Đi sâu vào phơng pháp dạy học cụ thể các phân môn: Học vần, Tập đọc,Sự ra đời của chơng trình Luyện từ và câu ở lớp 2 là sự đổi mới lớn cótính chất bớc ngoặt trong nền giáo dục tiểu học,
Trang 1Lời nói đầu
Đề tài “ Dạy tiếng Việt qua phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2 ” đợc thực hiện trong một thời gian ngắn, điều kiện có nhiều khó khăn Để hoàn thành công trình nghiên cứu này, tôi đã khẩn trơng thu thập, xử lý và chọn lọc tài liệu nhằm thực hiện các nhiệm vụ của đề tài đặt ra Ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn đợc sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo và sự động viên khích lệ của bạn bè Với tấm lòng biết
ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn tới cô giáo-Tiến sĩ Chu Thị Thuỷ An-ngời đã trực tiếp hớng dẫn tôi thực hiện đề tài này, cùng các thầy, cô giáo trong Khoa GDTH đã cho tôi những ý kiến đóng góp quý báu, cảm ơn các thầy cô giáo Tr- ờng tiểu học Cửa Nam I-Thành phố Vinh đã tạo điều kiện cho tôi tổ chức thức nghiệm tại trờng.
Đề tài đợc tìm hiểu trong một thời gian ngắn nên chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận đợc lời chỉ bảo, nhận xét của các thầy, cô giáo và tất cả các bạn.
Tôi xin chân thành ơn !
Tác giả
Trang 2Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài:
1.1 Bớc vào thế kỷ XXI, thế kỷ mở đầu một thiên niên kỷ mới, đất nớcchúng ta bớc vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đây là một quá trìnhgian khổ, kéo dài nhiều năm, dẫn đến những sự thay đổi quan trọng trong cơcấu kinh tế, trình độ phát triển sản xuất khoa học kỹ thuật, cơ cấu xã hội, thunhập quốc dân Gần đây trên thế giới nói chung cũng nh ở nớc ta nói riêngbắt đầu đặt ra nhiều vấn đề mới nh: nền kinh tế tri thức, sự phát triển của côngnghệ thông tin, xu hớng quốc tế hoá, toàn cầu hoá trong nền kinh tế, vấn đềhội nhập, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
Những đổi thay đó trên thế giới đã phản ánh vào giáo dục, đòi hỏi phải
có những đổi mới t duy trong phát triển giáo dục và đào tạo, Trung Quốc đã
đề ra 5 phơng hớng, Pháp đề ra 49 nguyên tắc cụ thể, Hoa Kỳ nêu ra 10 t tởngchỉ đạo để phát triển giáo dục Nớc ta cũng đã tiếp tục đổi mới giáo dục vàcách làm giáo dục theo tinh thần Đại hội VI, Nghị quyết Hội nghị Trung ơng
IV khoá VII, Nghị quyết Hội nghị Trung ơng II khoá VIII cũng nh Nghị quyết
Đại hội Đảng lần thứ IX
1.2 Những thay đổi quan trọng trong kinh tế, xã hội, giáo dục dẫn đếnnhững yêu cầu mới trong dạy học tiếng nói chung và dạy học tiếng mẹ đẻ nóiriêng Chơng trình Tiếng Việt tiểu học hiện hành tuy đã đạt đợc nhiều kết quảkhả quan, nhng cũng bộc lộ nhiều nhợc điểm, thiếu sót Đó là lý do đòi hỏi sựthay đổi trong chơng trình, mục tiêu, nội dung, phơng pháp dạy học tiếng Việtnói chung, dạy tiếng Việt ở tiểu học nói riêng
Cùng với sự đổi mới về mục tiêu, nội dung, phơng pháp dạy học tiếngViệt là sự đổi mới về Sách giáo khoa Tiếng Việt Chơng trình Sách giáo khoaTiếng Việt năm mới ra đời đã thay thế cho tất cả các chơng trình Tiếng Việt ởtiểu học đang tồn tại hiện nay ở nớc ta
1.3 Chơng trình Tiếng Việt nói chung và phân môn Luyện từ và câu ởSách giáo khoa Tiếng Việt 2 mới nói riêng ra đời nhằm khắc phục những nh-
ợc điểm, thiếu sót của chơng trình cải cách giáo dục Với chơng trình TiếngViệt mới này thì mục tiêu dạy tiếng Việt cho học sinh thông qua hoạt độnggiao tiếp, có nghĩa là dạy tiếng Việt là dạy học sinh sử dụng tiếng Việt hiện
đại để học tập và giao tiếp trong các môi trờng hoạt động phù hợp lứa tuổi.Giao tiếp là một hoạt động quan trọng để phát triển xã hội loài ngời Cónhiều phơng tiện giao tiếp trong đó ngôn ngữ là phơng tiện quan trọng và cơ
Trang 3bản nhất Đối với cộng đồng dân c sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam thì tiếngViệt là công cụ t duy và giao tiếp Việc giao tiếp bằng tiếng Việt đợc thực hiệnthông qua hai dạng ngôn ngữ đó là lời nói và chữ viết Để có thể hiểu đợc nộidung giao tiếp ngời ta phải nghe và đọc đợc tiếng Việt, để có thể bày tỏ ýnghĩ, tình cảm của mình ngời ta phải nói hoặc viết đợc tiếng Việt trong cả haidạng ngôn ngữ nói trên
Dạy tiếng Việt là dạy cách dùng tiếng Việt trong cả hai dạng ngôn ngữ
và dạy cả bốn kỹ năng đọc, nghe, nói, viết, dạy học sinh cả lĩnh hội và sảnsinh các ngôn bản bằng tiếng Việt Dạy tiếng Việt gắn với đời sống, thực tiễn
sử dụng tiếng Việt ở gia đình, nhà trờng và xã hội có nghĩa là mục tiêu chơngtrình nhấn mạnh tinh thần thực hành giao tiếp chú trọng dạy tiếng Việt quacác tình huống giao tiếp Dạy tiếng Việt còn thể hiện các yêu cầu tích hợp, màtrớc hết là tích hợp trong việc rèn luyện các kỹ năng Tiếng Việt
Chơng trình Tiếng Việt mới (thực thi vào đầu năm học 2002-2003 trênphạm vi cả nớc) đang còn hoàn toàn mới mẻ đối với giáo viên và học sinh nên
đã gây nhiều tranh cãi, khó khăn, ngay khi mới ra mắt
Vậy thực tế dạy học ở trờng tiểu học chơng trình này đã bộc lộ những u
điểm và nhợc điểm nào? Và việc dạy tiếng Việt qua phân môn Luyện từ vàcâu ở lớp 2 ra sao? Có những vấn đề nào cần cải tiến, sửa chữa, chỉnh lý chophù hợp với thực tế là một vấn đề cấp bách
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đặt vấn đề đi sâu nghiên cứu
việc Dạy tiếng Việt qua phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2“ ”.
2 Lịch sử vấn đề.
Chơng trình Luyện từ và câu ra đời, thay thế cho chơng trình Từ ngữ-Ngữpháp trớc đây, đã tạo ra bớc ngoặt trong nền giáo dục Vì thế, nó nhận đợc sựquan tâm từ rất nhiều ngời: từ các nhà s phạm, các nhà nghiên cứu cho đếncác bậc phụ huynh học sinh
Vấn đề dạy học Từ ngữ-Ngữ pháp nói chung và dạy học Từ ngữ-Ngữpháp ở tiểu học nói riêng đã có nhiều công trình, tài liệu nghiên cứu khoa học
đề cập đến, ở nhiều khía cạnh khác nhau
Đầu tiên phải kể đến “Phơng pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học ” củacác tác giả Lê Phơng Nga, Nguyễn Trí [9] Cuốn sách đã đề cập đến nhữngvấn đề chung của phơng pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, vấn đề bài tập đ-
ợc nói đến trên phơng diện phơng hớng chung cho tất cả các phân môn TiếngViệt
Trang 4Đi sâu vào phơng pháp dạy học cụ thể các phân môn: Học vần, Tập đọc,
Sự ra đời của chơng trình Luyện từ và câu ở lớp 2 là sự đổi mới lớn cótính chất bớc ngoặt trong nền giáo dục tiểu học, nên nhận đợc rất nhiều sựquan tâm Nhng thực tế mọi vấn đề đều đang bó hẹp trong phạm vi nghiên cứucủa các nhà soạn thảo chơng trình, hay mới chỉ đợc đề cập ở một số tạp chíchuyên ngành:
- Trớc tiên, phải kể đến Tài liệu tập huấn -giảng viên cốt cán cấp tỉnh
triển khai chơng trình và Sách giáo khoa lớp 2 môn Tiếng Việt [17] ở cuốn
tài liệu này, các tác giả chia làm 2 phần:
+ Những vấn đề chung về nội dung và phơng pháp dạy học môn TiếngViệt lớp 2
+ Những vấn đề dạy học và cách phân môn cụ thể
Phần Luyện từ và câu đợc đề cập ở phần 2 của cuốn tài liệu một cách rõ ràng
cụ thể các vấn đề: nội dung, cấu trúc và phơng pháp dạy Luyện từ và câu
- Cuốn Hỏi và đáp về dạy học Tiếng Việt 2 do tác giả Nguyễn Minh
Thuyết chủ biên [12] đề cập đến những vấn đề chung về dạy Tiếng Việt 2 vàcác phân môn của Tiếng Việt 2 (trong đó có phân môn Luyện từ và câu)
- Cuốn Phơng pháp Luyện từ và câu 2 tiểu học của các tác giả Trần Đức
Niềm, Lê Thị Nguyên, Ngô Lê Hơng Giang [7] nhằm giúp học sinh giải cácbài tập trong Sách giáo khoa Luyện từ và câu 2
- Cuốn Luyện từ và câu 2 của tác giả Đặng Mạnh Thờng [14] cũng nhằm giúp
học sinh cách giải các bài tập trong Sách giáo khoa Luyện từ và câu 2
Trang 5Bên cạnh đó, còn có một số bài viết, bài báo đề cập đến chơng trìnhTiếng Việt 2, phân môn Luyện từ và câu ở những phơng diện nhỏ khác nhau:
- Thực trạng dạy học Tiếng Việt ở tiểu học và một số yêu cầu rèn luyện
kỹ năng giao tiếp của tác giả Lê Thị Thanh Bình [3].
- Tiếng Việt 2-nhìn từ góc độ giao tiếp, tác giả Nguyễn Quang Ninh [8].
- Quan điểm biên soạn và cấu trúc của Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 của
tác giả Nguyễn Minh Thuyết, Hoàng Thị Hoà Bình [13]
- Thực hành giao tiếp -đặc điểm nổi bật của chơng trình Tiếng Việt 2 của
tác giả Ngô Thị Minh [6]
Nh vậy, đã có rất nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu đề cập đếnlĩnh vực này Nhìn chung, họ đã bàn về nội dung, hình thức, quan điểm, cấutrúc, cơ sở khoa học của chơng trình và Sách giáo khoa Luyện từ và câu nóiriêng và Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 nói chung
Tuy nhiên, đến nay vẫn cha có công trình nghiên cứu nào đặt chơngtrình, Sách giáo khoa Luyện từ và câu trong thực trạng dạy học ở nhà trờngtiểu học nhằm đa ra những biện pháp, kiến giải vừa có cơ sở khoa học, vừa cócơ sở thực tế
Vì vậy trong quá trình nghiên cứu luận văn này chúng tôi đi sâu vào nộidung Luyện từ và câu ở Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 và đa ra một số đề xuấtnhằm mục đích phục vụ việc dạy học luyện từ và câu ở lớp 2 theo chơng trìnhTiếng Việt mới có hiệu quả
3 Mục đích nghiên cứu
- Nhìn nhận những u điểm, nhợc điểm của chơng trình Luyện từ và câu ởlớp 2 đa ra những ý kiến đóng góp để chơng ngày càng hoàn thiện
- Đề xuất việc ứng dụng một số phơng pháp, biện pháp dạy học vào dạyhọc Luyện từ và câu ở lớp 2
- Góp phần giải quyết khó khăn, lúng túng của giáo viên và học sinh tiểuhọc hiện nay về nội dung và phơng pháp dạy học phân môn Luyện từ và câu ởlớp 2
4 Đối tợng nghiên cứu.
