Văn Trinh là một vùng đồng bằng phía Nam tỉnh Thanh Hóa, vùng đấtnày có một vị trí phòng thủ rất quan trọng, có nhiều ngọn núi làm án ngữ nênvơng triều nhà Trần đã chọn vùng đất này phân
Trang 1TRờng đại học vinh
Vũ quốc oai
đền thờ chiêu văn vơng Trần nhật duật
và lễ hội văn trinh(xã quảng Hòa, quảng hợp, huyện quảng xơng, tỉnh thanh Hóa)
Chuyên ngành: lịch sử việt nam
Mã số: 602254luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
Ngời hớng dẫn khoa học:
Ts lê ngọc tạo
Vinh, năm 2010
Trang 2Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáotrong khoa Sau Đại học và khoa Lịch sử Trờng Đại học Vinh
Xin gửi lời cảm ơn chân thành và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Tiến
sĩ Lê Ngọc Tạo, ngời đã hớng dẫn, chỉ bảo tận tình tôi trong quá trình thựchiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn: Nhà xuất bản Thanh Hóa, Sở Văn hóa, Thể thao
và Du lịch Thanh Hóa, Th viện Đại học Vinh, Ban Nghiên cứu và Biên soạnLịch sử Thanh Hóa, Ban quản lý Di tích và Danh thắng Thanh Hóa, Th việntỉnh Thanh Hóa, ủy ban nhân dân huyện Quảng Xơng, ủy ban nhân dân cácxã Quảng Hòa, Quảng Hợp, các nghệ nhân hai xã đã giúp đỡ tôi trong việc sutầm t liệu để tiến hành nghiên cứu
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và những ngời luôn quan tâm,
động viên để tôi hoàn thành luận văn
Mở đầu 1
Trang 32 Lịch sử nghiờn cứu vấn đề 3
3 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu 4
4 Mục đích , nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 5
5 Đóng góp của luận văn 6
6 Bố cục luận văn 6
Chương 1: QUá TRìNH HìNH THàNH Và PHáT TRIểN VùNG ĐấT VĂN TRINH 1.1 Khỏi quỏt vựng đất, con người và truyền thống lịch sử 7
1.1.1 Vị trớ địa lý và điều kiện tự nhiờn 7
1.1.2 Quỏ trỡnh hỡnh thành làng xó vựng đất Văn Trinh 10
1.2 Truyền thống lịch sử, văn húa vựng đất Văn Trinh 18
1.2.1 Truyền thống lịch sử 18
1.2.2 Truyền thống văn húa 25
Chương 2: ĐềN THờ chiêu văn vơng TRầN NHậT DUậT 2.1 Công cuộc khỏng chiến chống quân Nguyờn - Mụng ở Thanh Hóa 31
2.1.1 Đôi nét về Trần Nhật Duật trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông ở Thanh Hóa 31
2.1.2 Tác động của chính sách phân phong ruộng đất của vơng triều Trần ở Thanh Hóa 41
2.1.3 Sự hỡnh thành và phỏt triển thỏi ấp Trần Nhật Duật ở vùng đất Văn Trinh 46
2.2 Đền thờ Chiêu Văn vơng Trần Nhật Duật ở núi Văn Trinh 52
2.2.1 Lăng mộ của Chiêu Văn vơng Trần Nhật Duật 52
2.2.2 Đền thờ Chiêu Văn vơng Trần Nhật Duật 53
Chương 3 : Lễ HộI ĐềN VĂN TRINH 3.1 Quỏ trỡnh ra đời của lễ hội Văn Trinh 63
3.1.1 Lễ Kỳ phúc (cầu phúc) 64
3.1.2 Tế đảo vũ cầu ma 71
Trang 43.2 H¸t nhµ trß V¨n Trinh 73
3.2.1 §«i nÐt vÒ h¸t nhµ trß V¨n Trinh 73
3.2.2 Néi dung h¸t nhµ trß V¨n Trinh 75
3.2.3 Nghi thøc lÔ ca h¸t nhµ Trß V¨n Trinh 77
KÕt luËn 83
Tµi liÖu tham kh¶o 89
Phô lôc 93
Trang 5mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Văn Trinh là một vùng đất có bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa cao
đẹp trong công cuộc đấu tranh dựng nớc và giữ nớc của dân tộc ta Vùng đấtnày chứa đựng những giá trị văn hóa trong quá khứ là nơi lu giữ những giá trịvật chất và tinh thần đối với ngời Việt, phản ánh quá trình đấu tranh gian khổtrong công cuộc khai phá, xây dựng xóm làng, chinh phục tự nhiên cũng nhgóp nhiều công sức trong sự nghiệp đấu tranh dựng nớc và giữ nớc của dântộc Trong kháng chiến chống quân Nguyên - Mông ở thế kỉ XIII, đất và ngờiVăn Trinh đã ghi những dấu ấn nổi bật với hào khí Đông A rực rỡ dới thờiTrần Đây còn là vùng đất duy nhất trên đất Thanh Hóa có một điền trang thái
ấp, phản ánh chế độ ruộng đất của nhà Trần cũng nh những nỗ lực khẩnhoang, lập làng, mở rộng diện tích khai thác của ngời dân nơi đây Quá khứhào hùng đó đã để lại những di sản văn hóa quý giá, luôn là niềm tự hào củangời dân Văn Trinh nói riêng, xứ Thanh nói chung Những giá trị văn hóa vậtthể và phi vật thể của vùng đất này không chỉ góp phần vào sự phát triểnchung của đất nớc trong hiện tại mà còn gắn liền với quá khứ để định hớngcho tơng lai
Có thể nói, đền thờ Chiêu Văn vơng Trần Nhật Duật và lễ hội Văn Trinh
là một di tích lịch sử văn hóa - kiến trúc nghệ thuật, một lễ hội tiêu biểu có giátrị về mặt lịch sử, mang lại cho c dân vùng đất Văn Trinh một giá trị về tinhthần cao đẹp
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ:
“ Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc đợc coi vừa
là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội Mọi hoạt độngcủa văn hóa nhằm xây dựng con ngời Việt Nam phát triển toàn diện về chínhtrị, t tởng, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòngnhân ái khoan dung, tôn trọng tình nghĩa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng
đồng và xã hội”[28, tr.144]
Trang 6Tuy nhiên, những di tích lịch sử, những lễ hội truyền thống quý giá trên
đất Văn Trinh cho đến nay vẫn cha đợc nghiên cứu đầy đủ Vì vậy, việcnghiên cứu di tích và lễ hội của ngời Việt vẫn cha phát huy đợc những giá trịvốn có của nó để bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa của dân tộc.Nghiên cứu về lịch sử văn hóa của làng xã nói chung không chỉ cho chúng tathấy đợc quá trình hình thành và phát triển của một vùng đất gắn liền với côngcuộc dựng làng và giữ làng của ngời Việt, mà còn tìm hiểu một bức tranh vănhóa phong phú, đa dạng và đặc sắc của c dân ngời Việt xa
Hơn bảy thế kỉ đó trụi qua, kể từ khi Trần Nhật Duật chọn vựng đất VănTrinh lập thỏi ấp là một khoảng thời gian dài và lịch sử đó được thăng hoathụng qua nhiều hỡnh thức sinh hoạt văn húa tinh thần truyền thống, gắn hiệntại với quỏ khứ hào hựng và sỏng tạo của nhân dân, đú là tài sản văn húa phivật thể như: Hỏt nhà trũ Văn Trinh, những trũ diễn xớng…Tuy nhiên, thờigian cũng như tỏc động của con người qua các thời kì lịch sử khiến cho cỏccụng trỡnh kiến trỳc cũng nh lễ hội liờn quan đến Trần Nhật Duật gần nhưkhụng cũn nguyờn vẹn
Với ý nghĩa đó, tác giả chọn đề tài Đền thờ Chiêu Văn v“ ơng Trần Nhật Duật và lễ hội Văn Trinh” (xã Quảng Hòa, Quảng Hợp, huyện Quảng
Xơng, tỉnh Thanh Hóa) làm luận văn thạc sĩ Với hi vọng tìm hiểu một cách
có hệ thống về các di tích và lễ hội trên vùng đất Văn Trinh, góp phần làmsáng rõ, cũng nh đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị vănhóa cũng nh những vấn đề khoa học đang đặt ra
Với đặc thù riêng đó, lịch sử vùng đất Văn Trinh nói chung và các di tíchvật thể và phi vật thể nói riêng phải đợc nghiên cứu, tìm hiểu để thấy đợcnhững truyền thống tốt đẹp cũng nh hạn chế của một vùng đất với tinh thần “gạn đục khơi trong” Từ đó có những đề xuất kiến, nghị trong việc bảo tồn lugiữ và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp, nhằm góp phần xây dựng đờisống văn hóa xã hội và phát triển kinh tế phù hợp với xu thế phát triển của đấtnớc trong giai đoạn hiện nay
2 Lịch sử nghiờn cứu vấn đề
Trang 7Văn Trinh là một vùng đồng bằng phía Nam tỉnh Thanh Hóa, vùng đấtnày có một vị trí phòng thủ rất quan trọng, có nhiều ngọn núi làm án ngữ nênvơng triều nhà Trần đã chọn vùng đất này phân phong cho Trần Nhật Duậtlàm phủ đệ riêng, theo chế độ điền trang thái ấp của vơng triều và cho khaicanh thành lập xóm làng Vì vậy, nghiên cứu về vùng đất Văn Trinh còn cómột ý nghĩa rất sâu sắc về mặt lịch sử.
Xuất phát từ nhận thức đó, đặc biệt là trong những thập niên gần đây, cácnhà nghiên cứu đã quan tâm hơn đến vùng đất này Những di tích liên quan
đến Chiêu Văn vơng Trần Nhật Duật và lễ hội Văn Trinh đã có một số công
trình nghiên cứu, đề cập nh cuốn Hát nhà trò Văn Trinh[30]; Địa chí Quảng
Xơng [17]; Đất và ngời Quảng Xơng [18]; Lịch sử Đảng bộ xã Quảng Hợp [4];
Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Khôi phục và tôn tạo di tích lịch sử - Văn hóa Văn
Trinh [16] và những bài nghiên cứu mang tính phổ quát Có thể nói, đây là
những công trình nghiên cứu liên quan đến di tích lịch sử của vùng đất VănTrinh với nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau
Nhìn chung, các tác phẩm, các công trình nghiên cứu khoa học nói trênmới chỉ dừng lại việc tìm hiểu, nghiên cứu biên soạn ở một lĩnh vực, một khíacạnh nhất định nào đó, chứ cha có một hệ thống chặt chẽ, tìm hiểu sâu về lịch
sử văn hóa vật thể và phi vật thể của vùng đất Văn Trinh, của các cá nhân,dòng họ trong tiến trình lịch sử của dân tộc Tuy nhiên, ở mức độ nào đó, cáccông trình nghiên cứu và xuất bản trên, ít nhiều đã đa ra một số giải pháp, kiếnnghị trong công tác bảo tồn, phát huy những truyền thống văn hóa lịch sử, các ditích và lễ hội của vùng đất Văn Trinh nói riêng và xứ Thanh nói chung
Trong quá trình làm luận văn, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu về di tích và lễhội của vùng đất Văn Trinh gắn liền với công lao của Chiêu Văn vơng TrầnNhật Duật, ngời đã góp phần nhất định cho sự phát triển vùng đất này
3 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
3.1 Nguồn tư liệu
Tỏc giả đó cố gắng tập hợp và khai thỏc thụng tin từ nhiều nguồn tư liệu khỏcnhau ở luận văn này, nguồn tài liệu chủ yếu tập trung ở một số lĩnh vực sau:
- Nguồn tư liệu thành văn: gồm những bộ Quốc sử có liên quan từ trớc
đến nay nh: Đại Việt sử ký toàn th[26]; Khâm định Việt Sử thông giám cơng
Trang 8mục[33]; các bộ địa chí nh: Đại Nam nhất thông chí[34]; Lịch triều hiến
ch-ơng loại chí[11]; Địa chí Thanh Hóa[41]; Địa chí Quảng Xch-ơng[17] cùng các
công trình nghiên cứu khác nh: gia phả, thần phả, các ca từ trong hát nhà tròVăn Trinh, cũng nh gặp gỡ, ghi chộp và phỏng vấn cỏc cụ cao tuổi, các nghệnhân trong vựng, trong cỏc dũng họ để làm sỏng rừ những vấn đề đặt ra củaluận văn
3.2 Phương phỏp nghiờn cứu
Trờn cơ sở nguồn tư liệu đó sưu tầm được, đề tài trỡnh bày theo phươngphỏp logic, phương phỏp lịch sử, phương phỏp nghiờn cứu lý thuyết, phươngphỏp điều tra điền dó và điều tra thực địa tại cỏc di tớch, nghiên cứu các di vậtlịch sử, tham gia cỏc lễ hội văn húa, quan sỏt thực tế của vựng đất này, tỡmhiểu phong tục tập quỏn, tụn giỏo tớn ngưỡng,…Từ đú đỏnh giỏ, rỳt ra nhữngnhận xột, những kết luận khoa học mang tớnh khỏch quan
4 Mục đích , nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Trờn cơ sở hệ thống, phõn tớch nguồn tài liệu, khảo sỏt thực tế, luận vănnhằm tới mục tiờu sau:
Nghiên cứu một cỏch cú hệ thống cỏc di tớch lịch sử liờn quan đến Thái
s Trần Nhật Duật, các lễ hội cổ thuyền trờn vựng đất Văn Trinh trong tiếntrỡnh phỏt triển của lịch sử Từ đó kiến nghị, đề xuất một số giải pháp nhằmkhôi phục những giá trị của các di sản trên vùng đất Văn Trinh đã và đang cónguy cơ mai một Đồng thời đặt ra vấn đề cần phát huy những giá trị cao đẹp
đó cho các thế hệ tiếp nối trong giai đoạn hiện nay
Qua đó, tác giả tìm hiểu sâu hơn về truyền thống lịch sử cũng nh nhữnggiá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của vùng đất Văn Trinh
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ kết quả nghiên cứu, giúp cho lãnh đạo và nhân dân trong vùng cónhận thức một cách đầy đủ và chính xác hơn về quá trình hình thành thái ấpcủa Trần Nhật Duật cũng nh quá trình khai canh lập làng và các di tích văn
Trang 9hóa vật thể và phi vật thể có liên quan ở vùng đất Văn Trinh Qua đó, gópphần làm sáng tỏ về đời sống vật chất và tinh thần để bảo tồn và phát huytruyền thống văn hóa tốt đẹp của vùng đất này.
