Trong bài viết kỷ niệm 110 năm ngày sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh 1890 - 2000 in trên tạp chí Lịch sử quân sự số 3 - 2000 :“Hồ Chí Minh với “ Dĩ bất biến ,ứngvạn biến” tác giả Phùng Đức
Trang 1Mở đầu
I Lí do chọn đề tài.
Xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc, trong quá trình dựng nớc và giữ nớcngoại giao đã đợc ông cha ta sử dụng nh một phơng sách đắc dụng Ngành ngoạigiao trở thành một mũi tiến công, một binh chủng không thể thiếu đợc cả khi vận n-
ớc thịnh lẫn lúc suy
Xuất phát từ đặc thù về địa lý và chính trị, luôn phải đơng đầu với những kẻthù xâm lợc hùng mạnh, ông cha ta chủ trơng " lấy yếu đánh mạnh, lấy ích địchnhiều ", "lấy nhu thắng cơng" và sử dụng ngoại giao tâm công nh một phơng châmtrong hoạt động bang giao với các nớc Ngời Việt Nam mỗi khi quyết định các vấn
đề đối ngoại đều cân nhắc kĩ các yếu tố và đi đến cân bằng các yếu tố ấy để đạt đợc
"nội yên, ngoại tĩnh "
Hay nói khác đi, Lịch sử ngoại giao Việt Nam chính là lịch sử của mối quan hệ giữacái bất biến của lợi ích dân tộc và sự uyển chuyển cực kỳ phong phú, linh hoạt trongứng xử ngoại giao
Mối quan hệ giữa cái bất biến và cái uyển chuyển ấy cũng chính là cái cốt lõitrong t tởng ngoaị giao Hồ Chí Minh, là " Dĩ bất biến, ứng vạn biến" trong hoạt độngngoại giao Việt Nam thời hiện đại
Nghiên cứu đề tài " Dĩ bất biến, ứng vạn biến" trong t tởng ngoại giao Hồ ChíMinh giúp chúng ta hiểu một cách sâu sắc hơn t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh Vàhơn hết đây chính là minh chứng điển hình nhất thể hiện cách ứng xử mang đậm chấtphơng Đông của ngời Việt, vừa cơng lại vừa nhu, rất uyển chuyển linh hoạt theo triết
lý nhu đạo T tởng " Dĩ bất biến, ứng vạn biến" của Hồ Chí Minh còn là sự khái quátcao, sự tổng hòa tất cả những yếu tố trở thành phơng pháp cách mạng và là nguyêntắc chung có ý nghĩa và giá trị to lớn nhằm mục tiêu giữ vững độc lập chủ quyền,thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay Đảng ta đang lấy chủ nghĩa Mác - Lênin,
t tởng Hồ Chí Minh làm nền tảng t tởng, nhiều trung tâm nghiên cứu t tởng Hồ ChíMinh đợc thành lập, do đó thực hiện đề tài này còn có ý nghĩa thời sự, góp một phầnnhỏ vào việc nghiên cứu t tởng Hồ Chí Minh
Trang 2Trên thực tế, đề tài " Dĩ bất biến, ứng vạn biến" trong t tởng ngoại giao Hồ ChíMinh cha đợc nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu Trong khuôn khổ của một khoá luậntốt nghiệp Đại học do sự hạn chế và khả năng nghiên cứu của bản thân tooi chỉ đềcập vấn đề " Dĩ bất biến, ứng vạn biến" trong t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh trongmột thời kỳ nhất định - thời kỳ 1945 - 1946, một thời kỳ lịch sử đầy biến động Vàhoạt động ngoại giao của nhà nớc ta thời kỳ này đã thể hiện sâu sắc rõ nét sự "ứngvạn biến" để " dĩ bất biến".
Từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: " 'Dĩ bất biến, ứng vạn biến' trong t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh thời kỳ 1945 - 1946 " làm đề tài cho khoá
luận tốt nghiệp
II Lịch sử vấn đề
T tởng “Dĩ bất biến ứng vạn biến” đợc xem là một trong những yếu tố cấuthành t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh Rải rác trên các tạp chí, các công trình chuyênluận và ngoại giao Việt Nam ít nhiều có đề cập tới " Dĩ bất biến, ứng vạn biến" trong
t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh nhng đang ở mức độ sơ sài và không hệ thống
Trong bài viết kỷ niệm 110 năm ngày sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 - 2000)
in trên tạp chí Lịch sử quân sự số 3 - 2000 :“Hồ Chí Minh với “ Dĩ bất biến ,ứngvạn biến” tác giả Phùng Đức Thắng, Phạm Hồng Chơng viết : “Dĩ bất biến, ứng vạnbiến” câu nói ấy là tổng quan phơng pháp cách mạng Hồ Chí Minh mà Ngời đã thựchiện trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình và cũng là một bài học kinhnghiệm quý giá của cách mạng Việt Nam Trong bối cảnh lúc đó điều bất biến ở đâychính là vấn đề dân tộc Còn vạn biến là hàng loạt chủ trơng sách lợc đấu tranhtrong những tình huống cụ thể Và qua thực tế hoạt động của chủ tịch Hồ Chí Minh
và các luận điểm của Ngời cho thấy, muốn đạt tới cái bất biến trong mục tiêu cầnphải ứng vạn biến trong những điều kiện lịch sử cụ thể
Còn trong tác phẩm “T tởng ngoại giao của Hồ Chí Minh” Bộ trởng bộ ngoạigiao Nguyễn Dy Niên cho rằng : ”Dĩ bất biến ,ứng vạn biến” - lấy cái không thểthay đổi để ứng phó với muốn sự thay đổi - là một phơng pháp bắt nguồn từ triết líphơng Đông Điều bất biến là lợi ích dân tộc, mục tiêu giải phóng dân tộc, thốngnhất đất nớc, lí tởng cách mạng, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ
Trang 3nghĩa xã hội dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đòi hỏi sự vận dụng linh hoạt phùhợp với yêu cầu của tình hình qua từng giai đoạn cách mạng [4, 233]
Đại tớng Võ nguyên Giáp trong bài viết: “T tởng ngoại giao Hồ Chí Minh” khibàn về những nội dung lớn của t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh đã cho rằng: “Dĩ bấtbiến, ứng vạn biến là t duy biện chứng, là phơng châm, nguyên tắc xem xét và giảiquyết những vấn đề chiến lợc và sách lợc trong t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh.” [2,138]
Ngoài ra trong nhiều công trình nghiên cứu về t tởng ngoại giao Hồ Chí Minhcác tác giả ít nhiều cũng đã bàn và nêu ý kiến về t tởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”của Hồ Chí Minh Gần đây nhất trong khoá luận tốt nghiệp của tác giả Hồ Thị XuânHơng cũng đã đề cập đến vấn đề này: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” là quan điểm, ph-
ơng pháp cách mạng khoa học ,là sự ứng dụng vận dụng tổng hợp các nguyên tắc,quy luật của phép biện chứng duy vật từ nguyên tắc khách quan, toàn diện lịch sử
đến phát triển”
Trong các công trình nghiên cứu trên, các tác giả mới chỉ đa ra những sự đúcrút, những ý kiến mang tính chất khát quát chung, kết luận chung về t tởng “Dĩ bấtbiến, ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh Do đó việc nghiên cứu t tởng này đợc Ngờivận dụng trong thực tiễn cách mạng những năm 1945 - 1946 nh thế nào đang là vấn
đề cần thiết
Trên cơ sở kế thừa thành quả của các nhà nghiên cứu đi trớc, đồng thời dựavào một số nguồn t liệu khác tác giả cố gắng giải quyết vấn đề khoa học đã đặt ra
III Đối tợng, phạm vi nghiên cứu.
Đối tợng nghiên cứu: " Dĩ bất biến, ứng vạn biến" trong t tởng ngoại giao Hồ ChíMinh
Phạm vi nghiên cứu:
Về phạm vi không gian: Đề tài tập trung làm nổi bật t tởng “Dĩ bất biến, ứng vạnbiến” trong hoạt động ngoại giao Hồ Chí Minh thời kỳ Việt nam phải đơng đầu vớinhiều khó khăn thách thức sau ngày cách mạng tháng Tám thành công
Về phạm vi thời gian: 2/9/1945 - 19/12/1946
IV Phơng pháp nghiên cứu.
Trang 4Cơ sở phơng pháp luận của luận văn: Là lí luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, t ởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về công tác nghiêncứu khoa học
Phơng pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu đề tài ngoài phơng pháplịch sử và phơng pháp lôgíc là chủ yếu, tác giả sử dụng phơng pháp hỗ trợ nh: mô tả,giải thích để rút ra những nhận xét, những kết luận khoa học, khách quan
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, khóa luận gồm 2 chơng:
Chơng 1: " Dĩ bất biến, ứng vạn biến" trong t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh.
Chơng 2: " Dĩ bất biến, ứng vạn biến" trong t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh thời kỳ
1945 - 1946
Trang 5
Chơng 1: “dĩ bất biến ,ứng vạn biến” trong t tởng ngoại
Tùy theo bối cảnh lịch sử, đặc điểm của hoàn cảnh thực tiễn môi trờng hoạt động
đấu tranh và phẩm chất cá nhân mỗi ngời có những cống hiến riêng, đóng góp chokho tàng lí luận chung và để lại dấu ấn nhất định vào sự vận động phát triển của thời
đại của giai cấp của dân tộc
Hồ Chí Minh - nhà t tởng cách mạng lãnh tụ lỗi lạc và vô cùng kính yêu của
Đảng ta, của nhân dân và cả dân tộc Việt Nam T tởng cách mạng Hồ chí Minh làmột cống hiến quý báu vào kho tàng lịch sử cách mạng thời đại và dới ngọn cờ chóilọi Hồ Chí Minh một kỷ nguyên mới trong lịch sử tiến hoá của dân tộc đã đợc mở ra:
kỷ nguyên độc lập tự do
1.1 Tổng quan về t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh.
Sự ra đời của nớc Việt Nam dân chủ Cộng hòa (2/9/1945) mở ra một kỷ
nguyên mới - kỷ nguyên của độc lập tự do, một thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh.Ngoại giao Việt Nam cũng bắt đầu thời kì ngoại giao Hồ Chí Minh Có thể nói ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh là bớc ngoặt lớn nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam, là sự phát triển mới của ngoại giao Việt Nam xét cả về ý nghĩa và tầm quan trọng của nó
Gần 100 năm mất nớc vào tay Pháp, dân tộc ta đã mất cả quyền nội trị vàquyền ngoại giao Lợi ích dân tộc cả trong nớc và ngoài nớc đều nằm trong tay bọnxâm lợc Tinh thần quật khởi đấu tranh và tiếng nói chính nghĩa của nhân dân takhông lọt đợc ra ngoài, Tổ quốc Việt Nam coi nh không tồn tại trên bản đồ thế giới Dới sự lãnh đậo của Đảng cộng sản Việt Nam và chủ tịch Hồ Chí Minh cáchmạng đã giành lại non sông đất nớc và cũng giành lại quyền ngoại giao cho nhân
Trang 6dân ta Việt Nam trở lại vị trí của mình trong cộng đồng thế giới, kết hợp sức mạnhdân tộc với sức mạnh của thời đại, vừa khai thác đợc tiềm năng của bản thân mìnhvừa tranh thủ đợc sự ủng hộ của bạn bè thế giới.