Để đạt đợc mục đích nêu trên, đối tợng nghiên cứu của đề tài là:
Nội dung và phơng pháp dạy học Luyện từ và câu ở lớp 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích và đối tợng nghiên cứu nh trên, đề tài phải thực hiện nhữngnhiệm vụ sau:
Trang 6- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề dạy học Luyện từ và câulớp 2.
- Nghiên cứu chơng trình, Sách giáo khoa phân môn Luyện từ và câu ởlớp 2
- Đề xuất một số phơng pháp, biện pháp dạy học luyện từ và câu lớp 2 vàthiết kế một số bài dạy cụ thể
- Tiến hành thực nghiệm s phạm
6 Phơng pháp nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu, để hoàn thành đề tài này chúng tôi đã sửdụng các phơng pháp sau:
6.1 Phơng pháp nghiên cứu lý thuyết:
Nhằm nghiên cứu về nội dung và phơng pháp dạy Luyện từ và câu lớp 2
ở tiểu học, nhằm thu thập thông tin về lý luận có liên quan đến đề tài nghiêncứu trong các công trình tài liệu đã công bố
6.2 Phơng pháp quan sát điều tra:
Nhằm nghiên cứu thực tiễn dạy học Luyện từ và câu ở lớp 2 tại các trờngtiểu học
Trang 7Phần nội dung Ch
ơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
1 Một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài.
1.1 Đặc điểm của chơng trình Tiếng Việt mới.
1.1.1 Mục tiêu của chơng trình Tiếng Việt mới:
Theo quyết định cố 43/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 9/11/2001 của Bộ ởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức ban hành chơng trình tiểu học mới-
Tr-đây là bộ chơng trình giáo dục tiểu học trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nớc Chơng trình Tiếng Việt mới đợc ban hành và biên soạn nhằmnâng cao chất lợng dạy học tiếng Việt trên cơ sở phát huy những u điểm cần
kế thừa và khắc phục những nhợc điểm của bộ chơng trình Tiếng Việt cải cáchgiáo dục, tiếp cận với những thành tựu hiện đại của việc dạy tiếng nói chung,dạy tiếng mẹ đẻ nói riêng của các nớc trong khu vực và trên thế giới
Nếu nh mục tiêu chơng trình Tiếng Việt cải cách giáo dục vẫn còn nhữngnhợc điểm cần khắc phục nh: quan niệm về dạy tiếng Việt cha đầy đủ, chalàm rõ dạy tiếng Việt chính là dạy sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp và suynghĩ, học tập của học sinh Hay có dạy tiếng Việt theo quan điểm giao tiếpnhng cha đầy đủ, toàn diện cho nên cha vận dụng các tri thức về sử dụng tiếngViệt vào chơng trình và Sách giáo khoa Tiếng Việt Trong chơng trình TiếngViệt mới những nhợc điểm trên đã đợc khắc phục với mục tiêu đợc xác địnhlà: hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (đọc,nghe, nói, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trờng hoạt động của lứatuổi Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tduy cho học sinh Ngoài ra, còn cung cấp cho học sinh những kiến thức sơgiản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về tự nhiên-xã hội và con ngời
về văn hoá, văn học của Việt Nam và nớc ngoài Bồi dỡng tình yêu tiếng Việt,hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt góp phần hìnhthành nhân cách con ngời Việt Nam xã hội chủ nghĩa
1.1.2 Nội dung của chơng trình Tiếng Việt mới
Chơng trình Tiếng Việt cải cách giáo dục đã quan tâm đến việc dạy kỹnăng trong đó chú ý nhiều hơn đến các kỹ năng đọc, viết với quan điểm u tiêndạy ngôn ngữ viết trong nhà trờng mà coi nhẹ dạy ngôn ngữ nói, do đó coi nhẹcả dạy kỹ năng nghe và kỹ năng nói tiếng Việt, cha khai thác hết vốn tiếngViệt sẵn có của học sinh khi học tiếng Việt Chơng trình Tiếng Việt cải cách
Trang 8giáo dục còn quá thiên về dạy loại văn bản mang tính nghệ thuật mà cha coitrọng dạy các loại văn bản thông thờng (văn bản hành chính, các loại văn bảncần dùng trong đời sống hàng ngày ) vì thế nên ngữ liệu để dạy tiếng Việtkhông có các bài thuộc loại văn bản thông thờng
Xuất phát từ những hạn chế của chơng trình Tiếng Việt cải cách giáo dục
nh đã nêu trên, chơng trình Tiếng Việt mới đã đề ra những nội dung cụ thể nhsau nhằm cụ thể hoá mục tiêu chơng trình
Chơng trình yêu cầu dạy cả bốn kỹ năng (nghe, đọc, nói, viết) cho họcsinh qua tất cả các lớp Mỗi kỹ năng đều sắp xếp để có sự phát triển dần từ lớpdới lên lớp trên Dạy kỹ năng nghe, nói trong cả độc thoại lẫn đối thoại (hộithoại) Dạy nghe các loại văn bản phù hợp với trình độ học sinh tiểu học, tậptrung vào dạy nghe hiểu Dạy nghe trong hội thoại gắn liền với sinh hoạt ởtiểu học (nghe nhớ đợc lời ngời nói, hiểu nội dung lời nói, bớc đầu nhận biếtthái độ tình cảm ngời nói qua nội dung, giọng điệu, điệu bộ ) Dạy nói tronghội thoại: dạy các nghi thức lời nói trong giao tiếp thông thờng hoặc tronggiao tiếp nghi thức chính thức, trong sinh hoạt ở tiểu học và dạy cách trao đổi,bàn bạc một vấn đề thông thờng Dạy nói thành bài để giới thiệu về bản thân,bạn bè, gia đình, lớp học với một ngời khác
Chơng trình yêu cầu dạy kỹ năng đọc, viết tất cả các loại văn bản Trongdạy đọc chú ý tới các phơng diện: đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc diễn cảm,
đọc hiểu các loại văn bản nghệ thuật, hành chính, báo chí, khoa học phù hợptrình độ của hoạt động của học sinh tiểu học, học thuộc lòng một số bài thơhay, bài văn vần trong Sách giáo khoa, học cách sử dụng từ điển, đọc các kýhiệu, các số liệu trên sơ đồ, biểu đồ, bảng hiệu , tập ghi chép khi đọc
Trong dạy viết thì dạy viết chữ từ rõ ràng, đúng mẫu đến viết nhanh, đẹp, viết
đúng chính tả với các hình thức luyện tập phong phú (tập chép, tập nghe viết, làmbài tập, lập sổ tay ), cuối cùng là dạy viết bài văn gồm các thể loại văn bản
Về mặt kiến thức chơng trình Tiếng Việt mới yêu cầu cung cấp các kiếnthức sơ giản phù hợp với lứa tuổi học sinh tiểu học về các lĩnh vực: ngữ âm vàchữ viết, từ ngữ, ngữ pháp, văn bản và kiến thức sử dụng tiếng Việt trong giaotiếp, kiến thức về văn học (một số thể thơ thông dụng, nhân vật, đề tài, lời kểtrong truyện ) các kiến thức về tiếng Việt trình bày trong văn bản chơng trìnhdùng làm cơ sở biên soạn Sách giáo khoa không đa các kiến thức lý thuyết nàydạy trực tiếp cho học sinh, chủ yếu để cho các em làm quen và nhận biết
Trang 9chúng thông qua các bài thực hành kỹ năng, chơng trình nhấn mạnh về việchọc từ ngữ (kể cả thành ngữ, tục ngữ) qua từng lớp.
