nớc" rồi chế biến thành "cá nớc gặp duyên" chỉ sự độ đạt lập công
danh của Lục Vân Tiên để trọn đạo làm con hiếu thảo, làm bề tôi trung.
Hay:
E khi hoạ hổ bất thành
Khi không mình lại xô mình vào hang
Điển Cố "hoạ hổ bất thành" lấy ý từ câu nói của Mã Viện "hoạ hổ bất
thành phản loại cẩu giả" (vẽ cọp không thành lại giống chó) Nguyễn Đình Chiểu
rút lại chỉ dùng "hoạ hổ bất thành" Để nói lên tính mạng của Lục Vân Tiên khi
xông vào đánh cớp cứu dân
Mô tả cuộc gặp gỡ giữa Lục Vân Tiên và Nguyệt Nga, Nguyễn Đình Chiểu
để cho Kiều Nguyệt Nga nói:
Tha rằng: xa gặp tri âm
Xin đa một vật để cầm làm tin
Điển cố "tri âm" đợc Nguyễn Đình Chiểu lấy từ sách Liệt Tử, Bá Nha là
ngời giỏi đàn, Chung Tử Kỳ là ngời sành nghe đàn bá Nha đánh đàn nghĩ tới núi
cao, Tử Kỳ liền khen "cao vòi vọi nh núi Thái Sơn", Bá Nha nghĩ tới nớc chảy,
Tử Kỳ liền khen "cuồn cuộn nh Trờng Giang, Hoàng Hà" Khi Tử Kỳ chết Bá
Nha bứt dây đàn không đánh nữa vì cho rằng không còn ai hiểu tiếng đàn củamình Đó là sự tâm giao giữa Bá Nha và Tử Kỳ Điển cố này đợc Nguyễn Đình
Trang 20Chiểu chế biến bằng cách rút gọn tri âm để nói lên sự tri âm tri kỷ giữa NguyệtNga và Lục Vân Tiên ngay từ buổi đầu gặp gỡ.
Trong trờng hợp Võ Công khen Tử Trực, Vân Tiên là hai ngời tài đức,Nguyễn Đình Chiểu viết:
Công rằng: Đơn quế đôi nhành
Bảng vàng thẻ bạc đã đành danh nêu.
Điển cố "Đơn quế" đợc Nguyễn Đình Chiểu tạo nên bằng cách rút gọn
câu thơ "đơn quế ngũ chi phơng" (đơn quế năm cành thơm) của Phung Đạo đời
Tống mừng Đậu Vũ Quân có năm con trai đều thi đỗ cao
Trong lời từ biệt với Lục Vân Tiên, Võ Thể Loan nói:
Ngày nay thánh chúa trị đời
Nguyện cho linh phụng gặp nơi ngô đồng
Điển cố "linh phung - ngô đồng": đợc Nguyễn Đình Chiểu lấy từ câu
"phụng hoàng chi tính phi ngô đồng bất thê, phi trúc thực bất thực" (tính chim
phợng hoàng không phải cây ngô đồng không đậu, không phải quả trúc không
Để khi nắng hạ toan phần làm ma?
Điển cố "nắng hạ - làm ma" Nguyễn Đình Chiểu lấy ý trong sách Thợng
Th, lời vua Cao Tông nói với Phó Duyệt " nhợc tuế đại hạn, dụng nhữ tác lâm
vũ" (nh năm đại hạn dùng ngời làm trận ma dầm) Điển cố đã đợc Nguyễn Đình
Chiểu pha chế để nói: Thơng dân sao chẳng ra giúp dân, cứu nớc cũng nh trận magiải cơn nắng hạn
Ta hãy nghe Võ Thể Loan thề với Tử Trực:
Tiếc thay dạ thỏ nằng nằng
Điêm thu chờ đợi bóng trăng bảy chầy.