Có thể nói, trong lịch sử ngoại giao Việt Nam thời hiện đại chủ tịch Hồ ChíMinh đã ghi một dấu ấn không bao giờ phai mờ T tởng ngoại giao Hồ Chí Minh đ-
ợc xem nh là kim chỉ nam cho hoạt động ngoại giao Việt Nam từ sau ngày cáchmạng tháng Tám thành công
T tởng Hồ Chí Minh về ngoại giao là một bộ phận hợp thành của t tởng Hồ ChíMinh về con đờng cách mạng Việt Nam Nội dung t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh
đã đợc cố thủ tớng Phạm Văn Đồng khái quát: “Toàn bộ những t tởng của Hồ ChíMinh về hoạt động ngoại giao nh biết đánh giá, dự báo tình hình nắm bắt thời cơ tổchức lực lợng, nhận rõ bạn thù, tranh thủ đồng minh, cô lập kẻ thù chủ yếu, kiên
định về nguyên tắc, linh hoạt về sách lợc, biết thắng từng bớc để tiến tới thắng lợihoàn toàn, độc lập tự chủ gắn liền với đoàn kết quốc tế là di sản quý báu đối vớichúng ta trong hoạt động ngoại giao để phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổquốc” [2,161]
T tởng ngoại giao Hồ Chí Minh hay nói rõ hơn là hệ thống các quan điểm về ờng lối chiến lợc và sách lợc đối với các vấn đề quốc tế và quan hệ quốc tế, các chínhsách đối ngoại và hoạt động ngoại giao của Đảng đã đợc soi rọi trong thực tế thể hiện
đ-sự sáng tạo linh hoạt phù hợp với từng điều kiện hoàn cảnh lịch sử Điều chúng ta dễ dàng nhận thấy là: dù đờng lối chính sách ngoại giao của nớc ta luôn có sự chuyển
đổi ấy lại luôn luôn hớng vào thực hiện có hiệu quả mục tiêu chung của cách mạng Việt Nam Đó cũng là mong muốn suốt đời của chủ tịch Hồ Chí Minh: Giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con ngời, "xây dựng một nớc Việt Nam hoà bình, thông nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh"
Hệ thống các quan điểm t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh cũng chính là nhữngvấn đề cơ bản trong hoạt động ngoại giao Việt Nam thời hiện đại T tởng ngoại giao
Hồ Chí Minh bao gồm những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, độc lập tự chủ tự lực tự cờng gắn liền với đoàn kết và hợp tác quốc
tế đợc xem là cốt lõi của t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh, đồng thời cũng là cơ sởcủa đờng lối quốc tế, đờng lối ngoại giao mới của Đảng và nhà nớc ta T tởng này
Trang 7phản ánh mối quan hệ biện chứng - kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại,kết hợp giữa nội lực và sự giúp đỡ quốc tế Nội lực là chính là yếu tố quyết định độclập tự chủ tự lực cánh sinh song không cô lập, biệt lập đóng cửa
Về tinh thần độc lập tự chủ trong hoạt động đối ngoại Chủ tịch Hồ Chí Minhtừng nhắc nhở: “Các nhà ngoại giao nớc ta cần nắm cái gốc, cái điểm mấu chốt vềchính trị, quân sự, kinh tế, nội chính, ngoại giao của ta là tự lực cánh sinh, dựa vàosức mình là chính đồng thời phải ra sức tranh thủ sự giúp đỡ của nhân dân tiến bộ vàyêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới” [2, 162]
Kể từ ngay sau ngày cách mạng tháng Tám thành công dới sự lãnh đạo của chủtịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản, nhà nớc cách mạng non trẻ dù mới ra đời nhng
đã từng bớc thiết lập đợc nền móng ngoại giao vững chắc với bạn bè quốc tế Mốiquan hệ biện chứng giữa độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế đã từng bớc đợc Đảng tavận dụng tài tình, hiệu quả trong những hoàn cảnh điều kiện lịch sử phức tạp
Thứ hai, một chủ trơng quan trọng trong t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh là chínhsách ngoại giao mở rộng hoà hiếu với các dân tộc, "thêm bạn bớt thù" Tháng 9 năm
1947 trả lời phỏng vấn nhà báo Mĩ Êli Mâysi Ngời nói: Việt Nam “muốn làm bạnvới tất cả mọi nớc dân chủ và không gây thù oán với một ai" "Chính phủ VNDCCHsẳn sàng đặt quan hệ ngoại giao với chính phủ nớc nào trọng quyền bình đẳng, chủquyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nớc Việt Nam để cùng nhau bảo vệ hoàbình và xây đắp dân chủ thế giới" Phơng châm mở rộng quan hệ đối ngoạiđã đợc
Đại hội lần thứ VIII của Đảng tiếp tục với tuyên bố: "Việt Nam muốn là bạn của tấtcả các nớc trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển.” [2,163]
Xuất phát điểm của tởng “thêm bạn, bớt thù” là lợi dụng mâu thuẫn giữa các thếlực thù địch, phân hoá, thu hẹp, cô lập tới mức cao nhất kẻ thù của cách mạng đồngthời hết sức coi trọng đoàn kết mọi lực lợng có thể đoàn kết nhằm tạo nên so sánh lựclợng có lợi phục vụ cho mục tiêu cách mạng Trên thực tế ngoại giao nớc nào cũnglợi dụng mâu thuẫn các bên sao cho có lợi nhất cho mình Lênin trong cuốn: Bệnh ấutrĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản và cộng nhân quốc tế đã nhắc nhở: Chỉ cóthể thắng một kẻ địch mạnh hơn bằng một sự nổ lực hết sức lớn và với điều kiện bắtbuộc là phải lợi dụng một cách hết sức tỷ mỉ, hết sức chăm chú, hết sức cẩn thận và
Trang 8khôn khéo bất cứ một “rạn nứt” bé nhỏ nào giữa các kẻ thù Đây là một nguyên lýcủa chủ nghĩa Mác - Lênin, một vấn đề có ý nghĩa chiến lợc của cách mạng vô sản Trong suốt quá trình hoạt động và lãnh đạo cách mạng chủ tịch Hồ Chí Minh
và Đảng ta đã nắm vững, vận dụng và phát triển quan điểm trên của Lênin phù hợpvới những điều kiện lịch sử cụ thể trong các giai đoạn của cách mạng nớc ta nhằmthực hiện có hiệu quả chủ trơng chiến lợc “ thêm bạn bớt thù” T tởng ngoại giao “thêm bạn bớt thù” đã đợc chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng và phát triển trong thựctiễn cách mạng thông qua những biện pháp thẻ hiện sự sáng tạo linh hoạt “ứng vạnbiến”
Thứ ba, trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thế kỷ XX Hồ Chí Minh và
Đảng ta luôn xem ngoại giao là một mặt trận, một nhân tố tạo nên sức mạnh tổnghợp của cách mạng Tháng 4/1969 Nghị quyết Bộ chính trị khẳng định: “Ngoại giaotrở thành một mặt trận quan trọng có ý nghĩa chiến lợc”
Hoạt động ngoại giao nớc ta trong lịch sử dựng nớc và giữ nớc trớc đây cũng nhtrong lịch sử hiện nay đã phát huy vai trò tích cực và chủ động Song sức mạnh ngoạigiao lại tuỳ thuộc vào nội lực quốc gia bởi: “Thực lực là cái chiêng ngoại giao là cáitiếng Chiêng có to thì tiếng mới lớn” và do đó
“muốn ngoại giao đợc thắng lợi phải biểu dơng thực lực”
Thứ t, ngoại giao nhân dân đợc xem là một bớc phát triển mới độc đáo và sáng tạocủa ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh và hiếm thấy trong lịch sử ngoạigiao thế giới Qua mỗi giai đoạn của cuộc đấu tranh, ngoại giao nhân dân lại mangnhững nội dung, hình thức biểu hiện riêng Thời kỳ bảo vệ và củng cố chính quyềncách mạng 1945 - 1946 ngoại giao nhân dân thể hiện chủ yếu qua việc quần chúngnhân dân “biểu dơng thực lực” ủng hộ chính quyền cách mạng
Có thể nói, hoạt động ngoại giao hiện đại của Việt Nam có sự hiện diện của nhândân trong nớc và nhân dân thế giới Chính lòng yêu hoà bình, độc lập, tự do và sựnghiệp chính nghĩa, các mục tiêu đấu tranh mà nhân dân Việt Nam phấn đấu thựchiện trong đấu tranh giải phóng dân tộc cũng nh xây dựng hoà bình là điểm gặp gỡ
và mẫu số chung để xây dựng quan hệ quốc tế của Việt Nam, để tập hợp lực lợngquốc tế Nó phù hợp với ý thức chống cờng quyền, yêu chuộng hoà bình của nhânloại tiến bộ
Trang 9Trên đây là những nội dung cơ bản trong t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh Cùngvới hệ thống quan điểm lí luận cách mạng, trong quá trình đấu tranh giải phóng dântộc những t tởng ngoại giao này của Ngời là yếu tố không thể thiếu góp phần đa cáchmạng đến bến bờ thắng lợi.