Ngữ liệu sử dụng để dạy học tiếng Việt có những thay đổi quan trọng.Trong chơng trình và Sách giáo khoa trớc đó ngữ liệu dùng để học tiếng Việtchỉ trích dẫn từ một nguồn duy nhất là các tác phẩm văn học thì trong chơngtrình Tiếng Việt mới ngữ liệu sử dụng dạy tiếng Việt đợc trích dẫn từ nhiềuloại văn bản khác nhau (văn bản hành chính, báo chí, nghị luận, khoa học )
đồng thời còn dạy cách sử dụng tiếng Việt không chỉ để làm các bài văn mangtính nghệ thuật (nh miêu tả, kể chuyện ) mà còn để làm các loại văn bảnthông thờng nhật dụng (khai lý lịch, viết điện báo, viết th, điện chúc mừng,
điện chuyển tiền )
1.1.3 Phơng pháp và hình thức dạy học chơng trình Tiếng Việt mới:
Về ph ơng pháp dạy học : theo chơng trình Tiếng Việt cải cách giáo dục,các phơng pháp dạy học theo quan điểm giao tiếp cha đợc sử dụng trong dạy
và học tiếng Việt, việc luyện tập các kỹ năng cha đảm bảo độ thành thạo,thuần thục nên còn hạn chế nhiều đến kết quả học tiếng Việt
Về hình thức dạy học: theo chơng trình Tiếng Việt cải cách giáo dục chaphong phú, đa dạng nên không kích thích đợc sự hoạt động học tập của họcsinh trong quá trình học
Vậy để việc dạy học tiếng Việt theo chơng trình mới có hiệu quả cầnphải sử dụng những phơng pháp dạy học phát huy tính tích cực chủ động củahọc sinh, các phơng pháp đặc trng của dạy học tiếng Việt nh: phơng pháp thựchành giao tiếp (đọc, nghe, nói, viết trong các tình huống giao tiếp cụ thể), cácphơng pháp đóng vai, phơng pháp rèn luyện theo mẫu, phơng pháp phân tíchngôn ngữ Tuy nhiên, những phơng pháp dạy học khác nh : diễn giảng, thảoluận, đặt và giải quyết vấn đề, sử dụng phơng tiện trực quan vẫn đợc phốihợp một cách hợp lý với các phơng pháp dạy học mới để dạy tiếng Việt đạthiệu quả cao
Theo chơng trình Tiếng Việt mới thì các hình thức tổ chức dạy học cũngphong phú, đa dạng phù hợp với lứa tuổi, đặc điểm tâm sinh lý học sinh tiểuhọc Hiện nay, ở tiểu học ngời ta phối hợp một cách linh hoạt các hình thức tổchức lớp học để tiến hành các bài học Một bài học có thể sử dụng nhiều hìnhthức dạy học xen kẽ Gần nh không còn hiện tợng chỉ sử dụng một hình thức
tổ chức lớp học
Trang 10Hình thức dạy học là cách thức tổ chức sắp xếp học sinh của một lớpthành các đơn vị học tập khác nhau trong quá trình dạy học Có các hình thứcdạy học: Tổ chức học chung toàn lớp (gọi là tổ chức học theo lớp học), tổ chứclớp thành nhiều nhóm, các nhóm cùng trao đổi, bàn bạc về một nội dung bàihọc (gọi là tổ chức học theo nhóm), tổ chức để từng cá nhân học sinh làm việc
độc lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ học tập (gọi là tổ chức học cá nhân), tổchức để học sinh làm việc trong phòng học nh là việc trong xởng trờng, vờn tr-ờng, tại nhà máy, viện bảo tàng (gọi là tổ chức học ngoài phòng học)
Sự phối hợp các hình thức tổ chức lớp học khác nhau nên tạo nên sự mềmdẻo, linh hoạt cho quá trình dạy học Nó cho phép giáo viên có thể sử dụngnhiều biện pháp , thủ pháp dạy học Quan trọng hơn, nó tạo điều kiện cho giáoviên cá thể hoá việc dạy học, tạo điều kiện cho mọi học sinh đều tham gia vàohoạt động học tập, tạo điều kiện cho các em học cách làm việc tập thể theonhóm, học cách phối hợp với bạn bè trong công việc, tạo điều kiện cho họcsinh mạnh dạn, tự tin trình bày ý kiến cá nhân Đối với việc dạy học tiếngViệt, phối hợp các hình thức tổ chức lớp học nêu trên tạo điều kiện, tạo môi tr-ờng thuận lợi cho việc giao tiếp, cho việc rèn luuện bốn kỹ năng sử dụng tiếngViệt
1.2 Đặc điểm của phân môn Luyện từ và câu “ ”
1.2.1.Mục tiêu, nhiệm vụ
ở chơng trình Tiếng Việt cải cách giáo dục với t cách là một phân môn
độc lập Ngữ pháp và Từ ngữ đợc dạy ghép trong một tiết học (ở lớp 2, 3)
Với quy định thời gian là 35 phút thì 10-15 phút dành cho Ngữ pháp Vàviệc hệ thống hoá ôn tập kiến thức ngữ pháp trong tuần là 15-20 phút Điềunày gây khó khăn không nhỏ cho giáo viên khi biên soạn và triển khai tiết dạytrên lớp (dung lợng kiến thức cần truyền thụ thì nhiều quỹ thời gian vật chấttrên lớp lại ít) dẫn đến chất lợng và hiệu quả của các tiết dạy cũng không đạt
nh mong muốn
Bên cạnh đó, có khá nhiều từ ngữ trong phần Từ ngữ trùng lặp trong cácbảng từ Tóm lại, nhìn vào bảng từ trong Sách giáo khoa -Từ ngữ ta thấy ngờisoạn sách chủ yếu dựa vào sự cảm nhận chủ quan của mình để lựa chọn, liệt
kê các từ ngữ đa vào bảng từ ở mỗi bài dạy nên cha định lợng, định tính đợc,cha quy hoạch đợc vốn từ cần dạy cho học sinh ở một lớp, một độ tuổi trongmột cấp học Các bài thực hành từ ngữ theo chủ đề Sách giáo khoa đa ra còn
Trang 11khó đối với học sinh (nhất là các bài tập yêu cầu học sinh giải nghĩa từ) hay cóloại bài tập nêu yêu cầu không rõ ràng nên khó thực hiện đối với học sinh.
Đối với chơng trình và các tài liệu dạy học Ngữ pháp thì có chú ý tới yêucầu thực hành nhng nặng thực hành để nắm các kiến thức lý thuyết để nhậndiện, phân loại các đơn vị ngữ pháp mà ít cho học sinh thực hành nghe, đọc,nói, viết Mục đích chính của dạy tiếng Việt không phải là giải thích cho họcsinh về diện mạo tiếng Việt, đi vào nhận diện phân loại các đơn vị ngôn ngữ
nh công việc của các nhà nghiên cứu mà dạy tiếng nhằm mục đích giúp họcsinh hớng vào hoạt động giao tiếp, thông qua giao tiếp các tài liệu dạy họctiếng Việt cải cách giáo dục thờng cho học sinh đi tìm những khuôn mẫu,những mô hình lý tởng của những câu nói xa xôi đối với đời sống thực, nhữngcâu phi ngữ cảnh Những câu học sinh thờng nghe thấy, thờng sử dụng hàngngày thì không đợc chú ý Tài liệu dạy học thờng nặng về xét các bộ phận câu
mà không nói rõ câu đó dùng với mục đích gì, trong điều kiện nào, tình huốngnào của hiện thực, đây là cách trình bày không gắn với giao tiếp, miêu tả táchrời cảnh huống sẽ không có tác dụng cho việc sử dụng ngôn ngữ Vì phi ngữcảnh mà ngữ pháp ở tiểu học nhiều khi không chú ý đầy đủ đến thái độ củangời nói đối với hiện thực, với hoàn cảnh giao tiếp
Bộ Sách giáo khoa Tiếng Việt cải cách giáo dục tách Từ Ngữ và NgữPháp ra thành 2 phân môn riêng biệt Cơ sở của giải pháp này là sự phân biệt 2chuyên ngành Từ vựng học và Ngữ pháp học trong ngôn ngữ học Sự phân biệt
ấy tỏ ra không thật thích hợp với nhà trờng phổ thông vì nhiệm vụ của trờngphổ thông không phải là dạy lý luận ngôn ngữ học mà là rèn luyện kỹ năngdùng từ, đặt câu cho học sinh Hai kỹ năng dùng từ, đặt câu liên quan chặt chẽvới nhau Không có vốn từ phong phú, không hiểu nghĩa và đặc điểm ngữpháp của từ thì không thể đặt câu đúng đợc Ngợc lại, nếu không nắm vữngquy tắc đặt câu thì dù vốn từ có phong phú, nghĩa của từ có nắm chắc đến đâucũng không trình bày đợc ý kiến của mình một cách mạch lạc, rõ ràng Chínhvì vậy, trong bộ sách giáo khoa mới, hai phân môn Từ Ngữ và Ngữ Pháp đợcnhập lại thành phân môn Luyện từ và câu Việc nhập lại thành một phân môncũng phù hợp với một thực tế là do không đủ quỹ thời gian để dạy riêng nên
Trang 12ngay từ trong cải cách giáo dục, Từ ngữ và Ngữ pháp đã đợc bố trí dạy chungtrong cùng một tiết học.
Tên gọi Luyện từ và câu thể hiện nhận thức mới về nhiệm vụ dạy tiếngViệt ở tiểu học đó là: chú trọng thực hành, luyện tập hơn là lý luận
Nhiệm vụ chủ yếu của phân môn Luyện từ và câu trong sách giáo khoaTiếng Việt lớp 2 là giúp học sinh:
- Mở rộng vốn từ theo chủ điểm trong sách giáo khoa
- Cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về từ loại và về kiểu cấutạo của các từ thông qua những từ các em đã có hoặc những từ mới học
- Rèn luyện kỹ năng dùng từ, đặt câu theo một số mẫu câu phổ biến
- Rèn luyện kỹ năng nói và viết thành câu, dùng một số dấu câu phổ biếnkhi viết
Xuất phát từ đặc điểm, nội dung, chơng trình, Sách giáo khoa Tiếng Việtmới nh đã trình bày ở trên chi phối việc biên soạn cả nội dung lẫn phơng thứcdạy học của phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2
1.2.2 Nội dung cụ thể của từng phần trong phân môn Luyện từ và câu
nh sau:
+ Nội dung luyện từ:
- Học sinh học khoảng 300-350 từ ngữ (trong đó có một số thành ngữ,tục ngữ và một số từ Hán Việt thông dụng) thuộc các chủ điểm trong sáchgiáo khoa: học sinh, bạn bè, trờng học, thầy cô, ông bà, cha mẹ, anh em, cáccon vật nuôi, các mùa trong năm, chim chóc, muông thú, sông biển, cây cối,Bác Hồ, nhân dân Thực chất các từ này bổ sung cho vốn từ về thế giới xungquanh gần với các em và vốn từ về chính bản thân các em
- Nhận biết ý nghĩa chung của từng lớp từ: Chỉ ngời, vật và sự vật nóichung (danh từ); chỉ hoạt động, trạng thái (động từ); chỉ đặc điểm, tính chất(tính từ) Tuy nhiên, sách cha yêu cầu học sinh biết các khái niệm danh từ,
động từ, tính từ
- Nhận biết nghĩa của một số thành ngữ, tục ngữ gắn với các chủ điểm và
dễ hiểu đối với học sinh
Trang 13- Nhận biết tên riêng và biết viết hoa tên riêng.
- Làm quen với các cách giải nghĩa từ thông thờng: giải nghĩa bằng cách
định nghĩa, bằng cách mô tả trực tiếp (thông qua các hình ảnh hoặc lời tả),bằng cách tìm từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa
+ Nội dung luyện câu:
Nội dung luyện câu chủ yếu yêu cầu học sinh nói và viết thành câu trêncơ sở những hiểu biết sơ giản sau:
- Nhận biết câu trong lời nói và trong văn bản dựa trên tính tơng đối trọnvẹn về ý nghĩa của câu, dựa trên dấu hiệu mở đầu và kết thúc câu trong vănbản (viết hoa chữ cái đầu câu, dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than ở chỗkết thúc câu)
- Nhận biết các bộ phận chính trong những kiểu câu phổ biến có môhình: Ai ( cái gì) - làm gì ?; Ai (cái gì )- là gì?; Ai (cái gì) - thế nào? Qua việc
đặt câu hỏi cho từng bộ phận chính cuả câu
- Nhận biết các bộ phận phụ của câu trả lời cho các câu hỏi Khi nào? ở đâu?
Nh thế nào? Vì sao? Để làm gì? Trong những kiểu câu phổ biến nói trên
- Nhận biết các dấu hiệu kết thúc câu kể, câu hỏi, câu cầu khiến, câu cảm (dấuchấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than) và dấu phẩy đặt ở giữa câu để tách ý
Trên cơ sở mục đích, nhiệm vụ và nội dung đó phân môn Luyện từ vàcâu trong sách giáo khoa Tiếng việt 2 hiện hành có các kiểu bài tập nh sau:a) Loại bài tập giúp học sinh mở rộng, phát triển vốn từ, ( mở rộng vốntừ- theo chủ điểm)
b) Loại bài tập giúp học sinh nắm nghĩa của từ
c) Loại bài tập giúp học sinh luyện tập, phân loại, phân nhóm các từ, hệthống hoá vốn từ