4.3 Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của luận văn bao gồm: tìm hiểu quá trình lập lànggắn với điền trang thái ấp của Trần Nhật Duật, các di tích lịch sử văn hóa, các
lễ hội, đặc biệt hát nhà trò trong lễ hội là một loại hình nghệ thuật ca trù đã
đ-ợc UNESCO công nhận là di sản văn hóa truyền khẩu của nhân loại
4.4 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: căn cứ vào những t liệu sớm nhất hiện biết, tác giả có cái
nhìn lịch đại cho đến ngày nay
Về khụng gian: không gian nghiên cứu của luận văn chỉ bó hẹp trong
phạm vi xã Quảng Hòa, Quảng Hợp (huyện Quảng Xơng, tỉnh Thanh Hóa).Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, tác giả có liên hệ tìm hiểu một số xãnằm trong vùng đất Văn Trinh xa có liên quan đến các vấn đề mà luận văn đặtra
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn hoàn thành sẽ phản ánh quỏ trỡnh hỡnh thành và phỏt triển của
điền trang thái ấp Trần Nhật Duật và cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông ở thế kỉ XIII của nhân dân vùng đất Văn Trinh gắn liền với những ditích lịch sử văn hóa, lễ hội do ụng khởi xướng và truyền dạy trờn vựng đất nàymột cỏch cú hệ thống và đầy đủ
Khi luận văn hoàn thành cú tỏc dụng tuyờn truyền, giỏo dục lũng tự hàocủa dõn tộc cũng như gỡn giữ những giỏ trị văn húa truyền thống của dõn tộcViệt Nam núi chung và xứ Thanh núi riờng
Luận văn còn là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị phục vụ cho nghiêncứu về thái ấp thời Trần trong lịch sử Việt Nam và lịch sử địa phơng gópphần hiểu biết thêm về các thắng tích của ngời xứ Thanh
Trang 10Đặc biệt, luận văn còn có tác dụng tuyên truyền, giáo dục lòng tự hàodân tộc, tình cảm trân trọng và biết gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thốngcủa dân tộc Việt Nam nói chung, vùng đất Văn Trinh nói riêng.
1.1 Khái quát vùng đất, con ngời và truyền thống lịch sử
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Quảng Xơng là một huyện nằm phía Đông Nam tỉnh Thanh Hóa, vị trí tựnhiên tạo nên địa thế khắc nghiệt về thiên nhiên, xung yếu về quân sự, có thể
ví nó nh một con thuyền chở đầy bùn cát neo đậu trớc biển Đông
Trên bản đồ Thanh Hóa, Quảng Xơng là một huyện đồng bằng ven biển,
có bờ biển dài 22 km[2, tr.8] chạy dài chênh chếch theo hớng Bắc - Tây Namvới bãi cát mịn thoai thoải Diện tích tự nhiên của huyện là 227,6 km2 [17,tr.12] Phía Bắc giáp Thành phố Thanh Hóa và huyện Hoằng Hóa, phía Tâygiáp huyện Đông Sơn và huyện Nông Cống, phía Nam giáp huyện Tĩnh Gia,phía Đông giáp biển Hai đầu phía Đông của huyện giáp hai cửa sông lớn: CửaGhép (còn gọi là cửa Hàn) và cửa Chào (còn gọi là cửa Hới), là cửa ngõ giaothông biển, đồng thời là những chốt để phòng vệ mặt biển trong các cuộckháng chiến bảo vệ Tổ quốc
Là một vùng đất của huyện Quảng Xơng, vùng đất Văn Trinh nằm ở xãQuảng Hoà, Quảng Hợp thuộc 2 xã miền đồng bằng của huyện Quảng Xơng
và cũng là một vùng trọng điểm lúa của huyện Vùng đất này “đợc kiến tạosau đợt biến lùi vào cuối kỉ Đệ Tứ ”[2, tr.10] là một vùng lầy lội, đầm phá, n-
Trang 11ớc mặn xen kẽ cồn bái, rừng núi hoang vu Trải qua quá trình bồi tụ của thiênnhiên hàng vạn năm cùng với sức lao động sáng tạo của nhiều thế hệ ngờiQuảng Hợp, Quảng Hòa đã biến nơi đây thành một vùng nông nghiệp trồnglúa, đay, lạc và trồng màu với làng xóm trù phú Vùng Văn Trinh mang rõ đặctrng của đồng bằng ven biển với địa hình bồi tích cổ và đồi núi sát đá gốc xen
kẽ các ngọn núi thấp, mà cao nhất là núi Văn Trinh (108m) cho nên đất đaivùng này không bằng phẳng Ven chân núi Văn Trinh thì cao, cong; vùng đấtsát sông Lý thì thấp, trũng Núi Văn Trinh trớc thời Trần gọi là Ngọc Sơn.Truyền thuyết dân gian nơi đây ca ngợi Ngọc Sơn là đầu rồng với hai mắt rồng
là hai viên ngọc thờng hiện lên sáng rực trong đêm…D ới chân núi Ngọc làDdinh thự phủ đệ của Chiêu Văn vơng Trần Nhật Duật - vị danh tớng thời Trầnvới nhiều công tích xây dựng nơi đây trở thành vị trí quân sự trọng yếu TừVăn Trinh, Trần Nhật Duật đã chỉ huy quân dân Thanh Hóa cùng cả nớc đánhtan quân Nguyên - Mông xâm lợc ở thế kỉ XIII
Xa kia, trên núi Văn Trinh có nhiều loại gỗ quý nh lim, sến, dổi, lát hoa, những năm 80 của thế kỉ XX vẫn còn một rừng thông già rất đẹp Hiện
…D
nay, rừng tự nhiên trên núi Văn Trinh không còn nữa Cùng với rừng, sông Lýchảy qua đây với chiều dài 3km đã cung cấp một nguồn nớc đáng kể cho vùng
đất Văn Trinh nói chung và Quảng Hợp nói riêng
Địa hình và thế đất, núi sông của vùng đất Văn Trinh xa đã đợc dân gian
nơi đây coi là trung tâm của thế đất long xà“ ” Sông Lý từ sông Lăng uốn lợnchín khúc về đến đây là mình rồng và ngẩng cao đầu rồng là núi Ngọc với đôimắt ngọc long lanh rực sáng mỗi khi màn đêm buông xuống, đã trở thànhtruyền thuyết đẹp lu truyền qua bao thế hệ ngời dân vùng đất này Dòng sông
Lý chảy qua vùng đất này đã tạo thuận lợi trong giao thông đờng thủy và pháttriển nông nghiệp trồng lúa nớc, nhng cũng gây ra không ít khó khăn do đồng
đất nhiễm mặn bởi triều cờng, nên các triều đại phong kiến xa luôn quan tâm
đến công tác thủy lợi, nạo vét lòng sông nhng vẫn không khắc phục đợc nạnúng lụt Vào mùa ma, nớc từ huyện Nông Cống tràn về khiến sông nhà Lê(sông Lý) không tiêu kịp, có năm mùa màng mất trắng, đời sống nhân dân hếtsức khó khăn
Là một xã nằm phía Tây Nam huyện Quảng Xơng, nh đã nói, do chịu
ảnh hởng của địa hình, sông ngòi và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt nên QuảngHợp gặp không ít khó khăn trong sản xuất nông nghiệp Những trận bão ởbiển Đông thờng xuyên tràn vào, cộng với những trận ma dài ngày thờng gây
Trang 12lũ lụt, ngập úng thiệt hại đến tài sản, tính mạng của nhân dân Mùa khô bị hạnhán là những lực cản lớn đối với sản xuất Đờng giao thông của vùng đất VănTrinh xa chủ yếu là tuyến đờng thủy trên sông sông Lý Từ con sông này, trớc
đây thuyền bè có thể ngợc dòng ra sông Mã, sông Chu lên vùng rừng núi phíaTây của tỉnh hoặc ra các tỉnh phía Bắc Giao thông đờng bộ của vùng đất VănTrinh khá thuận lợi Các tuyến đờng liên thôn, liên xã nối với đờng Quốc lộ1A (cũng chính là tuyến đờng thiên lý Bắc - Nam thời phong kiến) Xa kia,những tuyến đờng này chủ yếu là đờng đất ven các làng, cánh đồng Nhữngcon đờng này đi qua các xã: Quảng Ninh, Quảng Văn, Quảng Long…Dđi racon đờng huyết mạch - Quốc lộ 1A, cùng với đờng 10 có thể ra Bắc vào Nam,xuống biển, lên rừng và ngợc xuôi tới các huyện trong tỉnh và ngoài tỉnh Từcấu tạo chất đất cùng điều kiện tự nhiên đã cho phép ngời dân vùng đất VănTrinh có thể phát triển nghề trồng lúa, đay, lạc, màu…DTuy nhiên, bên cạnhnhững thuận lợi, thì khó khăn do thiên nhiên gây nên cũng không ít; đó là khíhậu khắc nghiệt, bão lụt thờng xuyên xảy ra Chính đây là một thử thách lớn
đối với đất và ngời dân vùng đất Văn Trinh xa Song, thế đất với núi Ngọc,sông Lý từng là vị trí kinh tế, quân sự trọng yếu chống giặc giữ nớc trong lịch
sử, là nơi lu giữ những dấu tích văn hóa với tục hát nhà trò Văn Trinh doChiêu Văn vơng Trần Nhật Duật sáng tác đã mang sắc thái văn hóa riêng của
địa phơng, mãi là niềm tự hào và làm phong phú thêm đời sống tinh thần đểngời dân vùng đất Văn Trinh nói chung, Quảng Hợp nói riêng vợt qua mọikhó khăn, thử thách không ngừng vơn lên xây dựng quê hơng ngày càng giàu
đẹp
1.1.2 Quá trình hình thành làng xã vùng đất Văn Trinh
Trong lịch sử địa chất Việt Nam, “tỉnh Thanh Hóa là vùng đất đợc kiếntạo qua nhiều thời kì từ sớm đến muộn, từ Đại Proteozoi (cách đây 306 triệunăm)[16, tr.11] , đây là một vùng đất ảnh hởng của sự kiến tạo địa chất củavõng chồng Sầm Na Từ dãy núi đi từ Sầm Na (Lào) vào thợng lu sông Chu vàhuyện Thờng Xuân, huyện Nh Xuân, một phần huyện Triệu Sơn, huyện NôngCống, Quảng Hợp (huyện Quảng Xơng), huyện Tĩnh Gia rồi uốn quanh trên
đất Nghệ An Nh vậy, về lịch sử địa chất thì Quảng Hợp đợc hình thành sớmnhất huyện Quảng Xơng, tỉnh Thanh Hóa
Trang 13Vùng đất Văn Trinh huyện Quảng Xơng, “nơi phát hiện ra nhiều dấu tíchcủa văn hóa Đông Sơn với trống đồng làng Bùi (xã Quảng Giao), trống đồngTriều Công (Quảng Lộc), 4 trống đồng ở Cồn ổi, Cồn Mây (Quảng Thắng) vàhàng trăm hiện vật chất liệu bằng gốm, bằng đồng, đã chứng tỏ vùng đấtQuảng Xơng, trong đó có xã Quảng Hòa, Quảng Hợp đã có ngời c trú từ thờivăn hóa Đông Sơn (cách ngày nay khoảng 2000 năm)” [3, tr.14] Các tụ điểmdân c ra đời trong thời điểm này trên đất Quảng Xơng cũng nh đất Văn Trinh
đã góp phần hình thành bộ Cửu Chân (chủ yếu là diện tích của Thanh Hóangày nay), một trong 15 bộ của nhà nớc Văn Lang thuở các vua Hùng dựngnớc
Địa hình Quảng Xơng cho thấy, dòng sông Lý nh một nhát cắt tách phần
đất phía Tây ra khỏi huyện Quảng Xơng Đó là hơng Ngọc Sơn đời Trần, tổngVăn Trinh đời Nguyễn, sau năm 1945 là 9 xã “miền đồng” Đời Trần, hơng t-
ơng đơng huyện, dới hơng gồm nhiều xã Ngọc Sơn là lấy tên núi Ngọc, ngọnnúi tiêu biểu nhất làm tên hơng Đời Lê xuất hiện địa danh Văn Trinh - xãVăn Trinh; đời Nguyễn thành lập đơn vị tổng - tổng Văn Trinh tức “hơngNgọc Sơn cũ”[30, tr.5] Địa danh Văn Trinh ghép chữ “Văn” trong Chiêu Văn
đại vơng, tớc hiệu của Trần Nhật Duật với chữ “Trinh” trong Trinh Túc phunhân, tớc phong của bà vợ ngời anh hùng dân tộc Hơng Ngọc Sơn xa là thái
