1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học văn chính luận việt nam trung đại ở trung học cơ sở luận văn thạc sĩ ngữ văn

117 1,4K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dạy học văn chính luận Việt Nam trung đại ở trung học cơ sở
Tác giả Nguyễn Thị Hà
Người hướng dẫn TS. Phạm Tuấn Vũ
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Khoa Học Giáo Dục
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 891 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả đã đưa ra các phương pháp dạy học văn học trung đại trong đó có văn chính luận trung đại như hướng dẫn học sinh đọc tác phẩm, dạy học văn học trung đại thông qua cắt nghĩa, dạy t

Trang 1

-++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++ ++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGHỆ AN - 2012

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Phân loại theo chức năng, văn học Việt Nam trung đại gồm văn học chức năng và văn chương thẩm mỹ Trong loại văn học chức năng, văn chính luận chiếm vị trí trọng yếu, được người xưa coi trọng và có nhiều thành tựu Một số văn bản chính luận Việt Nam trung đại đặc sắc được đưa vào dạy học

ở trung học cơ sở (THCS)

1.2 Văn chính luận Việt Nam trung đại có nhiều điểm đặc thù Văn chính luận trực tiếp bộc lộ quan điểm của giai cấp cầm quyền về những vấn đề quan trọng của đất nước và dân tộc Những văn bản đó ra đời trong hình thái

xã hội khác với hiện nay về cơ bản, chẳng hạn vua chúa có quyền lực vô biên, mọi người còn lại đều là thần dân, phụ thuộc vào đấng tối cao

Phương thức tư duy của người đương thời cũng có những sự khác biệt

so với hiện nay, ví dụ noi theo cổ nhân được coi là chân lý và đạo lý… Các văn bản chính luận được dạy học ở trung học cơ sở đều viết bằng chữ Hán nên dạy học chúng phải thông qua bản dịch

Tiếp nhận các giá trị đặc thù thường có nhiều khó khăn nhưng có phương pháp khoa học vượt qua những khó khăn đó sẽ có kết quả và hứng thú Nghiên cứu đề tài này góp phần giải quyết những khó khăn và tạo ra hứng thú khi dạy học văn chính luận ở trung học cơ sở

1.3 Các tài liệu chính thức và tài liệu tham khảo phục vụ việc dạy học văn chính luận Việt Nam trung đại ở trung học cơ sở hiện nay còn có những điều cần bàn luận về phương pháp giảng dạy và tri thức cụ thể Nghiên cứu đề tài này góp phần đính chính một số sai sót trong các tài liệu đó và góp phần xây dựng phương pháp dạy học thích hợp

2 Lịch sử vấn đề

Vấn đề dạy học văn nói chung và dạy học văn chính luận Việt Nam thời trung đại nói riêng đã có nhiều nhà giáo học pháp, cũng như nhiều nhà nghiên cứu giảng dạy văn học quan tâm

Trang 5

Trong cuốn Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục Trung học phổ

thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo viết: “Đổi mới phương pháp dạy học luôn

luôn đặt trong mối quan hệ với đổi mới mục tiêu, nội dung dạy học, đổi mới

cơ sở vật chất và thiết bị dạy học; đổi mới các hình thức tổ chức dạy học để phù hợp giữa dạy học cá nhân và các nhóm nhỏ hoặc cả lớp, giữa dạy học ở trong phòng học và ngoài hiện trường; đổi mới môi trường giáo dục để học tập gắn với thực hành và vận dụng; đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh qua đổi mới nội dung, hình thức kiểm tra, xây dựng các bộ công cụ đánh giá, phối hợp các kiểu đánh giá truyền thống với các trắc nghiệm khách quan đảm bảo đánh giá khách quan, trung thực mức độ đạt được mục tiêu giáo dục của từng học sinh” [ 7; 9-10]

Giáo trình Phương pháp dạy học văn của nhóm tác giả Phan Trọng Luận,

Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng và Trần Thế Phiệt (Nxb Đại học Quốc gia

Hà Nội), đã đề cập đến phương pháp dạy học văn trong nhà trường phổ thông Trong phần hai (phần phương pháp dạy học bộ môn) các tác giả đã đưa

ra các phương pháp cụ thể trong việc dạy văn ở trường phổ thông như phương pháp đọc sáng tạo, gợi mở, nghiên cứu, tái tạo, nêu vấn đề Đặc biệt là trong giáo trình này các nhà biên soạn đã cho chúng ta thấy được vai trò của người học trong quá trình phân tích tác phẩm văn chương là chủ thể cảm thụ Các tác giả cũng đã đưa ra những phương pháp cụ thể khi dạy một thể loại nhất định như phương pháp dạy học môn làm văn, phương pháp dạy học văn học sử…[60; 69-370] Tuy nhiên về văn chính luận nói chung và văn chính luận Việt Nam thời trung đại các tác giả chưa thực sự quan tâm Hơn nữa

do tài liệu này phù hợp với đối tượng tiếp nhận và xã hội của những năm cuối thế kỉ 20 Bước sang thế kỉ 21, khi mà nhu cầu của xã hội của người học có sự thay đổi lớn thì những phương pháp dạy học văn mà giáo trình nêu ra không còn hoàn toàn phù hợp Trong bối cảnh cả trong nước và trên thế giới có những thay đổi lớn buộc chúng ta phải có phương pháp dạy học phù hợp Chính vì thế bộ phận văn chính luận Việt Nam thời trung đại hiện

Trang 6

nay đã được đưa nhiều trích đoạn vào chương trình ở bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông.

