Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi với t cách là nhà giáo muốn tìm tòi,nghiên cứu về việc dạy và học từ Tiếng Việt nói chung, đặc biệt là nghiên cứu việcdạy và học từ láy qua phân
Trang 1Chơng II – Tà láy và vấn đề dạy từ láy qua phân môn tập làm văn trong
chơng trình và SGK tiếng việt tiểu học hiện nay 27
2.2 Quy trình dạy từ láy qua phân môn tập làm văn trong chơng trình
2.3 Một số nhận xét và đánh giá về quy trình dạy học từ láy qua phân
Chơng III- Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lợng dạy học
từ láy qua phân môn tập làm văn ở trờng Tiểu học 45.3.1 Tác dụng của từ láy khi làm bài tập làm văn đối với học sinh Tiểu học 453.2 Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lợng dạy học từ láy qua
3.3 Đề xuất quy trình dạy từ láy qua phân môn tập làm văn ở Tiểu học 59
Trang 2Lời nói đầu
Đề tài "Dạy từ láy qua phân môn tập làm văn ở tiểu học" đợc thực hiện trongmột thời gian ngắn, gặp không ít khó khăn Trong quá trình nghiên cứu chúng tôinhận đợc, cùng với sự giúp đỡ tận tình chu đáo khoa học của cô giáo Bùi Thị ThuThuỷ và của các thầy giáo, cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học Tuy nhiên, vì nănglực và thời gian có hạn, chắc chắn trong luận văn này còn nhiều hạn chế Mong thầycô và các bạn chân thành góp ý
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Bùi Thị ThuThuỷ, các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học
Tác giả
Trang 3mở đầu
I lý do chọn đề tài:
Hiện nay đất nớc ta đang trong thời kì đổi mới và phát triển về mọi mặt Sựphát triển về kinh tế - xã hội cũng nh văn hoá đang đặt ra yêu cầu ngày càng bức thiếtcho giáo dục Giáo dục ngày càng đóng vai trò to lớn và quan trọng hơn trong việc bồidỡng đạo đức, trang bị kiến thức cho học sinh, trong đó giáo dục tiểu học là cơ sở ban
đầu hết sức quan trọng, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện nhân cách con ngời,
đặt nền tảng cho giáo dục phổ thông và cho hệ thống giáo dục quốc dân
Vì vậy, giáo dục tiểu học đã và đang là mối quan tâm lớn của toàn xã hội,
điều đó đợc thể hiện ở Luật giáo dục tiểu học, nó khẳng định rằng cần bảo đảm đểtoàn thể trẻ em đến 12 tuổi phải hoàn thành xong bậc Tiểu học Đó không chỉ là biểuhiện của việc thực hiện quyền dân chủ cao nhất đối với trẻ mà còn là yêu cầu của việcphát triển kinh tế - văn hoá- xã hội ở nớc ta trong thời kì đổi mới
Bởi vì, trẻ em ở lứa tuổi tiểu học hồn nhiên, đang phát triển, đang hình thành
về trí tụê, nhân cách Cho nên, việc đa nội dung chơng trình vào dạy cho trẻ nh thếnào cho phù hợp, sử dụng phơng pháp dạy học nào để phát triển t duy, trí tuệ hìnhthành nhân cách cho các em là việc làm rất cần thiết
Mặt khác, ngôn ngữ là công cụ của nhận thức, công cụ để t duy; là phơng tiệngiao tiếp quan trọng nhất của con ngời Một ngôn ngữ bao gồm ba bình diện: Ngữ âm
- từ vựng - ngữ pháp Trong đó từ là quan trọng nhất Vì nó là vật liệu cần thiết để tạonên câu, từ câu mới tạo thành văn bản Từ là vật liệu trực tiếp tạo ý - tạo lời - tạo câu.Trong từ tiếng việt thì từ láy là hiện tợng phức tạp và lý thú, đợc sử dụng nhiều trongvăn miêu tả, kể chuyện Việc khai thác giá trị tu từ về ngữ âm và ngữ nghĩa trong từláy nhằm tăng cờng khả năng biểu đạt của từ láy Việc sử dụng từ láy nh thế nào tronggiao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong giảng dạy ở một số trờng trung học để có hiệuquả cao đang ngày một trở nên có tính bức thiết Về phơng diện dạy và học từ láytrong các phân môn nhất là đối với phân môn tập làm văn là bộ phận rất cần thiết nh -
ng lại rất khó, chẳng những đối với học sinh mà còn đối với cả thầy cô giáo
Học về từ láy, giúp các em hiểu và cảm thụ đợc cái hay, cái đẹp, cái sâu sắc
và tinh tế của ngôn ngữ tiếng việt, của tác phẩm văn chơng Mặt khác, các em còn có
Trang 4thể sử dụng từ láy trong giao tiếp hàng ngày, trong các bài tập làm văn, để diễn đạt ýnghĩ của mình một cách tinh tế, sâu sắc Việc các em hiểu đợc cách cấu tạo, ý nghĩacủa từ láy sẽ tạo cho các em có một vốn từ láy phong phú, sinh động, có thể sử dụngvào các bài tập làm văn của mình một cách linh hoạt, sáng tạo, làm tăng thêm tínhsinh động, gợi hình cho bài tập làm văn
Trong thực tế việc dạy và học từ láy ở tiểu học đang gặp nhiều khó khăn, việctiếp thu kiến thức và sử dụng từ láy của các em học sinh tiểu học còn rất kém Hầu hếtcác em không nắm vững đợc cách cấu tạo từ láy, cách sử dụng từ láy
Chẳng hạn, trong giờ tập đọc, khi yêu cầu học sinh đặt câu với các từ " rungrinh, lóng lánh" thì các em đặt câu: " cặp mắt bạn em cứ lóng lánh", " trong lòng em
cứ rung rinh"
Đặc biệt là đối với phân môn tập làm văn, các giáo viên thờng không chú ýnhiều đến việc cung cấp vốn từ láy cho các em Ví dụ: ở tiết tập làm văn miêu tả,giáo viên cha rèn luyện kĩ năng sử dụng từ ngữ có sắc thái gợi cảm, miêu tả, âmthanh, hình ảnh của sự vật hiện tợng vào làm bài văn của mình nên hầu hết các em ch-
a biết vận dụng vốn từ láy để làm bài Trong giờ tập làm văn các em còn mắc nhiềulỗi trong cách sử dụng các từ ngữ để diễn đạt nh:" cô giáo em có dáng ngời lớt thớt", "làn da đen đủi ", " dáng mẹ em đi dịu dàng ", " những ngôi nhà mới lợp lóng la lónglánh màu ngói vàng"
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi với t cách là nhà giáo muốn tìm tòi,nghiên cứu về việc dạy và học từ Tiếng Việt nói chung, đặc biệt là nghiên cứu việcdạy và học từ láy qua phân môn tập làm văn nói riêng, nhằm góp phần vào việc đổimới phơng pháp dạy và học từ láy, cũng nh giải quyết những khó khăn của giáo viên
và học sinh tiểu học hiện nay Chính vì thế, tôi chọn đề tài:" dạy từ láy qua phân môn tập làm văn ở tiểu học" làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp
II - Lịch sử vấn đề:
Vấn đề dạy từ láy ở tiểu học không phải là một vấn đề hoàn toàn mới Nó đã
đợc đề cập đến ở một số giáo trình và các bài báo trên tạp chí chuyên ngành, nhng đốivới vấn đề dạy học từ láy qua phân môn tập làm văn cha đợc nghiên cứu nhiều
Điểm qua một số công trình nghiên cứu về từ láy tiếng việt ta thấy :
1) Tác giả Lê Phơng Nga là ngời quan tâm đến vấn đề dạy từ láy ở tiểu học Trong bài viết: "về các khái niệm từ đơn, từ ghép, từ láy ở tiểu học "[23].Tác giả
Trang 5đã đề cập đến việc đa ra một tiêu chí cụ thể về từ láy cho giáo viên và học sinh tiểuhọc Tác giả cho rằng phân môn từ ngữ và phân môn ngữ pháp đều có nhiệm vụ dạy
về cấu tạo từ, nhng mỗi phân môn có mục đích riêng Mục đích của phân môn ngữpháp là làm sáng tỏ cấu trúc từ, còn phân môn từ ngữ phải làm nổi bật đ ợc giá trị ngữnghĩa của mỗi từ Đối với từ láy đó là giá trị gợi cảm, sự tăng nghĩa, giảm nghĩa vàkhả năng biểu trng của một số khuôn vần tiêu biểu
Nh vậy, qua bài viết này tác giả đã đề cập đến vấn đề dạy từ đơn, từ ghép, từláy ở tiểu học, về khái niệm của các loại từ đó ở phân môn từ ngữ và ngữ pháp
Trong một bài viết khác về vấn đề :" Dạy bài nghĩa từ láy ở lớp 5 " [24] Tácgiả đã chỉ ra chỗ không chính xác trong sách giáo khoa tiếng việt lớp 5 - tập 1.Điều
đó đã gây cho học sinh tiểu học ngộ nhận rằng, từ láy chỉ có hai kiểu nghĩa : giảm nhẹhay mạnh hơn so với nghĩa của từ gốc Do đó học sinh tiểu học khi gặp một từ láy nàothì các em đều gò ép xếp cho đợc vào một trong hai ô tăng nghĩa hoặc giảm nghĩa sovới nghĩa của từ gốc
Trong cuốn "Phơng pháp dạy học tiếng việt ở tiểu học " tác giả đã chỉ ra trongphần "dạy nghĩa của từ láy ở tiểu học" [1]
Từ láy là từ đặc sắc của tiếng việt, đợc sử dụng nhiều trong ngôn ngữ văn
ch-ơng Trong chơng trình tiếng việt ở tiểu học từ láy rất đợc coi trọng Nhng ở đâu, giáoviên và học sinh tiểu học cũng gặp nhiều khó khăn nh đối với vấn đề nghĩa của từ láy.Cả thầy và trò rất lúng túng với những câu hỏi nh : bồng bềnh, tha thớt, mềm mại có ýnghĩa tăng hay giảm (bài tập 1 và 2 phần luyện tập bài "Nghĩa của từ láy" - tiếng việtlớp 5 tập 1- NXBGD-1997, trang 293)
"ào ào” là từ tợng hình hay tợng thanh, ''văng vẳng", '' rành rọt", " trầm trầm"
có phải là từ tợng thanh không ? ( bài tập "từ tợng thanh" TV5 – T1- tr 93)
Học sinh không nắm nghĩa của từ láy cụ thể nên không hiểu bài tập và tạo rarất nhiều lỗi khó dùng từ láy nh: Cô giáo của em có cặp mắt óng ánh, tà áo dài của côlớt thớt, bạn Hùng chạy bon bon, con trâu cày nhanh nhẩu, bài toán dễ dãi Tác giảcho rằng, nguyên nhân của tình trạng trên là ở phía giáo viên: Sự thiếu hụt về kiếnthức và phơng pháp giảng dạy các kiểu nghĩa của từ láy, từ tợng thanh, tợng hình, do