ấp của Trần Nhật Duật và phủ đệ của Chiêu Văn vơng ngay chân núi Ngọc.Khi hơng Ngọc Sơn thành tổng Văn Trinh thì núi Ngọc cũng mang tên núiVăn Trinh “Núi Ngọc, hơng Ngọc Sơn đời Trần là trung tâm chính trị, quân
sự, kinh tế, văn hóa của trấn Thanh Hóa Nó cũng là trung tâm điểm của xãVăn Trinh và tổng Văn Trinh các đời sau” [30, tr.6]
Theo sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỉ XIX chép: “tổng Văn Trinh
(tổng Ngọc Đới sau) có 52 xã, thôn, nhng trong danh mục cụ thể sách lại chép
tới 10 xã, 50 thôn và 3 xã loại nhất xã, nhất thôn”[43, tr.115] Nh vậy, tổng số
không phải 52 xã, thôn mà phải là 63 xã, thôn So với địa danh Văn Trinh Ngọc Đới thời Pháp thuộc có sự thay đổi đáng kể do sáp nhập, chia ra, thêmvào, mất đi Sau cải cách ruộng đất (1956) chỉ còn lại 9 xã, trong đó VănTrinh là xã sớm nhất tổng Văn Trinh, đợc chia thành 2 xã “Quảng Hòa,Quảng Hợp dựa trên cơ sở các thôn cũ: Văn Đông, Văn Đoài, Trịnh Xá, ChàoThôn (xã Quảng Hòa), yến Quế, Cẩm Giang, Quần Lực, Bích Khê, Phơng Trì,Trinh Miếu, Linh Lộ (xã Quảng Hợp)” [30, tr.6]
Trang 14-Thôn Kì Vĩ xa thuộc xã Văn Trinh nay cắt sang xã Quảng Ngọc ( phíaNam núi Văn Trinh) Thôn Đa Cảm trớc năm 1945 chỉ có 10 suất đinh, sauCách mạng tháng Tám năm 1945 nhập vào thôn Cẩm Giang Cũng sau năm
1945, thôn Bắc nhập vào thôn Văn Đoài và thôn Nguyễn Xá hợp nhất với thônTây Ngoại thành thôn Trinh Xá
Vùng đất Quảng Hòa đời Trần là Cổ Nguyễn - Kẻ Nguyễn đổi ra từ tên
Cổ Lý - Kẻ Lý đời Lý Khi Chiêu Văn vơng Trần Nhật Duật cho lập làng, chaphải thành làng ngay, đúng ra là những trang trại đặt tên theo phơng hớng:Tây, Đoài, Đông kèm theo từ “Nguyễn”: Nguyễn Tây, Nguyễn Đoài, Nguyễn
Đông Những phơng hớng này lấy dòng sông Lý làm chuẩn, thực chất mang ýnghĩa tơng đối “một hớng khác, khai phá những cách đồng sâu trũng mặnphía Tây sông Lý thành Nguyễn Đoài, từ Nguyễn Đoài, ngời ta không thể tiếnmãi về hớng Tây vì đã có kẻ Sòng ( tức Cổ Sùng) chiếm cứ vùng ven sôngHoàng Họ quay về phía Đông khai phá dải đất trũng tiếp giáp sông Lý thànhlập làng Nguyễn Đông Theo hớng Bắc là các trang trại: Chào, Vực, Cảnh,…DTên Chào là do Trần Nhật Duật đặt để ghi nhớ cuộc đón rớc khi ông thắngtrận Đà Giang trở về Tên Vực cũng nh tên Cảnh đặt theo địa hình nơi c trú.Phát triển về hớng Nam là trang trại: Pheo, én, Tĩnh, Vĩ…D”[30, tr.7]
Những điều đó cho chúng ta thấy, từ những c dân đầu tiên do các dòng
họ xây dựng với những ấp, trại nh Cổ Linh (Quảng Hợp) cùng các trang trạitrên đất Quảng Xơng xa nh: Cổ Duệ, Vèn (Quảng Yên), Sòng (Quảng Lu), KẻDãi (Quảng Phúc)…Dlà cơ sở nối tiếp cho các thế hệ trên vùng đất Văn Trinh
mở rộng đất đai tạo dựng nên những xóm làng trù phú Đến đời Trần, trongcuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ 2 (1285), Chiêu Văn v-
ơng Trần Nhật Duật đợc phái vào Nam chặn quân Toa Đô từ Chiêm Thành
đánh ra Trần Nhật Duật đã chọn vùng Văn Trinh đóng làm đại bản doanh.Văn Trinh có núi sông bao bọc, lại có cửa sông thông ra biển Chính điều nàykhiến Chiêu Văn Vơng Trần Nhật Duật chọn vùng đất này để xây dựng trangtrại, thái ấp và nhiều xóm trại nh: Đồng Cơ, Trại Ao, Chựa Ao,…Vào năm
1281, tại vựng đất điền trang thỏi ấp, Trần Nhật Duật đó ban phỳc giải phúngnụng nụ (trừ gia nụ) để trở thành nụng dõn tự do và cho thành lập xúm làng.Mặt khỏc, Chiờu Văn vương Trần Nhật Duật cũn khuyến khớch nụng dõn khaikhẩn đất đai hoang húa, mở rộng vựng đất xuống phớa Nam để xõy dựng xúm
Trang 15làng mới Tại đõy, cỏc trại ấp trờn vựng đất này đó trở thành cỏc làng như:làng Gốm, ẫn, Ao, Cửa Ngũi,….nối tiếp đến là cỏc làng Lăng, làng Miếuđược hỡnh thành từ đội quõn canh lăng miếu Sau khi Chiờu Văn Vương TrầnNhật Duật qua đời, lỳc này cỏc làng núi trờn (Quảng Hợp ngày nay) thuộchương Ngọc Sơn, huyện Ngọc Sơn (huyện Tĩnh Gia ngày nay)[3, tr 16] Chiờu Văn vương Trần Nhật Duật xõy dựng điền trang kết hợp kinh tếvới quõn sự, lấy trang trại làng mạc làm vành đai bảo vệ khu trung tõm quõn
sự, chớnh trị gồm phủ đệ, dinh thự, trại lớnh, kho tàng, tàu ngựa, bến thuyền,…Cho đến sau năm 1945, vẫn cũn lại những bói, đồng hoang mang tờn MóĐúng Dinh, Bỏi Đồng Cơ, Ao Quan, Cồn Kho, Cồn Ngựa,… “Địa danh CửaNgoài là cửa thành ngoài, hào trỡ hiện cũn dấu tớch”[30, tr.8]
Quỏ trỡnh xây dựng phủ đệ của Chiờu Văn vương Trần Nhật Duật tạivựng đất Văn Trinh đó trải qua nhiều thăng trầm lịch sử Vương triều Trầnmất, nhà Hồ lờn thay Những phủ quan, huyện quan và dũng dừi Tỏ thỏnhChiờu Văn vương Trần Nhật Duật xuống làm dõn thường, chìm đắm trong bểdõu Vương phủ hoàng đế, nhà cửa,…bị giặc Minh tàn phỏ thành bỡnh địa.Quân Minh thực hiện chính sách thu thuế mỏ, cướp ruộng đất, khủng bố dõnlành, nờn người mang họ Trần phải thay tờn đổi họ, trốn lờn rừng, xuốngbiển Cả dõn hương, ấp Ngọc Sơn cũng phải tha phương cầu thực Đến đầuđời Lờ họ mới quay về xõy dựng lại gia đỡnh, xúm làng Nhiều người lớnhtrong thủ lăng, thủ miếu khụng cũn chế độ trụng coi, chăm súc lăng miếu Họcắm đất trại lớnh xưa làm nhà, lập gia đỡnh, khai hoang vỡ húa, tiếp tục coi súcphần mộ, phụng thờ như xưa Chẳng bao lõu nơi đõy phỏt triển thành hai làng:Thủ Lăng, Thủ Miếu và họ Bựi từ thụn Kỡ Vĩ đến ở Cửa Ngoài, lập nờn làngCửa Ngoài Mảnh đất Ao Quan cũng được khai phỏ thành làng Ao Những gũcao, đồng thấp, những doi đất nổi lờn như từng đợt súng, khai phỏ muộn hơn
Trang 16Vào thời Lê Trung hưng, những cái tên làng Cồn, Đồng Cồn, làng Mã cũngnói lên vẻ hoang sơ của chúng.
Dọc sông Lăng, sông Hoàng, sông Yên,…có những trang trại được lập
từ thời Tiền Lê, đời Lý như: Cổ Linh, Cổ Duệ, Vèn Sòng, Kẻ Dãi Nhiều làng
xã trong trang trại lập rồi bỏ, bỏ lại lập do đói khát, bệnh tật, chiến tranh Tính
ổn định và sự bền vững của làng xã trên vùng đất này chỉ diễn ra trong thờinhà Lê và được củng cố bổ sung thêm dưới thời Nguyễn §ến năm 1945, trênmảnh đất xưa là điền trang của Chiêu Văn vương đã hình thành các làng xã:
- Xã Văn Trinh gồm các thôn: thôn Văn Đông (tên thường gọi là làng
Đông) Thôn Văn Đoài (tên cũ là thôn Đoài, thường gọi là làng Đoài) ThônBắc (thường gọi là làng Bắc, lập vào đời Lê) Thôn Nam (khoảng n¨m 1920-
1930, dân ly tán chỉ còn lại một số hộ nhập vào thôn Văn Đoài Người trongthôn Văn Đoài di chuyển đến cư trú trên đất làng Nam cũ, lập nên xóm mớigọi là trại Cồn, cùng với trại Bái Sắn ở phía Tây, trại Bái Quang ở phía TâyNam làng Đoài trong thời gian trước đó Hiện nay các xóm trại này đã thànhlập hai thôn mới: Trịnh Xá (tức Nguyễn Xá), Tây Ngoại (tức làng Tây) CảTrịnh Xá và Tây Ngoại gọi chung là làng Nguyễn
+ Thôn Chào (đúng là chữ “Khào”, thường gọi là làng Chào)
Những thôn trên sau cải cách ruộng đất hợp thành xã Quảng Hòa
+ Thôn Cảm Giang (tên nôm là làng Pheo)
+ Thôn Đa Cảm (nhập vào Cảm Giang)
+ Thôn Yên Quế (tên cũ là thôn Yến, tên nôm là làng Én)
+ Thôn Bích Khê (tên xưa là Cửa Ngoài, đời Minh Mệnh đặt tên chữNgọc Khê, sau đổi thành Bích Khê, tên nôm là làng Ngoài)
+ Thôn Trinh Miếu (tên cũ là thôn Miếu, tên nôm là làng Mưỡi)
+ Thôn Linh Lộ (tên cũ là thôn Linh, tên nôm là làng Lăng)
Trang 17+ Thôn Phương Trì (tên nôm là Làng Ao, Ao Thôn, đời Minh Mệnh đổithành thôn Phương Địa, sau đổi là Phương Trì).
+ Thôn Quần Lực (tên cũ là Quần Ngọc, tên nôm là làng Cồn)
+ Thôn Kì Vĩ (sau 1945 đổi sang xã Quảng Ngọc)
+ Thôn Gia Hà (tên cũ là Bờ Sông)
Gọi là Tam Vy: Vy Hội, Vy Thượng, Vy Trung
- Xã Can Trúc (tiếp giáp xã Vy Nổ về phía Nam) gồm các thôn:
+ Thôn Đông Đường (vừa nôm vừa chữ: phía §ông đường)
+ Thôn Xuân Mộc (tên cũ: thôn Xuân)
+ Thôn Phúc Lãng (tên cũ: thôn An Lãng, đời Minh Mệnh đổi thànhPhúc Lãng)
+ Thôn Bái Lực (tên nôm là Làng Bái)
+ Thôn Bất Động (tên cũ: thôn Lĩnh)
+ Thôn Tự
Xã Cam Trúc, xã Vy Nổ sau năm 1945 hợp thành xã Quảng Ngọc (thônPhúc Lãng chuyển sang xã Quảng Trường)
- Xã Hòa Trường gồm các thôn:
+ Thôn Hòa Trường (thường gọi là làng Trường)
+ Thôn Đông Bích (thường gọi là làng Đông)
+ Thôn Thượng (vốn là xóm trên)
- Xã Tông Lương gồm các thôn:
+ Thôn Lộc Trường (tên nôm là Kẻ Trường)
Trang 18+ Thôn Phúc Chiêm.
+ Thôn Phúc Chiêm thượng (tên nôm là Chiếm)
+ Thôn Quang Chiêm
Xã Hòa Trường, xã Tông Lương sau năm 1945 hợp thành xã QuảngTrường
- Xã Văn Khê gồm các thôn:
+ Lộc Long (tục gọi là Sòng, tên cũ là Sùng Long)
+ Lộc Xá
+ Quang Ninh (tên nôm là làng Thuyền)
+ Văn Nham (tên nôm là làng Nhơn)
- Xã Ngọc Đới gồm các thôn:
+ Thôn Ngọc Đới (tục gọi là Kẻ Dải)
+ Thôn Kim Quất (tục gọi là làng Quýt)
+ Thôn Bái Đông (tục gọi là làng Bái)
+ Thôn Thổ Ngõa (tục gọi là làng Ngói)
- Xã Ngọc Bôi gåm các thôn:
+ Ngọc Bồn (tên nôm là làng Bùn)
+ Bình Nậu (tên nôm là làng Trún)
+ Ngọc Nhị (tên nôm là làng Nhe)
+ Văn Giáo (tên nôm là làng Pheo, tên cũ là Văn Triền)
Các xã Văn Khê, Ngọc Đới, Ngọc Bôi sau năm 1945 hợp thành các xãQuảng Long, Quảng Phúc, Quảng Vọng
- Xã Thiên Linh gồm các thôn:
+ Thiên Linh Đông (tên nôm là Riềng, Riềng Đông)
+ Thiên Linh Đoài (tên nôm là Riềng, Riềng Đoài)
+ Mỹ Cảnh (tục gọi là làng Cảnh, xưa là Cảnh: nghĩa là cái cổ)
+ Viên Đông (tên nôm là làng Vèn, Vèn Đông)
Trang 19+ Thọ Khảo (tờn nụm là làng Vực, tờn cũ là Thọ Vực, đời Minh Mệnhđổi tờn Thọ Khảo).