Năm 2007, trong cuốn Để dạy tốt và học tốt tác phẩm văn chương

(phần trung đại) ở trường phổ thông, tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương đã nêu

ra thực tế khó khăn và thuận lợi trong dạy học văn học trung đại ở trường phổ thông Tác giả đã đưa ra các phương pháp dạy học văn học trung đại (trong đó

có văn chính luận trung đại) như hướng dẫn học sinh đọc tác phẩm, dạy học văn học trung đại thông qua cắt nghĩa, dạy thơ trung đại thông qua chú giải sâu, dạy học thơ trung đại thông qua hệ thống câu hỏi…Trong công trình này tác giả đưa ra bài soạn thể nghệm một số văn bản được dạy học trong nhà

trường phổ thông trong đó có văn bản Bình Ngô đại cáo Trước khi đưa ra bài soạn thể nghiệm tác giả định hướng tiếp cận và phân tích Bình Ngô đại cáo,

định hướng trong quá trình dạy học thể cáo, định hướng cơ bản khi dạy học tác phẩm này [45; 86]

Những vấn đề mà tác giả đưa ra là rất bổ ích trong việc dạy học văn chính luận Việt Nam thời trung đại, tuy nhiên phương pháp dạy học còn khá

sơ lược

Năm (2009) trong Phân tích tác phẩm văn học trung đại Việt Nam - từ

góc nhìn thể loại, tác giả Lã Nhâm Thìn đã dành một chương để nói về văn

chính luận Việt Nam trung đại Bàn về văn chính luận Việt Nam trung đại tác giả chỉ tập trung chú ý tới đặc điểm và phương pháp phân tích ba thể văn chính là thể hịch, thể chiếu, thể cáo [90; 143- 170]

Năm 2010 tác giả Phạm Tuấn Vũ cho ra đời công trình Văn chính luận

Việt Nam thời trung đại Đây được xem là công trình đầu tiên cung cấp một

cách đầy đủ nhất về văn chính luận Việt Nam trung đại Tác giả đã đã phân tích khá cụ thể về đặc điểm thể loại các văn bản chính luận trung đại và thực

tế giảng dạy các văn bản chính luận trung đại trong trường phổ thông Theo tác giả, để nâng cao hiệu quả dạy học các văn bản chính luận trung đại, người dạy phải hiểu được bản chất của văn chính luận trung đại là sản phẩm mang

Trang 7

tính tư duy nguyên hợp (kiểu tư duy của người trung đại); phải chú ý đến đặc điểm riêng trong cách xác định chân lí của người trung đại; phải tạo được cho học sinh tâm thế tiếp nhận phù hợp; phải cung cấp nhiều kiến thức

về văn học và phi văn học; phải có sự tổng quan toàn bộ chương trình; phải biết đính chính một số chỗ dịch chưa đúng…[96; 119-124] Những kiến thức

mà tác giả đưa ra giúp ích rất nhiều cho người giáo viên ngữ văn phổ thông.Sang năm 2011, tác giả Phạm Tuấn Vũ lại tiếp tục cho ra đời công trình

Về một số vấn đề tác giả, tác phẩm văn chương Ở công trình này tác giả cho

rằng quan điểm lịch sử cụ thể ảnh hưởng rất lớn đến dạy học văn chính luận Việt Nam trung đại: “Quan điểm lịch sử cụ thể đòi hỏi phải xử lí tốt các văn bản vì đây là cơ sở quan trọng nhất hình thành nên những giá trị tư tưởng tình cảm của người dạy – học văn chương nói chung và văn chính luận nói riêng” [98; 67]

Các sách giáo khoa, sách giáo viên, tài liệu bồi dưỡng giáo viên, thiết kế bài giảng, tài liệu tham khảo khác ra đời từ năm 2006 trở lại đây (năm 2006 là năm bắt đầu thực hiện đại trà bộ sách giáo khoa mới) đều trình bày cụ thể, chi tiết các bài ngữ văn được giảng dạy trong nhà trường, trong đó có các văn bản chính luận Việt Nam trung đại Các tác giả đã phân tích rất rõ các đặc điểm của văn chính luận Việt Nam trung đại như về ngôn ngữ, lập luận, lí lẽ… nhưng các kiến thức, các phương pháp mà các tác giả trình bày theo từng tác phẩm riêng lẻ Mặc dù các tài liệu này đã có đề cập đến phương pháp dạy các tác phẩm văn học trong chương trình hiện hành trong đó có văn chính luận Việt Nam trung đại, nhưng các phương pháp dạy học được đề xuất chưa thực

sự mang tính hệ thống, khái quát

3 Mục đích nghiên cứu

3.1 Nhìn nhận một cách có hệ thống và khoa học những đặc điểm của văn bản chính luận Việt Nam trung đại được dạy học ở trung học cơ sở, những thuận lợi và khó khăn của việc dạy học loại văn bản này

3.2 Đánh giá nội dung khoa học cơ bản và phương pháp dạy học được

Trang 8

trình bày trong các tài liệu phục vụ việc dạy học văn bản chính luận Việt Nam trung đại ở trung học cơ sở hiện hành.

3.3 Đề xuất một số ý kiến thuộc khoa học cơ bản và phương pháp dạy học các văn bản chính luận Việt Nam trung đại ở trung học cơ sở Soạn một

số giáo án có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Các văn bản chính luận Việt Nam trung đại hiện được dạy học trong chương trình ở trung học cơ sở

5 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng các phương pháp nghiên cứu văn học như các phương pháp: hệ thống, thống kê - phân loại, phân tích - tổng hợp, đối sánh và các phương pháp nghiên cứu giáo dục như điều tra, thực nghiệm

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba

Trang 9

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Khái niệm văn chính luận Việt Nam trung đại

Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Là thể văn nghị luận viết về

những vấn đề nóng bỏng thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau: chính trị, kinh tế, triết học, văn hoá….Mục đích của văn chính luận là bàn bạc, thảo luận, phê phán hay truyền bá tức thời một tư tưởng, một quan điểm nào đó nhằm phục vụ trực tiếp cho lợi ích một giai cấp, một tầng lớp nhất định Chính

vì thế, tác phẩm chính luận bao giờ cũng thể hiện khuynh hướng tư tưởng, lập trường công dân rõ ràng Tình cảm sục sôi, luận chiến quyết liệt và tính công khai là những dấu hiệu quan trọng của phong cách chính luận Tất cả những cái đó làm cho giọng điệu, cấu trúc và chức năng của lời văn chính luận gần gũi với giọng điệu, cấu trúc và chức năng của lời văn tuyên truyền, hùng biện” [59; 400]