sự bất cập của chơng trình đào tạo giáo viên tiểu học Đồng thời cũng có thể thấynguyên nhân ở chính sách giáo khoa, sự trình bày không rõ ràng và có những chỗ
Trang 6thiếu chính xác Giải quyết triệt để vấn đề dạy nghĩa của từ láy ở tiểu học là mục đích
đặt ra cho một đề tài có qui mô lớn
2) Tác giả Hà Quang Năng (25), trên cơ sở những kết quả khảo sát và
thống kê đợc cả những bài thi học kì và phiếu kiểm tra khả năng hiểu biết của học sinh ở một số trờng tiểu học ở Hà Nội về từ láy, đã đa ra một số nhận xét sau đây:
(1) Hiện trạng nắm vững, hiểu rõ và sử dụng từ láy nói riêng từ ngữ nóichung ở học sinh tiểu học là đáng lo ngại Sự bất cập trong khả năng hiểu và sử dụng
từ ngữ của học sinh tiểu học hiện nay là những cản trở lớn cho các em trong việc học
từ ngữ ở các lớp trên
(2) Những tri thức về cấu tạo từ tiếng việt và quan hệ giữa chúng với nghĩacủa từ Những hiểu biết về nghĩa của từ tiếng việt là cơ sở khoa học chủ yếu để biênsoạn và giảng dạy từ ngữ trong chơng trình tiếng việt ở bậc tiểu học nói riêng và trongnhà trờng nói chung Việc cung cấp những tri thức này trong sách giáo khoa hiện naycha hoàn chỉnh, đôi khi còn sơ lợc, tuỳ tiện và không chính xác, cùng với sự chắp váhẫng hụt về trình độ hiểu biết của giáo viên về môn tiếng việt hiện nay cũng là nhân
tố ảnh hởng đến chất lợng học tập của học sinh
(3) Chất lợng sách giáo khoa cha cao, thiếu nhất quán và không khoa học,
điều đó cũng ảnh hởng đến chất lợng học tập của học sinh, thể hiện ở chỗ:
a) Cách phân loại từ láy:
* Sách tiếng việt 4, tuy không nói rõ ra là phân loại, nhng qua bài học chúng
ta thấy có ba loại:
- Các tiếng trong 1 từ láy giống nhau ở một bộ phận (ren rét)
- Các tiếng trong 1 từ láy giống nhau ở 2 bộ phận (lành lạnh)
- Các tiếng trong 1 từ láy giống nhau hoàn toàn (se sẻ)
* Lớp 5 từ láy đợc láy lại toàn bộ ở tiếng sau: Ngời ngời, xinh xinh
- Láy âm: Bộ phận phụ âm đầu của tiếng trớc đợc láy lại ở bộ phận phụ âm
đầu của tiếng sau: Khó khăn, cun cút, đỡ đần
- Láy vần: Bộ phận vần của tiếng trớc đợc láy lại ở bộ phận vần của tiếng sau:bồn chồn, bân bẩn
Ngoài 3 kiểu trên còn có phần ghi chú: "nhiều khi ta cũng thờng gặp những từláy cả âm cả vần: Ngoan ngoãn, dửng dng"
Trang 7Đối chiếu 2 cách phân loại trên, ta thấy có một loại đợc phân giống nhau làloại "láy tiếng" ở sách lớp 5 tơng ứng với loại "giống nhau hoàn toàn" ở sách lớp 4.Các loại còn lại thì đợc phân khác nhau cả hai loại: láy âm (lớp 5), láy vần (lớp 5) chỉtơng ứng với 1 loại "giống nhau ở một bộ phận" (lớp 4) Riêng loại "Giống nhau ở hai
bộ phận" (lớp 4) thì không có loại tơng ứng ở sách lớp 5 mà chỉ tơng ứng với mục ghinhớ mà thôi
b) Cách phân tích giá trị ngữ nghĩa của từ láy trong sách tiếng việt cũng bộc lộ sự không nhất quán Cách nêu ví dụ ở lớp 5 dễ làm cho học sinh hiểu rằng: Hễ là từ láy hoàn toàn (xanh xanh, tim tím, xa xa, nhè nhẹ, đèm đẹp) là có
nghĩa giảm nhẹ và cứ láy âm đầu (ồn ào, bực bội) thì có nghĩa mạnh thêm so với tiếnggốc
Những biểu hiện thiếu nhất quán trên dễ gây nhiễu trong quá trình học tiếngviệt của học sinh, khiến các em hoang mang, mất lòng tin vào kiến thức mà sách giáokhoa truyền thụ
Bên cạnh sự thiếu nhất quán, kiến thức về từ láy trong sách giáo khoa tiếngviệt còn một số sai sót nh :
- Các từ "ren rét", " cun cút " đợc sách tiếng việt lớp 4, 5 xếp vào loại láy bộphận ( láy âm đầu)
- Khi ôn tập các kiểu từ láy, sách tiếng việt lớp 5 viết :
+ Láy tiếng: Tiếng trớc đợc lặp lại toàn bộ ở tiếng sau
+ Láy âm: bộ phận phụ âm đầu của tiếng trớc đợc láy lại ở bộ phận phụ âm
đầu của tiếng sau
+ Láy vần: bộ phận vần của tiếng trớc đợc láy lại ở bộ phận vần của tiếng sau.Cách diễn đạt nh thế dễ gây hiểu lầm rằng : tiếng đứng trớc bao giờ cũng làyếu tố có trớc, yếu tố gốc Còn tiếng đứng sau bao giờ cũng láy lại yếu tố gốc, tức làbao giờ cũng là yếu tố láy
3) Tác giả Phi Tuyết Hinh trong bài: "Giảng dạy từ láy trong trờng phổ
thông "(17) đã nêu lên đợc giá trị của từ láy là góp phần làm nên bản sắc của tiếngviệt
Tác giả đã liệt kê và nhận xét về những kiến thức thuộc về lĩnh vực từ láy đợc
đa vào giảng dạy ở phổ thông, từ lớp 1 đến lớp 5, trung học cơ sở, phổ thông trung
Trang 8học Kiến thức về từ láyđợc tổng hợp lại trong các bài học riêng có tính khái quát, nhvấn đề nhận diện từ láy, phân loại từ láy, tìm hiểu giá trị ngữ nghĩa của từ láy.
Theo Phi Tuyết Hinh thì kiến thức từ láy đợc đa vào chơng trình sách giáokhoa ở các lớp cha hợp lí và còn một số điểm băn khoăn
Qua điều tra của tác giả, việc dạy và học từ láy của giáo viên và học sinh nhsau: học sinh cha đủ khả năng để nhận biết từ láy, còn giáo viên không cung cấp kiếnthức ngôn ngữ học cần và đủ cho học sinh, thầy giáo đã khai thác đợc đặc trng của từláy
Theo tác giả, để khắc phục đợc điều đó, chúng ta cần phải nhận thức rằngngôn ngữ là một hệ thống, mỗi ngôn ngữ bên cạnh cái chung với các ngôn ngữ kháclại có những qui luật trật tự riêng của nó
Từ đó, tác giả đã đề xuất một số biện pháp về dạy từ láy ở trờng phổ thông.Thứ nhất: Có thể dạy cho học sinh kỹ hơn về từ láy theo phơng hớng biểu trngngữ âm ở cấp 1 dạy dần từ dễ đến khó, trớc hết cho học sinh nhận xét chung vềnghĩa của từng nhóm từ láy theo vài khuôn vần nhất định Hớng dẫn học sinh tìmhiểu cơ chế tạo nghĩa của từ láy thông qua mối quan hệ giữa âm và nghĩa
Thứ hai: Để giảng dạy tốt từ láy không nên chỉ dạy bó tròn trong các tiết học
về từ láy của chơng trình tiếng việt Từ láy càng đợc phân tích kỹ càng hơn trong giờtập làm văn, giảng văn, để học sinh hiểu rõ tác phẩm, hiểu phong phú sâu sắc thêm về
từ láy
Trong tác phẩm văn học mỗi từ láy sẽ đợc phân tích theo mối quan hệ nghĩa của bản thân nó đồng thời cũng đợc phân tích kĩ mối quan hệ ngữ âm và ngữnghĩa với các hình thức biểu đạt trong cả đoạn văn và đoạn thơ Điều cuối cùng, việcdạy từ láy muốn đạt đợc kết quả cao thì nếu nh các tác giả và các nhà nghiên cứutiếng việt, các nhà biên soạn sách giáo khoa có dịp trao đổi bàn bạc với nhau, đểthống nhất về việc đa kiến thức từ láy vào cấp học
âm-Nh vậy, qua bài viết này ngoài những u điểm mà tác giả đã nghiên cứu cònmột số hạn chế Việc đề xuất một số ý kiến về dạy học từ láy ở tiểu học đó chỉ là ph-
ơng hớng chung chung Khi chúng ta vận dụng vào để dạy từ láy ở tiểu học thì cha sátvới thực tế yêu cầu về phơng pháp dạy học và kết quả đạt cha cao
Tóm lại, qua các bài viết về vấn đề từ láy trong chơng trình tiểu học đã dẫn ra
ở trên, các tác giả đã quan tâm đến kiến thức từ láy trong chơng trình sách giáo khoa
Trang 9tiểu học,một số chỗ cha chính xác, không thống nhất giữa các quan niệm của các giáotrình và sách giáo khoa Song các bài viết này chỉ mới là những ý kiến lẻ tẻ, cần phải
có một cách nhìn tổng quát về hệ thống kiến thức từ láy ở trong chơng trình sách giáokhoa
Theo các tác giả trên thì hạn chế của chơng trình sách giáo khoa, cộng với sựthiếu hụt kiến thức của giáo viên là nguyên nhân dẫn đến thực trạng sử dụng từ láycủa học sinh tiểu học hiện nay Tuy nhiên cha có một công trình nào đa ra đợc giảipháp toàn diện cho vấn đề này, nhất là vấn đề "Dạy từ láy qua phân môn tập làm văn
ở trờng tiểu học"
Mặt khác, chúng ta cần phải có những biện pháp, phơng pháp dạy từ láy trongcác môn học khác nhất là trong phân môn tập làm văn Đó là điều kiện cho học sinhtiếp thu kiến thức về từ láy trong hoàn cảnh sử dụng nó Chính vì vậy, đi theo xu hớngnày, chúng tôi sẽ nhìn lại vấn đề " dạy từ láy qua phân môn tập làm văn ở trờng tiểuhọc" trên cả ba phơng diện : chơng trình sách giáo khoa (CCGD + Chơng trình tiếngviệt năm 2000), việc dạy và học từ láy qua phân môn tập làm văn, từ đó đề xuất cácbiện pháp nhằm nâng cao chất lợng học tập, thay đổi thực trạng hiện nay Chúng tôi
sẽ chú trọng đến việc dạy học từ láy qua phân môn tập làm văn
III- Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài này nhằm đạt đến các mục đích sau:
- Bổ sung thêm một số phơng pháp nhằm nâng cao chất lợng dạy học từ láyqua phân môn tập làm văn ở trờng tiểu học
- Nhằm nâng cao chất lợng dạy học tập làm văn ở trờng tiểu học nói riêng vàgóp phần nâng cao chất lợng dạy học tiếng việt ở tiểu học nói chung
IV- Đối t ợng và phạm vi nghiên cứu:
1) Đối tợng nghiên cứu:
a) Chơng trình sách giáo khoa tiếng việt tiểu học (CCGD).