d) Loại bài tập giúp học sinh luyện tập sử dụng từ
1.2.3 Phơng pháp và hình thức tổ chức dạy học Luyện từ và câu.
Dạy tích hợp kiến thức và kĩ năng trong một tiết dạy, không có tiết dạyriêng cho kiến thức hay kĩ năng Dạy thông qua hệ thống bài tập, qua hệ thốngbài tập này học sinh có thể tự chiếm lĩnh tri thức và rèn luyện các kĩ năng.Trong tiết dạy phối hợp nhiều phơng pháp và hình thức tổ chức dạy học
2 Thực trạng dạy học phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2 hiện nay:
Trang 142.1 Thực trạng dạy và học theo sách giáo khoa Luyện từ và câu ở lớp 2:
Chơng trình và sách giáo khoa Luyện từ và câu đã đợc triển khai trênphạm vi cả nớc bắt đầu từ năm học 2003- 2004 Chúng tôi đã tiến hành, khảo sát thực trạng dạy học phân môn này tại các trờng tiểu học ở thành phốVinh- Nghệ An và các trờng tiểu học huyện Vũ Quang- Hà Tĩnh Kết quả chothấy, cả giáo viên và học sinh đều gặp một số khó khăn, lúng túng trong việc
sử dụng sách giáo khoa để dạy và học phân môn Luyện từ và câu
2.1.1 Về phía giáo viên:
- Hầu hết các giáo viên dù đã đợc tập huấn trớc khi dạy phân môn Luyện
từ và câu nói riêng, môn Tiếng Việt ở tiểu học nói chung nhng đang còn rấtlúng túng khi sử dụng các phơng pháp đổi mới, đôi khi cha thoát đợc lối dạyhọc truyền thống hay nhiều khi tách hai nội dung ra dạy riêng biệt đó là Từngữ và Ngữ pháp
Ví dụ : Tiết Luyện từ và câu ở tuần 2 (ngay đầu năm học) qua khảo sát,
điều tra nhiều giáo viên vẫn trả lời chúng tôi là dạy phần Ngữ pháp nặng hơndạy phần Từ ngữ vì có những ba bài tập về Ngữ pháp mà chỉ có một bài tập vềdạy Từ ngữ điều này các giáo viên đã đi sai ý đồ của Sách giáo khoa
- Khi dạy nội dung về từ , mục đích của sách giáo khoa là chỉ yêu cầuhọc sinh nhận biết ý nghĩa chung của từng lớp từ, chứ cha yêu cầu học sinhbiết khái niệm danh từ, động từ hay tính từ nhng khi dạy một số giáo viên chahiểu đợc mục đích này nên nhiều khi nặng về dạy lý thuyết hơn thực hành
Ví dụ: Tiết Luyện từ và câu ở tuần 3, mục đích của sách giáo khoa làgiúp học sinh nắm đợc các từ chỉ sự vật (ngời, đồ vật, con vật, cây cối ) lànhững từ nào? Thì một số giáo viên khi dạy vẫn định nghĩa những từ chỉ sự vậtgọi là danh từ
- Hay khi dạy nội dung về câu sách giáo khoa chỉ yêu cầu học sinhnhận biết các bộ phận chính của câu theo mô hình chứ không cung cấp chohọc sinh khái niệm chủ ngữ, hay vị ngữ nhng hầu hết các giáo viên còn rấtmơ hồ về những vấn đề này nên đôi khi dẫn đến áp đặt kiến thức cho học sinh
Ví dụ: Tiết Luyện từ và câu ở tuần 5 khi dạy kiểu câu Ai là gì? Thì giáoviên vẫn dạy kiểu: Những từ trả lời cho câu hỏi Ai? là chủ ngữ còn những từtrả lời cho câu hỏi Là gì ? là vị ngữ
2.1.2 Về phía học sinh:
Trang 15Hầu hết, các em đều cảm thấy khó khăn trong việc thực hiện các hoạt
động của hình thức tổ chức dạy học mơí Trong tiết Luyện từ và câu, các emphải lần lợt thực hiện việc giải các bài tập trong sách giáo khoa bằng các hoạt
động Mỗi bài tập trong tiết Luyện từ và câu theo phơng pháp dạy học mới làmỗi hoạt động khác nhau (hoạt động theo cá nhân, nhóm, tổ, hay cả lớp ) Chỉriêng thay đổi các hoạt động này để thực hiện giải các bài tập (mỗi tiết Luyện
từ và câu có 3- 4 bài tập) đã làm mất nhiều thời gian của tiết học, đôi khi làmviệc nhiều các em thấy chán và mệt mỏi Chẳng hạn, khi giáo viên ra lệnh,yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm 4 hay nhóm 3, nhóm 5 nhng một số họcsinh vẫn cha tìm đợc nhóm của mình Hay khi hoạt động nhóm các em chabiết cách hoạt động theo nhóm mà mỗi em một việc, chỉ ngồi theo nhóm Tấtcả những điều đó làm ảnh hởng đến tiến trình giờ dạy, làm giảm chất lợng họctập
2.2 Thực trạng sử dụng các phơng pháp dạy học, đồ dùng dạy học
và các hình thức tổ chức dạy học của giáo viên trong giờ Luyện từ và câu:
Nhìn chung, các giáo viên vẫn sử dụng phơng pháp nh giảng giải, truyềnthụ, hỏi đáp hay rèn luyện theo mẫu Các phơng pháp dạy học khác ít đợc giáoviên sử dụng hoặc có sử dụng thì chỉ ở một số trờng thành phố hay trong cáctiết dạy thao giảng, dự giờ, thi giáo viên giỏi Điều này phản ánh thực trạngcủa việc đổi mới phơng pháp tiểu học hiện nay cha đợc triển khai mạnh mẽ,
sở dĩ có điều đó vì giáo viên cha nắm vững về mặt lý luận của các phơng phápdạy học mới do trình độ của giáo viên- tiểu học hiện nay đợc đào tạo không
đồng đều, điều kiện cơ sở vật chất của trờng học còn thiếu thốn, vấn đề gắn lýthuyết với việc thực hành phơng pháp dạy học và vận dụng nó trong từng tiếthọc cụ thể cha phù hợp Vì vậy, cũng có những phơng pháp mặc dù giáoviên đã nắm vững về mặt lý luận nhng cha đa vào vận dụng trên mỗi bài dạy,từng tiết dạy cụ thể
Nh vậy, các phơng pháp dạy học Luyện từ và câu khá phong phú và đadạng nhng hầu hết các giáo viên mới chỉ sử dụng một vài phơng pháp
Về thực trạng sử dụng đồ dùng dạy học: Hiện nay, hầu hết các giáo viên
đợc phân công dạy phân môn Luyện từ và câu nói riêng và Tiếng Việt nóichung ở lớp 2 đều cha sử dụng đồ dùng dạy học vì phân môn này là một phânmôn mới mẻ nên cha có đồ dùng dạy học do công ty thiết bị đồ dùng dạy họcsản xuất mà đều do giáo viên tự làm mà đồ dùng tự làm mất nhiều thời gian,
Trang 16công sức Vì vậy, nhiều giáo viên không tự làm đồ dùng dạy học mà chủ yếu
sử dụng tranh trong sách giáo khoa có sẵn để dạy, hay dạy chay là chủ yếu.Hình thức tổ chức dạy học: Giáo viên thờng sử dụng khi dạy Luyện từ vàcâu vẫn là hình thức dạy học cả lớp, còn các hình thức dạy học khác nh dạyhọc cá nhân, dạy học theo nhóm, và tổ chức trò chơi học tập thì ít đợc sử dụnghơn Qua điều tra và nắm bắt tình hình, chúng tôi đợc biết, việc ít vận dụng đ-
ợc các hình thức dạy học nêu trên có nhiều lý do, trong đó chủ yếu là do điềukiện cơ sở vật chất cha cho phép, do năng lực tổ chức của giáo viên còn hạnchế nên cha thực hiện đợc sâu rộng mà mới chỉ đợc một số ít giáo viên vậndụng chúng vào giảng dạy
Qua dự giờ, chúng tôi nhận thấy phần lớn giờ học còn cha sôi động, chathực sự lôi cuốn đợc học sinh tập trung chú ý, học sinh ồn ào, làm việc riêng,làm cho chất lợng giờ học giảm sút
Từ thực trạng trên, chúng tôi rút ra một số nhận xét nh sau:
Trớc hết, là giáo viên đã đa vào sử dụng trong thực tiễn giảng dạy một sốphơng pháp dạy học mới và hình thức tổ chức dạy học mới Tuy nhiên, số giáoviên sử dụng cha nhiều nhng cũng cho thấy xu hớng học theo phơng pháp mới
đang ăn nhập vào nhà trờng Qua trao đổi, điều tra một số giáo viên có tâmhuyết, say mê với nghề và có kinh nghiệm dạy học cho biết: Họ đang cố gắng
để tiếp cận với chơng trình, cố gắng tìm hiểu để nắm vững hơn về chơng trình-Sách giáo khoa Luyện từ và câu Tuy nhiên, về việc sử dụng phơng pháp dạyhọc họ vẫn còn lúng túng và cha áp dụng có hiệu quả một số phơng pháp dạyhọc mới vào dạy học, cha vận dụng đợc một cách linh hoạt các phơng phápdạy học, chủ yếu dạy theo các phơng pháp dạy học truyền thống nên cha có sựgợi mở cho các em tích cực hoạt động t duy và phát huy vốn kinh nghiệm củabản thân trong quá trình học tập chiếm lĩnh tri thức mới
3 Nguyên nhân của thực trạng:
3.1 Nguyên nhân từ phía giáo viên:
- Đây là một phân môn lần đầu tiên đợc thực hiện nên nhiều giáo viêncha đọc kĩ Sách giáo khoa, Sách giáo viên và các tài liệu tập huấn khác đểnắm chắc mục tiêu, nội dung và phơng pháp dạy học
- Do trình độ của giáo viên Tiểu học hiện nay đợc đào tạo không đồng
đều nên có nhiều giáo viên còn lúng túng khi thực hiện chơng trình sách giáokhoa và phơng pháp dạy học mới
Trang 17- Một số giáo viên cha sử dụng tối u các hình thức dạy học theo nhóm,dạy học cá nhân là những hình thức tổ chức dạy học phát huy vai trò của ngờihọc, dạy học hớng vào hoạt động của ngời học.
- Một số giáo viên cha thoát đợc lối dạy học truyền thống nên cha truyềnthụ hết đợc kiến thức bài học cho học sinh, hay nếu có truyền thụ hết thì họcsinh nắm bắt kiến thức một cách thụ động
3.2 Nguyên nhân từ phía học sinh:
Học sinh lớp 2 (đầu cấp tiểu học) học sinh mới bớc vào một môi trờngmới ở đó, khi hoạt động các em phải tuân theo một số yêu cầu, quy tắc khắtkhe, có đánh giá, nhận xét của cô giáo, của bạn bè nên các em cha thích nghingay đợc với môi trờng học tập, giao lu, hoạt động mới, thờng nhút nhát, thiếu
tự tin, sợ sệt khi giao tiếp với bạn bè, thầy cô giáo, nơi đông ngời điều đó dẫntới học tập cha đạt hiểu quả cao
3.3 Nguyên nhân từ cơ sở vật chất của nhà trờng Tiểu học:
Học sinh Tiểu học có t duy trực quan, cảm tính, trí tởng tợng đồ vật Vìvậy, muốn hình thành ở các em kiến thức, kỹ năng đều phải bắt đầu từ trựcquan (đồ dùng học tập) Tuy nhiên, hiện nay ở các trờng Tiểu học còn thiếu đồdùng dạy học (phơng tiện trực quan) dụng cụ học tập cho học sinh cha đầy đủ
Do đó, cha phát huy đợc t duy trực quan ở các em
Việc khảo sát thực trạng dạy học phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2 tiểuhọc trên các bình diện khác nhau của quá trình dạy học đã cho phép chúng tôirút ra một số kết luận có tính phơng pháp:
- Giáo viên phải nắm chắc mục tiêu, nội dung, phơng pháp dạy học củachơng trình Tiếng Việt mới
- Phải trình bày theo quan điểm của chơng trình và Sách giáo khoaTiếng Việt mới
- Phải nắm đợc đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh để đảm bảo tínhthống nhất giữa nội dung và hình thức, luôn gắn ý nghĩa mục đích giao tiếpvới các dấu hiệu hình thức, hoàn cảnh giao tiếp
- Phải có thái độ mềm dẻo, không tuyệt đối hoá, phiến diện cứng nhắc,phải biết lựa chọn các phơng pháp dạy học phù hợp, biết xen kẽ các hình thứcdạy học trong tiết dạy để phục vụ mục đích: dạy tiếng Việt để giao tiếp vàphục vụ quá trình giao tiếp của học sinh
Trang 18- Phải biết trau dồi kiến thức, tìm tòi, sáng tạo, trao đổi với đồngnghiệp, lãnh đạo để qua đó kiểm nghiệm và điều chỉnh nhận thức của mình vềnội dung, chơng trình, phơng pháp dạy học mới.