Theo Từ điển văn học (bộ mới): “Văn chính luận là một thể loại văn

học, một thể tài báo chí; thường nêu các vấn đề có tính thời sự về chính trị, xã hội, kinh tế, văn hoá, văn học, tư tưởng…Mục tiêu của văn chính luận là: tác động đến dư luận xã hội đương thời, đến lối sống, đến các quyền lợi chính trị hiện hành; đề xuất việc củng cố hoặc thay đổi chúng cho phù hợp với quyền lợi giai cấp hoặc với lí tưởng xã hội, đạo đức Đối tượng của văn chính luận là toàn bộ cuộc sống quá khứ và hiện tại; cuộc sống cá nhân và xã hội, đời sống thực và đời sống được phản ánh trong báo chí, nghệ thuật Các bức tranh thực tại, các tính cách và số phận con người hiện diện ở tác phẩm chính luận như những chứng cớ lấy từ chính đời sống, như một hệ thống luận cứ, như sự đối tượng của sự phân tích, hoặc được dùng làm cơ sở của xúc cảm, làm “tác nhân” kích thích, làm nguyên cớ để lên án, tố cáo hoặc chất vấn các giới hữu quan, để khẳng định lí tưởng Chính luận luôn là hành vi tranh đấu (ngấm ngầm hoặc công

Trang 10

khai) về chính trị, xã hội, tôn giáo, triết học, tư tưởng; Nó luôn mang định hướng phe nhóm, đảng phái và ý thức hệ Phong cách văn chính luận nổi bật ở tính luận chiến, tính cảm xúc; Nó gần gũi với giọng điệu, kết cấu và chức năng của lời diễn thuyết Chính luận có vai trò rất đáng kể trong lịch

sử văn hoá, trong các phong trào xã hội” [36; 1941]

Sách giáo khoa Ngữ văn 11 (nâng cao) định nghĩa: “Phong cách ngôn

ngữ chính luận là loại phong cách ngôn ngữ dùng trong những văn bản trực tiếp bày tỏ tư tưởng, lập trường, thái độ đối với những vấn đề thiết thực, nóng bỏng của đời sống, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị, xã hội Những văn bản này được gọi chung là văn bản chính luận” [11; 11]

Theo tác giả Gorđiép: “Chính luận có mục đích tuyên truyền, tổ chức quần chúng đưa họ tới cuộc chiến đấu Nhiệm vụ của nó không phải chỉ là bày

tỏ và giải thích những vấn đề chính trị quan trọng, mà còn thuyết phục người nghe, làm cho họ trở thành những người tham gia tích cực vào việc giải quyết những vấn đề xã hội xảy ra trước mắt” [55; 439]

Các định nghĩa nêu trên đều coi văn chính luận là một thể loại của văn nghị luận Văn chính luận phân tích, bình luận hoặc nêu những vấn đề có tính thời sự về các lĩnh vực như chính trị, xã hội, tư tưởng… Đó là những văn bản người viết công khai bày tỏ thái độ, quan điểm, tư cách chính trị của mình Người viết văn chính luận bao giờ cũng sử dụng nhiều thuật ngữ chính trị, bày

tỏ thái độ tư tưởng – chính trị của mình, bình giá công khai về những vấn đề

xã hội, thời sự của đất nước Sự bình giá này không chỉ xuất phát từ lập trường của cá nhân người viết mà có thế còn xuất phát từ tiếng nói chung của một tập thể, một tổ chức, một giai cấp xã hội

Các khái niệm văn chính luận ở trên chủ yếu xuất phát từ thực tiễn văn học hiện đại, không thật sát hợp với văn chính luận Việt Nam thời trung đại Tuy nhiên những khái quát về chức năng, vai trò và phong cách của văn chính luận nói chung cũng góp phần vào nhận thức loại văn bản này của Việt Nam trong quá khứ Nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ gọi

Trang 11

những văn bản chính luận thời trung đại Việt Nam là công văn, “hiểu

theo nghĩa rộng là tất cả các giấy tờ văn từ gì viết ra bởi những nhân viên hay cơ quan công quyền để thi hành công vụ của họ” [96; 14] Những văn bản này tính cách chính trị nhiều hơn văn học Theo ông, “ở bậc cao, các loại lớn, thì thường đòi hỏi một chút trang sức văn chương” [96; 14] Riêng về điều sau, thật khó đồng ý với nhà nghiên cứu Thời trung đại tư duy của con người mang tính chất nguyên hợp, càng đi ngược thời gian đặc điểm đó càng rõ Điều này thể hiện sự hỗn dung nhiều loại kiến thức trong sản phẩm ngôn từ, ví dụ văn, sử bất phân Đương thời văn chương còn chuyển tại nhiều loại giá trị tinh thần khác Trong những văn bản chính luận suất sắc, giá trị văn chương và các giá trị hữu quan, không hề

là sự pha trộn cơ học

Liên quan đến khái niệm văn chính luận Việt Nam thời trung đại, trước tác của nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 - 1784) cho chúng ta những nhận thức thú vị Qua ngôn ngữ có tính chất lập thuyết và qua công việc của một nhà sưu

tập, ta thấy Lê Quý Đôn quan niệm văn chương là bộ phận ngôn từ nghệ thuật,

ví dụ thơ, phú, truyện Nhà bác học dùng khái niệm văn với nghĩa rộng, đơn

cử như trường hợp sau: “Mặt trời, mặt trăng, các vì tinh tú là văn của bầu

trời Lễ nhạc pháp độ là văn của người, tùy theo sự cũ, đổi mới của đời xưa nay, sự ham chuộng của người trong nước hay ngoài nước, tuy không giống nhau, nhưng tùy thời lập ra chính giáo, thông biến cho kịp với ý muốn của dân cũng là một mà thôi Hòa thuận chứa ở trong, anh hoa phát ra ngoài, đặt đường kinh, đường vị cho đất trời đó là đại văn chương Soạn thảo các tờ tấu,

sớ, chiếu, chế độ quan hệ với đạo trị dân, cho đến ngâm nga, trước thuật, đi

đâu mà chẳng có văn” [96; 15] Loại trước tác này nhà bác học xếp vào văn,

còn ngày nay gọi là văn chính luận

Văn chính luận Việt Nam thời trung đại là những văn bản văn xuôi hoặc văn biền ngẫu trực tiếp viết về những vấn đề liên quan đến đời sống chính trị của quốc gia, dân tộc