+ Cổ Duệ, Kẻ Duệ (cú ấp Cổ Duệ, ấp Lạc Lõm, sau năm 1945 đổi thànhĐào Lõm, nay là Yờn Duệ, Yờn Đào)
Xó Thiờn Linh sau năm 1945 là xó Quảng Yờn
Cỏc xó trờn từ 1956 chia đổi thành 9 xó, thường gọi là “9 xó miền đồng”,hay “9 xó Tõy sụng Lý” đều bắt đầu từ chữ Quảng của huyện Quảng Xương:Quảng Yờn, Quảng Văn, Quảng Long, Quảng Hũa, Quảng Hợp, Quảng Ngọc,Quảng Trường, Quảng Phỳc, Quảng Vọng [30, tr.9 - 13]
Thời Lờ, sau chiến thắng giặc Minh (thế kỉ XV) do anh hựng dõn tộc LờLợi lónh đạo, những người dõn phiờu tỏn bởi giặc dó trở về vựng đất VănTrinh dựng lại xúm làng Đú là họ Trần đó dựng làng Thủ Lăng, Thủ Miếu(sau đổi thành làng Linh Lộ, Trịnh Miếu), họ Bựi lập lại làng Cửa Ngoài (sauđổi là làng Bớch Khờ),…Vào thời Lờ Trung hưng, việc khai khẩn đất đai ởvựng đất Văn Trinh nổi lờn mạnh mẽ Những gũ cao, đồng thấp, những đồicỏt nổi lờn như từng đợt súng đó được con người nơi đõy chinh phục tạo ranhững cỏnh đồng màu mỡ Chớnh nhờ vào quỏ trỡnh khai phá đồng đất này
đó tạo cho con người ở đõy thành lập những xúm làng với tờn gọi là LàngCồn, đồng Cồn…
Như vậy, đến thời Lờ - Nguyễn, quỏ trỡnh lập làng trờn vựng đất VănTrinh đó ổn định và bền vững Trong đú phải kể đến cụng tớch của nhiều dũng
họ nơi đõy đó vượt qua bao khú khăn đó khai canh, lập làng tạo dựng cộngđồng làng xúm, phỏt triển kinh tế, văn húa, xó hội Quỏ trỡnh xõy dựng và phỏttriển làng xó cũng là quỏ trỡnh phỏt triển cỏc dũng họ ở vựng đất này Ngoàicỏc dũng họ gốc ở địa phương, đó cú nhiều dũng họ đến lập nghiệp trờn mảnhđất này từ cỏc huyện Hoằng Húa, Hà Trung, Hậu Lộc, Quảng Xương, Đụng
Trang 20Sơn và từ cỏc tỉnh phớa Bắc như: Ninh Bỡnh, Hà Tõy, Bắc Ninh Một số họđến từ cỏc tỉnh phớa Nam như Nghệ An, Quảng Nam.
Trải qua quỏ trỡnh lịch sử cựng cộng cư, cỏc dũng họ ở Quảng Hợp đókết thành một khối thống nhất vượt lờn mọi khú khăn thử thỏch, chống thiờntai, địch họa, khai phỏ đất hoang vu, tạo dựng cộng đồng làng xúm, phỏt triểnkinh tế, văn húa, xó hội
Cỏch mạng thỏng Tám thành cụng, thỏng 4 năm 1946, Chớnh phủ ViệtNam Dõn chủ Cộng hũa giải tỏn cấp tổng, thành lập cấp xó Vựng đất QuảngHợp ngày nay lỳc đú là xó Trần Quốc Toản (huyện Quảng Xơng)[3, tr.18],gồm cỏc thụn: Yờn Quế, Cẩm Giang, Bớch Khờ, Phương Trỡ, Linh Lộ, TrịnhMiếu, Gia Hà, Quần Lực
Thỏng 4 năm 1948, theo chủ trương của huyện Quảng Xương, hai xóChiờu Văn (Quảng Hũa) và Trần Quốc Toản (Quảng Hợp) sỏp nhập lấy tờn làQuảng Hũa gồm 18 xúm nhỏ, đú là: Quần Lực (xóm Nhan, Trung, Bắc); YếnQuế (xóm Anh, Yến, Thanh); Cẩm Giang (xóm Giang, Dinh); Bích Khê (xómBình, Minh, Tân); Trinh Miếu (xóm Hng, Thịnh); Gia Hà, Phơng Trì (Ao,
Đồng Cơ), Hợp Linh (xóm Linh, Trung) Sau Hòa bình lập lại trên Miền Bắctháng 8 năm 1954, huyện Quảng Xơng phân bố lại đơn vị hành chính từ 17 xãchia thành 47 xã nhỏ Xã Quảng Hòa chia thành 2 xã: Quảng Hòa và QuảngHợp - tên xã Quảng Hòa và Quảng Hợp có từ đây
1.2 Truyền thống lịch sử, văn hóa vùng đất Văn Trinh
Trang 21Khi nhắc tới vùng đất Văn Trinh - núi Văn Trinh thì chúng ta cũng nghĩngay đến điền trang thái ấp của Chiêu Văn vơng Trần Nhật Duật thời Trần, vànơi đây trong lịch sử đã diễn ra cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mônglần thứ hai, nên ông đã chọn vùng đất này làm đại bản doanh.
Đời Trần, vùng đất Văn Trinh là hơng Ngọc Sơn đợc bao bọc bởi 4 consông: sông Lăng, sông Lý, sông Vọng, sông Yên Từ vị trí địa lý nh vậy, cómột số nhà nghiên cứu đặt ra câu hỏi: tại sao Trần Nhật Duật lại chọn vùngnúi Văn Trinh làm nơi phòng thủ quân sự trong cuộc kháng chiến chống quânNguyên - Mông? Trong khi đó ở Quảng Xơng có rất nhiều núi nh: núi Chẹt(Quảng Lĩnh), núi Hòa Trờng (Quảng Trờng), núi Voi (Quảng Thịnh), Có lẽbởi núi Văn Trinh ở khoảng giữa sông Lý, bên bờ Tây đợc coi là thế đất
Long xà
“ ” Chọn đất Ngọc Sơn - Văn Trinh là Trần Nhật Duật chọn mục đíchquân sự hơn là kinh tế Đứng trên đỉnh núi này, ông quan sát đợc tất cả cáccon đờng huyết mạch: đờng thợng đạo phía Tây, đờng hạ đạo phía Đông, đờnghải đạo trên biển, cho đến cả đờng thủy Hoàng Giang qua cầu Vạy, sôngLăng nối với kênh Vinh, kênh Bố Vệ và sông Lý, kênh Nga chạy ra sông Yên,sông Ghép, cửa ngõ Ngọc Giáp đều nằm trong tầm mắt của vị tớng quân trẻtuổi tài ba, viên tổng trấn toàn năng Đất Văn Trinh- núi Ngọc Sơn vẫn cònmãi trong tâm thức của ngời đời và ngay trên mảnh đất này đã diễn ra cuộckháng chiến chống ngoại xâm vẫn còn nguyên giá trị
Hơng Ngọc Sơn là khu trung tâm điền trang thái ấp của Chiêu Văn vơng.Những Kẻ Nách, Kẻ Vèn, Kẻ Riềng, Kẻ Duệ, Kẻ Sòng, làng Pheo, Kẻ
Đài, c trú dọc theo bờ những con sông Bà Mã, Yên Hó, Hóng Giang, LýGiang, Phủ đệ Chiêu Văn vơng đặt tại vùng núi Ngọc sông Lý Dinh thự,tổng trấn, công quán, công sở hành chính, doanh trại quân lính, nhà bếp, nhàkho, tàu voi, chuồng ngựa, ở trên khu đất cao rộng khoảng 1km2, phía Bắcnúi Ngọc (sau là núi Văn Trinh) bên sông Lý, chung quanh có thành luỹ Gia
c Chiêu Văn Vơng ở biệt lập cách xa dinh thự hơn chừng 1 km, cũng về phíaBắc, tại khu đất đai thời Lý gọi là “cổ lý chi địa” quy tụ thành làng mạc.Những địa danh hiện nay vẫn còn nh: Bái Đồng Cơ, Mã Đóng Dinh, RuộngQuan, Cửa Ngoài, còn ghi dấu tích
Thời Lý, với sự thuận tiện về giao thông đờng thủy của sông Lý nối vớisông Mã Bà, sông Yên Hòa (cũng gọi là Hòa Yên), ngời đến khai thác ngàycàng đông Nhng từ khi Chiêu Văn vơng Trần Nhật Duật đến đây mới thực sựbắt đầu cuộc khai thác mạnh
Trang 22Năm 1281, khi Chiêu Văn vơng Trần Nhật Duật dẹp yên giặc loạn sông
Đà trở về, phu nhân Bùi Thị đem gia nhân đón rớc ngài tại nơi đây (nay gọi làcầu Chào) Đợc tin, nhân dân trong vùng gồm cả điền nô, nông nô, gia nô tậptrung tại bái Cồn Cao (Cồn May), mang theo nhiều vật phẩm nhà nông đểchúc mừng ngài và khao thởng quân sĩ Tại đây, Chiêu Văn vơng Trần NhậtDuật tuyên bố giải phóng nông nô và cho họ cùng dân tự do xây dựng nhữngtrang trại, tập hợp các chòm xóm thành lập làng, ngời đứng đầu là Xã quan(làng nhỏ gọi là Tiểu xã, làng lớn gọi là Đại t xã)
Năm Giáp Thân (1284) quân Nguyên - Mông chuẩn bị 50 vạn binh, giảthác mợn đờng đánh Chiêm Thành để bất ngờ xâm chiếm Đại Việt Vơngtriều nhà Trần cho quân trấn giữ các nơi hiểm yếu, gọi Trần Nhật Duật đemquân trấn ải phía Nam Tuyên Quang Một cánh quân Nguyên từ Vân Nam
đánh sang trại Thú Vật, gặp quân Trần Nhật Duật, hai bên giao tranh ác liệt.Quân Nguyên- Mông cậy đông xông tới, quân của Trần Nhật Duật ít phải bảotoàn lực lợng, đánh lùi bớc thủ hiểm Trần Nhật Duật lập tức rời Tuyên Quanghành quân suốt ngày đêm, về đến Vĩnh Doanh thì quân Toa Đô đã tiến vàocửa biển Hà Hoa (Kỳ Anh - Hà Tĩnh) Quân Trần Quốc Khang không đủ sứcngăn địch và quân của Trần Nhật Duật trong quá trình hành quân quá mệt mỏicũng không thể làm gì đợc hơn nên đành rút quân về trấn giữ ở Thanh Hóa.Quân Toa Đô sau khi chiếm đợc Nghệ An rồi thực hiện một cuộc đánhchiếm Thanh Hóa, nhng binh thuyền không dám đi thẳng thủy đạo kênh Than,vì sợ quân Trần chặn đờng phục kích mà theo hải đạo vào Cổ Khê (QuảngVinh - Quảng Xơng - Thanh Hóa) Các chiến tớng vơng hầu kiệt xuất nhất củatriều đình đã đợc điều động vào Thanh Hóa: Thợng tớng thái s Trần QuangKhải, Văn túc vơng Trần Đạo Tái, Tá thiên vơng Trần Đức Việp, Chiêu hiểnvơng Trần Học, trấn giữ các huyện miền biển và vùng lân cận, nay là HoằngHóa, Đông Sơn, Hậu Lộc, Nga Sơn, Hà Trung, Vĩnh Lộc, Tĩnh Quốc đại v-
ơng Trần Quốc Khang thất thủ Nghệ An, lui giữ vùng đất giáp ranh từ khe N
-ớc Lạnh đến Lạch Bạch (Tĩnh Gia) Chiêu Văn vơng Trần Nhật Duật phòngthủ các hơng Yên Duyên, Ngọc Sơn, huyện Vĩnh Xơng (Quảng Xơng ngàynay)
Trong cuộc chiến đấu này, quân Toa Đô bị quân dân Yên Duyên đánhbật ra biển, nhng tớng Giảo Kỳ tiến quân đã lọt vào Lễ Môn và đánh phủ đầuvùng Đông Sơn, Hoằng Hóa Đội quân Toa Đô từ biển tiến vào vùng Đông
Trang 23Bắc Thanh Hóa để phối hợp với Giảo Kỳ tạo thành gọng kìm kẹp nát quânTrần Quân giặc khá đông, thế tiến công mạnh nh vũ bão nên Quảng Xơng trởthành một bãi chiến trờng ác liệt Giảo Kỳ muốn đánh Ngọc Sơn, vơng phủcủa Trần Nhật Duật, nhng mới đến Bố Vệ thì Giảo Kỳ đã vấp phải cánh quânphòng thủ của triều đình Vì đờng vào hơng Ngọc Sơn còn phải qua mấy cửa
ải đều có quân của Trần Nhật Duật bố phòng cẩn mật Cuộc kháng chiếnchống quân Nguyên - Mông lần hai, quân Toa Đô đánh chiếm Nghệ An vàthừa thắng tiến vào Thanh Hóa Trần Nhật Duật chỉ huy quân ta đánh trả.Cuộc chiến diễn ra ác liệt ở vùng từ phía tả ngạn cửa Ghép và phía Đông NamVăn Trinh Thanh Hóa là một mặt trận ác liệt, nên vua Trần điều động rất
đông vơng hầu và những tớng lĩnh giỏi và những đội quân tinh nhuệ vào trấngiữ vùng đất này, đẩy quân Toa Đô vào thế bị động Tinh thần quyết chiến củaquân dân Đại Việt đã nhanh chóng đến Thanh Hóa với khẩu hiệu “nếu có giặcngoài đến phải liều chết mà đánh” Tại núi Ngọc Sơn, Trần Nhật Duật dựa vào
địa hình bốn phía sông ngòi bao bọc, núi Trờng, núi Ngọc nh những thiên tàitrấn ải, và đặc biệt đợc lòng dân, hàng ngàn nông nô đã đợc giải phóng, sẵnsàng hy sinh vì ân chúa nên đã kết nên thành luỹ bố phòng bất khả xâm phạm.Cùng với sự chỉ đạo tài tình của vị tớng trẻ tài ba Trần Nhật Duật nên nhândân trong vùng đất Ngọc Sơn - Văn Trinh tập trung dân binh, lơng thảo tạohậu cứ vững mạnh cho cuộc kháng chiến