b).Chơng trình sách giáo khoa tiếng việt tiểu học ( Chơng trình tiếng việt năm 2000).
c) Các biện pháp nhằm nâng cao chất lợng dạy học từ láy qua phân môn tập làm văn.
2) Phạm vi nghiên cứu:
Trang 10- Giáo viên bốn trờng tiểu học : Cửa Nam I, Hng Dũng I, Lê Mao, Hà HuyTập II.
- Học sinh trờng tiểu học Cửa Nam I
V- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Với mục đích và phạm vi nghiên cứu trên, đề tài phải thực hiện những nhiệm
vụ sau :
1- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
2- Khảo sát thực trạng dạy học từ láy qua phân môn tập làm văn ở trờng tiểu học( Chơng trình CCGD).
3- Nghiên cứu vấn đề dạy học từ láy qua phân môn tập làm văn trong
ch-ơng trình CCGD và chch-ơng trình năm 2000
4- Đa ra một số phơng hớng và biện pháp dạy học từ láy qua phân môn tập làm văn ở tiểu học.
VI- Các ph ơng pháp nghiên cứu :
Để xử lí đề tài này chúng tôi sử dụng các phơng pháp nghiên cứu sau :
Trang 111.1.1) Cơ sở triết học.
Học thuyết về hoạt động của con ngời trong triết học Mác là cơ sở, là nềntàng cho việc dạy học ở trờng phổ thông nói chung và dạy học Tiếng Việt cho họcsinh Tiểu học nói riêng Theo quan điểm của Mác, nhận thức của con ngời là kết quảcủa sự tác động qua lại giữa con ngời và thế giới khách quan Muốn tồn tại, phát triển,con ngời phải hoạt động, tác động vào thế giới bên ngoài để chiếm lĩnh đối tợng
Quả thực, con ngời phải bằng hoạt động của chính mình mới có thể chiếmlĩnh tri thức văn hoá của nhân loại, mới có thể biến những tri thức đó thành tài sảnriêng của mình Từ đó làm thay đổi thế giới, cải tạo xã hội
Mặt khác, triết học Mác cũng chỉ ra rằng: “Ngôn ngữ là một hiện tợng xã hội
đặc biệt Ngôn ngữ là một tập thể của một cộng đồng ngời Vì vậy, nếu đứa trẻ sinh ra
bị tách ra khỏi xã hội loài ngời thì đứa trẻ ấy sẽ mất đi khả năng giao tiếp bằng ngônngữ của con ngời” Có thể nói, ngôn ngữ có cơ sở vật chất, trong quá trình sinh thành
và phát triển của nó Và trong sự phát triển cuả lịch sử, ngôn ngữ trở thành một đối ợng khoa học đặc biệt quan trọng của con ngời
t-Đối với học sinh Tiểu học quá trình phát triển đợc bắt đầu bằng việc các em
đến trờng học tiếng mẹ đẻ Tuy nhiên, trớc tuổi đến trờng các em đã có một vốn ngônngữ sẵn có, nhng vốn kiến thức về tiếng mẹ đẻ ở lứa tuổi vờn trẻ mới chỉ dừng lại ởmức: nhận thức cảm tính Đến với nhà trờng Tiểu học, bằng hoạt động của chínhmình, các em sẽ chiếm lĩnh đối tợng học tập – tiếng mẹ đẻ dới sự tổ chức, điềukhiển, hớng dẫn của ngời giáo viên
“ở học sinh tiểu học cả ghi nhớ có chủ định và không chủ định của các em
đều đang phát triển”[19;68] ở cuối bậc tiểu học, ghi nhớ có chủ định của các emphát triển mạnh Tuy vậy, ở lứa tuổi này, ghi nhớ không chủ định vẫn giữ vai trò quantrọng, học sinh lớp 1, lớp 2 thờng học thuộc bài một cách máy móc, cha biết sử dụng
Trang 12ghi nhớ có điểm tựa, cha biết cách phân chia tài liệu, dùng hình vẽ, sơ đồ, để hỗ trợcho việc ghi nhớ ở những lớp này các em thờng ghi nhớ một cách máy móc vì vậy,khả năng phân tích khi tri giác của trẻ em còn yếu, có khuynh hớng suy luận vộivàng Mặc dù vậy, sự phát triển của các cơ quan thụ cảm cũng nh tri giác ở trẻ đã ảnhhởng không nhỏ đến sự phát triển chung của tâm lý học sinh Tiểu học Cụ thể, không
có tri giác, các em không thể hình thành trí nhớ, không thể hình thành đợc t duy, tởngtợng Nhờ có tri giác các em sẽ tiếp thu kiến thức về từ láy để sử dụng trong giaotiếp và học tập có hiệu quả
ở bậc Tiểu học trí nhớ không chủ định và trí nhớ có chủ định đợc bắt đầuhình thành và trở thành điều kiện, kết quả của quá trình học tập Thầy cô giáo cần h-ớng dẫn các em biết ghi nhớ có ý nghĩa để tránh học vẹt
Một thành tựu khác của tâm lý học, làm cơ sở lý luận cho chiến lợc dạy họcmới là thuyết hoạt động Cùng với ghi nhớ máy móc học sinh tiểu học thờng nặng vềghi nhớ trực quan, hình tợng Giai đoạn này, trẻ ghi nhớ hình thù, khuôn mặt, màu sắc
cụ thể tốt hơn Cùng với trí nhớ, trẻ tiểu học còn rất phong phú về trí tởng tợng, sángtạo Bởi vậy nhiệm vụ của trờng tiểu học còn phải có “cách”, có phơng pháp để pháthuy tính tích cực và sáng tạo của học sinh N A – Tsecnicôva đã từng nói rằng cácsáng tạo của học sinh tiểu học là sự sáng tạo không chỉ khác nhau về mặt nội dung
mà còn về hình thức, đặc biệt là kỹ năng sử dụng phơng tiện bằng ngôn ngữ Nhữngkhác nhau trong tởng tợng, sáng tạo của học sinh tiểu học còn là sự khác nhau vềhứng thú và thị hiếu, về kinh nghiệm sống của trẻ về các mẫu bắt chớc, trong sáng tạocủa mình
Các nhà bác học Xô Viết nh: L.X.V-gốt-xki, A.N.Lê-ôn-chi- ep, pê-ri-rin đã góp phần xây dựng và phát triển tâm lý học hoạt động A.N Lê-ôn-chi-
P.Ta.Gan-ep khẳng định: “Hoạt động là bản thể của tâm lý ý thức Tâm lý ý thức đợc nảy sinhbởi hoạt động đợc coi là sự vận động của chủ thể, của con ngời, hoạt động quy địnhnguồn gốc, nội dung và vận hành của tâm lý” [21; 6 ]Chúng ta có thể nêu sơ đồtheo Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thuỷ - TH, tập 1 - NXBGD - HN -1998) Hoạt động nh sau:
Hoạt động cụ thể Động cơ mục đích chung
Hành động Mục đích cụ thể
Thao tác Điều kiện, phơng tiện
Trang 13Lý thuyết hoạt động lời nói vận dụng thành tựu của tâm lý học hoạt động đisâu nghiên cứu các mối quan hệ qua lại, các giai đoạn của hoạt động lời nói TheoA.N-Lê-Ôn-Chiép: “Để giao tiếp đợc trọn vẹn về mặt nguyên tắc, con ngời cần nắm
đợc hàng loạt những kỹ năng Một là, anh ta cần phải biết định hớng nhanh chóng và
đúng đắn trong các điều kiện giao tiếp Hai là, anh ta cần biết lập đúng chơng trình lờinói của mình, lựa chọn nội dung giao tiếp một cách đúng đắn Ba là, anh ta cần phảitìm đợc những phơng tiện hợp lý truyền đạt nội dung đó Bốn là, anh ta cần bảo đảmmối quan hệ qua lại Nếu nh một mắt xích nào đó của hoạt động giao tiếp bị phá huỷthì ngời đó sẽ không có hiệu quả” [22; 119]
Nh vậy, theo A.N-Lê-Ôn-Chiép cấu trúc hoạt động của hành vi nói năng gồm
4 giai đoạn: định hớng, lập chơng trình, thực hiện hoá và kiểm tra Mỗi giai đoạn này
có các kỹ năng cụ thể nh sau: [1]
Cấu trúc hoạt động lời nói Hệ thống kỹ năng làm văn
Định hớng 1 Kỹ năng hiểu đề (yêu cầu, giới hạn của đề bài)
2 Kỹ năng xác định t tởng cơ bản của bài viết
Lập chơng trình biểu đạt 3 Kỹ năng tìm ý (thu thập tài liệu)
4 Kỹ năng lập dàn ý (hệ thống hoá, sắp xếp lựa chọn
t liệu)Hiện thực hoá chơng trình
biểu đạt
5 Kỹ năng diễn đạt thể hiện chính xác, đúng đắn,hợp với phong cách bài văn, t tởng bài văn
6 Kỹ năng viết đoạn, viết bài theo phong cách khácnhau (miêu tả, kể chuyện, viết th )
Kiểm tra 7 Kỹ năng hoàn thiện bài viết (phát hiện sửa chữa
lỗi)
Bảng hệ thống hoá chi tiết kết luận: Hệ thống kỹ năng làm văn hiện nay, vềcơ bản, phù hợp với các phát hiện của tâm lý học về cấu trúc hành động của hoạt độngnói năng
Nh vậy, những nghiên cứu tâm lý học cho phép xác định mức độ vừa sức củatài liệu học tập
1.1.3) Cơ sở ngôn ngữ học:
Trang 14Ngôn ngữ học nói chung, tiếng việt nói riêng có quan hệ mật thiết với phơngpháp dạy học tiếng việt đặc biệt là trong phân môn Tập làm văn.