Trang 12

1.2 Vị trí của văn chính luận Việt Nam trung đại trong chương trình Ngữ văn trung học cơ sở

1.2.1 Thống kê, phân loại các văn bản chính luận được dạy học

vào giữa học kỳ hai của lớp 8 với các văn bản: Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ,

Nước Đại Việt ta (Trích Bình Ngô đại cáo) Tuy chỉ đưa vào chương trình ngữ

văn trung học cơ sở ba văn bản chính luận Việt Nam thời trung đại nhưng

đó đều là những áng văn chương xuất sắc tiêu biểu cho ba thể văn chính

luận thời trung đại: chiếu, hịch, cáo Trong ba văn bản này có hai văn bản

đề cập đến vấn đề quốc gia, dân tộc (Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo)

Những giá trị này là sản phẩm của công cuộc dựng nước lâu dài, gian khổ

và vẻ vang của các thế hệ tiền bối Thế hệ hôm nay kế tục sự nghiệp thiêng liêng của tổ tiên, sẽ biết quý trọng bộ phận di sản đó, cảm nhận được ý chí

và tấm lòng của cha ông không chỉ vì cơ nghiệp đương thời mà còn vì giang sơn để lại cho hậu thế

Trong chương trình Ngữ văn ở lớp 6, lớp 7 và học kỳ I lớp 8 học về văn chương thẩm mĩ thì đến học kỳ II của lớp 8 và lên lớp 9 học sinh được tiếp xúc với loại hình văn học văn chính luận (trong đó có cả văn chính luận hiện

Trang 13

đại) Sự sắp xếp như thế của các nhà biên soạn là theo thể loại và hợp lý Bởi

ở lớp 6 và lớp 7 tư duy của các em vẫn còn non, do đó cho các em học các căn bản văn chương thẩm mĩ Đến lớp 8 và lớp 9 khi tư duy của các em đã vững hơn thì cho các em học các văn bản chính luận Có như vậy mới phù hợp với

tư duy của từng lứa tuổi, tạo được kết quả lĩnh hội cao

Các nhà biên soạn sách giáo khoa sắp xếp các văn bản chính luận Việt

Nam trung đại trước các văn bản chính luận Việt Nam hiện đại như: Thuế

Máu (Trích Bản án chế độ thực dân Pháp) của Nguyễn Ái Quốc Mục đích

của các nhà biên soạn là trước tiên giúp các em có một cái nhìn tổng thể về thể loại văn chính luận, giúp các em nắm được đặc trưng thể loại văn chính luận trung đại Từ chỗ các em đã được làm quen với bài khái quát về văn học trung đại, hiểu được phần nào đặc điểm nội dung và nghệ thuật của văn học trung đại, quan niệm thẩm mĩ của người đương thời Sau đó các em học các văn bản chính luận hiện đại sẽ định hướng được phương pháp học văn bản theo đặc trưng thể loại và theo loại hình văn học (loại hình văn học trung đại

và loại hình văn học hiện đại)

Như vậy văn chính luận Việt Nam trung đại được đưa vào dạy học ở bậc trung học cơ sở tương đối ít nhưng đó lại là những văn bản tiêu biểu cho ba thể văn chính luận thời trung đại Đồng thời việc phân bố hợp lý của các nhà biên soạn sách giáo khoa cũng tạo điều kiện cho học sinh tiếp nhận văn bản

1.3 Mục đích, yêu cầu của dạy học văn bản chính luận Việt Nam trung đại 1.3.1 Mục đích, yêu cầu của dạy học văn bản chính luận Việt Nam trung đại

Văn chính luận Việt Nam trung đại có đặc điểm riêng, có những điểm khác với văn chương thẩm mỹ, cũng có những điểm khác với văn chính luận Việt Nam hiện đại Với mỗi bộ phận văn học, giáo viên phải biết được mục đích, yêu cầu của việc dạy học mỗi bộ phận văn học đó Do đó chúng ta phải biết được mục đích của việc dạy học văn chính luận Việt Nam trung đại để có được hiểu quả dạy học tốt nhất

Văn chính luận Việt Nam thời trung đại được bắt đầu từ thế kỷ thứ X và

Trang 14

kết thúc vào cuối thế kỷ XIX, với những thể văn chính luận đặc sắc Thế kỷ X

- XIV được gọi là thời Lý Trần với thành tựu lớn nhất của văn chính luận là

thể chiếu, trong đó nội bật nhất là Thiên đô chiếu của Lý Thái Tổ Văn chính

luận thời Trần có nhiều thành tựu xuất sắc, đặc biệt là ở lĩnh vực sử học, tiêu

biểu là hai bộ quốc sử quy mô là Đại Việt sử ký và Đại Việt sử ký toàn thư

Hịch tướng sĩ là bài hịch giàu giá trị văn chương nhất cũng ở đời Trần Bước

sang thế kỷ XV là thời kỳ văn chính luận có thành tựu rực rỡ nhất với tác

phẩm quy mô (Quân trung từ mệnh tập), có bản đại cáo xuất sắc nhất (Bình

Ngô đại cáo), có nhà văn chính luận xuất sắc nhất (Nguyễn Trãi) Đến thế kỷ

XVI - nữa đầu thế kỷ XVIII, số lượng và chất lượng văn chính luận đều có sự

sút kém Thể văn chính luận trong thời kỳ này là khải Sang nữa sau thế kỷ

XVIII - nữa đầu thế kỷ XIX đất nước có nhiều biến động về mặt chính trị Văn chính luận giai đoạn này sử dụng vào cả đối nội và đối ngoại Thời gian này xuất hiện tác giả suất sắc nhất là Ngô Thì Nhậm với tác phẩm chính luận

quy mô bậc nhất là Bang giao hảo thoại Giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX là thời

kỳ ta phải đương đầu với thực dân Pháp xâm lược Tiêu biểu cho văn chính

luận thời kỳ này là Hịch đánh Tây của Lãnh Cồ, Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh

Tây của Nguyễn Đình Chiểu

Dạy học văn chính luận Việt Nam trung đại là phải nhận thức được một

số thuộc tính của bộ phận văn học này Văn chính luận Việt Nam thời trung đại đưa vào chương trình trung học cơ sở không chỉ mang ý nghĩa xã hội và ý

nghĩa lịch sử mà còn mang giá trị thẩm mĩ cao Ví dụ Hịch tướng sĩ của Trần

Quốc Tuấn là văn bản có “kết cấu hoàn chỉnh, hơi văn hùng tráng, lý lẽ và cảm xúc kết hợp thật nhuần nhị Bài hịch thể hiện được những giá trị tư tưởng tình cảm cao đẹp của thời đại là tinh thần trung nghĩa, sự thống nhất giữa quyền lợi của giai cấp phong kiến và quyền lợi của đất nước”[ 95; 209]

Dạy học văn bản chính luận Việt Nam trung đại là cần phân biệt được những thực thể này với văn chương thẩm mỹ đương thời, văn chính luận Trung Quốc cổ - trung đại và văn chính luận Việt Nam hiện đại ở những

Trang 15

thuộc tính quan trọng So với văn chương thẩm mỹ đương thời thì văn chính luận Việt Nam trung đại trực tiếp viết về những vấn đề liên quan đến đời sống chính trị của quốc gia, dân tộc còn ở văn chương hình tượng mối quan hệ này phức tạp hơn; ở văn chương thẩm mỹ, phần chủ yếu tạo nên tác phẩm là bức tranh đời sống, trong đó quan trọng nhất là hình tượng nghệ thuật, do nhà văn sáng tạo bằng hư cấu, còn văn chính luận phần chủ yếu là lý lẽ kết hợp với hình ảnh và hình tượng tác động đến lý trí và tình cảm của người tiếp nhận; ở văn chương thẩm mỹ tác giả thể hiện tư tưởng tình cảm thông qua hình tượng còn ở văn chính luận các tác giả bộc lộ trực tiếp tư tưởng tình cảm của mình; các thể loại của văn chương thẩm mỹ ngoại nhập còn có những thể loại nội sinh còn văn chính luận chỉ có ngoại nhập từ Trung Quốc So với văn chính luận Việt Nam hiện đại, văn chính luận Việt Nam trung đại có những điểm khác biệt như: Văn chính luận trung đại mang đậm tính nguyên hợp còn văn chính luận hiện đại tính chất này mờ nhạt hơn; văn chính luận Việt Nam trung đại chủ yếu viết bằng chữ Hán còn văn chính luận Việt Nam hiện đại viết bằng chữ quốc ngữ; ở văn chính luận trung đại con người tác giả thể hiện

ở nhiều phương diện còn văn chính luận hiện đại hạn chế tối đa hoặc triệt tiêu hình tượng chủ thể cá biệt của tác giả; văn chính luận trung đại sử dụng nhiều biện pháp tu từ hơn so với văn chính luận hiện đại So với văn chính luận Trung Quốc cổ - trung đại, văn chính luận trung đại Việt Nam

có những điểm khác biệt Mặc dầu văn chính luận trung đại Việt Nam chỉ

sử dụng thể loại của Trung Quốc nhưng dựa trên các thể loại của Trung Quốc các tác giả chính luận Việt Nam đã sáng tạo ra những tác phẩm đặc sắc, bất hủ, nó sống mãi trong lòng người dân Việt Nam từ bao đời nay

như Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn ; “văn học chính luận Trung Hoa có

trước văn học chính luận trung đại Việt Nam hơn hai mươi thế kỷ và các thể văn chính luận người Việt Nam dùng đều xuất xứ từ Trung Hoa Đội

Trang 16

ngũ văn nhân Trung Hoa đời nào cũng cực kỳ đông đảo và những tài năng xuất chúng không thể tính hết Tuy nhiên chúng ta không thấy công trình

văn học sử của nước này nói đến những tác phẩm kiệt xuất như Bình Ngô

đại cáo của Việt Nam Bài hịch của Trần Lâm thời Tam quốc mà nhiều

người nhắc đến không giàu giá trị nghệ thuật và tư tưởng như Hịch tướng

sĩ của Trần Quốc Tuấn, và để tăng “sức chiến đấu” cho nó, Trần Lâm đã

lôi cả ông bà cha mẹ của Tào Tháo ra chửi Thiên tài văn chương Trung Hoa vô cùng nhiều nhưng không tìm ra những đại bút về văn chính luận như Nguyễn Trãi, Ngô Thì Nhậm” [95; 215-216]

Đối với nhà trường trung học việc dạy học văn bản chính luận trung đại Việt Nam còn nhằm mục đích hướng nghiệp Để tạo điều kiện cho việc dạy học văn chính luận Việt Nam trung đại đạt kết quả cao thì phải nhận thức được thuộc tính và đặc điểm của đối tượng, đồng thời ý thức được những thuận lợi và khó khăn thuộc phía người dạy - học