Cuộc kháng chiến này, vua Trần đặt nhiều hy vọng Hoan Diễn do tồn“
thập vạn binh” mà Nghệ An lại sớm rơi vào tay giặc Tiếp đó Thanh Hóa luôn
bị quân thù nhòm ngó, song điền trang thái ấp Ngọc Sơn vẫn an toàn tuyệt đối.Vơng triều nhà Trần trong tình thế không thể ở Thăng Long đợc, nên vua Trần
từ Thăng Long chạy về Thiên Trờng (Nam Định), lại từ Thiên Trờng chạy raQuảng Yên, bỏ thuyền đi bộ đến sông Thủy Chú (Hải Phòng) để đánh lạc h-ớng quân địch, rồi dùng thuyền tới Nam Triệu, qua biển Đại Bàng (Thái Bình)vào Thanh Hóa Trần Nhật Duật đón Thợng hoàng Thánh Tông, vua TrầnNhân Tông cùng tam cung lục viện, cận thần hộ giá, tớng sĩ tuỳ tòng vào phủ
đệ Ngọc Sơn
Trấn Nam vơng Thoát Hoan truy kích vua Trần không đợc nên đã sai ÔMã Nhi, Toa Đô, Giảo Kỳ hợp sức truy tìm, sẵn sàng san phẳng Thanh Hóa
Trang 24Giữa tháng 3 năm 1285, chiến cuộc vẫn gay go, phức tạp, quân TrầnNhật Duật tiến về Thăng Long, nhng sau trận thử sức thì phải rút lui ThoátHoan rút quân xuống Thiên Trờng, Trần Quốc Tuấn lại phải rút quân từ VạnKiếp về Thiên Trờng Cuộc rút quân thật tài tình, ông cho quân xuống phía
Đông ở các ven lộ biển và chờ cho quân tiến ra Bắc thì vợt biển vào ThanhHóa
Ngày 7 tháng 4 năm 1285, vua Trần hành quân từ Tam Trĩ về Thủy Chú(huyện lị Yên Hng - Quảng Hng) rồi đi thuyền ra Nam Triệu vào Thanh Hóa.Với tầm nhìn xa trông rộng, Trần Nhật Duật đã chuẩn bị sẵn con đờng cho vuaTrần khi Ngọc Sơn bị đe dọa Đó là ngôi chùa Tháp ở phía Tây hơng NgọcSơn bên kia sông Hoàng (huyện Nông Cống) sẽ trở thành hoàng cung đón vuangự giá Nhờ sự chu đáo của Trần Nhật Duật, vua Trần đợc đảm bảo an toàntuyệt đối từ đầu tháng 3 đến tháng 4 năm ất Dậu (1285) mới rút ra ThăngLong, chấm dứt thời kỳ rút lui “tránh chỗ mạnh đánh chỗ yếu”, bắt đầuchuyển sang giai đoạn tiến công dữ dội với chiến thắng lẫy lừng:
Đoạt sóc Ch
“ ơng Dơng độ Cầm Hồ Hàm Tử quan Thân bình tu trí lực Vạn cổ cựu giang san”
thời Trần là vùng đất phên dậu“ phía Nam” của nhà nớc Đại Việt và cũng là
chốt ngăn chặn các bớc tiến công của giặc, phá mu đồ bóp chết Đại Việt củaquân Nguyên - Mông Trong những công trình phúc lợi xã hội mà nhà Trầngây dựng ở vùng đất Văn Trinh phải nói đến những công trình kiến trúc vănhóa có giá trị nh đền chùa, miếu mạo cùng những địa danh, những tên tuổi
Trang 25ngời xứ Thanh đã lập nên những chiến công ấy: Đại toát Lê Mạnh, hơng YênDuyên, bến đò Cổ Bút, Phúc Tân, Bố Vệ,
Chỉ trong thời gian ngắn ngủi của cuộc kháng chiến chống quân NguyênMông lần thứ thứ hai (1284-1285), Chiêu Văn vơng Trần Nhật Duật với phòngtuyến Văn Trinh đã trở thành một dấu son không bao giờ phai mờ trong lịch
sử Thanh Hóa nói chung và vùng đất Văn Trinh nói riêng
Vùng đất Văn Trinh trong triều đại nhà Trần phong cho Trần Nhật Duật
“vào năm Canh Ngọ (1270), triều đình sai Trần Nhật Duật trấn thủ Thanh Hóa
và Thanh Hóa trở thành đất phong của Chiêu Văn vơng” [17, tr.589] Tại thái
ấp Văn Trinh, Trần Nhật Duật đã cho xây dựng phủ đệ riêng, sau này đợc dânlập đền thờ Thứ hai Văn Trinh là vùng đất phòng tuyến đầu tiên chặn bớc tiến
đầu tiên của quân Toa Đô từ Nghệ An tiến ra Bắc do Trần Nhật Duật thiết lập
và vùng đất này cũng là một căn cứ quan trọng để Chiêu Văn vơng Trần NhậtDuật đem quân vào Nghệ An trợ chiến với cánh quân Trần Quốc Khang nhằmchặn đứng mũi tiến công nguy hiểm của quân Toa Đô
Chiêu Văn vơng Trần Nhật Duật chọn vùng đất Văn Trinh (núi NgọcSơn) để tổ chức phòng ngự cản bớc tiến nh vũ bão của quân Toa Đô đã minhchứng cho một nhà quân sự đại tài Trần Nhật Duật Đất Văn Trinh cũng nhngời dân nơi đây sẽ mãi mãi ca bài ca anh hùng và tự hào về lòng yêu n ớc củacác vị tiền nhân xa
Ngỡng vọng trớc một vùng đất “sơn thủy hữu tình”, cũng nh những trang
sử hào hùng của ông cha ta, tác giả Nguyễn Đức Xuân - Bí th Huyện ủy
Quảng Xơng đã sáng tác bài thơ Văn Trinh đất thiêng “ ” Bài thơ này đã đợcphổ thành làn hát nói, một hình thức trong ca trù Việt Nam Nội dung bài thơ
nh sau:
Sừng sững đứng cùng thời gian đi vào lịch sử
“
Văn Trinh đất thiêng nêu cốt cách quê ta
Lu giữ mãi những chiến công oanh liệt Chiêu Văn Vơng Trần Nhật Duật chọn đất lành ( ….) )
Thả hồn vào cõi tâm linh tìm mình Nhớ ngời mở đất danh thơm đời đời.
Trang 26Qua bài thơ chúng ta cũng thấy đợc những chiến công oanh liệt của ôngcha ta trong các cuộc kháng chiến trờng kỳ của dân tộc ta, chính điều nàymuốn nói lên những giá trị lịch sử ngàn đời để lại cho thế hệ hôm nay cũng
nh mai sau thông qua những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể
1.2.2.Truyền thống văn hóa
Quá trình hàng ngàn năm lao động sáng tạo xây dựng xóm làng, quê
h-ơng và đóng góp vào công cuộc dựng nớc và giữ nớc của dân tộc, các thế hệngời dân vùng đất Văn Trinh luôn hun đúc những giá trị lịch sử, văn hóa gópphần làm giàu sắc thái văn hóa quê hơng
Sử liệu cho thấy, trớc năm 1945 “9 xã miền Tây sông Lý” hay 9 xã miền
đồng bằng: Quảng Hòa, Quảng Hợp, Quảng Yên, Quảng Văn, Quảng Long,Quảng Ngọc, Quảng Vọng là một vùng lễ hội rộng lớn của huyện Quảng X-
ơng Tiêu biểu là lễ hội đền Riềng (xã Quảng Yên) với nhiều trò diễn dân gianmang đậm dấu ấn lịch sử thời Tây Sơn; lễ hội đền Sòng (xã Quảng Long) với
đoàn thuyền rồng chèo rớc trên sông Vạy; lễ hội đền Văn Trinh với tục hát
nhà trò là tởng nhớ anh hùng kiệt xuất, danh nhân văn hóa Trần Nhật Duật
cũng là một sự kết hợp tài tình giữa diễn tấu dân gian và nghệ thuật cung đình
Ngoài ra còn có nhiều trò diễn dân gian khác nh trò Phơng tớng, trò thằng ngố
con đĩ, trò léo mõ,
Đất Văn Trinh - Thái ấp của Trần Nhật Duật không chỉ là chứng tíchchống xâm lợc mà còn là một vùng di tích - một vùng văn hóa Chúng ta cũngnhận thấy các vơng triều nhà Trần đều đợc phong thái ấp và thành lập phủ đệriêng Đây là một loại hình kinh tế cơ sở đặc sắc của chế độ nhà Trần Theoquy chế, họ đều ở phủ đệ trong thái ấp của mình và khi chầu hầu thì mới đếnkinh s, xong lại về Trong thái ấp có phủ đệ, nhà cửa, ruộng vờn, đình chùa
Nh vậy, thái ấp đợc phong là đại bản doanh, là cơ sở quan trọng nhất của vơnghầu, quí tộc Với bản chất là một ngời văn võ toàn tài, khi đợc phong thái ấp ởvùng đất Văn Trinh, Trần Nhật Duật đã có công mở mang mọi mặt của vùng
đất này: lập làng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Đóng góp của TrầnNhật Duật với vùng đất Văn Trinh ngoài mặt quân sự, kinh tế nh đã nói, vớihát nhà trò thì ông đã để lại cho hậu thế một di sản văn hóa hết sức độc đáo.Chính sử không ghi đợc nhiều về sự mở mang về kinh tế, văn hóa của ông ởvùng đất này, nhng trong dân gian cũng nh dã sử cho thấy sự khai khẩn, mởmang vùng đất Văn Trinh dần trở thành trung tâm văn hóa phía Nam tỉnh
Trang 27Thanh Hóa Trần Nhật Duật là một ngời văn võ song toàn, ông là ngời hiểubiết âm nhạc, yêu thích văn hóa Trong phủ đệ của ông lúc nào cũng đàn hát,
đó là điều kiện thuận lợi tạo cho Văn Trinh trở thành một trong những trungtâm ca trù sau này Hơn thế nữa, có nhà nghiên cứu cho rằng, dới thời TrầnNhật Duật trấn trị Thanh Hóa, nhiều bộ môn nghệ thuật có từ thời Lý ở phíaBắc đã du nhập vào Thanh Hóa và ngày càng phát triển nh: tuồng, chèo, cáctrò diễn dân gian Một điều chúng ta cần lu ý: “phải chăng một con ngời nổitiếng ham học, ham hiểu biết nh Trần Nhật Duật khi lãnh đạo, cai quản vùngnày đã nêu lên một tấm gơng về tinh thần hiếu học để cho dân vùng này noitheo.”
Văn Trinh là vùng đất có truyền thống hiếu học Các gia đình, dòng họluôn coi trọng việc giáo dục đạo đức và lẽ sống Những lớp học chữ Nho dothầy đồ dạy tại làng luôn đợc các gia đình và làng xã quan tâm Do vậy đã tạo
ra một lực lợng khóa sinh biết chữ Hán tơng đối đông, góp sức vào sự nghiệpphát triển giáo dục - văn hóa cho quê hơng
Trong mọi hoàn cảnh lịch sử, ngời dân Quảng Hợp nói riêng và nhân dânvùng Văn Trinh nói chung luôn nêu cao tinh thần hiếu học “Thời Pháp thuộcvùng này không có trờng lớp, nhng các gia đình vẫn vợt qua mọi khó khăn chocon em theo học tại trờng sơ học Văn Đoài (thuộc tổng Văn Trinh) là mộttrong 4 trờng đợc mở tại huyện Quảng Xơng”[3, tr.24]
Sau Cách mạng tháng Tám thành công, truyền thống hiếu học của ngờidân đợc phát huy mạnh mẽ Phong trào Bình dân học vụ đạt hiệu quả cao đãtạo nền tảng cho việc phát triển giáo dục của vùng đất này
Là vùng đất cổ thuộc điền trang thái ấp của danh tớng Chiêu Văn vơngTrần Nhật Duật, bởi vậy nơi đây sớm trở thành điểm giao lu, hội tụ nhiều sắcthái văn hóa dân tộc, làm giàu cho văn hóa quê hơng Đất và ngời nơi đâytrong suốt chiều dài lịch sử luôn ý thức gìn giữ, phát huy truyền thống văn hóacha ông Bởi vậy, nguồn gốc văn hóa vật thể và phi vật thể nơi đây rất phongphú
Cũng nh nhiều làng quê khác trên đất Thanh Hóa, nhân dân Quảng Hợpcũng nh nhân dân Văn Trinh, việc thờ cúng tổ tiên tại các gia đình, dòng họ
nh thờ thiên thần, nhân thần có công với xóm làng, đất nớc qua các thời kỳlịch sử ở đền, nghè, chùa, đình làng Điều đó thể hiện đạo lý “uống nớc nhớnguồn”, biểu hiện lòng tôn kính, biết ơn các vị tiên tổ đã có công trong công
Trang 28cuộc chống ngoại xâm cũng nh xây dựng xóm làng Qua đó đã giáo dục chocon cháu hớng về nguồn cội, nối tiếp truyền thống cha ông càng ra sức rènluyện đức tài, phấn đấu thành đạt.