- Phải quan tâm tới việc đổi mới trang thiết bị của nhà trờng cũng nhcủa cá nhân mình vì nội dung và chơng trình, phơng pháp dạy học mới đòi hỏicần phải có một số đồ dùng dạy học thích hợp
* Kết luận chung:
Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn dạy học phân môn Luyện từ và câu ở
lớp 2 chúng tôi thấy rằng vấn đề Dạy học tiếng Việt qua phân môn Luyện“
từ và câu ở lớp 2” là một vấn đề làm cho nhiều giáo viên phải trăn trở và quan tâm.
Trang 19Ch ơng II : khảo sát nội dung phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2
Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng đợc nêu ở trên
là do giáo viên cha nắm chắc nội dung của sách giáo khoa vì thế, chúng tôitiến hành khảo sát sách giáo khoa Tiếng Việt 2 và phân loại các kiểu bài tập
đợc sử dụng trong phân môn Luyện từ và câu cụ thể nh sau:
Nhìn chung, kiểu bài trong phân môn Luyện từ và câu có 4 dạng chính:
đọc, Luyện từ và câu xoay xung quanh, hay nói cách khác các phân môntrên tập hợp lại xung quanh trục chủ điểm (trong đó, trọng tâm là các bài tập
đọc) nhằm thực hiện yêu cầu dạy học theo quan điểm tích hợp Các chủ điểmtrong Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 là : học sinh, bạn bè, trờng học, thầy cô,
ông bà, cha mẹ, anh em, các con vật nuôi (bạn trong nhà), các mùa trong năm(bốn mùa); chim chóc, muông thú, sông biển, cây cối, Bác Hồ, nhân dân Dới góc độ dạy từ ngời ta nhận thấy những từ ngữ cùng chủ điểm đợchiểu là những từ ngữ cùng liên quan tới việc biểu thị một phạm vi sự vật, hiệntợng trong thực tại khách quan Cũng có thể hiểu những từ ngữ này thuộc cùngmột trờng nghĩa, cùng một hệ thống liên tởng, cho nên, hớng dẫn học sinh mởrộng vốn từ theo chủ điểm có nghĩa là hớng dẫn học sinh mở rộng phát triểnvốn từ theo các trờng nghĩa, các hệ thống liên tởng, cách làm này phù hợp vớiquy luật tích luỹ vốn từ của ngời bản ngữ Dựa vào các phơng tiện làm cơ sởcho việc mở rộng vốn từ nhất là dựa vào tính chất của mối quan hệ giữa các từ vềmặt ngữ nghĩa, về mặt cấu tạo có thể chia loại bài tập mở rộng vốn từ theo chủ
điểm trong sách giáo khoa Tiếng Việt 2 thành 3 kiểu bài chính:
+ Kiểu bài tập mở rộng vốn từ- qua tranh vẽ
+ Kiểu bài tập mở rộng vốn từ theo quan hệ ngữ nghĩa
Trang 20+ Kiểu bài tập mở rộng vốn từ theo quan hệ cấu tạo từ.
1.1 Kiểu bài tập mở rộng vốn từ qua tranh vẽ:
ở kiểu bài tập mở rộng vốn từ qua tranh vẽ, tranh vẽ là phơng tiện trực quan cótác dụng làm chỗ dựa cho việc tìm từ, mở rộng vốn từ cho học sinh Căn cứ vào mức
độ dễ- khó, đơn giản- phức tạp, có thể chia kiểu bài tập này thành 3 kiểu nhỏ:
a Dạng bài tập nối từ cho sẵn với hình vẽ t“ ơng ứng” Trong đó sách
giáo khoa Tiếng Việt 2 có 4 kiểu bài tập thuộc dạng này đó là:
Bài tập 1: Chọn tên gọi cho mỗi ngời, mỗi vật, mỗi việc đợc vẽ dới đây:(các từ cho sẵn: học sinh , nhà, xe đạp, múa, trờng, chạy , hoa hồng, cô giáo) (Tiếng Việt 2, tập 1, trang 8)
Bài tập 2: Chọn cho mỗi con vật dới đây một từ chỉ đúng đặc trng củanó: Nhanh, chậm, khoẻ, trung thành ( Tiếng Việt 2, tập 1, trang 142)
Bài tập 3: Nói tên các loại chim trong những tranh sau: ( các từ cho sẵn: đạibàng, cú mèo, chim sẻ, sáo sậu, cò , chào mào, vẹt) (Tiếng Việt 2, tập 2, trang 35)
Bài tập 4: Chọn cho mỗi con vật trong tranh vẽ bên một từ chỉ đúng đặc
điểm của nó: tò mò, nhút nhát, dữ tợn, tinh ranh, hiền lành, nhanh nhẹn (TiếngViệt 2, tập 2, trang 55)
Dạng bài tập này vừa có tác dụng giúp học sinh nhận biết “nghĩa biểuvật” của từ (từ nào biểu thị sự vật, hoạt động , tính chất nào) vừa có tác dụnggiúp học sinh mở rộng, phát triển vốn từ Đây là hình thức luyện tập về từ ởmức độ đơn giản nhất Trong bốn bài tập đợc dẫn ở trên, các từ cho sẵn ở bàitập 1, bài tập 3 là danh từ và động từ, còn trong bài tập 2, bài tập 4 là tính từ.Học sinh dễ thực hiện yêu cầu ở bài tập 1 và bài tập 3 hơn, bởi nhận biết sự vậthoạt động thờng dễ dàng hơn nhận biết đặc điểm tính chất của sự vật Cụ thể ởbài tập 2, bài tập 4, học sinh vừa phải biết tên loài vật lại vừa phải biết đợc đặc
điểm “tính nết” của chúng
b Dạng bài tập dựa vào tranh tìm từ t“ ơng ứng sách giáo khoa Tiếng”
Việt 2 có 3 kiểu bài tập:
Bài tập 1: Tìm những từ chỉ sự vật (ngời, đồ vật, con vật, cây cối ) đợc
vẽ dới đây:
(Sách giáo khoa Tiếng Việt 2, tập 1, trang 26)
Bài tập 2: Các tranh vẽ dới đây vẽ một số hoạt động của con ngời Hãytìm từ chỉ mỗi hoạt động ( Tiếng Việt 2, tập 1, trang 59)
Bài tập 3: Tìm từ ngữ chỉ nghề nghiệp của những ngời đợc vẽ trong cáctranh dới đây
Trang 21(Tiếng Việt 2, tập 2, trang 129).
ở dạng bài tập này, từ cần tìm không cho sẵn Học sinh phải gọi tên sựvật, hiện tợng, hoạt động đợc biểu hiện trong hình vẽ Do đó, tác dụng giúphọc sinh phát triển mở rộng vốn từ của dạng bài tập này cao hơn so với dạngbài tập “nối từ cho sẵn với hình vẽ tơng ứng” ở trên
c Dạng bài tập gọi tên các vật đ“ ợc vẽ ẩn trong tranh (tranh đố)”
trong sách giáo khoa Tiếng Việt 2 có hai dạng bài tập:
Bài tập 1: Tìm các đồ dùng học tập ẩn trong tranh sau Cho biết mỗi đồvật ấy dùng làm gì ( Tiếng Việt 2, tập 1, trang 52)
Bài tập 2: Tìm các đồ vật đợc vẽ ẩn trong các tranh sau và cho biết mỗivật dùng để làm gì ( Tiếng Việt 2, tập 1, trang 90)
Yêu cầu của dạng bài tập này cũng dựa vào hình ảnh của sự vật (đợc vẽtrong tranh) để tìm từ ngữ tơng ứng; nói cách khác là gọi tên các sự vật đợc vẽtrong tranh Điểm khác biệt giữa dạng bài tập này với dạng bài tập “dựa vàotranh tìm từ tơng ứng” ở trên là: các sự vật đợc vẽ trong tranh không thể hiện
rõ ràng mà ẩn dấu trong tranh, phải quan sát kĩ (kết hợp tởng tợng) mới nhậnbiết đợc Sự khác biệt này chủ yếu ở phơng diện hình thức thể hiện nhằm kíchthích sự tìm tòi, gây hứng thú học tập cho học sinh
1.2 Kiểu mở rộng vốn từ theo quan hệ ngữ nghĩa
Mở rộng vốn từ theo quan hệ ngữ nghĩa là dựa trên mối quan hệ ngữnghĩa giữa các từ (nói cách khác giữa các từ trong ngôn ngữ có mối quan hệvới nhau về nghĩa nh quan hệ đồng nghĩa, gần nghĩa, quan hệ trái nghĩa ) đểtiến hành tìm các từ ngữ có quan hệ với nhau về nghĩa, nhằm mở rộng, pháttriển vốn từ ( phong phú hóa vốn từ) Trong dạy từ, kiểu bài tập “ mở rộng vốn
từ theo quan hệ ngữ nghĩa” đợc xác lập dựa vào những căn cứ nói trên
ở các bài tập thuộc dạng này, thờng có các từ cho sẵn ( còn gọi là từmẫu hay từ điểm tựa, từ khoá, từ kích thích) khi làm bài tập , dựa vào các từkích thích này, học sinh liên tởng tìm từ ngữ Và một trong khoảng thời giannhất định, các từ có quan hệ về nghĩa với từ kích thích, từ mẫu, từ điểm tựa sẽ
đợc gợi ra trong trí óc của học sinh Các từ ấy đợc tập hợp lại thành một hệthống liên tởng (còn gọi là trờng nghĩa, trờng ngữ nghĩa) trong sách giáo khoaTiếng Việt 2 , dạng bài tập “mở rộng vốn từ theo quan hệ ngữ nghĩa” chiếm tỉ
lệ khá cao, dựa vào đặc trng, tính chất của hoạt động liên tởng khi tìm ngữnghĩa có thể chia dạng bài tập này thành hai dạng bài tập cơ bản sau:
a Dạng bài tập Tìm từ ngữ cùng chủ điểm “ ”
Trang 22Theo thống kê, trong sách giáo khoa Tiếng Việt 2, dạng bài tập này có
17 bài tập đợc chia làm hai loại bài tập nhỏ:
Thứ nhất: Các từ ngữ cùng chủ điểm ở ngoài văn bản:
Dạng bài tập này chiếm vị trí chủ đạo trong các bài tập “Tìm từ ngữcùng chủ điểm”
Ví dụ 1: Tìm các từ
- Chỉ đồ dùng học tập M: bút
- Chỉ hoạt động của học sinh M: đọc
- Chỉ tính nết của học sinh M: chăm chỉ
(Sách giáo khoa Tiếng Việt 2, tập 1, trang 9)
Ví dụ 2: Kể tên các loài cây mà em biết, theo nhóm:
- Cây lơng thực, thực phẩm M: lúa.