Ngay từ sau khi nhà nớc VNDCCH ra đời (2/9/1945) nền ngoại giao thời kì hiện đại ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh cũng đã hình thành Hoạt động ngoại giao thời kì 1945 -
-1946 chính là những viên gạch đầu tiên tạo nền móng vững chắc
Một điều chúng ta nhận thấy là xuyên suốt trong t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh “
điều có tính nguyên tắc là trong chính sách hằng ngày cũng nh trong thực tiễn đấutranh dù dới hình thức gì và trong bất cứ điều kiện nào ngời cách mạng không baogiờ đợc lãng quên mục đích cuối cùng” Kiên định vững vàng về mục tiêu chiến lợc,linh hoạt sáng tạo trong chỉ đạo chiến lợc, mềm dẻo khôn khéo trong biện pháp sáchlợc - đó chính là quan điểm “Dĩ bất biến ứng vạn biến”
1.2 T tởng Dĩ bất biến ứng vạn biến.
“Dĩ bất biến ứng vạn biến” là lời nhắn gửi đầy tâm huyết của chủ tịch Hồ Chí Minh với cụ Huỳnh Thúc Kháng khi Ngời trao đổi với cụ về các đối sách của chính phủ ta trong tình thế nguy hiểm và phức tạp của chính quyền cách mạng trớc lúc Ngời lên đờng sang Pháp ngày 31/5/1946
“Dĩ bất biến ứng vạn biến” - câu nói ấy là tổng quan phơng pháp cách mạng của
Hồ Chí Minh mà Ngời đã thực hiện trong suốt qúa trình hoạt động cách mạng, hoạt
động ngoại giao của mình và cũng là một bài học kinh nghiệm quí giá của cáchmạng Việt Nam
1.1.1 Nguồn gốc, cơ sở hình thành
Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ: mọi học thuyết t tởng ra
đời một mặt là sự kế thừa những t tởng học thuyết trớc đó, mặt khác là sự phản ánhquy luật vận động của hiện thực, đồng thời là kết quả hoạt động nhận thức sáng tạocủa một con ngời gắn với phẩm chất nhân cách cá nhân, phản ánh ý chí nguyện vọngcủa một giai cấp, một dân tộc trong một thời đại nhất định
Rõ ràng, khi nghiên cứu t tởng Hồ Chí Minh nói chung và t tởng ngoại giao HồChí Minh nói riêng chúng ta cần phải xem xét trong mối quan hệ biện chứng thể hiện
sự kế thừa và phát triển, thể hiện sợi dây liên kết của quá khứ với hiện tại Hay nói
Trang 10đúng hơn: T tởng Hồ Chí Minh về ngoại giao là sản phẩm kết hợp chủ nghĩa yêu nớc,văn hoá dân tộc và truyền thống ngoại giao Việt Nam, tinh hoa văn hoá của nhiềudân tộc phơng Đông và phơng Tây, kinh nghiệm ngoại giao thế giới.
Trên nền tảng ấy với những phẩm chất và trí tuệ đợc hình thành từ thời thơ ấu tôiluyện trong quá trình lao động, học tập, đấu tranh qua các chặng đờng tìm đờng cứunớc và hoạt động cách mạng đã hình thành nên nhân cách ngoại giao Hồ Chí Minh.Các tố chất căn bản đó đã đợc phát huy cao độ nhờ Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minhtiếp thu chủ nghĩa Mác- Lênin, thấm nhuần thế giới quan và phơng pháp luận mácxít
Về nguồn gốc cơ sỡ hình thành t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh thể hiện quan điểm “Dĩbất biến ứng vạn biến” có nguồn gốc lí luận, t tởng và nguồn gốc thực tiễn
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên ở Việt Nam - một đất nớc mà những cdân bản địa đầu tiên từ rất sớm đã có một triết lí sống, một triết lí hành động trongcuộc đấu tranh chống thiên tai địch họa Triết lí ấy đợc thể hiện qua kho tàng ca daotục ngữ lu truyền từ đời này sang đời khác nuôi dỡng tâm hồn và nhân cách con ngờiViệt Nam Trải theo chiều dài của lịch sử, triết lí ấy, quan niệm ấy đã ngày càng đợcnâng dần lên với những giá trị mới, phát triển thể hiện bản sắc dân tộc và đã tạo dựngnên một nền văn hoá chung của một nớc Việt Nam thống nhất Điều này cũng cónghĩa là: t tởng Hồ Chí Minh đợc hình thành dựa trên nền tảng truyền thống dân tộc,truyền thống văn hoá Việt Nam
Chủ nghĩa yêu nớc là sợi chỉ đỏ xuyên suốt theo quá trình lịch sử trải dài nhiềunghìn năm của nớc Việt Nam, song hành cùng với sự hình thành và phát triển quốcgia dân tộc Đó là sự kết tinh và nét tiêu biểu của truyền thống văn hoá Việt Nam.Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “ Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nớc đó là truyềnthống quý báu của ta Từ xa đến nay mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lạisôi nổi, nó kết thành làn sóng vô cùng mạnh mẽ to lớn, lớt qua mọi sự nguy hiểm,khó khăn nhấn chìm tất cả lũ bán nớc và cớp nớc ” Truyền thống yêu nớc đó khôngchỉ là một tình cảm, một phẩm chất tinh thần mà đã phát triển thành một chủ nghĩa -chủ nghĩa yêu nớc, chủ nghĩa dân tộc chân chính, thành dòng chủ lu của t tởng ViệtNam xuyên suốt lịch sử dân tộc
Trang 11Đúng nh chủ tịch Hồ chí Minh đã nói: “ Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nớcchứ cha phải là chủ nghĩa cộng sản đã đa tôi tin theo Lênin, tin theo quốc tế thứ ba” Chủ nghĩa yêu nớc - hạt nhân của nền văn hoá dân tộc đã đợc tạo dựng trên mộtnền tảng vững chắc là tính cộng đồng dân tộc Tính cộng đồng chính là một đặc điểmcủa nhân loại nhng ở Việt Nam tính cộng đồng là sản phẩm mang tính đặc thù và nổibật của hoàn cảnh kinh tế xã hội Môi trờng thiên nhiên và xã hội đã đặt trớc dân tộc
ta những thử thách cực kì lớn lao đòi hỏi phải có một nghị lực phi thờng mới có thểvợt qua để tồn tại và phát triển
Mọi ngời đều nhận thức rằng điều kiện đầu tiên của sự thành công là phải gắn bóvới nhau, cùng nhau sản xuất, chiến đấu, kết hợp lợi ích cá nhân với lợi ích cộng
đồng Tính cộng đồng làm cho chủ nghĩa yêu nớc Việt Nam gắn liền với chủ nghĩanhân văn rộng lớn vợt qua giới hạn của một nớc và là cơ sở cho sự phát triển chủnghĩa quốc tế trong thời kì hiện đại
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu, kế thừa những truyền thống văn hoá dân tộc tạonên nền móng vững chắc cho sự đâm chồi nảy lộc, phát triển t tởng cách mạng củaNgời Trong hệ t tởng Hồ Chí Minh, t tởng ngoại giao cũng đợc bắt rễ từ truyềnthống văn hoá ấy
Ngoại giao truyền thống Việt Nam cũng là một nhân tố quan trọng trong sựhình thành t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh Ngoại giao truyền thống Việt Nam là nềnngoại giao có bản sắc Đó là những đặc trng ổn định và bền vững, có nguồn gốc xuất
xứ từ bản sắc dân tộc và văn hoá dân tộc Việt Nam Đồng thời, là kết quả của hoạt
động giao lu quốc tế của Đại Việt với các nớc láng giềng, của quá trình đấu tranhbảo vệ chủ quyền dân tộc và phục vụ công cuộc xây dựng đất nớc phát triển quốc giadân tộc
Đặc trng ngoại giao truyền thống Việt Nam có thể gói gọn là: hoà hiếu, nhu viễn,
“ trong đế ngoài vơng” Nền ngoại giao nhu viễn xem trọng việc giữ gìn hoà khí,khiêm nhờng với nớc lớn, hữu nghị với các nớc lân bang, phấn đấu cho sự thái hoà.Yêu chuộng hoà bình là bản chất của ngoại giao Việt Nam Trong khi kiên trì lập tr-ờng nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, quốc gia Đại Việtkiên trì đờng lối hoà bình trong quan hệ ngoại giao với các nớc láng giềng Hoà hiếu
là t tởng cốt lõi của ngoại giao Đại Việt Nhà sử học Phan Huy Chú đúc kết lịch sử
Trang 12bang giao của đất nớc đã nhấn mạnh: “ Trong việc trị nớc, hoà hiếu với láng giềng làviệc lớn” Tinh thần ấy cũng đã đợc Nguyễn Trãi nêu bật trong: “ Phú núi Chí Linh”sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Minh: Nghĩ đến kế lâu dài của nớc -Thả cho về 10 vạn tù binh - Nối hai nớc tình hoà hiếu - Tắt muôn đời lửa chiến tranh.
Có thể nói, cùng với các thắng lợi trên mặt trận quân sự việc thực hiện nhất quán
t tởng hoà hiếu với các nớc láng giềng đã góp phần quan trọng giúp Việt Nam vợtqua và chiến thắng bọn xâm lăng từ phía Bắc và phía Nam bảo tồn và phát triển cơngvực lãnh thổ quốc gia
Ngoại giao Việt Nam thấm nhuần tinh thần nhân đạo và chủ nghĩa nhân văn
Điều này có cội nguồn từ lý tởng nhân nghĩa dân tộc, biết đứng trên nghĩa lớn khibuộc phải đơng đầu với những thế lực ngoai xâm hung bạo Đồng thời, nó cũng xuấtphát từ tầm nhìn sâu xa trong quan hệ ban giao với các nớc láng giềng có chung biêngiới đợc Trân Hng Đạo nêu trong lời di chúc: " Hòa ở trong nớc thì ít dụng binh, hòa
ở ngoài biên thì không sợ có báo động Trong " Binh th yếu lợc" Hng Đạo Vơng tuynói về việc dùng binh mà còn hàm ý về sự thái hòa: Bậc thánh võ trị đời, đánh ở chỗkhông có thành, công ở chỗ không có luỹ, chiến ở chỗ không có trận
Phan Huy Chú nhận xét trong “ Lịch triều hiến chơng loại chí ”: Nớc Việt Nam
ta có cả cõi đất phía Nam mà thông hiếu với Trung Hoa, tuy nuôi dân dựng nớc cóquy mô riêng nhng ở trong thì xng đế, ngoài thì xng vơng “ Trong đế ngoài vơng” làmột đặc trng nổi bật của ngoại giao truyền thống Việt Nam Đó là sự nhún nhờng đểgiữ độc lập Khi bị xâm lợc thì kiên quyết kháng chiến vứi tinh thần quyết chiếnquyết thắng nhng luôn giữ gìn hoà hiếu
Ngoại giao truyền thống Việt Nam cũng luôn thể hiện tinh thần tự tôn dân tộc Ngời đi
sứ luôn thấu triệt phơng châm “ đi sứ bốn phơng không làm nhục mệnh vua”
Tất cả những yếu tố mang tính đặc trng riêng của truyền thống ngoại giaoViệt Nam đã đợc chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa Và dờng nh trong t tởng ngoại giaocủa Ngời các yếu tố ấy luôn hiển hiện vừa là nền móng, cội nguồn sức mạnh vừa thểhiện sự kế thừa, phát triển sáng tạo để tạo nên một nền ngoại giao Việt Nam hiện đại
Trong cuộc đời hoạt động của mình, Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh khôngngừng tìm hiểu, nghiên cứu các t tởng, học thuyết chính trị xã hội và văn hóa thếgiới Với mỗi chủ thuyết, t tởng, trờng phái chính trị, Ngời chấp nhận những kiến
Trang 13giải phù hợp với tâm thức văn hóa Việt Nam, lựa chọn những yếu tố tích cực làmgiàu vốn kiến thức t tởng của mình Sự nghiên cứu và lựa chọn của Ngời xuất pơhát
từ quan điểm thiết thực, t tởng gắn với đời, gắn với ngời, không phải là lý thuyết xavời
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh:
"Học thuyết Khổng Tử có u điểm là sự tu dỡng đạo đức cá nhân
Tôn giáo Giêsu có u điểm là lòng nhân ái cao cả
Chủ nghĩa Mác có u điểm là phơng pháp làm việc biện chứng
Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có u điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiệnnớc ta." [5, 51]
Nh vậy, sự kết hợp tinh hoa văn hóa cổ kim Đông - Tây đã có ảnh hởng đếnvăn hóa trong ngoại giao của Ngời
Sẽ là một thiếu sót nếu nghiên cứu t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh lại khôngxét đến thế giới quan và phơng pháp luận mác xít Chủ nghĩa Mác - Lênin là mộtnguồn gốc chủ yếu của t tởng Hồ Chí Minh Thế giới quan và phơng pháp luận Mác -Lênin đã giúp Hồ Chí Minh nhìn nhận, đánh giá, phân tích tổng kết các học thuyết ttởng đơng thời cũng nh kinh nghiệm hoạt động tực tiễn của mình để tìm ra con đờngcứu nớc giải phóng dân tộc Trong tác phẩm "Đờng cách mệnh" khi phân tích cácchủ nghĩa, học thuyết, Ngời viết: "Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhngchủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất, là chủ nghĩa Lênin"