Ta cũng nhận thấy hệ thống chùa ở Quảng Hợp thờ Phật rất cổ kính, lànhững địa điểm sinh hoạt văn Hóa của nhân dân “các ngôi chùa nh chùa Am(Yên Quế), Bích Khê và chùa Ao (còn gọi là chùa Phơng Hoa, ở làng PhơngTrì) có kiến trúc độc đáo Trong đó chùa Phơng Hoa có kiến trúc thật nguynga với 60 pho tợng Phật, chùa quay về hớng Đông, có ao rông khoảng1.000m2, hình vuông, thả cá”[3, tr.25]
Tại các làng thời xa trên vùng đất này đều có đền, miếu, nghè, đình thờthổ thần, thiên thần hoặc sơn thần, nh: “Thiên quan thợng đẳng thần (làngQuần Lực), Quản sơn tôn thần (làng Yên Quế), Thiên lôi hiển ứng Thợng
đẳng thần (làng Trinh Miếu), Dơng cảnh Địa kì anh dũng Trung đẳng thần(làng Cẩm Giang), ” [3, tr.26]
Thái s Chiêu Văn vơng Trần Nhật Duật là ngời có công với vùng đất VănTrinh, ông mất năm Canh Ngọ (1330), thọ 77 tuổi, đợc an táng tại núi Ngọc
Do có nhiều công trạng nên ông đợc triều đình lập đền thờ trên sờn phía Bắcnúi Ngọc, gọi là đền Thợng (còn gọi là đền Đức Thánh Trần Chiêu Văn).Lăng Chiêu Văn cũng đợc xây tại đây bằng đá với nhiều tợng ngời, thú bằng
đá
Năm 1984, các nhà khảo cổ học đã phát hiện tại đây “một ngôi mộ cổ,quan tài hình thuyền, nằm trên một mảnh đất khá cao ráo, cạnh đền thờ Đứcthánh Chiêu Văn vơng Mộ hình thuyền, quan tài mang đặc trng chôn cất củangời Việt cổ (từ giai đoạn Đông Sơn muộn đến thời Trần)”[3, tr.26] Căn cứvào cấu trúc mộ, các vật tuỳ táng và vị trí của nó nên một số nhà khoa họccho rằng, có thể chủ nhân của ngôi mộ liên quan đến ngôi đền thờ của ChiêuVăn vơng Trần Nhật Duật
Đến thời Lê sơ, đền thờ Đức Thánh Trần Chiêu Văn vơng đợc xây dựng
to lớn hơn, tọa lạc trên khu đất ven chân núi Văn Trinh, gọi là đền Trung (còngọi là đền Văn Trinh)
Đến thời Nguyễn, đền Chiêu Văn vơng tiếp tục đợc trùng tu Qua các lầnxây dựng và nhiều lần trùng tu, đền Trung trở thành ngôi đền cổ kính và cókiến trúc lớn nhất tổng Văn Trinh “Bái đờng gồm 7 gian, tại các cột, kèo, xàbẩy đều đợc chạm đẽo công phu Hai nhà giải vũ, nhà ba gian phía trớc là nơi
Trang 29phủ từ, sái phu tạm trú và sửa soạn đồ lễ và một sân gạch rộng khoảng 3 sào(1.350m2) Cổng phía Tây phải là một cái ao, sau nhà chính tẩm có một cáigiếng đá” [3, tr.27] Trong đền Chiêu Văn Vơng có nhiều câu đối ca ngợicông tích của đức thánh Chiêu Văn vơng Trần Nhật Duật.
Thời Trần, Lê đền thờ đợc ban sắc phong “Tá thánh Thái s Chiêu Văn
V-ơng” Thời Nguyễn đền thờ đợc phong “Cựu thánh thái s Tôn thần” Trớc đâyviệc thờ phụng do 9 xã vùng Ngọc Sơn đảm nhiệm Thời Trần có đội línhcanh, thời Lê có đội phu 10 ngời canh phòng bảo vệ lăng miếu Đến thờiNguyễn giao cho xã sở tại Văn Trinh (chia thành 2 khu là xã Thợng và xã Hạthờ, ngày nay thuộc xã Quảng Hợp, Quảng Hòa), có thủ th coi đền và các sáiphu do các làng cắt cử làm công việc quét dọn, phục dịch trong kì lễ tế
Lễ hội đền Văn Trinh thờ đức thánh Chiêu Văn vơng đợc tổ chức vàotháng 8 hàng năm Ngoài ra nhân dân trong vùng Văn Trinh còn tổ chức lễ hội
Kỳ phú (cầu phúc) vào ngày 3 đến ngày 6 tháng 3 âm lịch Năm nào hạn hánthì nhân dân trong vùng tổ chức lễ hội cầu cho ma thuận gió hòa
Lễ hội Văn Trinh và tục hát chầu thánh Chiêu Văn đã trở thành hoạt
động văn hóa truyền thống của các xã trong vùng, nó vẫn giữ đợc cho đếnngày nay
Cùng với đền thờ Đức thánh Chiêu Văn, tại vùng đất xã Hạ (Quảng Hợp)
là nơi đặt phủ dinh của quan tổng trấn Trần Nhật Duật với nhiều dinh thự vàkho tàng, nh tàu ngựa, tàu voi,
Vùng đất Văn Trinh mang sắc thái văn hóa riêng, nên mảng văn họcnghệ thuật dân gian rất phong phú với nhiều thể loại nh tục ngữ, ca dao,truyện ca dao về quá trình lập ấp, dựng làng của nhiều dòng họ nơi đây với sựphù trợ linh thiêng của các vị thánh thần Bên cạnh đó là truyện kể về danhnhân Trần Nhật Duật - ngời có công tích lớn trong xây dựng vùng đất Trong
đó đáng chú ý nhất là truyện kể về Trần Nhật Duật đã tổ chức, đào tạo một ờng ca vũ nhạc và đặt nền tảng cho lối hát chầu đế vơng Lối hát đó đợc lutruyền trong dân gian, theo thời gian đã hình thành trên mảnh đất Văn Trinhlối hát nhà trò đậm chất dân gian độc đáo với nhiều đào hát tài hoa
ph-Đặc biệt là các sáng tác văn học với hàng chục bài thơ hát nhà trò VănTrinh (văn bản Hán Nôm còn lại) của nhiều tác giả nổi tiếng nh: Nguyễn Th-ợng Hiền, Huấn Mơ, và nhiều tác giả khuyết danh đợc truyền diễn trong lễhội đền Văn Trinh đã đóng góp thêm t liệu quí vào kho tàng “thơ ca trù” của
Trang 30cả nớc Trong đó chúng ta cũng thấy tác giả Huấn Mơ để lại 10 bài thơ liênhoàn ca ngợi cảnh đẹp trên đất Văn Trinh nh 10 bức tranh hết sức sống
động.Trong đó có bài thơ Ngọc Sơn đề vịnh“ ” đã tả cảnh dinh thự củ ChiêuVăn đại vơng thời Trần bên núi Ngọc uy nghi hùng dũng:
“ Non non nớc nớc
Cảnh Văn Trinh non nớc hữu tình thay!
Mấy trăm năm là bấy nhiêu ngày Trần triều trớc còn đây non nớc biếc
Lý giang kiều chênh chênh bóng nguyệt Ngọc Lĩnh sơn chênh chếch rừng sao
Rờ rở cân đai hia hốt, xiêm bào Chan chan xe ngựa đi vào tấp nập Nào điện cát lâu đài cao chất ngất Nào ngựa voi, tầu thất trải dọc ngang Kìa bái Đồng Cơ trại lính giăng hàng
Nọ mã Đóng Dinh nhà quan san sát Lấp sông bạt chiến thuyền ngàn ngạt Chọc trời xanh giáo mác nhấp nhô”
Qua đây ta thấy tác giả đã chọn những giai điệu và điệp khúc đem đến
cho nhân dân vùng đất này một giá trị văn hóa tinh thần in đậm dấu ấn của
một vùng đất địa linh nhân kiệt“ ”- nơi mà Trần Nhật Duật chọn làm dinh thự,phủ đệ riêng cho mình
Nhìn chung, qua nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển cho thấy,Văn Trinh là một vùng đất đồng bằng của huyện Quảng Xơng, tỉnh ThanhHóa, tuy có những thuận lợi căn bản, nhng cũng chịu không ít khó khăn dothiên nhiên gây ra Cùng với sự hình thành và phát triển của vùng đất VănTrinh, cũng nh quá trình đấu tranh và chinh phục tự nhiên của ngời dân nơi
đây cùng chung lng đấu cật để xây dựng xóm làng vững mạnh, điều đó đã tạocho ngời dân nơi đây biết phát huy những giá trị lịch sử văn hóa vốn có để vơnlên trong cuộc sống, xớng đáng với tên tuổi của ngời anh hùng Trần NhậtDuật, sống và chiến đấu trên vùng đất này
Tất cả những điều đó là những thành tố hình thành, tạo nên những chiềusâu văn hóa và bề dày lịch sử của vùng đất này
Trang 31Chơng 2
đền thờ chiêu văn vơng trần nhật duật
2.1 Công cuộc khàng chiến chống quân Nguyên - Mông ở Thanh Hóa 2.1.1 Đôi nét về Trần Nhật Duật trong công cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông ở Thanh Hóa
Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, hiếm có thờinào giành đợc chiến công hiển hách nh thời Trần (1226 -1400), với 3 lầnkháng chiến chống quân Nguyên - Mông Dới triều nhà Trần, có một vị tớngvăn võ song toàn, đó là Trần Nhật Duật Ông là con trai thứ 6 của vua TrầnThánh Tông (ngời thời ấy thờng gọi là ông Hoàng Sáu hoặc Đệ lục hoàng tử).Theo sử sách, từ nhỏ ông đã nổi tiếng là ngời hiếu học và “sớm lộ thiên tri,ham thích hiểu biết về các tiếng nói và các giống ngời” Truyền rằng, khi mớisinh trên tay Trần Nhật Duật có 4 chữ “Chiêu Văn đồng tử”, sau vua Trần lấy
đó đặt vơng hiệu cho ông là Chiêu Văn
Trần Nhật Duật là ngời am hiểu biết rộng Ngoài việc thông thạo nhiềungoại ngữ, ông còn là ngời hiểu rộng phong tục tập quán các nớc láng giềng
Ông hiểu biết các thứ tiếng nh: Thái, Dao, Chàm…D và ông hay giao du vớingời nớc ngoài, nh Tống và Chiêm Thành Trần Nhật Duật chẳng những thànhthạo các ngôn ngữ ấy mà còn am hiểu nhiều mặt của các nớc đó, kể cả phongtục tập quán của họ “Nhật Duật từng hay cỡi voi đến chơi thôn Đa Da Ly -
ta gọi là thôn Bà Già, đất sáp nhập nớc ta và ngời Chăm vẫn còn ở, có khi ba,bốn ngày mới về”[37, tr.295] Ông cũng hay đến chơi chùa Tờng Vân và đàm
đạo về Phật pháp với nhà s ngời Tống Mỗi khi Trần Nhật Duật giao thiệp nóichuyện với sứ thần nhà Nguyên không cần thông ngôn, thờng tay cầm tay nóichuyện với nhau vui vẻ nh bạn thân vẫn quen biết Nhiều khi “sứ Nguyên lầmtởng ông là ngời Chân Định, nay thuộc tỉnh Trực Lệ, là nơi văn vật của TrungQuốc sang làm quen với An Nam”[37, tr.295] Đối với các dân tộc trong nớc,
ông không chỉ hiểu tiếng mà còn hiểu đợc tâm t nguyện vọng của họ TrầnNhật Duật là ngời thông minh tài trí khác thờng, 15 tuổi đã thông kinh sử
Trang 32sách, giỏi thao lợc, tài võ nghệ, thạo thơ phú, sành âm nhạc Ông rất giỏi tiếngnớc ngoài, tiếp sứ giả không cần phiên dịch.