( Sách giáo khoa Tiếng Việt 2, tập 2, trang 87)
Các từ cần tìm ở đây thuộc cùng một chủ đề, chủ điểm từ ngữ, nói cáchkhác cùng nằm trong một hệ thống (hệ thống liên tởng) Vì vậy, dạng bài tậpnày ngoài tác dụng giúp học sinh mở rộng vốn từ còn có tác dụng giúp họcsinh hình thành phát triển t duy hệ thống
Thuộc về dạng bài tập “Các từ ngữ cùng chủ điểm ở ngoài văn bản” nóitrên còn có một số bài tập mà trong đó không có các từ mẫu, từ khoá từ kíchthích , từ điểm tựa
Ví dụ 1: Hãy kể tên những việc mà em đã làm ở nhà giúp cha mẹ
( Tiếng Việt 2, tập 1, trang 108)
Ví dụ 2: Hãy tìm hai từ nói về tình cảm yêu thơng giữa anh chị em.(Tiếng Việt 2, tập 1, trang 116)
Thứ hai: Các từ ngữ cùng chủ điểm nằm trong một văn bản:
Trong sách giáo khoa Tiếng Việt 2 dạng bài tập này chỉ có hai bài tập đó là: Bài tập 1: Tìm những từ chỉ ngời trong gia đình, họ hàng ở câu chuyện
“Sáng kiến của bé Hà”
(Tiếng Việt 2, tập 1, trang 82)
Bài tập 2 : Tìm các từ ngữ chỉ những việc mà bạn nhỏ trong bài thơ dới
đây mà muốn làm giúp ông và nhờ ông làm giúp: Thỏ thẻ
Trang 23( Tiếng Việt 2, tập 1, trang 91)
ở dạng bài tập này, học sinh cần dựa vào nội dung bài văn, thơ và dựavào mối quan hệ ngữ nghĩa của các từ cần tìm để tiến hành tìm các từ ngữcùng chủ điểm- tàng ẩn trong các câu văn, câu thơ
b Dạng bài tập Tìm từ ngữ cùng nghĩa, gần nghĩa hoặc trái nghĩa với“
từ cho sẵn :”
ở dạng bài tập này bao giờ cũng có từ cho sẵn, từ cho sẵn có tác dụnglàm cơ sở, làm chỗ dựa cho hoạt động liên tởng tìm từ của học sinh Đối vớicác trờng hợp từ cho sẵn có nghĩa trừu tợng, khó nhận biết, để trợ giúp hoạt
động tìm từ của học sinh giáo viên có thể giải thích nghĩa của từ cho sẵn vànêu một số ngữ cảnh điển hình trong đó có sử dụng một số từ cho sẵn ấy.Hoạt động liên tởng tìm từ của học sinh sẽ đúng phơng hớng, đúng yêu cầu,
có hiệu quả khi học sinh nắm chắc nghĩa của từ cho sẵn
Ví dụ 1: Tìm một số từ cùng nghĩa, gần nghĩa với từ “can đảm”
Ví dụ 2: Tìm từ trái nghĩa với mỗi từ sau:
Tốt, ngoan, nhanh, trắng, cao, khoẻ
M: tốt- xấu.
(Sách giáo khoa Tiếng Việt 2, tập 1, trang 133)
1.3 Mở rộng vốn từ theo quan hệ cấu tạo từ:
Bên cạnh kiểu bài tập mở rộng vốn từ theo quan hệ nghĩa còn có kiểubài tập mở rộng vốn từ theo quan hệ cấu tạo từ Mở rộng vốn từ theo quan hệcấu tạo từ có nghĩa là học sinh dựa vào một yếu tố cấu tạo từ cho sẵn tìmnhững từ có cùng yếu tố cấu tạo từ và cùng kiểu cấu tạo Bài tập mở rộng vốn
từ theo quan hệ cấu tạo từ có tác dụng rất lớn trong việc giúp học sinh pháttriển, mở rộng vốn từ
Ví dụ 1: Tìm các từ:
- Có tiếng học: M: học hành
- Có tiếng tập: M: tập đọc
( Tiếng Việt 2, Tập 1, Trang 17)
Ví dụ 2: Ghép các tiếng sau thành những từ có hai tiếng: yêu , thơng,quý , mến, kính
M: Yêu mến, quý mến.
( Tiếng Việt 2, tập 1, trang 99)
2 Kiểu bài tập về nghĩa của từ:
Trang 24Trong phân môn Luyện từ và câu, loại bài tập về nghĩa của từ (giúp họcsinh nắm nghĩa của từ, luyện tập về nghĩa của từ)- chiếm tỉ lệ không nhiều so vớicác loại bài tập từ ngữ khác Trên đại thể, loại bài tập này có hai dạng cơ bản sau:
sự tơng ứng ”
Ví dụ 1: Tìm từ trong ngoặc đơn hợp với mỗi nghĩa sau:
a) Dòng nớc chảy tơng đối lớn, trên đó thuyền bè đi lại đợc
b) Dòng nớc chảy tự nhiên ở đồi núi
c) Nơi đất trũng chứa nớc, tơng đối rộng và sâu, ở trong đất liền
(suối, hồ, sông)( Tiếng Việt 2, Tập 2, Trang 64)
( Tiếng Việt 2, Tập 2, Trang 138)
Dạng bài tập này có yêu cầu rất đơn giản: cả từ và nghĩa của từ đều cho sẵn.Học sinh chỉ cần xác lập sự tơng ứng giữa từ và nghĩa của từ trong từng trờng hợp
2.2 Dạng bài tập Dựa vào từ trái nghĩa để nhận biết nghĩa của từ “ ”Dựa vào từ trái nghĩa để nhận biết nghĩa của từ - nghĩa là dùng những từ
có nghĩa trái ngợc với nghĩa của từ cần giải thích làm phơng tiện để đạt mục
đích nhận biết nghĩa của từ cần giải thích Cơ sở lý luận của việc xây dựngdạng bài tập này là dựa vào quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ trong ngôn ngữ (ở
đây là quan hệ trái nghĩa) Ngoài việc giúp học sinh nhận biết đợc nghĩa của
từ cần giải thích, dạng bài tập này còn giúp học sinh mở rộng, phát triển vốn
từ Trong sách giáo khoa Tiếng Việt 2 dạng bài tập này còn có tác dụng gópphần hình thành khái niệm “từ trái nghĩa” cho học sinh
Ví dụ: Hãy giải thích từng từ dới đây bằng từ trái nghĩa với nó:
a) Trẻ con
b) Cuối cùng
c) Xuất hiện
Trang 25d) Bình tĩnh.
M: trẻ con: trái nghĩa với ngời lớn.
(Tiếng Việt 2, Tập 2, Trang 137)
3 Sử dụng từ:
Sử dụng từ chính là lựa chọn từ ngữ trong vốn từ của mình (hoặc những
từ ngữ cho sẵn trong bài tập) rồi kết hợp các từ ngữ ấy với nhau để tạo thànhcâu, thành đoạn theo những quy tắc nhất định Đối với dạng bài tập này họcsinh phải tiến hành hai thao tác: thao tác lựa chọn và thao tác kết hợp Đócũng là hai thao tác cơ bản, trọng yếu của hoạt động sử dụng từ ngữ Cụ thể,
để dùng từ đợc đúng và đạt hiệu quả giao tiếp cao, học sinh cần tiến hành lựachọn từ, thay thế từ khi thấy cha phù hợp, cha thích hợp Việc lựa chọn, thaythế ở đây không phải là một việc làm tuỳ tiện, dễ dãi mà phải lựa chọn trênnhững nguyên tắc nhất định Thao tác lựa chọn, thay thế diễn ra rất nhanhtrong trí óc của học sinh, tới mức tự động hoá nh một hành động vô thức, chỉkhi nào học sinh “cảm thấy” có sự tơng ứng giữa ý nghĩ và từ ngữ, giữa ý vàlời thì thao tác lựa chọn, thay thế mới dừng lại Thờng thì khi học sinh đã ýthức đợc một cách rõ ràng, thấu đạo, cụ thể về điều mình muốn diễn tả thìcũng sẽ dễ dàng tìm đợc từ ngữ thích hợp, thoả đáng để hiện thực hoá những ý
định diễn tả ấy Sau thao tác lựa chọn từ ngữ là thao tác kết hợp từ ngữ (cũng
có thể hiểu là hai thao tác này diễn ra song song, đồng thời) để tạo thành các
đơn vị ngôn ngữ lớn hơn (cụm từ, câu và các đơn vị trên câu) Sự kết hợp củacác từ ở đây cũng bị quy định bởi những quy tắc nhất định của ngôn ngữ Nóitóm lại, lựa chọn và kết hợp từ ngữ để tạo ra những sản phẩm lời nói đúng đắn
và biểu cảm- đó là nội dung cơ bản của khái niệm “sử dụng từ”
Để thực hiện nhiệm vụ hớng dẫn học sinh rèn kỹ năng sử dụng từ, sáchgiáo khoa Tiếng Việt 2 đã xây dựng một số kiểu bài tập nh sau:
3.1 Kiểu bài tập Điền từ vào chỗ trống trong câu“ ”
Kiểu bài tập này trong sách giáo khoa Tiếng Việt 2 chiếm tỷ lệ khôngcao (khoảng 10% trong tổng số các bài tập từ ngữ) và mức độ yêu cầu của bàitập đối với học sinh cũng đơn giản nhng dạng bài tập này giúp học sinh sửdụng từ Muốn tìm và điền đợc từ thích hợp vào chỗ trống, học sinh phải tiếnhành các thao tác lựa chọn và kết hợp từ đã chọn với những từ đứng trớc, đứngsau nó trong chuỗi lời nói (tức là điền từ đã chọn ấy vào chỗ trống trong câu)cho nên, muốn chọn đợc từ thích hợp, học sinh phải nắm đợc nghĩa của từng
từ định lựa chọn, nhất là phải nắm đợc các sắc thái nghĩa của từng từ trong các
Trang 26từ cùng nghĩa, gần nghĩa có thể xuất hiện ở một vị trí trống nào đó trong chuỗilời nói Có nắm đợc các sắc thái nghĩa của từ, học sinh mới hiểu đợc từ địnhlựa chọn có tơng hợp về nghĩa với các từ đứng trớc và đứng sau nó trong chuỗilời nói hay không Dựa vào mức độ dễ- khó, từ cần điền cho sẵn từ thành haidạng nhỏ nh sau:
a Dạng bài tập điền từ trong đó có sẵn từ cần điền :“ ”
Ví dụ: Chọn từ trong ngoặc đơn thích hợp với mỗi chỗ trống: (giơ, đuổi,chạy, nhe, luồn)
Con mèo, con mèo theo con chuột vuốt, nanhCon chuột quanhLuồn hang hốc
“Đồng dao”
(Sách giáo khoa Tiếng Việt 2, tập 1, trang 67)
b Dạng bài tập điền từ, trong đó từ cần điền không cho sẵn:
Ví dụ: Chọn từ chỉ hoạt động thích hợp với mỗi chỗ trống dới đây:
- Cô Tuyết Mai môn Tiếng Việt
- Cô bài rất dễ hiểu
Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 đã xây dựng một số bài tập “dùng từ đặtcâu” có thể chia thành 2 dạng nhỏ:
a Dùng từ đặt câu trong đó mô hình câu cho sẵn:
Ví dụ 1: Chọn và xếp các từ ở ba nhóm sau thành câu:
Trang 27em, chị em, Linh, cậu
bé
quét dọn, giặt, xếp, rửa nhà cửa, sách, vở, bát
đũa, quần áo
M: Em quét dọn nhà cửa
(Sách giáo khoa Tiếng Việt 2,Tập 1, trang 108)
Ví dụ 2: Chọn từ thích hợp rồi đặt câu với từ ấy để tả:
a Mái tóc của ông (hoặc bà) em: bạc trắng, đen nhánh, hoa râm,
b Tính tình của bố (hoặc mẹ): hiền hậu, vui vẻ điềm đạm,
c Bàn tay của em bé: mũm mĩm, trắng hồng, xinh xắn,
d Nụ cời của anh (hoặc chị) em: tơi tắn, rạng rỡ, hiền lành,
Ai (cái gì, con gì) Thế nào?