Điển cố "dạ thỏ" đợc Nguyễn Đình Chiểu lấy trong truyền thuyết Tơng
truyền: trên cung trăng có một con thỏ ngọc, thỏ ngọc trông bóng trăng mà chửa Còn
ở đây Vỏ Thể Loan tự xem mình nh tấm lòng thỏ khăng khăng chờ đợi Tử Trực
Đặc biệt trong lời Tử Trực chửi Võ Thể Loan, Điển cố đợc dùng rất độc đáo:
Mồ chồng ngọn cỏ còn tơi
Lòng nào mà nỡ buông lời nguyệt hoa.
Trang 21Điển cố "mồ chồng ngọn cỏ còn tơi": Theo kim cổ kỳ quan, Trang Sinh
có nhiều phép lạ, có thể biến thân tàng hình; một hôm ông dạo chơi ở mé chânnúi, gặp một thiếu phụ trẻ mặc độ đại tang, tay cầm cái quạt lớn, ra sức quạt vàomột cái mồ mới Trang Sinh hỏi nguyên do Chi ta nói, chồng chết, vừa chôn lúchấp hối có dặn đợi đến khi mồ khô, cỏ ráo hẳn hãy đi lấy chồng, nay thấy mồ ớtmãi, nên quạt cho chóng khô Trang Sinh liện giúp chị ta, phù phép vào cái quạt,quạt mấy cái là mồ khô ngay Chi ta vui mừng khôn xiết, tặng Trang Sinh cái quạt
để tạ ơn Trang Sinh về nhà và kể chuyện đó với vợ Vợ Trang Sinh hết lời chêtrách ngời đàn bà kia, và thề rằng nếu chồng chết thì quyết lòng ở vậy không lấychồng khác ít lâu sau, Trang Sinh bỗng bị bệnh nặng rồi chết Lúc hấp hối, TrangSinh cũng khuyên vợ nên đi bớc nữa Vợ Trang Sinh lại quyết thủ tiết thờ chồng.Trang Sinh chết, theo tang lễ cổ truyền quan tài phải để trong nhà ít ngày Bỗng
có một thành niên tuấn tú tự xng là học trò Trang Sinh đến viếng, rồi xin ở lại đểchịu tang một trăm ngày Không lâu vợ Trang Sinh và ngời con trai đó tằng tịu vớinhau Đợc mấy ngày anh ta kêu đau bụng dữ dội, quằn quại tởng chừng sắp chết
và nói: Duy chỉ có ăn óc ngời mới khỏi, nếu không có óc ngời sống thì óc ngờimới chết cũng tạm dùng đợc Vợ Trang Sinh liện cại nắp quan tài chồng ra, địnhlấy vồ đập vở đàu lấy óc cho tình nhân ăn, nào ngờ giữa lúc ấy Trang Sinh trongquan tài bỗng ngồi nhổm dậy Ngời vợ xấu hổ quá tự tử chết ở đây Nguyễn ĐìnhChiểu đã pha chế biến đổi cho phù hợp với Võ Thể Loan, vì đã hứa hôn với LụcVân Tiên nhng khi biết Lục Vân Tiên chết (thực ra không chết) thì lại tỏ tìnhchính ngay với bạn của Lục Vân Tiên là Tử Trực
Trong miêu tả sắc đẹp, tài hoa của Kiều Nguyệt Nga Nguyễn Đình Chiểucũng dùng Điển cố:
Nàng đà có sắc khuynh thành
Lại thêm rất mực tài tình hào hoa
Điển cố "khuynh thành" đợc lấy từ tích của Lý Diên Niên đời Hán, có
thơ ca ngợi: "nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc" (một cái nhìn
làm nghiêng thành, một cái nhìn nữa làm nghiêng nớc) Nguyễn Đình Chiểu đã
rút gọn câu thơ này dùng chữ "khuynh thành" để thể hiện vẻ đẹp của Kiều
Nguyệt Nga
Trong lời Bùi Kiệm nói với Kiều Nguyệt Nga về Lục Vân Tiên và cuộc đờicủa Kiều Nguyệt Nga, Nguyễn Đình Chiểu cũng "cho" Bùi Kiệm dùng Điển cố:
Làm ngời trong cỏi gió ma,
Bảy mơi mấy mặt ngời xa thấy nào