Tổng kế kinh nghiệm thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Ngời chỉ rõ: Chúng
ta giành thắng lợi là do nhiều nhân tố nhng cần phải nhấn mạnh rằng trớc hết lànhờ cái vũ khí không gì thay thế đợc là chủ nghĩa Mác - Lênin
Tuy nhiên, việc tiếp thu vận dụng phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin của HồChí Minh là cả một quá trình gắn với hoạt động thực tiễn, trên cơ sở yêu cầu thựctiễn Ngời coi việc học tập chủ nghĩa Mác - Lênin trớc hết phải nắm vững cái cốt lõi
"linh hồn sống" của nó là phơng pháp biện chứng: "phải học tập tinh thần của chủnghĩa Mác - Lênin, học tập lập trờng quan điểm và phơng pháp của chủ nghĩa Mác -Lênin để áp dụng lập trờng, quan điểm và phơng pháp ấy mà giải quyết cho tốtnhững vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta"
Trang 14Nh vậy, t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh - bộ phận hữu cơ trong t tởng chung
Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự kết hợp truyền thống văn hóa Việt Nam ngoại giaotruyền thống Việt Nam, và tinh hoa văn hóa Đông - Tây dựa trên thế giới quan và ph-
ơng pháp luận mác xít Đây cũng chính là nguồn gốc lý luận hình thành t tởng củaNgời
Ngoài nguồn gốc lý luận còn phải đề cập đến cơ sở thực tiễn, tác động củathực tiễn đến sự hình thành t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh Lênin đã khẳng định:Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý và cũng chính từ trong hoạt động thực tiễn màtừng bớc Hồ Chí Minh đã tìm ra quy luật khái quát nhận thức thành lý luận để rồi lýluận ấy lại đợc Ngời vận dụng và kiểm nghiệm trong thực tiễn Cơ sở thực tiễn góp phầnhình thành t tởng Hồ Chí Minh nói chung và t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh nói riêng,
đó là thực tiễn của thời đại và thực tiễn đời sống hoạt động của Ngời
Nguyễn ái Quốc nêu cao quan điểm mác xít về thực tiễn nhng đề cao nguyêntắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Ngời nói: " Thống nhất giữa lý luận và thựctiễn là một nguyên tăc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin" bởi "Thực tiễn mà không
có lý luận hớng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thựctiễn là lý luận suông" [4, t8, 496]
Quan điểm thực tiễn ấy đã đợc Ngời vận dụng hiệu quả trong hoạt động ngoạigiao của Ngời
Có thể nói, với NAQ - Hồ Chí Minh chủ nghĩa Mác - Lênin phơng pháp biệnchứng mác xít cùng với giá trị truyền thống văn hóa nhân văn dân tốc và thế giới,truyền thống ngoại giao Việt Nam, những nội dung đúc rút từ nền chính trị Quốc tế,thông qua hoạt động thực tiễn vô cùng phong phú đã tạo nền tảng cho công cuộc cứunớc và là cội nguồn của t tởng Hồ Chí Minh về ngoại giao
1.2.2 Nội dung cái "bất biến" và "vạn biến" trong t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh
Luận cơng cách mạng Việt Nam tại Đại hội Đảng cộng sản Đông Dơng lần IIkhẳng định: "Chính sách ngoại giao của ta là chính sách ngoại giao có tính dân tộc
và dân chủ Nguyên tắc cơ bản của chính sách đó là bảo vệ toàn vẹn độc lập, dânchủ, chủ quyền lãnh thổ và thống nhất quốc gia."
Trang 15Không phải cho đến thời đại Hồ Chí Minh vấn đề độc lập dân tộc, thống nhấtquốc gia mới đợc đặt ra và xem đó là nguyên tắc, là điều không thể thay đổi Ngợcdòng lịch sử dân tộc, chúng ta dễ dàng nhận thấy vấn đề độc lập dân tộc, chủ quyền,thống nhất lãnh thổ đã đợc bao thế hệ ngời dân đất Việt tiếp nối nhau chung sức đấutranh giành lại và giữ gìn.
Bài thơ: "Nam quốc sơn hà" đợc Lý Thờng Kiệt đọc lên vang vọng bên phòngtuyến sông Nh Nguyệt đợc xem là lời Tuyên ngôn mang đậm hồn thiêng dân tộc,khẳng định nớc Nam có chủ: "Sông núi nớc Nam vua Nam ở" Độc lập và chủ quyềndân tộc vẫn tiếp tục đợc gìn giữ trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam Song
độc lập dân tộc, chủ quyền dân tộc trớc đây là độc lập dân tộc dới chế độ phong kiến.Vấn đề độc lập chủ quyền chủ yếu thể hiện ở sự khẳn định nền văn hiến của dân tộc
và do đó có thể xem giữ gìn độc lập dân tộc cũng đồng nghĩa với giữ gìn, bảo tồn, vàphát triển nền văn hiến có bề dày lịch sử hàng nghìn năm ấy
Bớc sang thời cận đại, lịch sử nhân loại chứng kiến sự thay hình lột xác củathời đại với sự xuất hiện của một lực lợng xã hội mới Tuy nhiên, dù ở thời đại nàothì các dân tộc, các nớc lớn cũng đều mang và tìm mọi cách thực hiện tham vọngxâm chiếm nớc khác, nhỏ bé và yếu hơn Vì vậy, khát vọng độc lập dân tộc luôn th-ờng trực và mang tính phổ biến của các dân tộc bị đè nén, chịu sự thống trị của ngoạibang
Vào nữa sau thế kỷ XIX, nòng pháo đại bác của bọn thực dân Pháp đã nãnhững loạt đạn dữ dội vào cánh cửa đợc Triều đình nhà Nguyễn dựng lên Để rồi chỉtrong một khoảng thời gian sau đó, thực dân phơng Tây đã đặt chân lên đất nớc tanhanh chóng biến nhân dân ta thành những ngời dân mất nớc, nền độc lập dân tộcphút chốc biến mất trong tay bọn ngoại bang Mâu thuẫn dân tộc đặt ra nh một vấn
đề cấp thiết phải giải quyết Vấn đề giành lại độc lập chủ quyền dân tộc vừa là nhiệm
vụ vừa là mục tiêu chung của toàn thể dân tộc
Và lịch sử đã chọn NAQ - Hồ Chí Minh
Vào những năm đầu của thế kỷ XX, ngời thanh niên Nguyễn Tất Thành mangtrong mình trái tim yêu nớc nồng cháy đã nhận lấy sứ mệnh lịch sử đi tìm ánh sánggiải phóng để làm sao cho nớc ta đợc độc lập, dân ta đợc tự do Trải qua một thậpniên tìm tòi lựa chọn, Ngời đã quyết định đi theo con đờng cách mạng vô sản - con
Trang 16đờng giải phóng nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới khỏi mọixiềng xích nô lệ theo học thuyết Mác.
Sự lựa chọn con đờng cách mạng, con đờng phát triển đúng đắn cho một xãhội, một dân tộc không bao giờ đơn giản chi hoàn toàn là ý muốn của một cá nhân
Nó là kết quảe của sự phát hiện đúng quy luật phát triển của xã hội, xu thế của thời
đại và giải đáp đúng câu hỏi đúng vấn đề mà lịch sử dân tộc đặt ra vì vậy sự lựa chọncon đờng phát triển của dân tộc Việt Nam vào dầu năm 1930 không chỉ do những
điều kiện chính trị kinh tế trong nớc mà trớc hết và cơ bản là nhờ Hồ Chí Minh đãdụng một cách tài tình chủ nghĩa Mác - Lênin trên cơ sở triết lý lịch sử phơng Đông
và t tởng nhân văn truyền thống Việt Nam Sự lựa chọn ấy đã đợc kiểm nghiệm trongthực tiễn đấu tranh cách mạng là hoàn toàn đúng đắn Cách mạng tháng 8/1945thành công mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của độc lập tự do
Nh vậy là, con đờng cách mạng vô sản đem lại độc lập tự do cho dân tộc đồng thờicũng chỉ ra độc lập dân tộc, tự do nhân dân là mục đích cao cả nhất, lớn nhất
Ngay từ rất sớm Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh đã ý thức đợc mục tiêuchung, ý thức đợc cái bất biến của dân tộc Việt Nam, của cách mạng Việt Nam Mụctiêu chung ấy đã đợc Ngời khẳng định trong Chính cơng vắn tắt, Sách lợc vắn tắt của
Đảng: Các nhiệm vụ cách mạng nêu ra trong cơng lĩnh đầu tiên của Đảng bao gồmcả nội dung dân tộc và dân chủ, dân tộc và giai cấp, chống đế quốc và chống địa chủphong kiến phản động Các nhiệm vụ đó có mối quan hệ hữu cơ, nổi bật lên hàng đầu
là cấp bách là chống đế quốc giành độc lập cho dân tộc Độc lập dân tộc là điều kiện
đầu tiên và kiên quyết để có thể thực hiện đợc chủ quyền, thống nhất và toàn vẹnlãnh thổ, tự do cho nhân dân Vì vậy: Độc lập dân tộc là mục tiêu chung là cái bấtbiến không thể thay đổi
Đờng lối, chính sách chiến lợc và sách lợc ngoại giao, hoạt động đối ngoại củachủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn hớng vào thực hiện có hiệu quả mục tiêuchung ấy của cách mạng nớc ta
Ngày 2.9.1945 Hồ Chí Minh tuyên bố với quốc dân và thế giới một nguyên lícơ bản về quyền dân tộc : "Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng dântộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sớng, quyền tự do"
Trang 17"Nớc Việt Nam có quyền đợc hởng tự do và độc lập và thật msự đã trở thành một nớc
tự do độc lập"
T tởng chiến lợc CMGPDT với khẩu hiệu đấu tranh làm cho nớc Việt Nam độc lập
đ-ợc nêu ra trong Chính cơng vắn tắt,Sách lđ-ợc vắn tắt đầu năm 1930 đã trở thành mộtnớc Việt Nam độc lập tự do hiện thực, một minh chứng hùng hồn về t tởng cáchmạng lớn của Hồ Chí Minh
Mục tieu chung của CMVN cũng là mong muốn suốt đời của chủ tịch Hồ Chí Minh
là giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con ngời, xây dựng một nớc ViệtNam hoà bình thống nhất độc lập dân chủ và giàu mạnh
" Điều có giá trị xuyên suốt toàn bộ lịch sử CMVN từ khi có chủ nghĩa Mác- Lêninsoi tỏ là ở chổ chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra và thực hiện thắng lợi t tởng cáchmạng vĩ đại: Không có gì quý hơn Độc lập- Tự do"
T tởng: Không có gì quý hơn độc lập tự do là điểm xuất phát của t tởng Hồ ChíMinh Độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào - khát vọng dân tộc nóng bỏng ấycủa Hồ Chí Minh đã thúc đẩy Ngời đến với chủ nghĩa cộng sản, đứng về phía đệ tamquốc tế, gia nhập Đảng cộng sản Pháp Từ một ngời yêu nớc dân tộc chủ nghĩa trongsáng, Hồ Chí Minh đã trở thành một chiến sĩ cộng sản Các yếu tố yêu nớc, dân tộcchủ nghĩa trong sáng, yếu tố cộng sản và quốc tế vô sản đã hoà quyện với nhau,thống nhất biện chứng trong t tởng chiến lợc và hoạt động thực tiễn của ngời yêu nớccộng sản Việt Nam - Hồ Chí Minh
Độc lập dân tộc theo t tởng Hồ Chí Minh là một nền độc lập thực sự Ngời thờngnhấn mạnh: phải đấu tranh dành cho đợc độc lập thực sự, độc lập hoàn toàn chứkhông phải là thứ " độc lập giả hiệu", " độc lập hình thức" hay thứ " độc lập nữa vời" Trong t tởng Hồ Chí Minh độc lập dân tộc bao giờ cũng gắn liền với thống nhất
đất nớc - Nam Bắc là một nhà Ngời coi thống nhất đất nớc, bảo đảm chủ quyền vàtoàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là một nguyên tắc không thể nhân nhợng Mặt khác, ttởng độc lập thống nhất của Ngời cũng gắn với tự do dân chủ và ấm no hạnh phúccho nhân dân Ngời đã từng nói: " Nếu nớc độc lập mà dân không đợc hởng hạnhphúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lí gì", " Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do,của độc lập khi mà dân đợc ăn no, mặc đủ" T tởng này là một bớc phát triển cao hơntrong t tởng của Ngời về độc lập dân tộc Trong thời đại mới, độc lập dân tộc thôi cha
Trang 18đủ mà hơn hết và quan trọng là phải đem lại tự do cho ngời dân T tởng này là sự kếthừa và xuất phát từ truyền thống lấy dân làm gốc.