M: Mái tóc ông em bạc trắng
(Sách giáo khoa Tiếng Việt 2, Tập 1,trang 123)Dạng bài tập này rèn cho học sinh kỹ năng lựa chọn từ (trong các từ cho sẵn)kết hợp từ (theo mô hình câu cho sẵn) để tạo thành câu Đây là hình thức luyện tập
“dùng từ đặt câu” ở mức độ đơn giản nhất Bên cạnh tác dụng rèn luyện cho họcsinh về mô hình câu, về kiểu câu (phơng diện ngữ pháp) dạng bài tập này còn có tácdụng nhất định trong việc rèn luyện cho học sinh về từ (phơng diện từ ngữ)
b Dùng từ đặt câu -trong đó mô hình câu không cho sẵn.
So với dạng bài tập “dùng từ đặt câu trong đó mô hình câu cho sẵn”dạng bài tập này đợc coi là khó hơn Bởi vì, học sinh phải tự lựa chọn mô hìnhcâu, lựa chọn các từ ngữ khác, ngoài từ cho sẵn để “lấp đầy” mô hình câu ấy,
để tạo ra một câu cụ thể Trong Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 dạng bài tập này
- Bài tập về cấu tạo câu
- Bài tập về dấu câu
4.1 Bài tập về cấu tạo câu: Có 4 dạng nhỏ.
a Trả lời câu hỏi.
Ví dụ 1: Dựa vào tranh, trả lời câu hỏi
a Em bé thế nào? (xinh, đẹp, dễ thơng, )
b Con voi thế nào? (khoẻ, to, chăm chỉ, )
c Những quyển vở thế nào? (đẹp, nhiều màu, xinh xắn, )
Trang 28d Những cây cau thế nào? (cao, thẳng, xanh tốt, )
(Sách giáo khoa Tiếng Việt 2, tập 1, trang 122)
Ví dụ 2: Trả lới câu hỏi sau:
a Khi nào học sinh đợc nghỉ hè?
b Khi nào học sinh tựu trờng?
c Mẹ thờng khen em khi nào?
d ở trờng, em vui nhất khi nào?
M: ở trờng, em vui nhất khi đợc điểm tốt.
(Sách giáo khoa Tiếng Việt 2, tập 2, trang 8)
b Tìm bộ phận câu trả lời câu hỏi:
Ví dụ 1: Tìm các bộ phận câu trả lời cho từng câu hỏi ai? Làm gì?
(Sách giáo khoa Tiếng Việt 2,Tập 1,trang 108)
Ví dụ 2: Tìm bộ phận câu trả lời cho câu hỏi vì sao?
a Sơn ca khô cả họng vì khát
b Vì ma to, nớc suối đang ngập hai bờ
(Sách giáo khoa Tiếng Việt 2,Tập 2,trang 79)
c Đặt câu hỏi cho từng bộ phận câu:
Ví dụ 1: Đặt câu hỏi cho bộ phận câu đợc in đậm:
a Em là học sinh lớp 2.
b Lan là học sinh giỏi nhất lớp.
c Môn học em yêu thích Tiếng Việt
M: Ai là học sinh giỏi nhất lớp?
(Sách giáo khoa Tiếng Việt 2, Tập 1, trang 52)
Ví dụ 2: Đặt câu hỏi có cụm từ ở đâu cho mỗi câu sau:
a Sao Chăm chỉ họp ở phòng truyền thống của trờng
b Em ngồi ở dãy bàn thứ t, bên trái
c Sách của em để trên giá sách
M: Sao Chăm chỉ họp ở đâu?
(Sách giáo khoa Tiếng Việt 2,Tập 2, trang 27)
d Đặt câu theo mẫu:
Trang 29Ví dụ: Dựa vào kết quả bài tập 1, hỏi-đáp theo mẫu sau:
- Ngời ta trồng cây cam để làm gì?
- Ngời ta trồng cây cam để ăn quả.
(Sách giáo khoa Tiếng Việt 2,Tập 2, trang 87)Ngoài các kiểu chính trên, bài tập về cấu tạo câu còn có thêm một sốkiểu nằm rải rác ở các bài nh:
- Sắp xếp lại các từ trong mỗi câu dới đây để tạo thành một câu mới
Ví dụ: + Bác Hồ rất yêu thiếu nhi
+ Thu là bạn thân nhất của em
+ M: Con yêu mẹ Mẹ yêu con.
(Sách giáo khoa Tiếng Việt 2,Tập 1, trang 17)
- Tìm những cách nói với nghĩa của các câu cho sẵn:
Ví dụ:
a Mẩu giấy không biết nói
b Em không thích nghỉ học
c Đây không phải đờng đến trờng
M: Mẩu giấy không biết nói đâu!
Mẩu giấy có biết nói đâu!
Mẩu giấy đâu có biết nói!
(Sách giáo khoa Tiếng Việt 2, Tập 1, trang 52)
- Kể lại nội dung mỗi tranh (cho sẵn) bằng một câu:
Ví dụ 1: Kể lại nội dung mỗi tranh trên bằng một câu:
M: Em đang đọc sách
(Sách giáo khoa Tiếng Việt 2,Tập 1, trang 59)
Ví dụ 2: Mỗi tranh dới đây kể lại một hoạt động thiếu nhi kỷ niệm ngày
sinh của Bác Hồ Em hãy ghi lại hoạt động trong mỗi tranh bằng một câu
(Sách giáo khoa Tiếng Việt 2, Tập 2, trang 104)
- Viết lại lời đáp của em:
+ Khi bà bảo em giúp bà xâu kim
+ Khi chị bảo em giúp chị nhặt ra nhng em cha làm bài xong
+ Khi một bạn ở lớp nhờ em giúp bạn làm bài trong giò kiểm tra
+ Khi bạn mợn em cái gọt bút chì
(Sách bài tập Tiếng Việt 2,Tập 1, trang 81)
4.2 Bài tập về dấu câu (4 dạng nhỏ).
a Chọn dấu câu đã cho điền vào chỗ trống:
Trang 30Ví dụ: Điền dấu chấm hay dấu phẩy vào ô trống trong đoạn văn sau:
Tôn trọng luật lệ chung
Một hôm Bác Hồ đến thăm một ngôi chùa Lệ thờng, ai vào chùa cũngphải bỏ dép Nhng vị s cả mời Bác cứ đi cả dép vào Bác không đồng ý Đếnthềm chùa Bác cởi dép để ngoài nh mọi ngời, xong mới bớc vào
(Sách giáo khoa Tiếng Việt 2,Tập 2, trang 112)
b Tìm dấu câu thích hợp điền vào chỗ trống:
Ví dụ: Em đặt dấu câu gì vào cuối mỗi câu sau:
- Tên em là gì
- Em học lớp mấy
- Tên trờng của em là gì
(Sách giáo khoa Tiếng Việt 2,Tập 2, trang 17)
c Điền dấu câu đã cho vào chỗ thích hợp:
Ví dụ: Có thể đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong mỗi câu sau:
a Lớp em học tập tốt lao động tốt
b Cô giáo chúng em rất yêu thơng quý mến học sinh
c Chúng em luôn kính trọng biết ơn các thầy giáo cô giáo
(Sách giáo khoa Tiếng Việt 2,Tập 1, trang 67)
d Ngắt câu:
Ví dụ: Ngắt đoạn trích sau thành 5 câu và chép vào vở Nhớ viết hoa chữ
đầu câu
Trời đã vào thu những đám mây bớt đổi màu trời bớt nặng gió hanh heo
đã rải khắp cánh đồng trời xanh và cao dần lên
(Theo Ngô Văn Phú)(Sách giáo khoa Tiếng Việt 2, Tập 2, trang 77)Phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2, học sinh đợc học bốn dấu câu: dấuchấm hỏi, dấu phẩy, dấu chấm than và dấu chấm, trong đó coi trọng là dấuchấm và dấu phẩy Các bài tập sử dụng dấu câu (chủ yếu là 4 dạng trên) đợc
bố trí đều đặn mỗi tuần một bài, riêng dấu chấm và dấu phẩy đợc nhắc đi nhắclại nhiều lần (có 7 bài tập về dấu chấm, 6 bài về dấu phẩy, trong khi dấu chấmhỏi chỉ đợc nhắc đến trong 2 bài và dấu chấm than chỉ có 1 bài) Việc luyệntập lặp đi lặp lại nhiều lần giúp học sinh phát triển kỹ năng vững vàng vàthuần thục hơn
Dấu câu đợc học thông qua các bài tập thực hành nh các nội dung khác ở
đây có 4 loại bài tập chính nh đã trình bày ở trên Đối với dạng bài tập “chọn
Trang 31dấu câu đã cho điền vào chỗ trống” dấu câu cho sẵn và thờng chỉ có hai dấucùng với chỗ trống cần điền vào để học sinh lựa chọn dấu câu thích hợp, đây
là một dạng bài tập khó Nhng khó nhất vẫn là kiểu bài tập “Ngắt câu” đểgiảm bớt độ khó, sách giáo khoa Tiếng Việt 2 chỉ đa ra những đoạn văn rấtngắn và nêu rõ yêu cầu cần ngắt đoạn văn ấy thành mấy câu để định hớng chohọc sinh
Ngoài ra, còn có kiểu bài giúp học sinh luyện tập phân loại, phân nhómcác từ, hệ thống hoá vốn từ
Loại bài tập này yêu cầu học sinh dựa vào đặc điểm của sự vật, hiện tợng
đợc biểu thị trong từ để phân loại, phân nhóm các từ Mỗi loại, mỗi nhóm từnày là một hệ thống-hệ thống ngữ nghĩa Vì vậy, loại bài tập này có tác dụnggiúp học sinh rèn luyện t duy hệ thống
Ví dụ 1: Xếp tên các loài chim trong ngoặc đơn vào nhóm thích hợp
a Gọi tên theo hình dáng: M: Chim cánh cụt.
b Gọi tên theo tiếng kêu: M: Chim tu hú.
c Gọi tên theo cách kiếm ăn: M: Bói cá.