Trước đây việc dạy học văn nói chung và văn chính luận Việt Nam trung đại nói riêng ở nhà trường trung học thường nghiêng về yêu cầu khai thác nội dung tư tưởng Điều này không sai nhưng chưa đủ Bởi xã hội càng hiện đại thì con người càng ý thức được rằng tự học, tự đào tạo là con đường phát triển tất yếu và không làm được thế thì sẽ tụt hậu so với xã hội “Chất lượng và hiệu quả giáo dục chỉ được khẳng định rõ rệt, khi hình thành và phát triển tốt năng lực sáng tạo của người học bằng con đường tự khám phá; biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục Học sinh đến trường không phải chỉ học cái gì, mà quan trong hơn là học như thế nào Thông qua những cái

đã học mà hình thành và rèn luyện cho học sinh năng lực tự học, tự chiếm lĩnh tri thức, biết khám phá và phát hiện các tri thức, trong đó có năng lực tự khám phá vẻ đẹp của tác phẩm văn học” [6; 121] Muốn đạt được mục tiêu trên, trong quá trình dạy học văn bản chính luận Việt Nam trung đại cần đảm bảo những yêu cầu sau:

Dạy học văn chính luận Việt Nam trung đại cần chú ý đến quan điểm

Trang 17

lịch sử - cụ thể của nó Nội dung cốt lõi của quan điểm lịch sử - cụ thể là nhìn nhận sự vật trong qúa trình hình thành và phát triển của nó Quan điểm này thể hiện tập trung ở một luận điểm của Ăngghen: “Con người sáng tạo ra lịch

sử của mình, nhưng là sáng tạo trong những hoàn cảnh nhất định mà con người phải thích ứng, và trên cơ sở của những quan hệ thực tế đương tồn tại

(Thư gửi Stackenbua)” [98; 66] Quan điểm lịch sử cụ thể yêu cầu phải nhận

thức được đặc điểm tư duy của con người thời trung đại Con người trung đại xưa quan niệm ngoài thế giới hiện sinh mà con người đang sinh sống thì còn một thế giới khác nữa và thế giới ấy được thể hiện bằng những tên gọi khác

nhau như: thiên địa (Bình Ngô đại cáo), thiên mệnh (Thiên đô chiếu) Quan

điểm lịch sử - cụ thể đòi hỏi phải xử lí chính xác văn bản Bởi đây là cơ sở quan trọng nhất hình thành nên những giá trị tư tưởng tình cảm của người dạy học văn chương nói chung và văn chính luận nói riêng Quan điểm lịch sử cụ thể đòi hỏi phải vận dụng các tri thức lịch sử - cụ thể một cách phù hợp để tránh gây ngộ nhận, đồng thời đòi hỏi kết hợp linh động, hài hòa yếu tố trong văn bản chính luận với yếu tố lịch sử - xã hội

Dạy học văn chính luận Việt Nam trung đại ở trung học cơ sở cần chú ý đến những điểm đặc thù của nó Có nắm được những đặc thù của văn chính luận thì cả người dạy và người học mới có một cái nhìn tổng thể về bộ phận văn học này, từ đó áp dụng dạy học vào từng văn bản trong chương trình trung học cơ sở

Yêu cầu của dạy học văn chính luận Việt Nam trung đại không chỉ đòi

hỏi người dạy và người học chú ý tới những điểm đặc thù và quan điểm lịch

sử - cụ thể mà còn phải theo những nguyên tắc chung của giảng dạy văn chính luận, bởi văn chính luận trung đại cũng nằm trong hệ thống văn chính luận nói chung Nguyên tắc của dạy học văn chính luận nói chung gồm những điểm

sau: xác định đặc điểm chủ thể phát ngôn và mục đích phát ngôn trong văn

bản, tìm hiểu ngôn ngữ, giọng điệu và kết cấu của văn bản, tìm hiểu chủ đề tư tưởng của văn bản

Trang 18

1.3.2 Những thuận lợi và khó khăn của dạy học văn chính luận Việt Nam trung đại ở trung học cơ sở

Việc giảng dạy văn chính luận Việt Nam trung đại ở nhà trường trung học cơ sở có những thuận lợi và những khó khăn nhất định Điều đó bắt nguồn từ những đặc điểm của bản thân đối tượng là văn chính luận Việt Nam trung đại

Môn Ngữ văn là môn học chính trong nhà trường, được học ở mọi cấp học Trong chương trình Ngữ văn trung học cơ sở, phần văn chính luận Việt Nam trung đại là một trong những trọng tâm Văn chính luận Việt Nam trung đại chỉ có ba văn bản Những văn bản đó đều xuất sắc của những tác giả ưu tú Đấy là những văn bản văn chương có giá trị nghệ thuật, thấm đượm chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo nên rất dễ gần với giáo viên và học sinh hôm nay, tạo điều cho học sinh tiếp nhận văn bản tốt hơn

Về phía giáo viên: Hiện nay giáo viên được bồi dưỡng kiến thức lý luận văn học, lý luận dạy học cũng như kiến thức về văn học Nhiều giáo viên tốt nghiệp đại học từ mười năm trở lại đây được trang bị kiến thức hiện đại, toàn diện và có phương pháp dạy học mới Số giáo viên này sẽ trở thành nòng cốt cho các trường

Về phía học sinh: Học sinh ngày càng có nhiều điều kiện thuận lợi để học tập Nhờ công nghệ thông tin và sách tham khảo nhiều nên các em dễ dàng lựa chọn cho mình những cách học đạt hiểu quả nhất

Bên cạnh đó các văn bản chính luận Việt Nam trung đại được đưa vào dạy học ở trung học cơ sở là sản phẩm của công cuộc dựng nước lâu dài và gian khổ nhưng rất vẻ vang của ông cha ta ngày trước Thế hệ con em chúng

ta hôm nay và cả mai sau sẽ kế tục truyền thống ấy, đồng thời biết quý trọng

bộ phận di sản đó, cảm nhận được ý chí và tấm lòng của cha ông không chỉ vì

cơ nghiệp đương thời mà còn vì giang sơn để lại cho hậu thế “Chẳng hạn, khi

chọn Đại La để định đô, Lý Thái Tổ thấy đây là chốn tụ hội trọng yếu của bốn

phương đất nước (tứ phương bức thấu chi yếu hội), là kinh đô bậc nhất của đế

Trang 19

vương muôn đời (vi vạn thế đế vương chi thượng đô) Người xưa hình dung

chủ quyền đất nước qua chủ quyền của vương triều dân tộc Ngàn năm trước,

Lý Thái Tổ đã gửi vào văn bản long trọng bậc nhất ấy niềm tin người Việt Nam vĩnh viễn là chủ nhân của non sông đất nước này! Trước đây gần sáu trăm năm, sau khi cùng toàn dân tiến hành thắng lợi cuộc chiến tranh giải phóng đầy hi sinh gian khổ, Nguyễn Trãi thay mặt Lê Lợi ghi vào bản đại cáo