Độc lập dân tộc cũng đồng nghĩa với tự do cho nhân dân đó là mong muốn lớnnhất của Ngời: " Tôi chỉ có một sự ham muốn tột bậc là làm sao cho nớc ta đợc độclập hoàn toàn, dân ta đợc hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, aicũng đợc học hành"
" Không có gì quý hơn Độc lập tự do " là t tởng cách mạng cốt lõi, là lẽ sống của
Hồ Chí Minh của dân tộc Việt Nam và nhân dân thế giới Độc lập dân tộc, tựdo,thống nhất toàn vẹn lãnh thổ - cái mong ớc tởng chừng nh giản đơn ấy là mục tiêuchung, là cái bất diệt, là viên ngọc quý nhất khảm trong cơng lĩnh Hồ Chí Minh
Độc lập dân tộc là giá trị tuyệt đỉnh của mọi giá trị không thể đổi chác, mua bán dùtrong bất kì hoàn cảnh và áp lực nào Cái bất biến đó theo tinh thần Hồ Chí Minhphải là thành quả của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giảiphóng con ngời bằng con đờng cách mạng triệt để - CMVS dới sự lãnh đạo của Đảngcộng sản theo chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủnghĩa Lênin
Bàn về t tởng: " Không có gì quý hơn Độc lập tự do" Cố thủ tớng Phạm Văn
Đồng nêu rõ: " Độc lập tự do ở đây là độc lập của dân tộc, tự do của nhân dân, củacon ngời Độc lập đi liền với tự do là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH Rõ ràng lờinói này là sự kết tinh những khát vọng thiết tha cao đẹp nhất của mọi con ngời vàmọi dân tộc" Có thể nói: ĐLDT và CNXH là luận điểm trung tâm của t tởng Hồ ChíMinh, nó thâm nhập và xuyên suốt toàn bộ hệ thống t tởng của Ngời trong các thờikì và trên các lĩnh vực
Độc lập tự do là hạt nhân sáng chói và trờng tồn của t tởng Hồ Chí Minh T tởng
độc lập dân tộc - cái " bất biến " là sự khái quát cao và bản chất cốt lõi củachủ nghĩadân tộc truyền thống và chủ nghĩa dân tộc cách mạng hiện đại Việt Nam T tởng đó
có bệ đỡ vững chắc của quá khứ, phản ánh đợc khát vọng hiện tại và soi sáng cả tơnglai của dân tộc Đó là sức mạnh lôi kéo dẫn dắt cả dân tộc, là nguồn gốc ý chí chiến
đấu tuyệt vời là cơ sở nảy sinh chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam
Điều kì diệu là khi chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên mục tiêu bất biến về sự nghiệpgiải phóng dân tộc và con ngời theo thời đại mới thì đồng thời mục tiêu đó cũng hàm
Trang 19chứa mẫu số chung về lợi ích không chỉ cho dân tộc, con ngời Việt Nam mà còn làcủa các dân tộc bị áp bức và nhân loại tiến bộ Bắt nguồn từ đó mà cuộc tranh đấucủa nhân dân ta trong thế kỉ XX đã nhận đợc sự đồng tình ủng hộ to lớn của các dântộc cũng nh nhân dân yêu chuộng hoà bình, công lý trên toàn thế giới Vì thế sứcmạnh của cách mạng Việt Nam là sức mạnh tổng hợp của dân tộc và thời đại
Có thể nói, mục tiêu bất biến là độc lập cho dân tộc, thống nhất cho tổ quốc,
tự do và hạnh phúc cho nhân dân do Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh nêu lên và cuộc
đấu tranh thực hiện mục tiêu ấy do Ngời khởi xớng, tổ chức lãnh đạo, đồng thời minhchứng bằng thắng lợi đã tạo nên đặc trng của thế kỷXX về mặt chính trị - thế kỷ củanhân loại đấu tranh cho quyền của các dân tộc và quyền của con ngời: " Không có gìquý hơn ĐLTD "
Mácta Rôgiát, ngời Cu Ba đã viết : " Không có gì quý hơn ĐLTD " đó là khẩuhiệu đầy sức sống trong đấu tranh, đó là lẽ sống và là học thuyết cách mạng HồChí Minh Nếu có ai hỏi văn bản nào giải thích kĩ càng nhất học thuyết Hồ Chí Minh
? Chúng ta phải trả lời đó là chủ nghĩa anh hùng nảy sinh hằng ngày trong dân tộccủa Ngời " và " Thông qua chủ nghĩa anh hùng nảy sinh hằng ngày trong nhândân Việt Nam ngời ta đã tìm thấy lời giải thích hay nhất về học thuyết vì độc lập và
tự do của Hồ Chủ tịch"[251]
Tuy nhiên, qua thực tế hoạt động của chủ tịch Hồ Chí Minh và các luận điểm củaNgời cho thấy muốn đạt mục tiêu "bất biến" cần phải " ứng vạn biến" trong những điềukiện lịch sử cụ thể Điều này có nghĩa là cái bất biến trong t tởng Hồ Chí Minh trở thànhnguyên tắc không đợc xa rời trong t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh
1.2.3 " Dĩ bất biến, ứng vạn biến" - phơng pháp biện chứng ngoại giao Hồ
Chí Minh
Ngoại giao của bất kì nớc nào cũng phải giải quyết thoả đáng mối quan hệgiữa nguyên tắc và sách lợc Nguyên tắc là bất biến sách lợc là khả biến, có thể nângcao hay hạ thấp , có thể mở ra hay co vào nhng bao giờ cũng không đợc quá một giớihạn: nếu đi cao hơn giới hạn là tả khuynh, trái với nguyên tắc làm hỏng việc; nếu đithấp hơn nguyên tắc là hữu khuynh, trái với nguyên tắc cũng làm hỏng việc
Nói cách khác: Hoạt động ngoại giao luôn bảo đảm sự thống nhất giữa hai yếu tố cơbản là cái bất biến của lợi ích dân tộc và sự uyển chuyển cực kì phong phú và linh
Trang 20hoạt sáng tạo trong ứng xử ngoại giao Lịch sử ngoại giao Việt Nam chính là lịch sửcủa mối quan hệ giữa cái "bất biến" và "vạn biến" thể hiện bản sắc dân tộc của ngoạigiao Việt Nam từ xa đến nay
" Dĩ bất biến, ứng vạn biến" - lấy cái không thể thay đổi để ứng phó với muôn sựthay đổi - là một phơng pháp bắt nguồn từ triết lí phơng Đông, thể hiện t tởng biệnchứng của phơng Đông Nó phù hợp với đặc tính "thích ứng" của dân tộc ta vì thếtrong lịch sử phát triển của dân tộc đã đợc nhiều nhà chính trị quân sự lỗi lạc vậndụng
Thời phong kiến, vấn đề lớn của Đại Việt là thần phục thiên triều mà vẫn giữ đợc
độc lập Ông cha ta đã giải quyết vấn đề bằng khẩu hiệu " trong xng đế, ngoài xng
v-ơng" nghĩa là chịu sắc phong triều cống đối với thiên triều nhng trong nớc giữ quyềnhoàn toàn làm chủ Theo tinh thần đó, ngay khi đánh thắng thiên triều ta vẫn phảithần phục thiên triều, làm chuyện "vuốt mặt phải nể mũi"
Từ sau cách mạng tháng Tám ta đã phát triển bài học sách lợc của Đại Việttrong ngoại giao phức tạp và tế nhị thời bấy giờ
Trớc lúc lên đờng sang pháp 31/5/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dặn cụ HuỳnhThúc Kháng ''Dĩ bất biến, ứng vạn biến'' khi lý việc nớc Hồ Chí Minhđã vận dụngthành công phơng pháp này trong bối cảnh mới nhờ kết hợp với phép biện chứng duyvật mác xít Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Mục đích bất di bất dịch của chúng ta vẫn
là hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc nhngsách lợc của ta thì linh hoạt" Sự linh hoạt phải trên cơ sở giữ vững nguyên tắc Cóthể xem kiên trì về nguyên tắc và mục tiêu cuối cùng, đi đôi với sáng tạo linh hoạttrong vận dụng sách lợc là phơng sách tổng quát của Hồ Chí Minh trong việc xử lýnhững vấn đề đặt ra trong đờng lối cách mạng cũng nh trong qua hệ Quốc tế
Giành độc lập, thống nhất đất nớc, tự do hạnh phúc cho nhân dân "xây dựng