Ngoài 20 tuổi, Trần Nhật Duật đã đợc nhà Trần giao đặc trách nhữngcông việc về các dân tộc có liên quan
Theo cuốn sách Khâm Định Việt sử Thông giám cơng mục: “Trần Nhật
Duật học qua ngũ kinh và ch sử, tinh thông lời huyền diệu của đạo gia, hiểubiết âm nhạc, đời bấy giờ khen là ngời có học thức rộng rãi lại hiểu biết tiếngcác nớc Mỗi khi giao thiệp với sứ thần nhà Nguyên, không cần dùng thôngngôn, thờng tay cầm tay nói chuyện với nhau, vui vẻ nh bạn quen biết Sứ nhàNguyên nói: Ông hẳn là ngời có chân định sang làm quan bên này?” [33,tr.272]
Trong công cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông diễn ra trên
miền đất Hoan - ái cũ, với vị trí là vùng đất phên dậu của đất nớc, khi phần
lớn đồng bằng Bắc Bộ bị chiếm thì triều đình nhà Trần lại dựa vào vùng Thanh
- Nghệ Tĩnh để củng cố lực lợng, sau đó tiến quân ra Thăng Long để củng cốlại vơng triều của mình
Chính điều này đã nói lên tầm quan trọng của hậu phong Thanh Hóa đốivới vơng triều nhà Trần trong công cuộc kháng chiến chống quân Nguyên -Mông xâm lợc Trong các triều đại phong kiến trớc đây còn xác định “ThanhHóa là một trấn quan trọng, nơi xung yếu” Hơn nữa nơi đây là một vùng đấtthiêng “sinh ra nhiều bậc vơng tớng, khí tinh hoa tụ hợp lại, nảy sinh nhiềubậc danh nho Bởi vì đất thiêng thì nảy ra nhiều bậc phi thờng, vợng khí chung
đúc nên xứng đáng đứng đầu cả nớc”, thời Lê là nơi “căn bản”, thời Nguyễn là
đất “bản triều” Với vị trí là tài lực đó, trong lịch sử Thanh Hóa đã là chỗ dựavững chắc cho ông cha ta tập trung lực lợng đánh giặc phơng Bắc và là điểmhậu cứ mở cõi về phơng Nam
Năm 1226, nhà Trần thay thế nhà Lý Lúc này trên thế giới nổi lên mộtthế lực rất nguy hiểm cho cả châu á và châu âu, đó là nạn xâm lợc, bành tr-ớng của đế quốc Mông Cổ - một đế quốc rộng lớn và bạo tàn bậc nhất thế giới
đơng thời Lãnh thổ của đế quốc này trải dài từ bờ biển Thái Bình Dơng ở phía
Đông đến bờ biển Hắc Hải ở phía Tây, bao gồm một loạt nớc bị thôn tính ở
Đông á, Trung á và đông âu Đến năm 1279, toàn bộ Trung Quốc bị xâm
l-ợc, sáp nhập vào đế quốc Nguyên - Mông và cơ sở bành trớng lúc này là cácquốc gia Đông á, nhất là Đông Nam á, trong đó có quốc gia Đại Việt
Trang 33Nhìn xa đợc vận nớc, trên cơ sở kế thừa và nâng cao những thành quả củavơng triều Lý trớc đó, triều Trần củng cố chế độ Trung ơng tập quyền và quốcgia thống nhất Về chính trị, nhà Trần xây dựng bộ máy từ Trung ơng xuống
địa phơng vững vàng, năng động, đa đất nớc vào thế thống nhất khi nhà Lý đãmất vai trò lịch sử ở Thanh Hóa nhà Trần đặt các chức An phủ, Trấn phủ, haiviên chánh phó để cai trị đặc biệt, vào năm 1234, vua Trần cử Trần Thủ Độ
là một nhà chính trị xuất sắc và cũng là ngời có công sáng lập và củng cố
v-ơng triều nhà Trần (1226 - 1400) giữ chức “Thống quốc thái s tri Thanh Hóaphủ sự” Về kinh tế, nhà Trần đã đề ra nhiều biện pháp cần thiết và có hiệuquả nh mở mang thủ công nghiệp, mạng lới thơng nghiệp và các hệ thống chợbúa, cảng sông, cảng biển đợc chú trọng Trên lĩnh vực nông nghiệp, nhà Trần
đã tổ chức làm thủy lợi trong phạm vi cả nớc, và qui định rất chặt chẽ về hệchế độ ruộng đất, từ ruộng đất thuộc sở hữu nhà nớc đến ruộng đất t nhân (baogồm cả thái ấp - đất điền trang phong cấp cho quý tộc, ruộng đất sở hữu của
địa chủ, tiểu nông t hữu )
Chính nhờ vào điều kiện thuận lợi nh vậy mà Trần Nhật Duật chọn vùngsông Lý núi Ngọc thuộc hơng Ngọc Sơn làm phủ đệ Hơng Ngọc Sơn là vùng
đất đợc bao bọc bởi 4 con sông: sông Lăng ở phía Bắc, sông Hoàng ở phíaTây, sông Yên (thợng lu sông Ghép) ở phía Nam và sông Lý ở phía Đông NúiNgọc Sơn nằm ở giữa Vị trí này núi không cao nhng dài tựa trờng thành.Dựng đồn canh ở trên đỉnh thì quan sát đợc đờng thợng đạo, hạ đạo và hải
đạo Từ núi Ngọc Sơn hớng về phía Nam lại có dãy núi Hiệp Thạch (núi Chẹt)
là một án ngữ rất quan trọng cho vơng triều nhà Trần trong công cuộc khángchiến chống quân Nguyên- Mông Vì vùng đất này có nhiều con sông baoquanh, quan trọng nhất là sông Lý, tuy không rộng nhng là tuyến huyết mạch
đờng thủy để ra Bắc vào Nam
Điều này cho thấy triều Trần đã có những bớc chuẩn bị cần thiết về địabàn cũng nh nhân tài vật lực của một hậu phơng và định ra hớng chiến lợc chomột cuộc kháng chiến chống lại kẻ thù thiện chiến và hung hãn nhất thời đó
đang ngày một đến gần
Trong vòng 30 năm (1258 - 1288), đế quốc Nguyên - Mông đã tiến hành
3 cuộc xâm lợc nớc Đại Việt bằng nhiều thủ đoạn Lần thứ nhất vào năm
1258, lần 2 vào năm 1285, lần 3 vào năm 1288, trong đó cuộc xâm lợc lần thứ
2 có quy mô lớn nhất và quyết liệt nhất
Trang 34Tháng 8 Âm lịch năm (1282), quân trấn thủ ở biên giới Lơng Uất ở LạngChâu, do thám tin tức dâng biểu báo về triều: bên Nguyên, Hữu thừa tớng Toa
Đô chuẩn bị 50 vạn quân tinh nhuệ và phao tin là đánh Chăm Pha, mợn đờngnớc ta và trên thực tế là đến xâm lăng nớc ta, vua Trần Nhân Tông đã bổ dụngtơng quốc Thái uý Chiêu Minh vơng Trần Quang Khải làm Thợng tớng Thái
s, rồi họp vơng hầu tôn thất bàn trăm quan ngàn kế sách chóng giữ tại BìnhThan “Mùa đông, tháng 10, vua ngự ra Bình Than đóng ở vũng Trần Xá, họpcác vơng hầu trăm quan, bàn về kế sách đánh giữ và chia đi đóng giữ nhữngnơi hiểm yếu”{24, tr.498}, trong trận chiến đấu này Thanh Hóa là một mặttrận rất quan trong nên vua Trần đã cữ những tớng tài về chốt chặn vùng biên
ải phía Nam này Vua Trần đã cử Thợng vị Trơng Hiến Hầu Trần Kiện đóngchặn đánh quân Nguyên - Mông do Toa Đô chỉ huy đánh từ phía Nam ra.Trong thời khắc lịch sử này, vua Trần Nhân Tông đã nói:
Cối Kê cựu sự quân tu kí
“
Hoan ái do tồn thập vạn binh”
(Cối Kê chuyện cũ ngời nên nhớHoan ái kia còn chục vạn quân) Năm giáp thân (1284), quân Nguyên - Mông đem 50 vạn binh giả thácmợn đờng đánh Chiêm Thành để bất ngờ xâm chiếm Đại Việt Chúng tiếnquân theo hai hớng: phía Bắc từ Trung Quốc tràn xuống, phía Nam từ ChiêmThành đánh ra Để đối phó với tình hình đó, vua Trần đã điều những tớng tàicanh giữ các vùng trọng yếu Sau khi Hng đạo vơng lĩnh chức tiết chế, TrầnNhật Duật đợc triều đình cử đi trấn giữ trại Thu Vật ở Tuyên Quang Cũngtrong năm này, khi Thoát Hoan dẫn một đại binh từ Quảng Tây (Trung Quốc)xâm nhập vào Lạng Sơn, thì một đạo quân khác do tớng Nạp Tốc Bạt Đinh từVân Nam tiến sang theo dòng sông Thao (thợng lu sông Hồng và sông Lô).Trần Nhật Duật chặn đánh không lại, phải lui binh về Bạch Hạc, tập hợp các
đoàn binh sĩ tại Tây Bắc và làm lễ tuyên thề hết lòng trung thành báo đền ơnvua nợ nớc “Quân Nguyên - Mông kéo tràn xuống, tuy phải lui mà trần NhậtDuật đặt phục binh chiến thắng ở Bình Lệ Nguyên, thuộc xã Tam Canh giápvới Vĩnh Yên, phúc Yên và ở Cự Đà gần núi Thắm và Quảng Nạp trên quốc lộ
số 2 ngày nay” [37, tr.296]
Trong tình thế giặc cậy thế đông tràn tới, quân Trần Nhật Duật ít nênphải rút lui để bảo toàn lực lợng Nghe tin Tuyên Quang thất thủ, Chiêu quốc
Trang 35vơng Trần ích Tắc tâu vua cha:” Thần không nói sai, giao Tuyên Quang choTrần Nhật Duật, tất Nhật Duật gọi giặc sang, cho nên Tuyên Quang mới thấtthủ nhanh đến thế” nên Thánh Tông bảo ích Tắc: “Chiêu quốc cơ sao hẹp lợngthế? Chiêu Văn mà biết chuyện này thì anh em còn ra gì nữa”[30, tr 38-39].Nhận đợc tin quân Toa Đô đánh Chiêm Thành rồi vợt biển tiến đánh Đại Việt,Hng đạo Vơng tâu xin điều Nhật Duật vào Nhệ An cùng Quốc Khang chốnggiữ mặt Nam.
Trần Nhật Duật lập tức rời Tuyên Quang hành quân suốt ngày đêm về
đến Vĩnh Doanh thì quân Toa Đô đã tiến vào cửa Hà Hoa ( Kỳ Anh - HàTĩnh) Do hành quân dài ngày từ Bắc vào quá mệt mởi không thể làm gì đợc,
đành rút về trấn giữ Thanh Hóa
Quân Toa Đô sau khi chiếm đóng đợc Nghệ An đã thực hiện một cuộchành quân chiếm đánh Thanh Hóa, nhng binh thuyền không dám đi thẳng vàoThủy đạo Kênh Than (tức kênh nhà Lê), sợ quân Trần chặn đờng phục kích,
và theo hải đạo Cổ Khê (Quảng Vinh, Quảng Xơng ngày nay) Đại toát LêMạnh đem hơng binh phục kích một trận, quân Nguyên - Mông phải rút chạt
ra biển Lúc này Hng Đạo Vơng đủ kịp thời tăng cờng cho Thanh Hóa, quyếtgiữ vững Thanh Hóa; các chiến tớng vơng hầu kiệt xuất thời bấy giờ đợc điều
động vào Thanh Hóa nh: Thợng tớng thái s Trần Quang Khải, Văn túc vơngTrần Đạo Tái, Tá Thiên vơng Trần Quốc Việt, Chiêu Hiếu vơng Trần Học, Tr-
ơng Hiếu hầu Trần Kiện, trấn giữ các huyện miền biển và vùng lân cận (nay
là Hoằng Hóa, Đông Sơn, Hậu Lộc, Nga Sơn, Hà Trung, Vĩnh Lộc ) TĩnhQuốc Đại vơng Trần Quốc Khang thất thủ Nghệ An, lui giữ vùng đất giápranh khe Nớc Lạnh đến sông Lạch Bạng (nay thuộc huyện Tĩnh Gia) ChiêuVăn vơng Trần Nhật Duật phòng thủ các hơng Yên Duyên, Ngọc Sơn (naythuộc huyện Quảng Xơng)
Quân Toa Đô bị hơng binh Yên Duyên đánh bật ra biển, nhng tớng Giảo
Kỳ và tiền quân đã lọt vào Lễ Môn, đánh phá vùng Đông Sơn, Hoằng Hóa
Đội quân Toa Đô từ biển tìm đờng vào đánh phá vùng phía Đông Bắc ThanhHóa để phối hợp với Giảo Kỳ tạo thành gọng kìm hòng kẹp nát quân Trần Tr-
ớc khí thế tiến công mạnh nh vũ bão của quân Nguyên - Mông nên khiến têntớng nhát gan Trơng Hiếu hầu Trần Kiện đem cả nhà và một vạn quân bộ đầuhàng địch Nhờ Trần Kiện mách nớc chỉ đờng nên quân Giảo Kỳ biết đợc
Trang 36điểm yếu của quân ta nên đánh phá càng dữ dội Thanh Hóa trở thành bãichiến trờng ác liệt.