(cú mèo, gõ kiến, chim sâu, cuốc, quạ, vàng anh)
(Sách giáo khoa Tiếng Việt 2, Tập 2, trang 27)
Ví dụ 2: Hãy xếp tên các loài cá vẽ dới đây vào nhóm thích hợp: cá thu,cá mè, cá chép, cá chim, cá trê, cá chuồn, cá mực, cá quả (cá chuối, cá lóc)
So với chơng trình Sách giáo khoa Tiếng Việt CCGD thì nội dung dạy
từ và câu ở phân môn Luyện từ và câu nói ở chơng trình Tiếng Việt mới đã cónhiều u điểm Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn đôi chỗ cha hợp lý:
- Nội dung về luyện câu mà chơng trình cung cấp cho học sinh còn cha
cân đối giữa các kiểu câu: nếu nh số tiết dạy cho kiểu câu có mô hình Ai (cái
gì)-thế nào? ; Ai (cái gì)-là gì? Là 3 tiết trên một kiểu câu, thì ở kiểu câu có
mô hình Ai (cái gì)-làm gì? Chỉ có 2 tiết trên một kiểu câu
- Tiết luyện từ và câu ở tuần 1 (tuần đầu tiên của năm học) với tên bài:
“Từ và câu” cha đợc hợp lý, nên chăng thay bằng một tên khác sẽ hợp lý hơn,
Trang 32không mang nặng hình thức lý thuyết mà học sinh chỉ chiếm lĩnh tri thứcthông qua bài học.
- Nhận biết các bộ phận phụ của câu trả lời cho các câu hỏi Khi nào?,
ở đâu?, Nh thế nào?, Vì sao?, Để làm gì? Trong những kiểu câu phổ biến
nói trên nội dung luyện câu cũng cha cân đối giữa các kiểu câu, nếu nh đặt và
trả lời câu hỏi ở đâu?, Nh thế nào?, Vì sao? Chỉ có một tiết trên một kiểu câu thì đặt và trả lời câu hỏi Khi nào? , Để làm gì? Lại hai tiết trên một kiểu câu; nh vậy, có phải coi trọng các kiểu câu Khi nào? , Để làm gì? hay không?
- Về dấu câu thì quá coi trọng luyện về dấu phẩy (8 tiết); dấu chấm (7tiết) hơn luyện dấu chấm than (1 tiết) và dấu chấm hỏi (2 tiết)
- Các bài tập thực hành luyện tập ở tiết Luyện từ và câu tuần 11 (Mởrộng vốn từ: Từ ngữ về đồ dùng và công việc trong nhà); tuần 32 (Từ tráinghĩa Dấu chấm, dấu phẩy) chỉ có hai bài tập thực hành luyện tập trên mộttiết với thời lợng 30-35 phút là quá ít, trong khi đó các tiết Luyện từ và câucủa các tuần khác với 3 bài tập thực hành luyện tập (trong đó có 6 tuần: tuần
2, tuần 6, tuần 10, tuần 12, tuần 25, tuần 33 có 4 bài tập thực hành luyện tậptrên một tiết)
- Về nội dung luyện từ Sách giáo khoa đề cập đến Từ trái nghĩa đợc dạy
2 tiết (tuần 32 và tuần 34) nhng không có tiết dạy Từ gần nghĩa, Từ cùngnghĩa
Trang 33ơng III : Một số đề xuất nhằm nâng cao chất lợng
của phân môn Luyện từ và câu.
1 Những vấn đề chung:
Những biến đổi sâu sắc trong xã hội hiện nay đã đặt ra những yêu cầumới đối với mục tiêu giáo dục và đào tạo con ngời Nhà trờng trong tình hìnhmới phải trang bị những kỹ năng mới và những kiến thức mới mà các “côngdân tơng lai” cần có
Ngời lao động trong cơ chế mới cần phải có năng lực cập nhật hoá kiếnthức, nhà trờng không chỉ dạy kiến thức mà phải dạy phơng pháp học tập để
họ có thể tự học sau này Ngời lao động mới cần đợc trang bị các khả năngmới mà nhà trờng trớc đây cha chuẩn bị cho họ Đó là khả năng thích ứng vớinhững sự thay đổi, khả năng giải quyết vấn đề, khả năng hợp tác, khả nănggiao tiếp và khả năng sáng tạo
Mục tiêu chung trên đây đã quy định việc dạy tiếng Việt nói chung và
“Luyện từ và câu” nói riêng theo nguyên tắc: lấy học sinh làm trung tâm củaquá trình dạy học, phải phát huy tính tích cực của ngời học Cụ thể, chơngtrình Tiếng Việt ở tiểu học có mục tiêu cơ bản là:
- Nhằm trang bị cho học sinh công cụ để giao tiếp trong cuộc sống ởcộng đồng ngày càng tốt hơn
- Nhằm trang bị cho học sinh công cụ để học tập các môn học khác trongnhà trờng
Và “Luyện từ và câu” nhằm cung cấp cho học sinh kỹ năng sử dụng từ,
đặt câu để học tiếp các lớp trên và để giao tiếp trong các môi trờng hoạt độnglứa tuổi Nh vậy, chơng trình Luyện từ và câu rất chú trọng mục tiêu giao tiếp,
cụ thể là kỹ năng giao tiếp Trong khi đó, khuynh hớng dạy học Từ ngữ-Ngữpháp trớc đây ở trờng tiểu học vẫn tập trung nhiều vào việc dạy của thầy, họcsinh đợc trang bị kiến thức mới nhng chủ yếu là trong khuôn khổ: thầy giảng-trò nghe và ghi nhớ một cách máy móc, học sinh ít đợc hớng dẫn tự hoạt
động, thiếu chủ động trong học tập và cha phát huy hết khả năng khi hoạt
động
Chính vì, thế vấn đề đổi mới phơng pháp dạy học Tiếng Việt nói chung
và đề ra phơng pháp dạy học Luyện từ và câu nói riêng hiện nay đang đợc cácnhà nghiên cứu quan tâm chú ý vì thực chất các tài liệu dạy học không đề racác phơng pháp dạy học cụ thể mà chỉ thiết kế các bài tập cụ thể nh sách giáo
Trang 34khoa hay chỉ thiết kế cách giải các bài tập một cách cụ thể nh sách tham khảo,Sách giáo viên, hay cũng nói về các phơng pháp dạy học nhng chỉ là các ph-
ơng pháp dạy học chung cho Tiếng Việt mà cha gọi tên cụ thể các phơng phápdạy học cho phân môn luyện từ và câu cho nên giáo viên không hiểu đợc bảnchất của phơng pháp, hình thức tổ chức mà mình lựa chọn vì vậy thực hiệnkhông trúng đích
Sách giáo viên, sách tham khảo đề ra quy trình chung để dạy phân mônLuyện từ và câu nh sau:
Thứ nhất: Cần hớng dẫn cho học sinh hiểu rõ mục đích của bài tập Mỗibài tập đều thuộc một trong ba kiểu bài tập (Nhận diện từ và câu; tạo lập từ vàcâu; sử dụng dấu câu) thờng thì mục đích bài tập đợc nêu tờng minh bằngnhững yêu cầu thể hiện qua câu chữ trong bài
Thứ hai: Cần hớng dẫn cho học sinh cách làm bài để đạt tới yêu cầu ờng thì cách làm bài cũng đợc nêu khá đầy đủ trong đầu bài
Th-Thứ ba: Đối với những bài nội dung khó đối với học sinh, phụ huynhhoặc thầy cô có thể giải mẫu một phần bài tập để các em quan sát cách làm vàhọc tập
Thứ t : Cần cho học sinh tự nhận xét, đánh giá kết quả của bài làm để từ
đó các em nhớ lại một lần nữa kiến thức đã học và rút kinh nghiệm để làm bàisau tốt hơn
Định hớng cơ bản của việc đổi mới nội dung và phơng pháp dạy học này
là dạy học tiếng thông qua hoạt động giao tiếp và để giao tiếp Và phơng phápdạy học này chủ yếu là giáo viên tổ chức cho học sinh học cá nhân và họctheo nhóm ngay trong giờ học, sao cho học sinh đợc thực sự làm việc trongniềm hứng thú, say mê tìm kiếm tri thức mới và rèn luyện kỹ năng trong thi
đua bộc lộ kiến thức và năng lực giao tiếp Có thể nói, trong hoạt động vàthông qua hoạt động, học sinh có điều kiện để rèn luyện kỹ năng giao tiếp
Do đó, có thể coi việc hớng tới sử dụng phơng pháp dạy học tích cực là
điều kiện thành công của dạy học Luyện từ và câu
Tuy nhiên, khi lựa chọn phơng pháp dạy học cần căn cứ vào đặc điểm lứatuổi học sinh tiểu học, các em là những thực thể hồn nhiên đang phát triển, tduy của các em thiên về t duy cảm tính, trực quan sinh động cho nên một sốphơng pháp dạy học truyền thống vẫn đợc sử dụng nhng cần lu ý là các phơngpháp này phải đợc sử dụng theo hớng tích cực hoá hoạt động của học sinh
Trang 35Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày việc sử dụng các phơng pháp dạy họcLuyện từ và câu theo hớng tích cực hoá hoạt động của học sinh.
2 Một số phơng pháp dạy học cụ thể.
2.1 Phơng pháp sử dụng tình huống có vấn đề:
Dạy học nêu vấn đề là một phơng hớng dạy học có nhiều khả năng pháthuy tính sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh Dạy học nêu vấn đề đòihỏi học sinh tham gia giải quyết các vấn đề do một hoặc một số tình huống
đặt ra Nhờ đó, học sinh vừa nắm đợc tri thức, vừa phát triển t duy sáng tạo,dạy học nêu vấn đề có khả năng lớn trong việc giúp học sinh chiếm lĩnh trithức mới
Dạy học nêu vấn đề là một phơng pháp tỏ ra u thế trong các bài yêu cầu
về thực hành các kỹ năng tiếng Việt đặc biệt là kỹ năng dùng từ và đặt câu chonên phơng pháp sử dụng tình huống có vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọngtrong dạy học Luyện từ và câu ở lớp 2 của tiểu học, một nội dung coi trọngvấn đề thực hành để phát triển các kỹ năng giao tiếp cho học sinh
Phơng pháp này có thể sử dụng ở tất cả các loại bải tập cũng nh các bớclên lớp của một tiết dạy Luyện từ và câu ở tiểu học
Ví dụ: về dạy học Luyện từ và câu theo phơng pháp sử dụng tình huống
có vấn đề :
Tiết Luyện từ và câu ở lớp 2 tuần 26, bài tập 2 Mục tiêu: là học sinh biết
đợc tên các con vật sống dới nớc:
Giáo viên tạo tình huống có vấn đề:
Yêu cầu 3 học sinh đóng vai Em thứ nhất đóng vai ngời giới thiệu, emthứ hai và ba đóng vai ngời tham quan (Nga, Tân)
Ngời giới thiệu kể cho Nga, Tân nghe: Những con vật sống dới nớc gồm:
ba ba, sứa, tôm, ếch, các loại cá, lơn, thỏ, cừu, bạch tuộc, hà mã, voi Nga
quay sang hỏi Tân:
Thỏ, cừu, voi sao lại là những con vật sống dới nớc?
Tân trả lời: Đó là những con vật sống dới nớc chứ còn gì? Vậy cậu bảo
nó sống ở đâu?
Các học sinh còn lại quan sát cuộc hội thoại và trả lời các câu hỏi:
a Ngời giới thiệu kể cho Nga, Tân những con vật nào?
b Bạn Nga đã có phản ứng nh thế nào khi nghe ngời giới thiệu kể ?
c Bạn Tân trả lời bạn Nga nh thế nào? Bạn Tân trả lời đúng cha?
d Nếu là em trong trờng hợp đó, em trả lời bạn Tân nh thế nào?