đất nớc mời lần đẹp hơn xa" là nguyên tắc, mục tiêu cơ bản lâu dài của cách mạng
n-ớc ta Đó cũng là cái "bất biến" để hoạt động đối ngoại "ứng vạn biến " bằng nhữngchủ trơng, đối sách khôn khéo, linh hoạt hợp với nhân tố khách quan và biến chuyểncủa nhân tố chủ quan Ngời dặn: "phải nắm vững nguyên tắc cứng răn với sách lợcmềm dẻo", "lạt mềm nhng buộc chặt "
Trang 21Để " Dĩ bất biến" cần "ứng vạn biến" Nhng thực hiện "ứng vạn biến" phải xác
định đợc giới hạn của nhân nhợng đó là không đợc làm tổn hại chủ quyền quốc gia
và lợi ích dân tộc Đảng ta khẳng định :Tạm ớc ngày 14 tháng 9 là một bớc nhân ợng cuối cùng Nhân nhợng nữa là phạm đến chủ quyền của nớc là hại quyền lợi caotrọng của dân tộc Chủ quyền ngoại giao cũng là một yếu tố cấu thành chủ quyềnquốc gia, là một trong những đặc trng cơ bản của một nhà nớc hợp hiến tự do độclập
nh-Trong thời kỳ 1945 - 1946 đầy khó khăn phức tạp Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Đảng ta đã kiên quyế đấu tranh để nớc ta "có ngoại giao riêng" vì "nếu quân đội vàngoại giao Việt Nam ở dới quyền Pháp tức là Việt Nam cha độc lập hẳn và vẫn làthuộc địa của Pháp" Đồng thời, Ngời cũng luôn khẳng định chủ quyền ngoại giaotrong việc giải quyết các vấn đề liên qua đeứen vận mệnh của đất nớc: "Nếu cónhững nớc trung lập nào muốn cố gắng để xúc tiến việc chấm dứt cuộc chiến tranh ởViệt Nam bằng cách thơng lợng thì sẽ đợc hoan nghêng nhng việc thơng lợng đìnhchiến chủ yếu là việc giữa Chính phủ VNDCCH với Chính phủ Pháp"
Ngoài ra, trong quá trình "ứng vạn biến" cũng còn cần phải nắm vững mụctiêu cách mạng có bản lĩnh vững vàng và sự quyết đoán khôn khéo mau lẹ để ứngphó kịp thời với tinh thế, từng đối tợng trong từng hoàn cảnh cụ thể
Thắng lợi của cuộc cách mạng tháng 8/1945 tạo cho dân tộc một nguồn sứcmạnh mới Nhng bọn đế quốc xâm lợc và thế lực phản cách mạng trong nớc khôngcam tâm chịu thất bại Chúng câu kết với nhau hòng đánh đổ chính quyền cách mạngcủa nhân dân ta, lập lại ách thực dân phong kiến trên dất nớc ta ở vào cái thời điểm
mà vận nớc "nghìn cân treo sợi tóc" Đảng phải dùng mọi cách để sống còn hoạt động
và phát triển Lúc đó Đảng không thể do dự, Đảng phải quyết đoán mau chóng Đảng
ta đã đề ra những hình thức đấu tranh thích hợp, những khẩu hiệu sách lợc để trangthủ mọi lực lợng có thể tranh thủ đợc trên trờng quốc tế ủng hộ Việt Nam độc lập
Linh hoạt mềm dẻo trong sách lợc nhng cũng phải thể hiện thái độ kiên quyết
và biết vận dụng mọi cơ hội để tiến công ngoại giao - đây là một nguyên tắc tronghành động ngoại giao trong " ứng vạn biến" để "dĩ bất biến"
Nhng đồng chí Trờng Chinh đã nêu lên tại Đại hội Đảng lần II (1951) Hồ ChíMinh "luôn luôn phối hợp sự mềm mỏng của chiến thuật với sự đanh thép của
Trang 22nguyên lý, không vì lợi ích thiển cận nhất thời mà nhìn chệch mục đích cách mạng.Ngời dạy ta làm thế nào cho Đảng, khi định ra những khẩu hiệu và chính sách khôngcăn cứ vào những công thức đã học thuộc lòng mà căn cứ vào những điều kiện cụ thểtrong nớc và ngoài nớc ".
" Dĩ bất biến, ứng vạn biến" - giữ vững mục tiêu cuối cùng, linh hoạt sáng tạo trongsách lợc đối ngoại còn thể hiện t tởng biết thắng từng bớc để đi đến thắng lợi hoàntoàn của Chủ tịch Hồ Chí Minh Theo đồng chí Lê Duẩn: " Biết thắng từng bớc cho
đúng có nghĩa là ở mỗi thời kỳ nhất định hay mỗi tình thế nhất định biết đề ra đợcmục tiêu cụ thể sát hợp nhất, biết dựa theo quy luật khách quan mà điều khiển cuộc
đấu tranh thế nào để thực hiện mục tiêu đó với mức thắng lợi tối đa, mở đờng chocách mạng tiến lên những bớc mới cao hơn tạo ra triển vọng chắc chắn nhất chothắng lợi cuối cùng"
Sở dĩ chúng ta phải vận dụng phơng pháp này vì đó là nguyên lý của chủ nghĩaMác - Lênin, quan điểm phát triển biện chứng từ tuần tự đến nhảy vọt và hơn hết là
do nớc ta trên thực tế luôn phải đối phó với kẻ thù mạnh hơn mình nh các triều đạiphong kiến Trung Hoa, thực dân Pháp, quân phiệt Nhật, đế quốc Mỹ Cũng có khichúng ta phải đối phó với nhiều kẻ thù cùng lúc nh thời kỳ 1945 - 1946 Do vậy lấy ít
địch nhiều, lấy yếu chống mạnh phơng pháp hợp lý nhất, hiệu quả nhất, là giành thắnlợi từng bớc để đi đến giành thắng lợi hoàn toàn
Nh vậy: " Dĩ bất biến, ứng vạn biến" là quan điểm, phơng pháp cách mạngkhoa học, là sự vận dụng tổng hợp các nguyên tắc, quy luật của phép biện chứng duyvật t nguyên tắc khách quan toàn diện lịch sử đến phát triển " Dĩ bất biến, ứng vạnbiến" là nguyên tắc xem xét và hành động số một của Hồ Chí Minh trong giải quyếtnhững vấn đề chiến lợc và sách lợc Theo Ngời " Dĩ bất biến, ứng vạn biến" vì tìnhhình tự nhiên, xã hội, con ngời luôn biến đổi một cách thiên biến vạn hóa Tuy nhiên,
có những nhân tố bất biến những chân lý vĩnh hằng Hồ Chí Minh đã nói: " Nớc ta làmột, dân tộc ta là một, sông có thể cạn núi có thể mòn song chân lý ấy không baogiờ thay đổi" Nhng Ngời cũng nói: "Thế giới con ngời đều đổi mới" cách nhìn, cáchứng xử cách xử lý đổi mới, luôn linh hoạt
Do đó, trong mỗi giai đoạn cơ bản của cách mạng, chiến lợc cách mạng khôngthay đổi còn chỉ đạo chiến lợc vận dụng sách lợc thì phải linh hoạt
Trang 23" Dĩ bất biến, ứng vạn biến" là t duy biện chứng, là phơng châm, nguyên tắc xem xét
và giải quyết những vấn đề chiến lợc và sách lợc trong t tởng ngoại giao Hồ ChíMinh
Chơng 2: " Dĩ bất biến, ứng vạn biến" trong t tởng ngoại
giao Hồ Chí Minh thời kỳ 1945 - 1946
Cách mạng tháng Tám thành công trong hậu phơng của hệ thống thực dân tai
địa bàn chiến lợc của chủ nghĩa phát xít Nhật và ở xa trung tâm cách mạng thế giới,không gắn đợc với lực lợng đồng minh chiến lợc Cách mạng thành công nhng chínhquyền nhân dân ở trong tình thế bị phong toả Thách thức lớn nhất đối với sự nghiệpbảo vệ thành quả cách mạng lúc bấy giờ là phải đối phó vơí nhiều thế lực quân sự thù
địch hùng mạnh kéo vào Đông Dơng để thực thi quyết định của Hội nghị Potxđam.Nền độc lập tự do của nhân dân ta đứng trớc nguy cơ mất còn Liệu Hồ Chí Minh và
Đảng ta có khéo tay chèo, vững tay lái đa con thuyền cách mạng vợt qua mọi nguynan giữ vững nền dân chủ cộng hoà, bảo vệ độc lập tự do của dân tộc? và để " dĩ bấtbiến" phải thực hiện "ứng vạn biến" nh thế nào?
2.1 Đặc điểm tình hình Việt Nam trong thời kỳ 1945 - 1946
Trang 24Ngày 2/9/1945 tại vờn hoa Ba Đình (Hà Nội) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thaymặt chính phủ lâm thới đọc bản Tuyên ngôn độc lập tuyên bố thành lập nớcVNDCCH Nớc VNDCCH ra đời ngay sau khi cuộc chiến tranh thế giới lần II kếtthúc vừa có những thuận lợi cơ bản lại vừa gặo những khó khăn phức tạp do nhiềunguyên nhân.