Giảo Kỳ muốn đánh phủ Ngọc Sơn, vơng phủ của Trần Nhật Duật, nhngmới đến Bố Vệ thì Giảo Kỳ vấp phải cánh quân phòng thủ của triều đình Đôibên giáp chiến: quân Nguyên ào ào xông lên nh nớc vỡ bờ, trong tình thế nàyquân Trần anh dũng chống giữ Trong trận quyết chiến này, có hai tớng nhàTrần là: Đinh Sa, Nguyễn Tất Thống hy sinh tại trận Phía quân Nguyên xácchết đầy sông nhng Giảo Kỳ cũng không thể tìm một con đờng để tiến vàoNgọc Sơn - Văn Trinh Với một con ngời văn võ song toàn, Trần Nhật Duậtchỉ huy một đội quân thiện chiến cản đánh quân Toa Đô ở tả ngạn sông Ghép
và phía Đông Nam Văn Trinh diễn ra ra ác liệt Tinh thần quyết chiến của
quân dân Đại Việt đã nhanh chóng đến Thanh Hóa với khẩu hiệu Nếu có“
giặc ngoài vào phải liều chết mà đánh ” Tại núi Ngọc Sơn - Văn Trinh, TrầnNhật Duật dựa vào địa hình bốn phía sông ngòi bao bọc, núi Trờng, núi Ngọc
nh những thiên trấn ải, và đặc biệt hàng vạn nông nô đợc giải phóng cũng nhtinh thần quyết chiến xả thân vì đất nớc Đại Việt của quân dân vùng VănTrinh nói riêng và cả nớc nói chung, nên đã kết thành một phòng tuyến bấtkhả xâm phạm Cùng với sự chỉ huy của vị tớng trẻ tài ba Trần Nhật Duật đãtạo nên một khí thế chiến đấu rất anh dũng và kiên cờng Chính nhờ vào sựchỉ đạo một cách chặt chẽ của vị tớng tài này, nên nhân dân vùng Ngọc Sơn -Văn Trinh đã kết nên một khối thống nhất cùng với nhân dân Đại Việt lập nênnhững chiến công hiển hách trớc kẻ thù đi xâm lợc Với tinh thần vì nghĩa lớncủa ngời dân vùng đất Văn Trinh đã nhanh chóng tập trung dân binh, lơngthảo, tạo hậu cứ vững mạnh cho cuộc kháng chiến Tại hơng Yên Duyên (xãQuảng Hùng, Quảng Xơng), với sự chỉ huy của Đại toát Lê Mạnh đã tổ chứclực lợng tại chỗ sẵn sàng chờ địch
Văn bia chùa Hng phúc tự bi còn ghi rõ: khoảng năm Thiệu Bảo (1276-“
1285), quân giặc tiến xuống phía Nam Hữu tớng giặc là quân Toa Đô chỉnh
đốn quân ngũ tiến theo đờng biển Quân giặc đi tắt đờng Cổ Khê dẫn vào
h-ơng Yên Duyên ông Lê Công, tức Lê Mạnh đốc xuất mọi ngời trong hh-ơng ra phòng ngự ở bến Cổ Bút đánh nhau với quân giặc Địch bị đánh hầu nh không còn đờng rút chạy Ngặt vì trong hơng có kẻ gian giảo đầu hàng giặc, nhân đó dẫn đờng cho giặc nên tất cả nhà cửa, của cải đều bị đốt phá, cớp bóc Bởi thế công việc không thành Kịp khi quân giặc rút lui, nhà vua xuống chiếu bắt kẻ phản bội trị tội, bắt bồi thờng của cải trong hơng cho ông, để làm
Trang 37điều khuyến khích cho những ngời trung thành và chăm chỉ đánh giặc Thực
là nhờ công của ông vậy” [4, tr.138]
Đáp lời kêu gọi của vua Trần, dân binh hơng Yên Duyên và khắp nơitrong tỉnh Thanh Hóa đã sẵn sàng đánh địch khi chúng xâm phạm quê hơng
và dốc lòng, dốc sức chi viện cho cuộc kháng chiến Hơng Yên Duyên đứng
đầu là đại toát Lê Mạnh (ngời đợc khắc bia ở chùa Hng Phúc) mãi mãi là tấmgơng sáng chứng minh quyết tâm bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Thanh Hóa Trong cuộc chiến tranh này, quân Nguyên - Mông muốn thực hiện cuộcxâm lợc nớc Đại Việt thật nhanh và thần tốc, nhng với những tớng lĩnh củanhà Trần có rất nhiều ngời xuất chúng, vì vậy âm mu đánh nhanh thắng nhanhcủa chúng đã thất bại Tơng quan lực lợng giữa ta và địch quá chênh lệch nêncách đánh lâu dài là thuận lợi cho ta Khi quân Toa Đô tiến ra Thanh Hóakhông những gặp sự kháng cự và đánh trả quyết liệt của các đội dân binh màchúng còn vấp phải tinh thần chiến đấu kiên cờng của quân đội nhà Trần bốtrí ở Thanh Hóa
Sau một loạt trận chiến đấu cầm chân giặc ở phía Bắc, đợc tin quân Toa
Đô từ phía Nam kéo ra, vua Trần lập tức cử thêm Trần Nhật Duật đem quântăng cờng cho mặt trận phía Nam: “vua Trần sai em là Trần Nhật Duật và v-
ơng hầu Trịnh Đình Toản chống giữ giặc ở Nghệ An vào tháng Giêng âmlịch” [4, tr.139]
Để đối phó với mặt trận phía Nam Thanh Hóa, tăng cờng lực lợng choTrần Nhật Duật và sau khi quân Toa Đô đã tràn qua kênh Bố Vệ, Trần QuangKhải đã quyết định lập tuyến phòng thủ ở Phú Tân để cản giặc Vì Phú Tân làmột điểm trọng yếu ở khu vực sông Nga từ ngã ba Lèn đến cửa Bạch Câu ở
đây có địa thế tự nhiên rất thuận lợi cho việc xây dựng cơ sở phòng thủ chống
giặc Theo Đại Nam nhất thống chí : “sông Nga là phân lu của sông Mã Hai
bờ sông đều là núi, qua bến Đại Lý (Lèn) thì có vũng Chiếu Bạch chảy vào,chuyển sang phía Đông, bên tả có huyện Nga Sơn, bên hữu có huyện HậuLộc, nớc chảy vòng quanh ven núi rồi đổ ra cửa biển Bạch Câu” [34, tr.267].Khu vực Phú Tân (xã Hà Toại, huyện Hà Trung; xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn,xã Quang Lộc, Liên Lộc, Hậu Lộc ngày nay) Sông Nga đến khu vực Hà Toại,Quang Lộc tạo thành vụng nớc sâu, nhân dân trong vùng gọi là Vụng Khế
Đứng trên núi Vân Hoàn của Nga Lĩnh hoặc núi Bạch Đầu của Quang Lộc cóthể quan sát đợc bốn phía
Trang 38Với sự hèn nhát của một kẻ bán nớc đầu hàng giặc, năm ngày sau, TrầnKiện lại dẫn đờng cho quân Nguyên tấn công điểm phòng thủ của các tớnglĩnh nhà Trần ở Phú Tân Quân Nguyên chia làm hai đạo Thủy bộ tiến đánh.
Đạo quân bộ đi theo đờng từ Văn Lộc (Duy Tinh, phủ lị Thanh Hóa) qua PhúLộc chặn đờng rút của quân triều đình ra cửa Lạch Sung (cửa Bạch Câu) Đạoquân thủy theo sông Trà Giang gặp sông Nga ở địa phận xã Phong Lộc,Quang Lộc tạo thành hai gọng kìm ép đánh quân triều đình Đây là một trận
đánh ác liệt, cả hai bên đều tổn thất nặng nề Quân của Chiêu Minh Vơng bịthua, Đại Liêu Hộ hy sinh “Tả thừa Đờng - Ngột - Đãi (tanguđai) đánh bạiquân của Chiêu Minh vơng” [4, tr.142]
Sau khi chọc thủng tuyến phòng ngự Phú Tân, đại quân Toa Đô kéo quân
ra Trờng Yên Để tránh mũi nhọn của giặc, bảo toàn lực lợng, vua tôi nhà Trầnquyết định chọn Thanh Hóa làm căn cứ chiến lợc, rút về đây để củng cố lực l-
ợng và chuẩn bị phản công Sách Đại Việt sử kí toàn th chép: “tháng 3, ngày
giáp tuất mồng 1, hai vua bỏ thuyền đi bộ đến xã Thủy Chú, lấy thuyền rasông Nam Triệu (tức huyện Thủy Đờng), qua biển Đại Bàng vào ThanhHóa”[26, tr.507 - 508] Quân Nguyên - Mông hoàn toàn bất ngờ trớc sự chuẩn
bị mọi điều kiện càn thiết để rút lui của vua Trần, chúng lập tức điều quân vàoThanh Hóa quyết tiêu diệt triều đình, bộ não của cuộc kháng chiến ThoátHoan ra lệnh cho quân Toa Đô từ Yên Trờng vòng lại tấn công Thanh Hóa
Để giúp Toa Đô lùng bắt vua Trần, Ô Mã Nhi đợc lệnh “đem 1.300 quân và
60 chiến thuyền vào phối hợp”[4, tr.142]
Cuộc rút lui vào Thanh Hóa của vua Trần là một kì tích có một không hainhng cũng đầy gian nan và vất vả Vào Thanh Hóa, toàn bộ lực lợng quân độitriều đình đã lan toả khắp các vùng Hà Trung, Thạch Thành, Nga Sơn, nơi có
địa thế hiểm yếu, thuận lợi cho việc tập trung, cất giấu lơng thực tiến ra Bắcbằng hai đờng thủy, bộ
Vua tôi nhà Trần đợc rừng núi Thanh Hóa che chở, bảo vệ, nuôi dỡng.Toa Đô đã không đạt đợc mục đích tìm tông tích vua Trần Nhân dân ThanhHóa, đất đai Thanh Hóa là một bức tờng thành vững chắc làm thất bại âm muvây bắt vua Trần của quân Nguyên - Mông Sau hơn một tháng giấu quân vàchuẩn bị, tháng 5 năm 1285, từ Thanh Hóa Hng Đạo vơng Trần Quốc Tuấntiến quân ra Bắc cùng với đạo quân khác làm nên những chiến công vang dội
Trang 39ở Hàm Tử, Chơng Dơng, Tây Kết, quét sạch quân xâm lợc Nguyên - Mông rakhỏi bờ cõi
Cho đến ngày nay, khi nghe những câu chuyện kể truyền thuyết vềnhững ngày tháng vua Trần và quân đội nhà Trần rút quân về Thanh Hóa đợcngời dân Thanh Hóa đùm bọc, che chở thật đậm đà sâu sắc Đó là khi vuaTrần đến làng Thổ Khối, trời đã tối, Hng Đạo vơng cõng vua Trần lên khỏithuyền đợc nghỉ ở gốc cây và đợc ngời dân nấu cơm bắt cá dới sông nớc chovua ăn Ngày nay ở đền thờ Trần Hng đạo (làng Thổ Khối) có tục lệ cúng thầnthờng có một nồi cơm nhỏ và một con cá nớng để nhớ lại những ngày cam gogian khổ thời chiến của Hng Đạo vơng và vua Trần
Có thể nói, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứhai của dân tộc ta, vùng đất Thanh Hóa không chỉ là chiến trờng ác liệt màcòn là hậu phơng cung cấp nhân tài vật lực cho kháng chiến, mà có lúc làtrung tâm đầu não bộ chỉ huy của vua Trần Trong cuộc kháng chiến này córất nhiều tấm gơng anh dũng chiến đấu ngoan cờng chống quân Nguyên -Mông xâm lợc của nhân dân Thanh Hóa còn lu truyền đến nay, đó là Chu VănLơng, Đại toát Lê Mạnh, Mai Phúc Trờng, Trong đó có Phạm Sỹ đợc PhạmNgũ Tiến cử với Trần Hng Đạo và đợc làm tớng có nhiều thành tích đánh giặc,
đợc phong thái ấp ở Trân Xá (Bắc Ninh), Trịnh Linh (Làng Yên Nội - NgaThiện, Nga Sơn) có công mộ dân binh dẫn đờng cho vua Trần đánh giặc, vàcòn nhiều tấm gơng hy sinh vì sự nghiệp vĩ đại này đã đợc nhân dân các xã ởHoằng Hóa, Nga Sơn, Hậu Lộc tôn làm thành hoàng làng
Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba năm 1288, Thanh Hóalại tiếp tục đóng vai trò là một hậu phơng từ xa cung cấp nhân tài, vật lực chochiến trờng Đông Bắc đất nớc Thanh Hóa không những vào thời Trần (1226 -1400) tỏ rõ vai trò là vùng đất có vị trí địa chính trị có tính chiến lợc đối với
công cuộc giữ nớc của nhân dân ta, và xứng đáng với vùng đất địa linh nhân
Trang 40kháng chiến chống quân Nguyên - Mông mà đây còn là vùng đất phên dậu
phía Nam của quốc gia Đại Việt.
Đợc giao trấn trị Thanh Hóa, Trần Thủ Độ là một bậc quan của nhà Trầnkhông chỉ xét duyệt sổ đinh mà còn còn trực tiếp mở mang cho Thanh Hóa,chứng tỏ đất và ngời Thanh Hóa có vị trí trọng yếu với nhà Trần trong buổi
đầu dựng nghiệp
Khi nhà Trần thay thế nhà Lý lên nắm quyền đã đẩy mạnh phát triểnkinh tế, tăng cờng tiềm lực quốc phòng, nâng cao dân trí và đề cao tinh thầnthợng võ cho nhân dân Nhà Trần luôn coi trọng sức dân và lấy dân làm nềntảng trong công cuộc kháng chiến chống quân Nguyên cũng nh trong xâydựng và củng cố đất nớc
Dới thời nhà Trần, trong phạm vi rộng lớn cả nớc và uy quyền chuyênchế của nhà vua đã trở thành quan niệm “Đất vua, chùa Bụt” hay “Đất củavua, chùa của làng”[35, tr.69], một quan niệm đã xác nhận sự tồn tại của tựnhiên: chế độ sở hữu ruộng đất của Nhà nớc là phổ biến “Hai hình thức sởhữu đó diễn biến và phát triển theo những con đờng khác nhau Công cuộckhai hoang do cả t nhân và Nhà nớc đều tiến hành đã giữ một vai trò quantrọng” [35, tr.64] Trong thời Lý nhà nớc đã phân ra những thứ hạng ruộng nh:ruông sơn lăng, ruộng tịch điền, ruộng quốc khố và đồn điền, thì ở thời Trầnchế độ sở hữu nhà nớc đối với ruộng đất này còn nhiều hạn chế” [35, tr.88]
Từ năm 1236, Nhà nớc “định lệ cấp bổng lộc cho quan văn võ trong ngoài”nhng “quy chế không khảo đợc”, “có lẽ lấy thuế công định làm lệ thờng”[35,tr.94] Theo một số gia phả của các dòng họ cuối thời Trần, nhà nớc Trung -
ơng thực hiện chính sách ban cấp ruộng lộc cho các quan lại, song có lẽ vẫncha phổ biến Nh gia phả dòng họ Hồ, trạng nguyên Hồ Tông Thốc vẫn còn lulại cho đời sau hàng trăm mẫu ruộng lộc Trong việc phân phong thực ấp củavơng triều nhà Trần không thấy lịch sử ghi lại và chỉ trong nguồn sử t nhân,
nh thần tích hay gia phả chúng ta mới “bắt gặp” thực ấp thi hành trong thờiTrần Chẳng hạn theo thần tích làng Bởi (ngoại thành Hà Nội), vị hoàng tử thứbảy con vua Trần Nhân Tông do có công đánh giặc Nguyên - Mông mà đợcban vùng Tây Hồ làm thực ấp [35, tr.69]
ở thời Trần, bên cạnh chủ trơng phong thởng bằng ruộng đất, nhà nớcthực hiện chính sách ban thởng cấp “thang mộc ấp” [35, tr.101] Chính “thangmộc ấp” là đất đai của nhà vua ban cho ch hầu để lấy thu nhập chi phí vào