Những hiểu biết về bản chất của ngôn ngữ, của tiếng việt có vai trò quantrọng trong việc định ra các nguyên tắc, nội dung, phơng pháp dạy học tiếng việt nóichung và phơng pháp dạy học tập làm văn nói riêng
Các tri thức và kỹ năng do phong cách học, ngữ pháp học văn bản, ngữ dụnghọc mang lại giúp ích rất nhiều cho việc dạy làm văn
Phong cách học giúp cho ngời giáo viên có cơ sở để nắm vững các loại vănbản nh: Miêu tả, kể chuyện, tờng thuật, đơn từ Về các mặt: Dạng tồn tại (dạng nóihay dạng viết) Mục đích và đặc điểm ngôn ngữ của từng loại văn bản, các phơng tiệndiễn cảm và biện pháp tu từ của tiếng việt đợc phù hợp với phong cách từng văn bản
Ngữ pháp văn bản là một phân nghành mới của ngôn ngữ học, đặt trong tâmnghiên cứu những đơn vị lớn hơn câu mà lớn nhất là văn bản Ngữ pháp văn bản giúpcho giáo viên nghiên cứu tính liên kết của các văn bản miêu tả, kể chuyện, tờng thuật,
đơn từ Về mặt liên kết nội dung và hình thức về mặt kết cấu văn bản, các hiểu biếtnày sẽ giúp cho việc dạy làm văn vợt khỏi giai đoạn kinh nghiệm, tiến dần sang giai
đoạn khoa học hoá
Ngữ dụng học mới đợc giới thiệu ở nớc ta, nhng nghành khoa học còn non trẻnày của ngôn ngữ học có khả năng giúp ích nhiều cho giáo viên khi xem xét mối quan
hệ của các văn bản đang giảng dạy với ngữ cảnh, với các nhân vật và hoàn cảnh giaotiếp Làm bài văn miêu tả cái cặp sách, nếu giáo viên hớng dẫn học sinh gắn mộtngữ cảnh cụ thể (đang trò chuyện với bạn để khoe chiếc cặp mới đợc bố mẹ thởng cho
đang tâm sự với bố về chiếc cặp đã cũ nhằm gợi ý bố mua cho cặp mới ) chắc sẽgiúp các em nhiều gợi ý trong việc xác định nội dung miêu tả, giọng điệu miêu tả,trọng tâm miêu tả Do đó, bài văn tả cái cặp sách trong ngữ cảnh đầu sẽ nhấn mạnhnhững đặc điểm mới đẹp của cái cặp sách, biểu lộ niềm sung sớng Ngợc lại, bài tả cáicặp sách trong ngữ cảnh sau sẽ nhấn mạnh các đặc điểm cũ sắp hỏng, không thíchhợp với việc học tập ở lớp lớn hơn và biểu lộ mơ ớc về một chiếc cặp mới Hai bài văn
ấy sẽ khác nhau
Mặt khác, ngôn ngữ là một hệ thống lớn, bao gồm các hệ thống nhỏ tạothành
Ví dụ : Hệ thống từ vựng gồm các hệ thống: từ đơn, từ phức, từ láy, từ ghép
Trang 15Với phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ xem xét hệ thống từ vựng ởnhững nét hết sức cơ bản có liên quan đến đề tài Cụ thể, tôi xem xét hệ thống từ vựngtrên hai phơng diện: hình thức cấu tạo từ và nội dung ý nghĩa của từ.
- Hình thức cấu tạo từ: xét về hình thức cấu tạo từ ta thấy, từ bao giờ cũngphải tồn tại dới một hình thức ngữ âm, một hình thức cấu tạo nhất định Mỗi hình thức
có cấu tạo khác nhau của từ tạo thành một hệ thống cấu tạo trong lòng hệ thống từvựng Từ có từ đơn – từ phức; trong từ phức có từ ghép – từ láy; trong từ ghép có từghép hợp nghĩa (đẳng- lập) – từ ghép phụ nghĩa (chính - phụ); trong từ láy có: từ láyhoàn toàn, từ láy bộ phận (trong từ láy bộ phận có : từ láy âm, từ láy vần)
- Nghĩa của từ : nghĩa của từ đợc tồn tại trong khuôn khổ của một hệ thốngngôn ngữ nhất định, nghĩa của từ là một hợp thể (phức thể) gồm các thành phần ýnghĩa : nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu thái
+ Nghĩa biểu vật của từ chỉ gợi ra sự vật, hiện tợng, hoạt động, tính chất Mỗinghĩa biểu vật của từ là một mảnh hiện thực đợc phản ánh trong từ, trong ngôn ngữ.Nghĩa biểu vật mang tính khái quát (trừ danh từ riêng)
+ Nghĩa biểu niệm: sự vật, hoạt động, tính chất phản ánh vào t duy con
ng-ời thành các khái niệm Các khái niệm ấy đợc ngôn ngữ hoá thành nghĩa biểu niệmcủa từ
+ Nghĩa biểu thái (biểu cảm): phản ánh quan hệ của ngời sử dụng đối với ngờikhác và đối với nội dung biểu hiện, nói cụ thể hơn, phản ánh tình cảm, cảm xúc, thái
độ của ngời sử dụng ngôn ngữ
Ví dụ: Các từ : ăn, đớp, nhậu khác nhau về ý nghĩa biểu cảm
- ở mức độ cao hơn là hệ thống nghĩa của từ hợp cùng một trờng nghĩa Các
từ cùng một trờng là một tập hợp những từ đồng nhất tối thiểu ở một nét nghĩa TrongTiếng Việt, ngời ta hay nói tới các trờng nghĩa Trờng nghĩa biểu vật, trờng nghĩa biểuniệm, trờng nghĩa tuyến tính và trờng nghĩa liên tởng
Những thành tựu của tâm lí học đã chứng minh rằng: con ngời tiếp nhận, lutrữ từ ngữ ở trong đầu cũng dựa vào hệ thống cấu tạo và hệ thống ngữ nghĩa của từ
Từ ngữ trích luỹ trong đầu óc con ngời không phải một mớ hỗn tạp mà đợc sắp xếpthành những hệ thống liên tởng nhất định Hệ thống liên tởng là một tập hợp những từngữ có những điểm chung nào đó về nội dung hoặc hình thức khiến cho con ngời ta
có thể từ một từ này dễ dàng liên tởng đến những từ khác Dạy từ láy cũng nh dạy từ
Trang 16tiếng việt, chúng ta phải dựa vào tính hệ thống của ngôn ngữ, từ đó mới có thể giúphọc sinh hiểu biết sâu sắc về từ láy, biết sử dụng từ láy trong giao tiếp và hoạt độnghọc tập đạt hiệu quả cao.