Thắng lợi của cách mạng tháng Tám đã đem lại những thay đổi lớn lao về cảthế và lực cho nhân dân Việt Nam, đã đem lại cho dân tộc Việt Nam một luồng sinhkhí mới xoá đi những tủi nhục đắng cay uất hận dới ách thực dân đè nặng hơn 80năm, làm bừng lên niềm phấn khởi tin tởng vô hạn trong mọi tầng lớp nhân dân Ngời dân Việt Nam đã thiết lập đợc chính quyền cách mạng của mình trớc khi quân
Đồng minh đổ bộ vào Đó là một thắng lợi quan trọng bởi lực lợng cách mạng lúcnày đã đứng trên t thế của một nhà nớc và tất yếu sẽ có những quyền lực nhất định
Điều có ý nghĩa lớn lao hơn cả là với cách mạng tháng Tám cả một dân tộc bị áp bứcgần một thế kỷ, có truyền thống chống ngoại xâm lâu đời đã tự khẳng định đợc sứcmạnh quật khởi Một dân tộc bị đẩy xuống địa vị vong quốc nôm gần 80 năm nay trởlại là chủ nhân đất nớc, bắt đầu tạo dựng một chế độ mới cha từng có trong lịch sửcủa dân tộc mình Họ bớc đầu đợc hởng và thấy rõ giá trị của độc lập của tự do lạicàng quyết tâm giữ vững giá trị đó Một tinh thần mới thực sự thức tỉnh muôn triệucon tim Cả nớc đồng lòng, toàn dân chung một ý chí ý thức độc lập, lòng tự hào, tựtôn tự cờng dân tộc trở thành một sức mạnh vô địch không kẻ thù nào có thể chiếnthắng cái ý thức, cái khí thế tinh thần ấy đúng nh nhận xét của Lênin vào thời nớcNga sau cách mạng tháng Mời: "Không bao giờ đánh bại đợc nhân dân một nớc khi
mà đa số công nhân và nông dân đã hiểu biết đã cảm thấy rằng họ đang bảo vệ chínhquyền của họ, rằng họ đang bảo vệ một sự nghiệp mà thắng lợi của nó sẽ đảm bảocho chinh bản thân họ và con cháu họ khả năng hởng thụ mọi hạnh phúc về văn hóa,mọi sáng tạo lao động con ngời" Đó là sức mạnh mà kẻ thù khó có thể tìm đợc đốitrọng
Bên cạnh đó, chúng ta còn có thể khai thác đợc những mặt thuận lợi khác từtrong những khó khăn Các thế lực thù địch tràn vào nớc ta mặc dù có chung mục
đích nhng lại mâu thuận về quyền lợi cụ thể Đây là bản chất của những kẻ xâm lợc.Mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù là thuận lợi khách quan mà cách mạng cần tranh thủ
Trang 25Trong những năm 1945 - 1946 hoàn cảnh quốc tế thay đổi có nhiều yếu tố cólợi cho cách mạng Việt Nam Với cách nhìn toàn diện, biện chứng Đảng ta đứng đầu
là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận rõ xu thế đi lên của lực lợng cách mạng thế giới:
"Hiện thời trên thế giới lực lợng hòa bình mạnh hơn lực lợng chiến tranh" Cuộc đấutranh bảo vệ nền độc lập và giữ vững chính quyền cách mạng của nhân dân ta gópchung sức vào cuộc chiến đấu bảo vệ hòa bình, chiến đấu vì hòa bình của nhân dânthế giới
Bên cạnh những mặt thuận lợi cách mạng Việt Nam sau cách mạng tháng Támcòn gặp muôn vàn khó khăn, đứng trớc tình thế hết sức nghiêm trọng tình thế "ngàncân treo sợi tóc"
Về mặt quân sự: Trớc ngày giành chính quyền trên đất nớc Việt Nam chỉ cómột đội quân nớc ngoài là khoảng 10 vạn binh sỹ Nhật Chính quyền vừa về tay nhândân ba, bốn đế quốc châu đến đổ quân vào Nhà nớc VNDCCH vừa ra đời các lực l-ợng thù địch từ bên ngoài đã ập tới uy hiếp từ nhiều phía
Theo nghị quyết của Hội nghị Potxđam, việc tiếp nhận đầu hàng của quânNhật ở Đông Dơng phía Bắc vĩ tuyến 16 đợc giao cho quân Tởng phía Nam vĩ tuyến
16 đợc giao cho quân Anh Theo đó, dới danh nghĩa quân Đồng minh 20 vạn quân ởng kéo vào miền Bắc, 2 vạn quân Anh trong Nam, mấy vạn quân Pháp vẫn tiếp tụctràn sang, lại thêm hàng nghìn tù binh Pháp đợc trang bị lại; nớc Nhật phát xít đã
T-đầu hàng nhng quân Nhật ở Việt Nam vẫn còn đó Tất cả có tới gần 30 vạn quân sĩ
n-ớc ngoài đang hiện diện trên lãnh thổ Việt Nam Gần 30 vạn ngời khác nhau về màu
da, tiếng nói, mang theo những toan tính khác nhau nhng đều chung một dã tâm bópchết chính quyền cách mạng còn non trẻ Bởi vì thắng lợi của cách mạng tháng Tám
đu đến sự ra đời của nhà nớc VNDCCH do Đảng cộng sản lãnh đạo là một đòn tiếncông trực diện đánh vào dinh luỹ của CNĐQ thực dân Tính chất cách mạng triệt đểcủa cách mạng Việt Nam đã khiến các thế lực đế quốc và phản động quốc tế lo sợ vàtìm mọi cách chống phá nhằm thủ tiếu nớc VNDCCH
Trung Hoa dân quốc vào Việt Nam không phải chỉ để tiếp nhận sự đầu hàngcủa quân Nhật mà muốn nhân dịp này thực hiện chủ trơng "diệt cộng, cầm Hồ", dựnglên một chính phủ tay sai thực hiện mu đồ tiêu diệt Đảng ta phá tan Việt Minh đánh
đổi chính quyền nhân dân
Trang 26Anh vào miền Nam với ý đồ không giấu diếm là giúp Pháp lấy lại Nam Kỳ.Trên thực tế chúng đã sử dụng cả quân Nhật để giúp cho quân đội Pháp trở lại xâm l-
ợc nớc ta ngay sau khi nớc VNDCCH vừa mới thành lập đợc ba tuần Buộc nhân dân
ta phải tiến hành kháng chiến để giữ độc lập trong điều kiện còn bao nhiêu công việcphải làm để tái thiết đất nớc,để xây dựng cuộc sống mới Pháp sau khi đợc Anh giúplấy lại Nam Kỳ nuôi mộng trở lại Bắc Kỳ một cách êm thấm bằng hành đôngj dơngcao ngọn cờ đồng minh
Về mặt chính trị: ở miền Bắc quân Tởng sang Việt Nam và kéo theo chânchúng là bọn phản động Việt Quốc, Việt cách Đợc quân Tởng che chở Việt Quốccâu kết với Việt cách thành lập liên minh đi đến đâu tấn công chính quyền cáchmạng ở đó Và dựa vào liên minh này các lực lợng phản cách mạng trong nớc ngóc
đầu dậy tụ tập về Đây là mối đe doạ nguy hiểm từ bên trong đối với chính quyềncách mạng non trẻ mới thành lập
ở miền Nam: Cuộc chiến tranh xâm lợc của thực dân Pháp đang ngày càng
mở rộng Chúng đạo diễn cho các lực lợng phản cách mạng đề xớng cái gọi là "Nam
Kỳ tự trị" Thực chất cái đợc gọi là "Nam Kỳ tự trị" là nhằm tách Nam Bộ ra khỏiViệt Nam, là chính sách chia để trị biến Nam Bộ trở lại thanh thuộc địa của Pháp.Sau hồi tuyên truyền rùm beng, 4/2/1946 Pháp hà hơi cho cái thây ma "Hội đồng tvấn Nam Kỳ" sống lại Và cuối cùng tấn bi hài kịch thành lập nớc cộng hoà Nam Kỳ
tự trị chính thức công diễn, chỉ ngay sau ngày cách mạng thành công cái gọi là chínhphủ lâm thời do Nguyễn Văn Thinh cầm đầu với đủ các vai đào, vai kép ra đời
Nh vậy là nhà nớc VNDCCH non trẻ mới ra đời vừa dành đợc độc lập đã phải
đối mặt với nguy cơ mất độc lập
Trong khi đó, chính quyền cách mạng mới thành lập, bộ máy hành chính từtrung ơng đến cơ sở còn đơn giản cha có kinh nghiêm điều hành công việc của mộtquốc gia lại phải đơng đầu với hàng loạt khó khăn chồng chất về kinh tế, chính trị, xãhội Nạn đói từ cuối năm 1944 vẫn còn kéo dài đe doạ đến mạng sống của những ng-
ời dân đói khổ Nên kinh tế tài chính quốc gia hầu nh khánh kiệt, ngân hàng ĐôngDơng còn nằm trong tay t bản Pháp, quân Tởng tung tiền Quan kim, quốc tệ đã mấtgiá trị ở Trung Quốc vào tràn ngập thị trờng càng làm cho tài chính và thơng maị của
ta thêm nguy khốn
Trang 27Bên cạnh đó những hậu quả của chính sách thực dân cai trị còn nặng nề: hơn90% nhân dân mù chữ, truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc bị xuyên tạc, tệ nạnxã hội phổ biến khắp nơi
Nh vậy, không chỉ về mặt quân sự mà cả về mặt chính trị, kinh tế và văn hoáxã hội chính quyền cách mạng của nhân dân đều đang đứng trớc những thách thứcnghiêm trọng Chính quyền nhân dân hoàn toàn có thể không đứng vững, nền độc lậpdân tộc hoàn toàn có thể bị thủ tiêu nếu Đảng đứng đầu là Chủ Tịch Hồ Chí Minhkhông vững tay chèo lái con thuyền cách mạng
Về mặt đối ngoại: Khó khăn lớn nhất của chính quyền cách mạng Việt Namlúc này là đang bị CNĐQ bao vây bốn phía, Việt Nam đang bị cô lập với quốc tế Tr-
ớc mắt, chính quyền cách mạng phải chiến đấu đơn độc hầu nh không có một lực ợng bên ngoài nào hỗ trợ Sau khi tuyên bố nền độc lập của dất nớc trớc toàn thểquốc dân đồng bào và trớc toàn thế giới, chính quyền cách mạng Việt Nam đã tăngcờng hoạt động đối ngoại, liên tiếp gửi nhiều điện văn th tín, công hàm, lời kêu gọitới các nguyên thủ quốc gia lớn và chính phủ các nớc trên thế giới nhằm thông tindiễn biến tình hình thực tế ở Việt Nam và đề nghị các nớc công nhận nền độc lập dântộc Việt Nam Nhng dờng nh mọi cố gắng của chính phủ lâm thời đều không manglại kết quả Không một nớc nào lên tiếng công nhận và ủng hộ nền độc lập của dântộc Việt Nam Thực dân Pháp và các thế lực phản động ngày càng lấn tới bất chấpmọi công pháp và thông lệ quốc tế
l-Vấn đề đặt ra cho Việt Nam lúc này là phải thoát khỏi thế cô lập, bị bao vây vàtăng cờng các mối quan hệ quốc tế theo tinh thần "thêm bạn bớt thù" Và hoạt độngngoại giao của Hồ Chí Minh thời kỳ này đã từng bớc giải quyết đợc vấn đề ấy
Nh vậy là, ngay sau ngày cách mạng tháng Tám thành công nhà nớcVNDCCH non trẻ đã phải đối mặt với những thách thức to lớn của lịch sử Cha baogiờ vấn đề giữ vững nền độc lập dân tộc, giữ vững chính quyền cách mạng lại đợc đặt
ra cấp thết nh lúc này Trong cái tinh thế "ngàn cân treo sợi tóc" ấy, Đảng và chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nhận thức đợc hai mặt của một vấn đề, đã thấy đợc cả khó khăn vàthuận lợi Với t cách là Chủ tịch Chính phủ kiêm Bộ trởng ngoại giao Chủ tịch HồChí Minh đã lãnh đạo nhân dân ta thực hiện đờng lối vừa kiên quyết, vừa mềm dẻo,
Trang 28linh hoạt và khôn khéo nhằm giữ vững nền độc lập dân tộc, giữ vững chính quyềncách mạng non trẻ, thực hiện thành công " Dĩ bất biến, ứng vạn biến".