ước vọng bốn biển mãi mãi thanh bình (tứ hải vĩnh thanh) Khoảng cách thời

gian dù lớn, chúng ta vẫn thấy người xưa thật gần gũi và thân thuộc qua những khát vọng thiêng liêng” [96; 26]

Thuận lợi tiếp theo là tác giả của ba văn bản được đưa vào chương trình Ngữ văn 8 đều là những người có công lao với đất nước, với dân tộc trên nhiều lĩnh vực Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các em học sinh dễ hình dung tới văn bản các tác giả đó viết Các tác giả này các em đều được tiếp xúc trong môn lịch sử, trên phim ảnh nên khi học các văn bản này các em sẽ một phần nào hình dung được hoàn cảnh ra đời cũng như mục đích viết của các tác giả Ví dụ như tác giả Trần Quốc Tuấn là một tài năng quân sự kiệt xuất Ông đã từng tham gia ba cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên với cương lĩnh là vị Quốc công tiết chế, thống lĩnh toàn bộ quân đội, là chỉ huy tối cao của cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1287 - 1288) Tác giả Nguyễn Trãi vừa là nhà thơ, nhà văn hóa lớn, vừa là vị anh hùng dân tộc

Một thuận lợi nữa của việc dạy học văn chính luận Việt Nam trung đại ở trung học cơ sở là các văn bản có mặt trong chương trình đều có những văn bản đặc săc về nghệ thuật Ba văn bản tiêu biểu cho ba thể văn chính luận tiêu biểu

của thời trung đại, đó là Chiếu dời đô thuộc thể chiếu, Hịch tướng sĩ thuộc thể

hịch, Nước Đại Việt ta thuộc thể cáo Cả ba văn bản đều có kết cấu chặt chẽ, lập

luận sắc bén và viết bằng văn xuôi hoặc văn biền ngẫu

Bên cạnh những thuận lợi này cũng cần hình dung những trở ngại, khó khăn và chủ động khắc phục để việc nghiên cứu, việc dạy - học văn chính

Trang 20

luận xưa được hiệu quả hơn.

Rào cản đầu tiên đối với việc tiếp nhận các văn bản chính luận Việt Nam trung đại đó là vấn đề ngôn ngữ Dạy và học văn bản chính luận Việt Nam trung đại dựa trên văn bản gốc ở bậc trung học cơ sở là không thể được,

cả giáo viên và học sinh hầu như phải tiếp nhận chúng thông qua các bản dịch Ngôn ngữ lại ra đời và tồn tại trong những thời gian và không gian nhất định, phản ánh sinh hoạt vật chất và tinh thần của các dân tộc và ở các thời đại, bởi vậy bản dịch không thể hoàn toàn như nguyên tác, thẩm chí có những trường hợp sự khác biệt rất đáng kể Do vậy, việc hiểu sai hoặc chưa đầy đủ các lớp nội dung ý nghĩa cũng như vẻ đẹp hình thức nghệ thuật của các văn bản chính

luận là rất hay xảy ra Ví dụ như: “Câu Yết can vi kỳ manh lệ chi đồ tứ tập (Bình Ngô đại cáo) được dịch là “ Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc

ngọn cờ phấp phới” chưa đạt yêu cầu Nhân dân là khái niệm mới, hẳn thời

Nguyễn Trãi chưa có khái niệm về nó Hơn nữa khi viết manh lệ chi đồ, tác giả

chỉ đích danh những người khốn khó (người cày cấy, người đi ở) trong xã hội

đương thời vì thế tư tưởng thân dân rõ rệt hơn Hay câu Tuấn sinh linh chi huyết,

dĩ nhuận kiệt chi vẫn nha (Bình Ngô đại cáo) có nơi dịch là “Thằng há miệng,

đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán” thay đổi hẳn sắc thái Nguyễn Trãi

kể một cách điềm tĩnh và khái quát, câu văn mang sắc thái luận tội nghiêm

khắc, còn ở bản dịch đã chuyển sang tả vài hiện tượng với giá trị mỹ cảm

không cao” [96; 128-130]

Trở ngại tiếp theo là những giá trị của văn bản chính luận Việt Nam thời trung đại ra đời cách đây nhiều thế kỷ, trong điều kiện xã hội có nhiều sự khác biệt lớn so với hiện nay, tạo nên những khó khăn cho việc nhận thức Bởi con người là thực thể luôn thuộc về thời gian và không gian nhất định Dù có ý thức cao độ, người ta cũng không thể hoàn toàn thoát ly được những quan hệ

cụ thể, cá biệt của mình, để thâm nhập triệt để vào quá khứ Bên cạnh đó tư duy nghệ thuật của con người thời trung đại có những điểm đặc thù Việc nhận thức các giá trị đặc thù bao giờ cũng khó khăn