và dạy hồi tởng và huy động vốn sống liên quan đến cốt truyện, để rồi sắp xếp chúngtheo một trình tự (trình tự thời gian hay trình tự tâm lý)
Chúng ta hãy nhìn xem cảnh mùa xuân bên bờ sông Lơng dới ngòi bút củaNguyễn Đình Thi: “Tuy rét vẫn kéo dài, mùa xuân đã đến bên bờ sông Lơng Mùa
xuân đã điểm các chùm hoa đỏ mọng trên những cành hoa gạo chót vót giữa trời trải
màu lúa non sáng dịu lên khắp đất mới cách ít ngày còn trần trụi đen xám Trên
những bãi đất phù xa mịn hồng mơn mởn, các vòm cây quanh năm xanh um đã dần dần chuyển màu lốm đốm, nh đợc rắc thêm lớp bụi phấn hung hung vàng ’’
Trong đoạn văn miêu tả trên đây, cảnh mùa xuân hiện lên cụ thể qua cáchmiêu tả của tác giả, và cách sử dụng từ láy trong đoạn văn miêu tả chùm hoa gạo
"chót vót" đến những bãi đất phù sa mịn hồng "mơn mởn" cho đến hình ảnh các vòmcây xanh um đã dần dần chuyển sang màu "lốm đốm", bụi phấn "hung hung" vàng.Qua các từ láy đợc sử dụng trong đoạn văn miêu tả trên ta thấy tính chất yêu mếncảnh vật của tác giả không bộc lộ trực tiếp, lộ liễu mà kín đáo trong từng chi tiết miêutả
Miêu tả là hòn đá thử vàng đối với các tài năng văn học ,tạo nên sức hấp dẫncủa các tác phẩm văn học Có những tác giả tốn công vô ích ghi chép rồi đa vào tácphẩm của mình vô vàn chi tiết khi miêu tả, nhng ngời đọc vẫn chẳng nhìn thấy gì hếtngoài các dòng chữ tẻ nhạt ngợc lại chỉ vài nét thôi, các tài năng đích thực đã tạonhững bức tranh phong cách, những bức chân dung tuyệt diệu Sự vật đợc miêu tả
Trang 17hiện ra lồ lộ và dờng nh đang rung rinh đang chuyển động, đang sinh sôi nảy nở trớc
mắt ngời đọc với các từ láy: lắt lẻo, đầm đìa trong hai câu thơ sau của Hồ Xuân Hơng
đã có sức sống mạnh mẽ khiến cho bức tranh thiên nhiên trở nên cụ thể, hữu hình :
"Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc
Đầm đìa lá liễu giọt sơng gieo "
(Đèo ba dội)Hình ảnh trăng lên qua ngòi bút tài tình của Thạch lam làm cho ngời đọc cócảm giác thực sự đang đợc xem cảnh ánh trăng đang dần nhô lên “ Mặt trăng tròn to
và đỏ từ từ lên ở chân trời sau rặng tre đen của làng xa mấy sợi mây con vắt ngang
qua mỗi lúc mảnh dần rồi đứt hẳn Trên quãng đồng ruộng cơn gió nhẹ hiu hiu đa lại,
thoảng những hơng thơm ngát
Sau tiếng chuông của ngôi chùa cổ một lúc lâu, thật là sáng trăng hẳn trời bây
giờ trong vắt, thăm thẳm và cao, mặt trăng nhỏ lại sáng vằng vặc ở trên không ánh
trăng trong chảy khắp cả trên cành cây, kẽ lá, tràn ngập trên con đờng trắng xoá
Bức tờng hoa giữa vờn sáng trắng lên, lá lựu dày và nhỏ, lấp lánh nh thuỷ tinh Một cành cây cong xuống rồi vút lên, lá rung động lấp lánh ánh trăng nh ánh n-
ớc”
(Thạch lam-trích “tuyển tập Thạch Lam”)
Quan sát trăng lên tác giả có hai cảm giác Lúc trăng bắt đầu lên không gian
và cảnh vật thật tĩnh lặng nhẹ nhàng Từ ngữ đợc lựa chọn thích hợp nhất là cách sửdụng từ láy: trăng lên “từ từ” gió “hiu hiu”, hơng “thoang thoảng” nhng khi trăng
đã lên cao thì cảm giác về nó rõ ràng và mạnh mẽ hơn: “thăm thẳm” “vằng vặc”, “lấplánh”
Nh vậy, từ ngữ đợc lựa chọn càng chính xác thì đối tợng đợc miêu tả càngbộc lộ rõ hình hài và tính chất của nó hơn
Qua đó ta thấy rằng, việc vận dụng cơ sở các kiến thức về lý luận văn học vàdạy tập làm văn cho học sinh tiểu học có vai trò vô cùng quan trọng đặc biệt là cách
sử dụng từ ngữ nhất là từ láy trong các bài văn miêu tả Tác giả Nguyễn Trí [29; 105]
đã viết rằng: “Sự miêu tả trong văn chơng có u thế hơn so với sự miêu tả màu sắc, ờng nét của hội hoạ Dùng ngôn ngữ văn chơng có thể miêu tả sự vật trong một quátrình vận động có thể tả cả những thứ vô hình nh âm thanh hơng vị hay t tởng,tình cảm thầm kín của con ngời"
Trang 18đ-1.2 ) Cơ sở thực tiễn: khảo sát thực tế dạy - học từ láy qua phân môn tập làm văn ở tiểu học (chơng trình CCGD):
Vì thế nên đề tài này chúng tôi đi khảo sát thực tế dạy - học từ láy qua phânmôn tập làm văn ở một số trờng tiểu học thuộc địa bàn thành phố vinh nhằm mục
đích:
- có số liệu đáng tin cậy về thực trạng dạy và học từ láy ở các trờng tiểu học
- Phân tích số liệu đáng tin cậy đánh giá tình hình (u và nhợc điểm) của giáoviên và học sinh trong quá trình dạy và học từ láy
- Có cơ sở và phơng hớng cho việc đề xuất vấn đề "dạy từ láy qua phân môntập làm văn"
1.2.2) Đối t ợng khảo sát:
1 Giáo viên đang trực tiếp dạy lớp 4-5 trong địa bàn thành phố vinh.
2 Học sinh lớp 4-5
3 Sách giáo khoa và sách giáo viên môn tiếng việt lớp 4-5
1.2.3) Địa bàn và thời gian khảo sát:
1 Địa bàn khảo sát:
- Trờng tiểu học cửa nam i
- Trờng tiểu học LÊ MAO
- Trờng tiểu học HƯNG DũNG I
- Trờng tiểu học hà huy tập ii
2 Thời gian khảo sát:
Từ 25-2 đến 20-4-2002
1.2.4 ) Nội dung khảo sát và kết quả khảo sát:
Trang 191.2.4.2) Khảo sát thực trạng dạy và học từ láy của giáo viên và học sinh:
a) khảo sát thực trạng dạy từ láy của giáo viên:
* Nội dung khảo sát: lập 60 phiếu
- Phiếu khảo sát gồm những câu hỏi sau:
câu 1: Theo đồng chí dạy từ láy tiếng việt nhằm mục đích gì?
câu 2: Trong quá trình dạy từ láy tiếng việt đồng chí thờng gặp những khókhăn nào ? tại sao? (gợi ý: về phía bản thân; học sinh; những lý do khác )
câu 3: Theo đồng chí, dạy từ láy có liên quan đến các môn khác trong chơngtrình tiếng việt ở tiểu học không? Vì sao?
* Kết quả khảo sát:
câu 1: 60/60 phiếu trả lời đúng hoặc gần đúng: dạy từ láy tiếng việt nhằmmục đích giúp học sinh hiểu đợc từ láy về mặt cấu tạo cũng nh về mặt ý nghĩa để các
em có thể sử dụng từ láy trong học tập và trong giao tiếp
Câu 2: 25 phiếu trả lời không gặp khó khăn gì, 35 phiếu giáo viên còn lúngtúng về mặt tri thức vì trong thực tế còn gặp một số trờng hợp không phân biệt đợc từláy với từ ghép Do tài liệu còn thiếu, thời gian nghiên cứu cha nhiều, có những vấn
đề về từ láy cha nhất quán ở một số sách, hcọ sinh tiếp thu còn chậm, ứng dụng chatốt
Câu 3: 60/60 phiếu giáo viên trả lời dạy từ láy có liên quan đến việc dạy cácphân môn khác nh tập đọc, chính tả, từ ngữ, ngữ pháp và đặc biệt là tập làm văn Về
lý do tại sao, 50 giáo viên cho rằng vì cắu tạo từ láy rất đặc biệt có liên quan đến mặtngữ âm, đến luật chính tả, về mặt nghĩa từ láy có giá trị gợi âm thanh, hình ảnh, đặcbiệt có giá trị biểu cảm lớn Dùng từ láy để viết văn miêu tả hoặc kể chuyện thì bàiviết của học sinh sẽ hấp dẫn, sinh động hơn 10 giáo viên còn lại trả lời lúng túng,không rõ
b) khảo sát thực trạng học từ láy của học sinh lớp 4-5:
Trang 20* Nội dung khảo sát: Đối với học sinh, nội dung khảo sát đợc lập thành 400
phiếu: 200 phiếu cho học sinh lớp 4, 200 phiếu cho học sinh lớp 5
- Đối với học sinh lớp 4: Nội dung khảo sát gồm 4 câu hỏi:
câu 1: Em hãy cho biết thế nào là từ láy ? cho ví dụ?
Câu 2: Hãy gạch chân các từ láy trong bài thơ sau:
Chú bé liên lạc
Chú bé loắt choắtCái xắc xinh xinhCái chân thoăn thoắtCái đầu nghênh nghênh
Ca lô đội lệchMồm huýt sáo vang
Nh con chim chíchNhảy trên đờng vàng
Câu 3 : Tìm các từ láy trong đoạn văn sau và xác định tác dụng gợi tả củatừng từ láy theo mẫu sau :
(Vũ Tú Nam - Cây Gạo - tiếng việt 3 - tập 2)
Ca lô chú béNhấp nhô trên đồng
(TV2 - tập 2)
Trang 21Câu 4 : Chọn các từ láy thích hợp điền vào chỗ trống trong đoạn văn sau:
Âm thanh thành phố
"Tiếng chuông xe đạp không ngớt Tiếng còi ô tô xin đờng gaygắt tiếng thùng nớc va vào nhau ở một cái vòi nớc công cộng Tiếng vekêu trong những đám lá cây trên đại lộ Tiếng dữ dội của một cái đầu máy
xe lửa đang xả hơi Tiếng còi tầu hoả thét lên cùng với tiếng bánh xe chạy trên
đờng ray nh sắp lao vào thành phố" ( Theo Tô Ngọc Hiến)
( Các từ láy cần điền: réo rắt, lanh canh, rền rĩ, xì xì,ầm ầm, pin pin)
*Yêu cầu đối với từng câu hỏi :
Câu 1: Có hai yêu cầu : - trình bày đúng khái niệm từ láy
- Lấy đợc ví dụ minh hoạ cho khái niệm
Câu 2 : Yêu cầu xác định đúng các từ láy trong đoạn thơ
(Loắt choắt, xinh xinh, thoăn thoắt, nghênh nghênh, vèo vèo, vắng vẻ, đòng
đòng, nhấp nhô)
Câu 3 : Có 2 yêu cầu :
- Tìm đúng các từ láy ( Sừng sững, lóng lánh, lung linh, đàn đàn, lũ lũ, ríu rít).