2.2 " Dĩ bất biến, ứng vạn biến" trong năm đầu tiên sau cách mạng.
Cách mạng tháng Tám thành công chính quyền nhân dân non trẻ mới ra đời ởtrong tình thế bị phong toả Thách thức lớn nhất đối với sự nghiệp bảo vệ thành quảcách mạng lúc bấy giờ là phải đối phó với nhiều thế lực quân sự thù địch hùng mạnhkéo vào Đông Dơng để thực thi quyết định của hội nghị Pôtxđam về Đông Dơng.Cách mạng nớc ta đứng trớc hai nguy cơ lớn: Các lực lợng quân sự nớc lớn liên kếtlại để một sớm một chiều lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ và thế lực thực dânPháp dựa vào thế quân đồng minh quay trở lại đánh chiếm Đông Dơng
Đứng trớc tình thế hiểm nghèo, phải đối phó với những hiểm hoạ tồn vong củadân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở nhận thức sâu sắc bản chất, lợi ích, thủ
đoạn và chính sách của các thế lực thù địch đã đề ra những đối sách sáng suốt kịpthời phù hợp với sự chuyển biến mau lẹ của tình hình Một mặt vừa chuẩn bị tốt thựclực, tổ chức lực lợng để kịp thời năm bát thời cơ xoay chuyển tình hình Mặt khác, cósách lợc khôn khéo để phân hoá và cô lập kẻ thù, nhằm "thêm bạn bớt thù" Tất cả
điều nhằm góp phần thực hiện mục tiêu chung của cách mạng, giữ vững cái "bấtbiến" thông qua "ứng vạn biến” đó là: "Xây dựng một nớc Việt Nam hoà bình, thốngnhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh" mà trớc hết là giữ vững độc lập dân tộc, củng
to tiếng mới lớn" bởi "nếu tự mình không có thực lực làm cơ sở thì không thể nói gì
đến ngoại giao"
Trong khi thực hiện đờng lối đối ngoại Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ ChíMinh luôn nhấn mạnh nhân tố bên trong, coi nhân tố bên trong là quyết định: "Ta có
Trang 29mạnh thì họ mới đếm xỉa đến Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay kẻ khác dầu
kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy" Và do đó "muốn ngoại giao đợc thắng lợithì phải biểu dơng thực lực" Đây cũng chính là t tởng chỉ đạo cuộc đấu tranh ngoạigiao trong điều kiện tơng quan lực lợng sau cách mạng tháng Tám có nhiều bất lợicho ta
Để xây dựng và phát huy thực lực Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã xúc tiến việc củng cố và xây dựng nền dân chủ công hoà trên tất cả các mặt từchính trị, kinh tế, văn hoá, quân sự, nhà nớc
Ngày 2/9/1945 Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập tại quảng trờng Ba Đình NớcViệt Nam từ chỗ bị xoá tên trên bản đồ thế giới đã trở thành một nớc độc lập, mỗingời dân Việt Nam đã trở thành công dân của một nớc độc lập Nhà nớc VNDCCH
ra đời, chính quyền nhân dân đợc thành lập nhng còn mang tính chất lâm thời với cơcấu tổ chức còn quá đơn giản lại cha có hiến pháp, cha định ra các quy tắc về mọiphơng diện cho nó vận hành một cách thống nhất Do đó, để đợc các nớc công nhận,cần phải có chính phủ chính thức, hợp pháp, hợp hiến Mặt khác, chính quyền nhândân đợc thành lập nhng quyền dân chủ của ngời dân cha đợc xác lập Một yêu cầu
đặt ra lúc này là tổ chức cuộc trng cầu dân ý trong cả nớc để thực hiện việc hợp nhất
ba kỳ Bắc - Trung - Nam thành một dải lãnh thổ nối liền Đồng thời cũng cần phảitập hợp đợc sự ủng hộ của quần chúng xung quanh chính phủ mới của Cụ Hồ
Ngày 3/9/1945 trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng chính phủ chủ tịch HồChí Minh khẳng định: Cơ sở cần có đầu tiên của một nhà nớc Hiến pháp, muốn cóHiến pháp thì phải có quốc hội Vì vậy, mặc dù tình hình đất nớc đang cực kỳ khókhăn nhng ngay ở phiên họp đầu tiên trong 6 nhiệm vụ cấp bách của chính phủVNDCCH Bác vẫn đề nhiệm vụ tổ chức một cuộc Tổng tuyển cử càng sớm càng tốt
Ngày 8/9/1945 - một tuần sau ngày tuyên bố độc lập Chủ tịch Hồ Chí Minh kýSắc lệnh số 14 quyết định tổ chức cuộc Tổng tuyển cử trên phạm vi cả nớc
Ngày 6/1/1946 Từ tuyền tuyến đến hậu phơng công dân cả nớc nô nức đi bầu
cử thực hiện nhiệm vụ và quyền công dân của mình Đó quả thực là ngày hội củanhân dân, là cuộc nổi dậy của toàn dân sau cách mạng tháng Tám - cuộc nổi dậy giữchính quyền Cuộc Tổng tyển cử đã thu hút đợc hơn 85% dân số trong cả nớc và bầu
ra đợc 333 đại biểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh ứng cử ở Hà Nội và đợc bầu với 98,4% số
Trang 30phiếu Vậy là cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nớc ta đã thành công tốt đẹp Đây làkết quả của một cuộc động viên chính trị rộng lớn đầu tiên ở nớc ta Nó biểu thị sứcmạnh đoàn kết và quyết tâm làm chủ đất nớc của nhân dân ta chứng tỏ sự tín nhiệmcủa toàn dân Việt Nam trớc chính phủ Cụ Hồ Nó tạo cơ sở pháp lý cho cuộc đấutranh chính trị và ngoại giao của Chính phủ ta, Chính phủ chính thức do quốc hộithành lập là một chính phủ hợp pháp và hợp hiến của nớc VNDCCH Do vậy mà nó
sẽ góp phần làm tăng địa vị chính trị và uy tín của chính phủ ta trên trờng quốc tế
Do thắng lợi của cuộc tổng tuyển khởi nghĩa nhân dân Việt Nam có Quốc hội côngcuộc xây dựng chính quyền đạt đợc bớc phát triển hết sức căn bản Quốc hội nớcVNDCCH là "Quốc hội dân chủ đầu tiên ở vùng Đông Nam á, cũng là Quốc hội đầutiên của các nớc đầu tiên của các nớc thuộc địa cũ đợc độc lập tự do"
Đầu tháng 3/1946 Quốc hội họp kỳ thứ nhất và trong phiên họp ngày 2/3 Quốchội đã giao cho Chủ tịch Hồ Chí Minh quyền thành lập chính phủ theo thể thức mộtChính phủ Liên hiệp Hồ Chí Minh đợc bầu làm chủ tịch nớc Việt Nam dân chủ cộnghoà, Nguyễn Hải Thần thuộc Việt Cách đợc bầu làm phó chủ tịch Các chức vụ chủchốt và quan trọng đều do Việt Minh nắm Đại biểu Quốc hội khoá 1 là những ngời
đại diện cho nhân dân ở cả ba miền đất nớc, đại diện cho các đảng cách mạng và dânchủ, các đoàn thể cách mạng, các tộc ngời thiểu số, các tông giáo và nhân sĩ trí thứcyêu nớc Do hoàn cảnh đặc biệt có tính ngoại lệ Quốc hôi mở rộng thêm 70 ghế cho
đại biểu của Việt Quốc, Việt Cách không qua bầu cử
Ngày 9/11/1946 tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội đã thông qua Hiến pháp đầu tiêncủa nớc Việt Nam Hiến pháp ghi rõ: Tất cả quyền bính trong nớc là của toàn thểnhân dân Việt Nam không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôngiáo Tất cả mọi công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phơng diện chính trị,kinh tế xã hội
Nếu nh, "trớc chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị rồi đến chế độ thựcdân nhân dân ta không đợc hởng quyền tự do dân chủ" [4,t4,8] Thì: Hiến pháp
1946 - Hiến pháp đầu tiên của nớc VNDCCH - đã khẳng định quyền dân tộc độc lập,thống nhất lãnh thổ, xây dựng thể chế DCCH một chế độ bảo đảm quyền tự do dânchủ cho mọi ngời dân
Trang 31Cuộc Tổng tuyển cử và sự ra đời của Hiến pháp đã làm thay đổi thân phận củangời dân từ thân phận thần dân trở thành công dân và xác lập mối quan hệ mới: côngdân - nhà nớc thay thế mỗi quan hệ thần dân- hoàng quyền trớc đây.
Hiến pháp 1946 nh Hồ Chí Minh đã nói: " là một viết tích lịch sử hiến pháp
đầu tiên trong cõi á Đông Bản Hiến pháp đó cha hoàn toàn nhng nó đã làm nêntheo một hoàn cảnh thực tế Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nớc Việt Nam đã dộclập, dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần
đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết công bìnhcủa các giai cấp." [4,t4,140]
Việc thành lập Quốc hội và định ra một bản hiến pháp vào những ngày đầutiên sau cách mạng tháng Tám có một ý nghĩa rất quan trọng Nó vừa đợc xem nh là
sự "biểu dơng thực lực" của toàn thể nhân dân Việt Nam lại vừa là những viên gạch
đầu tiên đặt nền móng vững chắc xây dựng và bảo vệ thành quả cách mạng, là cơ sởpháp lý cho sự ra đời một chính phủ chính thức của nớc Việt Nam đại diện cho dântộc Việt Nam đứng ra giao thiệp với các nớc trong lực lợng Đồng minh và với tất cảcác nớc khác trên thế giới Đó cũng chính là cơ sở "bất biến" để thực hiện "ứng vạnbiến"
Tiếp theo việc bầu Quốc hội, Hội đồng nhân dân cũng đã đợc bầu ra ở tát cảcác địa phơng và từ đó mà cấp uỷ hành chính cũng đợc thành lập Chính quyền cáchmạng do nhân dân bầu ra đã thật sự trở thành công cụ sắc bén trong việc động viên tổchức lực lợng của toàn dân vào nhiệm vụ giữ gìn và phát huy thành quả cách mạngmới dành đợc
Bên cạnh việc củng cố chính quyền và xây dựng nền dân chủ cộng hoà Đảng
ta đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh còn tăng cờng bồi dỡng sức dân Mục đích củacách mạng khôn phải là chỉ để dành đợc chính quyền mà dành chính quyền để đemlại hạnh phúc cho nhân dân Điều này bắt nguồn từ t tởng "lấy dân làm gốc" trongtruyền thống văn hoá dân tộc
Ngày 7/10/1945 trong th gửi cho uỷ ban nhân dân các cấp Hồ Chủ Tịch viết: "Ngàynay chúng ta đã dành đợc độc lập rồi nhng nền độc lập mà nhân dân không đợc hởnghạnh phúc tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì" [4,t4,56]