Xác định đợc đúng tác dụng gợi tả của từng từ láy và đánh dấu vào các ôtrong bảng:
Trang 22*) Đối với học sinh lớp 5:
- Nội dung khảo sát gồm 4 câu hỏi:
Câu 1: Thế nào là từ láy toàn bộ ? Từ láy âm ? Lấy ví dụ cho từng kiểu láy ?Câu 2: Chuyển các từ láy đôi sau đây thành các từ láy ba, láy t: Bồng bềnh,tung tăng, dửng dng, hớt hải, sát sạt, lúng túng
- Trình bày đúng khái niệm các từ láy toàn bộ, từ láy âm, từ láy vần
- Lấy đợc ví dụ minh hoạ cho từng kiểu láy
Câu 2: Yêu cầu chuyển đúng từ láy hai sang từ láy ba, láy t (Bồng bềnh ->Bồng ba bồng bềnh; Tung tăng -> tung ta tung tăng; sát sạt -> Sát sàn sạt; Lúng túng-> Lúng ta lúng túng)
Câu3: Có hai yêu cầu:
- Xác định đúng nghĩa (Giảm nhẹ, mạnh hơn) của từ đó so với từ gốc (Nhẹhơn: Chầm chậm, xanh xanh, lơ lửng; mạnh hơn: Xanh xao, sạch sành sanh, bực bội,dồn dập)
- Đặt câu với các từ đó Yêu cầu dùng đúng từ, viết đúng ngữ pháp
Câu 4: Có 3 yêu cầu:
- Sử dụng các từ láy để dặt dợc câu đúng có nội dung ý nghĩa đầy đủ
Trang 231.2.4.3) Đánh giá thực trạng dạy học từ láy qua thực tế khảo sát:
a Đối với giáo viên:
Qua khảo sát thực tế chúng tôi thấy rằng: các giáo viên trong quá trình dạy từláy qua phân môn tập làm văn cũng nh trên tất cả các phân môn khác của tiếng việt cónhững u, nhợc điểm sau:
*) Ưu điểm:
- Giáo viên nhiệt tình cung cấp kiến thức cho học sinh
- Thấy đợc ý nghĩa và tác dụng của từ láy tiếng việt ở giá trị tợng hình, tợngthanh và gợi cảm của nó
* Nhợc điểm:
- Giáo viên con phụ thuộc hoàn toàn vào sách giáo viên
- Một số còn lúng túng khi giảng về khái niệm từ láy, cách phân loại từ láy,dẫn đến sai sót khi dạy
- Hệ thống câu hỏi cha phát huy đợc khả năng nhận biết từ láy, sử dụng từláy qua phân môn tập làm văn
* Đối với học sinh:
Trang 24+ Về tri thức: Qua điều tra khảo sát chúng tôi nhận thấy học sinh năm lýthuyết khá hơn thực hành Trong loại bài tập nhận diện các từ láy, nhiều học sinh chỉquan tâm đến tiêu chí hình thức mà không biết đến tiêu chí ngữ nghĩa, nên đã khôngphân biệt đúng từ láy vẫn còn lẫn với từ ghép Bất kỳ từ nào có sự lặp lại một hìnhthức ngữ âm nào đó đều đợc các em xem là từ láy.
Ví dụ: Tơi tốt, dẻo dai, rơi rớt, tan nát, lặn lội
Các em đều cho là từ láy Mặt khác, các em còn đánh đồng hình thức ngữ
âm với hình thức chữ viết Do đó các con chữ: c, q, k của âm | k | trong các từ nh: Cậpkênh, cuống quýt, cồng kềnh, kinh coong Đã khiến các em không nhận ra đó là từláy
Nh vậy, ta thấy rằng do không nắm vững đợc giá trị ngữ nghĩa và nhận diện từláy một cách chính xác Cho nên việc hiểu đúng nghĩa là một vấn đề hết sức gay go
đối với học sinh tiểu học
+) Về kỷ năng:
- Do không nắm đợc nghĩa phân loại , sắc thái hoá, chuyên biệt háo, nghĩakhái quát tổng hợp mà các em sử dụng từ còn nhiều hạn chế
Chẳng hạn nh các em đã đặt câu nh sau:
"Chiếc cặp xinh xinh có dáng hình nhỏ nhoi" (Đặng Thái Trung - Lớp 5A-
Tr-ờng tiểu học Cửa Nam 1)
"Các chim chóc đua nhau hót véo von rả rích trên cành cây" (Trơng Thanh
Thuý- Lớp 5C- Trờng tiểu học Cửa Nam 1)
"Chú rùa xinh xắn đi chầm chậm với vẻ nặng nề" (Nguyễn Hà Thơng - Lớp
5A- Trờng tiểu học Cửa Nam 1)
- Mặt khác, do giáo viên không cung cấp vốn từ láy và hớng dẫn các em cách
sử dụng từ láy trong giờ tập làm văn Nên trong các tiết tập làm văn miêu tả các emcòn rất hạn chế trong việc sử dụng vốn từ ngữ có sắc thái gợi tả hình ảnh, âm thanhcủa sự vật, hiện tợng Có những bài các em sử dụng một số từ láy nhng dùng cha đúngvăn cảnh, ngữ cảnh phù hợp, có khi dùng cha chính xác còn bị sai, nhầm lẫn giữa từláy và từ ghép Điều đó dẫn đến bài văn của các em còn nhạt nhẽo, khô khan cha thấy
đợc sự sâu sắc, hấp dẫn , sinh động
Chẳng hạn, khi làm câu hỏi 4 (Lớp 5) một học sinh đã làm nh sau:
Trang 25"Mùa xuân đến cùng với tiếng nhạc dập dìu và tiếng chim hót líu lo Ngọn gió xuân vun vút thổi Tiếng suổi chảy rì rào nay lại róc rách róc rách Tiếng hót của chim chiền chiện lảnh lót trên tận trời xanh Lòng ngời cũng dào dạt niềm vui Những
khóm hoa tơi tốt nở rộ trên các bồn hoa của những ngôi nhà Tiếng hát của ai cất lên
lanh lảnh Giọng nói chuyện ầm ầm của các bác nông dân thăm đồng hoà trong tiếng nói sang sảng trên chiếc loa đầu xóm Tiếng cời ríu rít của các chị xen lẫn tiếng cời khanh khách của các anh thanh niên rộn rã cả một đoạn đờng đến hội mùa xuân".
(Hoàng Thuỷ Hiền - Lớp 5B - Trờng tiểu học Cửa Nam 1)
- Ngoài ra bài tập làm văn của các em thờng gặp những lỗi là: Khi sử dụng từngữ để diển đạt dùng từ láy để miêu tả còn rất nghèo nàn, không bộc lộ đợc sắc tháiriêng biệt của đối tợng miêu tả Những bài văn nh vậy thờng nặng nề về liệt kê, kể lểdài dòng, câu văn lủng củng, rờm rà
Lấy ví dụ một đoạn văn (Câu hỏi 4- lớp 5) của một học sinh để xem xét cách
sử dụng từ láy mang tính chất gợi tả, gợi cảm cha chính xác trong bài:
"Hoàng Anh là em bé khau kháu nhất xóm, khuôn mặt rất đầy đặn Hoàng Anh hay chập choạng sang nhà em vì hai nhà sát vách nhau Đôi má bầu bĩnh lúc nào cũng hồng hồng, đỏ chon chót nh thoa một lớp phấn mỏng Hai mắt đen nhấp nháy
nh hạt nhãn Đôi chân tròn lẵn nung núc thịt Mỗi lần thấy em, Hoàng Anh nhảy nhót
lên, mừng rỡ sà vào lòng em"
(Trần Thị Kiều Oanh - Lớp 5D - Trờng tiểu học Cửa Nam 1)
Toàn bài viết của em có khoảng 185 từ, trong đó có 18 từ láy, nh vậy là khácao Nhng thật đáng tiếc từ láy mà em sử dụng trong bài lại không phù hợp, thiếuchính xác Những lỗi mà Kiều Oanh mác phải là những lỗi rất phổ biến mà tôi nhậnthấy qua quá trình khảo sát và thực tế dự giờ
- Điều cuối cùng chúng tôi muốn nói ở đây là cách sử dụng từ láy trong tậplàm văn, đặc biệt là văn miêu tả với thể loại là tả cảnh sinh hoạt, giáo viên ch a cungcấp cho học sinh vốn từ láy trong văn tả cảnh sinh hoạt, cho nên khi vận dụng vào baivăn tả cảnh sinh hoạt các em có sử dụng các từ láy vào để tả Nhng thực chất các emkhông biết đợc tác dụng gợi tả, gợi cảm của các từ láy này dẫn đến tình trạng các em
sử dụng vào câu văn, khi ta đọc lên có cảm giác bài văn không có hồn, ngời đọckhông thấy đợc cảnh mà ngời cần tả qua cách sử dụng các từ ngữ, hình ảnh đó
Trang 26Chẳng hạn, một học sinh khi tả cảnh sân trờng trong giờ ra chơi em đã tả nhsau:
"Tùng! Tùng! Tùng! Tiếng trống trờng báo hiệu giờ ra chơi đã vang lên Từ
các lớp các bạn học sinh hồ hởi ùa ra khỏi lớp nh ong vỡ tổ Các bạn đều thi nhau chạy vùn vụt ra khỏi lớp Ai ai cũng chọn cho mình một chỗ chơi lý tởng Các bạn trai chơi đá cầu, chạy nhảy la hét om sòm Các bạn gái chơi nhảy dây, sợi dây vung lên veo véo, các bạn còn gọi nhau eo éo, cảnh sân trờng thật tng bừng, nhộn nhịp, ai cũng vui vẻ, náo nức sau hai tiết học căng thẳng".
(Hoàng Minh Thắng - Lớp 5B - Trờng tiểu học Cửa Nam 1)
Đọc đoạn văn ta có cảm giác nh ngời viết không hiểu về tác dụng gợi tả của
từ láy Cho nên khi viết Thắng đã sử dụng từ láy "vùn vụt", "eo éo", "náo nức" không
đúng lúc Đó cũng là lỗi mà rất nhiều học sinh tiểu học khi làm bài tập làm văn mắcphải
Nh vậy qua tìm hiểu thực trạng dạy - học từ láy của giáo viên và học sinh tiểuhọc, chúng ta thấy có nhiều điều đáng lo lắng và cần phải quan tâm Những nguyênnhân đó ảnh hởng không nhỏ đến chất lợng và kêt quả học tập của học sinh Cần tìm
ra phơng hớng, biện pháp dạy học phù hợp, kịp thời để dạy học từ láy đặc biệt là dạy
từ láy qua phân môn tập làm văn ở tiểu học đạt hiệu quả cao hơn
Ch
ơng 2: Từ láy và vấn đề dạy học từ láy qua phân môn tập làm văn trong chơng trình và sách giáo khoa tiếng việt
tiểu học hiện nay.
Do văn miêu tả và văn kể chuyện cần sử dụng nhiều từ láy, cho nên trongphạm vi cho phép, đề tài chỉ đề cập đến vấn đề dạy từ láy trong văn miêu tả và văn kểchuyện
2.1)Một số vấn đề chung :
Trang 272.1.1) Khái niệm từ láy:
Từ láy tiếng việt, một hiện tợng khá phức tạp đã và đang thu hút nhiều nhàngôn ngữ Mỗi tác giả có một cách nhìn nhận đánh giá khác nhau về từ láy
a) Theo tác giả Hoàng Văn Hành :" Từ láy là những từ đợc cấu tạo bằng
cách nhân đôi tiếng gốc theo những qui tắc nhất định sao cho quan hệ giữa các tiếngvừa điệp, vừa đối, vừa hài hoà với nhau về âm và nghĩa có giá trị tợng trng hoá"( Từláy trong tiếng việt)
b) Tác giả Lê Phơng Nga - Nguyễn Trí thì cho rằng: " Từ láy là sản phẩm
của phơng thức láy, là phơng thức láy lại toàn bộ hay bộ phận hình thức ngữ âm củahình vị gốc"
c) Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: "Từ láy là những từ đợc cấu tạo theo
ph-ơng thức láy Đó là phph-ơng thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết vớithanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo qui tắc biến thanh tức là qui tắc thanh điệubiến đổi theo 2 nhóm gồm nhóm cao ( Thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang) và nhómthấp ( thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa"
Nh vậy, qua một số quan niệm khác nhau về từ láy Ta thấy, từ láy đang làvấn đề đợc nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm, nhng cha đa ra đợc một khái niệmthống nhất
2.1.2) Phân loại từ láy (các kiểu cấu tạo từ láy):
Xét về mặt cấu tạo, từ láy trong tiếng việt từ trớc tới nay đã có nhiều cáchphân loại khác nhau Mỗi cách phân loại nh thế đều dựa trên những cơ sở nhất định và
ít nhiều hợp lý Trong các cách phân loại đó, tuy còn có một số điểm cha thống nhất,nhng nhìn chung hiện nay việc phân loại từ láy đợc dựa trên những cơ sở đáng tin cậysau đây:
- Số lợng âm tiết trong từ láy
- Sự đồng nhất hay khác biệt trong thành phần cấu tạo của các thành tố trong
từ láy do cách phối hợp ngữ âm tạo nên
Cụ thể:
+) Các tác giả đã căn cứ vào số lợng âm tiết (tiếng) của từ láy trong tiếngviệt, có các kiểu từ láy: Từ láy đôi (từ láy hai tiếng), từ láy ba (từ láy ba tiếng), từ láy
t (từ láy bốn tiếng)
Trang 28Đối với sự phân loại này, từ láy đôi chiếm vị trí hàng đầu không chỉ vì nó có
số lợng lớn nhất trong tổng số các từ láy tiếng việt mà chính vì ở từ láy đôi, tất cả các
đối tợng cơ bản thể hiện bản chất của hiện tợng láy cả ở bình diện âm thanh lẫn bìnhdiện ngữ nghĩa đều đợc bộc lộ đầy đủ
+) Căn cứ vào sự đồng nhất hay khác biệt trong các thành phần cấu tạo cácthành tố do sự phối hợp ngữ âm tạo nên, các từ láy đôi đợc phân loại thành từ láy hoàntoàn (từ láy toàn bộ) và từ láy bộ phận Trong từ láy bộ phận lại đợc chia làm hai loạinhỏ hơn: Từ láy âm (từ láy phụ âm đầu) và từ láy vần Tuy nhiên, khi đi vào nhữngchi tiết cụ thể thì giữa các nhà nghiên cứu còn có những điểm cha thống nhất về cáchphân loại
Ví dụ: "Đo đỏ" có đến ba cách hiểu khác nhau: Đỗ Hữu Châu và Hoàng VănHành cho "đo đỏ" là từ láy hoàn toàn, Đái Xuân Ninh cho là từ láy bộ phận, ĐàoThản lại cho "đo đỏ" là từ láy gần hoàn toàn Để có thể hiểu đợc các loại từ láy mộtcách rõ ràng, chính xác, chúng ta đi vào tìm hiểu các loại từ láy sau:
(1) Từ láy hoàn toàn:
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu và Hoàng Văn Hành, từ láy hoàn toàn là những từláy có sự đồng nhất tơng ứng hoàn toàn giữa các thành phần cấu tạo của hai thành tốnh: Xanh xanh, xao xao, ào ào, ầm ầm, oàng oàng
Tuy nhiên, láy hoàn toàn không phải chỉ là sự lặp lại âm thanh nguyên vẹn mà
là sự lặp lại âm thanh có biến đổi theo những quy luật chặt chẽ và có tác dụng tạonghĩa Sự biến đổi âm thanh này thờng xuyên, đều đặn theo quy tắc hoà phối ngữ âmchặt chẽ (điều này xảy ra đối với từ láy hoàn toàn và từ láy bộ phận)
Thanh điệu ở hai tiếng đợc phân bố cùng âm vực:
- Âm vực cao: Thanh ngang (thanh không dấu), hỏi sắc
- Âm vực thấp: Thanh huyền, ngã, nặng
Sự biến đổi ngữ âm ở từ láy hoàn toàn có thể biểu hiện dới các mức độ sau
đây:
a) Lớp từ láy hoàn toàn chỉ khác nhau ở trọng âm:
Lớp từ láy này giữa hai tiếng giống nhau về thành phần cấu tạo, chỉ khác nhau
về trọng âm Trọng âm thờng rơi vào tiếng thứ hai của từ láy
Ví dụ: Cào cào, ba ba, đu đủ, châu chấu
b) Lớp từ láy hoàn toàn đối nhau về thanh điệu:
Trang 29Do hiện tợng phát âm lớt nhẹ ở tiếng đầu nên sảy ra hiện tợng biến thanh theonhững nguyên tắc chặt chẽ Nguyên tắc đối thanh điệu ở đây là: Thanh bằng đối vớithanh trắc trong mỗi nhóm cung âm vực, và bằng đứng trớc trắc đứng sau.
Ví dụ: Đo đỏ, ra rả, hau háu, sừng sững, vành vạnh, thoang thoảng
Tuy nhiên, trong một số trờng hợp, có hiện tợng song song tồn tại hai dạng từláy hoàn toàn không biến thanh
Ví dụ: Đỏ đỏ/ đo đỏ, chậm chậm/ chầm chậm, hớ hớ/ hơ hớ
c) Lớp từ láy hoàn toàn đối ở phần vần:
Cũng do hiện tợng phát âm lớt nhẹ ở tiếng đầu nên sảy ra hiện tợng biến vầntheo quy luật chặt chẽ Sự biến vần này thể hiện ở chỗ có sự khác nhau giữa các phụ
âm cuối của hai tiếng trong từ láy hoàn toàn theo nguyên tắc: Các phụ âm tắc, điếc,vô thanh: /p /; /t/; /k/ (c, ch) sẽ chuyển thành các phụ âm vang mũi: /m/; /n/; //
Sự biến đổi phụ âm cuối của từ láy hoàn toàn cũng giống nh sự biến đổi thanh
điệu, chỉ nhằm tăng cờng khả năng hoà phối ngữ âm, tạo nghĩa, tạo nên sự dễ đọc, dễnghe Vì vậy, trong nhiều trờng hợp có hai biến thể cùng song song tồn tại Tức là vẫntồn tại những từ láy hoàn toàn mà phụ âm cuối
/p, t, k/ không biến thành /m, n, /
Trong số từ láy hoàn toàn, sự biến đổi chỉ xảy ra đối với một số phụ âm cuốinhất định Khi sự khác biệt ở phần vần xảy ra đối với nguyên âm (âm chính) có kèmtheo hoặc không kèm theo sự biến đổi phụ âm cuối thì từ láy này sẽ không phải là từláy hoàn toàn mà là từ láy bộ phận
Nh chúng ta đã biết, một âm tiết tiếng việt bao gồm ba bộ phận: Âm đầu, vần,thanh điệu Tác giả Đoàn Thiện Thuật trong giáo trình "ngữ âm tiếng việt đã miêu tả
âm tiết tiếng việt qua lợc đồ sau:
Thanh điệu
Trang 30có chức năng kết thúc âm tiết, cho nên sự biến đổi phụ âm cuối không làm cho âm tiếtthay đổi về diện mạo và âm sắc chủ yếu của âm tiết Đó là lý do vì sao các từ láy đôitrong phần vần có sự biến đổi của một số phụ âm cuối cần đợc xem là từ láy hoàntoàn
(2) Từ láy bộ phận : Những từ láy nào chỉ có điệp ở phần âm đầu hoặc điệp ởphần vần thì đợc gọi là từ láy bộ phận, căn cứ vào đó có thể chia từ láy bộ phận thànhhai lớp :
a Từ láy âm : là những từ trong đó âm đầu đợc láy lại, điệp âm đầu, đối ở
Ví dụ : Chùa chiền, tuổi tác, giữ gìn
Những từ kiểu này một tiếng có nghĩa và khả năng hoạt động độc lập
b- Từ láy vần:
Là những từ phần vần đợc láy lại, điệp phần vần, đối âm đầu Thanh điệutrong từ láy vần phải cùng âm vực
Trang 31Ví dụ: Bâng khuâng, bơ vơ, lừng chừng, lác đác, la tha, lao xao
Từ láy ba và bốn tiếng đợc cấu tạo thông qua cơ chế cấu tạo từ láy hai tiếng:
- Từ láy ba: là những từ gồm ba tiếng có sự hoà phối ngữ âm với nhau
Ví dụ: Sạch sành sanh, dửng dừng dng, sát sàn sạt, khít khìn khịt
- Từ láy t: Là những từ gồm bốn tiếng có sự hoà phối ngữ âm với nhau
Ví dụ: Lửng tha lửng thửng, đủng đa đủng đỉnh, ngu nga ngu ngơ
Tuy vậy, từ láy ba tiến dựa trên cơ chế láy hoàn toàn, còn từ láy bốn tiếng lạidựa trên cơ chế láy bộ phận là chủ yếu
Ví dụ: khít khìn khịt, sát sàn sạt, đủng đà đủng đỉnh
Từ láy bốn tiếng tình hình cấu tạo phức tạp hơn có thể là:
- " Nhân đôi " từ láy nhng biến vần của tiếng thứ hai cho phù hợp, hài hoà về
âm vực giữa các vần, các thanh
Ví dụ: Vớ vẩn - vớ va vớ vẩn
Lề mề - Lề mà lề mề
- " Nhân đôi " từ láy hai tiếng nhng biến đổi sao cho hai tiếng đầu có thanh
điệu thuộc về âm vực cao, hai tiếng sau mang thanh điệu âm vực thấp
Ví dụ : Bồi hồi - bổi hổi bồi hồi
- " Nhân đôi " từng tiếng của từ láy hai tiếng
Ví dụ : Hùng hổ - hùng hùng hổ hổ
- Thực hiện cách thứ ba vừa nêu nhng biến âm đầu của tiếng thứ nhất và tiếng
thứ ba thành
-l-Ví dụ : Nhồm nhoàm - lồm nhồm loàm nhoàm
Nh vậy, qua cách phân loại nh trên ta thấy: Sự biểu đạt ý nghĩa của từ láy rấtphức tạp và thú vị nhất là ở nhiều nhóm từ cùng có khuôn cấu tạo lại có thể có những
điểm giống nhau nào đó về nghĩa Điều này đợc khảo sát riêng, tỉ mỉ hơn ở phần sau
2.1.3) Nghĩa của từ láy:
a- ý nghĩa tăng giảm mức độ của từ láy:
Trong từ láy tiếng việt , những từ láy có hình vị cơ sở giống nhau nh ng nộidung ý nghĩa lại khác nhau Ví dụ : Xanh xanh, xanh xao Cả hai từ láy đều có hình vịcơ sở “Xanh” Chi đặc điểm về màu xanh của nhiều loại sự vật, hiện tợng :trời xanh ,lá cây xanh, biển xanh Nhng “xanh” không đổi về phạm vi biểu vật: trời xanhxanh, lá cây xanh xanh, nớc xanh xanh song độ đậm đặc có giảm theo ấn tợng về
Trang 32sự loang rộng trên bề mặt của màu xanh Thế nhng “xanh xao” chỉ nói về nớc da củacon ngời , cho nên từ xanh xao lại có thể gợi lên những ấn tợng hình ảnh vụ thể,những biểu hiện nh tình trạng bệnh tật, yếu đuối, thiếu sức sống mà ta có thể tợng t-ợng ra màu sắc của da đó
b>ý nghĩa chuyên biệt của từ láy :
Trong tiếng việt ,từ láy có khả năng biểu hiện rõ ý nghĩa chuyên biệt,tinh tế,phong phú, nhiều từ láy cùng xuất phát một hình vị gốc nhng lại thể hiện những sắcthái ý nghĩa khác nhau Chẳng hạn: lành lạnh, lạnh lùng, cùng có tiếng gốc lạnh nhnglành lạnh là chỉ mức độ lạnh (hơi lạnh), lạnh lùng lại chỉ thái độ, tình cảm của ngời vôcảm, lạnh lẽo thờng chỉ cảnh vật trống trải, thiếu hơi ấm (ngôi nhà lạnh lẽo) Hay ởnhóm từ láy có tiếng gốc nhẹ nh : nhẹ nhàng, nhẹ nhõm, nhè nhẹ, chí những sắc thái ýnghĩa khác nhau: nhè nhẹ chỉ mức độ trọng lợng giảm tiếng gốc ; nhẹ nhàng chuyểnsang nghĩa khác, chỉ cảm giác không nặng nề mà khoan khoái, dễ chịu (lòng nhẹnhàng thoải mái); nhẹ nhõm lại thể hiện sắc thái, ý nghĩa khác đó là từ chỉ trạng tháicơ thể thoải mái
Ngoài ra, trong tiếng việt có rất nhiều từ có tác dụng gợi tả hình dáng, màusắc, mùi vị hoặc gợi lên âm thanh, tiếng động , những từ này ta quen gọi là từ tợnghình, từ tợng thanh Trong số này, từ láy chiêm số lợng rất lớn, thể hiện rõ khả nănggợi hình, gợi thanh của từ láy tiếng việt
Chẳng hạn:
(1) Từ láy gợi tả mô phỏng âm thanh:
+ Từ láy mô phỏng tiếng động: thình thịch, lộp độp, ào ào
+ Từ láy mô phỏng tiếng ngời: thì thào, the thé, ồm ồm, léo nhéo, ha ha, hihi
+ Từ láy mô phỏng tiếng con vật: meo meo, gâu gâu, cúc cu
(2) Từ láy có giá trị gợi tả hình ảnh:
+ Màu sắc: Xanh xanh, đỏ đỏ, biêng biếc , hồng hồng, tim tím
+ Mùi vị : Phng phức, ngào ngạt , thoang thoảng
+ Đờng nét : lất phất, lăn tăn, chênh vênh, hun hút, vắt vẻo
+ Dáng dấp : Lom khom, ngất ngởng, thớt tha
ý nghĩa của từ láy, các giá trị tợng hình, tợng thanh của từ láy sẽ giúp cho các
em nhận ra đợc vẻ đẹp của tiếng việt Từ đó biết cách sử dụng chúng trong học tập và
Trang 33giao tiếp Đặc biệt đối với việc viết văn miêu tả, kể chuyện, các em rất cần sự có mặtcủa những từ láy này
2.1.4) Vị trí của phân môn tập làm văn trong chơng trình tiếng việt ở tiểu học:
- So với các môn học khác trong nhà trờng thì phân môn tập làm văn có khảnăng nuôi dỡng thế giới tâ hồn học sinh, lắng đọng, kết tinh trong tâm hồn các emnhững niềm hứng thú, say mê, sự chân thành, cởi mở Dạy tập làm văn giúp các emkhao khát vơn lên, hoàn thiện cuộc sống Dạy tập làm văn chính là dạy và tập cho họcsinh biết tiếp xúc với thế giới nghệ thuật, với cuộc sống để bớc vào cộng đồng chungvới vốn văn hoá ngày càng mở rộng
- Tập làm văn là một cách nối tiếp tự nhiên các bài học khác nhau trong môntiếng việt nh: tập đọc, chính tả, ngữ pháp Nhằm giúp cho học sinh có một năng lựcmới: Năng lực sản sinh văn bản ( bằng hình thức nói hoặc viết) Nhờ năng lực này,các em sử dụng đợc tiếng việt văn hoá làm công cụ t duy, giao tiếp và học tập Vìtrong đời sống và trong nhà trờng, văn bản mới là đơn vị hoàn chỉnh của quá trìnhgiao tiếp
- Bài tập làm văn còn là sản phẩm không lặp lại của mỗi học sinh trớc một đềbài cụ thể Điều đó giải thích cho tính sáng tạo của tập làm văn Chính vì vậy, trongchơng trình tiếng việt tiểu học, môn tập làm văn rất đợc chú trọng
Nh vậy, qua đó ta thấy tập làm văn có vị trí quan trọng trong chơng trình tiếngviệt tiểu học Ngoài ra phân môn tập làm văn còn có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng
đối với học sinh tiểu học :
+ Tập làm văn giúp cho học sinh sau quá trình luyện tập lâu dài và có ý thức,dần nắm đợc cách viết và cách nói sáng tạo các bài văn theo nhiều loại theo phongcách khác nhau
Các văn bản do học sinh sáng tạo có thể đợc trình bày dới hình thức viếthoặc nói Do tập làm văn có hai loại sản phẩm : Văn bản viết hoặc văn bản nói ởtr-ờng tiểu học theo chơng trình và sách giáo khoa hiện nay, tập làm văn có nhiệm vụrèn luyện kĩ năng viết hoặc nói các kiểu bài miêu tả, kể chuyện, tờng thuật Cáckiểu bài này chủ yếu là theo phong cách nghệ thuật
Kỹ năng viết hoặc nói các kiểu bài nêu trên là hệ thống gồm nhiều kỹ năng
bộ phận: phân tích đề, tìm ý, lập dàn ý, dựng đoạn, viết bài, dùng từ đặt câu Trong