Trang 21

Người dạy văn và người học văn hôm nay sống trong những điều kiện khác với con người Việt Nam thời trung đại về nhiều phương diện Có những vấn đề về nhân sinh trọng yếu của thời trung đại như quan hệ của con người với xã hội và với người khác trong xã hội thần dân, nơi mà sự bất bình đẳng trở thành nguyên tắc kiến tạo các quan hệ Ngược lại, có những vấn đề chưa được người xưa quan tâm lắm thì ngày nay lại trở thành vấn đề quan trọng.Khó khăn của việc dạy học văn bản chính luận Việt Nam trung đại kết hợp với những khó khăn chung của việc dạy học văn trong những năm gần đây Học sinh không hứng thú đến môn văn mà chỉ chăm chú đến những môn

tự nhiên Điều này một phần các em đã định hướng nghề nghiệp từ những năm cuối trung học cơ sở Nghề nghiệp mà các em định hướng chủ yếu là

kinh tế Giáo sư, nhà giáo Nhân dân Nguyễn Đăng Mạnh đã nói trên Báo Văn

nghệ trẻ số 32 (2011): “Nguyên nhân lớn, nguyên nhân chính nằm ngoài

ngành giáo dục”

Trang 22

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CÁC VĂN BẢN CHÍNH LUẬN

VIỆT NAM TRUNG ĐẠI Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ

2.1 Dạy học văn bản chính luận Việt Nam trung đại trong sự đối sánh với văn bản chính luận Việt Nam hiện đại

2.1.1 Thống kê, phân loại các văn bản chính luận Việt Nam trung đại và văn bản chính luận Việt Nam hiện đại được dạy học ở trung học cơ sở

TT Văn bản chính luận Việt Nam trung đại Văn bản chính luận Việt Nam hiện đại Tác phẩm Tác giả Thể loại Văn tự Dạy học ở lớp phẩmTác Tác giả Thể loại Văn tự Dạy học ở lớp

1 Chiếu dời

đô

Lý Công Uẩn

Chiếu Chữ

Hán

Lớp 8, tập 2

Thuế máu (Trích Bản án chế độ thực dân Pháp)

Nguyễn

Ái Quốc

Văn bản nhật dụng

Chữ quốc ngữ

Lớp 8, tập 2

2 Hịch

tướng sĩ

Trần Quốc Tuấn

Hịch Chữ

Hán

Lớp 8, tập 2

Phong cách Hồ Chí Minh

Lê Anh Trà

Văn bản nhật dụng

Chữ quốc ngữ

Lớp 9,tập 1

Cáo Chữ

Hán

Lớp 8, tập 2

Tiếng nói của văn nghệ

Nguyễn Đình Thi

Văn bản nhật dụng

Chữ quốc ngữ

Lớp 9, tập 2

hành trang vào thế kỉ mới

Vũ Khoan

Văn bản nhật dụng

Chữ quốc ngữ

Lớp 9, tập 2

2.1.2 Đối sánh dạy học văn bản luận Việt Nam trung đại với văn bản

Trang 23

chính luận Việt Nam hiện đại

Văn chính luận trung đại và văn chính luận hiện đại đều thuộc văn chính luận được phân chia theo tiêu chí lịch sử Văn chính luận Việt Nam trung đại được bắt đầu từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX với văn bản mở đầu là

Dự đại phá Hoằng Thao chi kế ( Bày kế đánh tan quân Hoằng Thao ) của

Ngô Quyền Kết thúc cho loại hình văn chính luận thời trung đại ở thế kỷ

XIX với những văn bản xuất sắc của thể hịch như Hịch Lãnh Cồ, Hịch kêu

gọi nghĩa binh đánh Tây, Hịch sĩ phu kêu gọi chống Pháp… Ở loại hình văn

chính luận trung đại, chủ thể của những văn bản chính luận thường là vua, quan lại hay người đứng đầu của một phong trào nào đó Chính họ viết hoặc ủy quyền cho người khác viết Người viết phải thể hiện được quan điểm và vị trí chính trị của người ủy quyền viết Loại hình văn chính luận hiện đại bắt đầu từ thế kỉ XX Đây là thời kỳ văn chính luận không chỉ là một loại văn bản hành chức Bên cạnh việc thể hiện những quan điểm chính trị của người viết, nhiều văn bản chính luận cũng bộc lộ vẻ đẹp nghệ thuật của nó qua cách diễn đạt, lập luận, cách sử dụng ngôn từ, hình ảnh…Mặc dầu hai loại hình văn chính luận Việt Nam trung đại và văn chính luận Việt Nam hiện đại ra đời ở các giai đoạn khác nhau, bị chi phối bởi hoàn cảnh lịch sử - chính trị, quan niệm xã hội, văn học khác nhau song việc dạy văn chính luận Việt Nam trung đại và văn chính luận Việt Nam hiện đại ở trung học cơ sở có những điểm tương đồng và khác biệt

2.1.2.1 Điểm tương đồng trong dạy học văn bản chính luận Việt Nam trung đại và văn bản chính luận Việt Nam hiện đại

Các văn bản chính luận Việt Nam trung đại và văn bản chính luận Việt Nam hiện đại về những vấn đề thuộc các lĩnh vực chính trị, xã hội, tư tưởng…với những mục đích, đối tượng…gắn liền với những sự kiện quan trọng của đất nước Chính vì vậy, hai loại hình văn học này có những điểm tương đồng trong dạy học

Trước hết dạy học văn bản chính luận Việt Nam trung đại và văn bản

Trang 24

chính luận Việt Nam hiện đại giáo viên cần phải chú ý đến chủ thể của văn bản (tác giả) Ở những tác phẩm chính luận nói chung các tác giả viết ra không phải nhằm nhu cầu giải trí hay viết theo ngẫu hứng mà họ có những mục đích rõ ràng thiết thực Đó là những vấn đề gắn với đời sống chính trị của quôc gia, dân tộc “Tác phẩm chính luận không chỉ thể hiện những suy nghĩ, nhận định, bình luận về các sự kiện lịch sử, các biến cố có ý nghĩa dân tộc, mà còn bàn đến những vấn đề nhân sinh của thời đại được đông đảo mọi người quan tâm” [79; 399] Chính vì đề cập đến những vấn đề quan trọng, thiết yếu của đất nước, dân tộc nên chủ thể của những văn bản chính luận đều bộc lộ

“cái tôi” của chính mình một cách rõ ràng khi bàn bạc một vấn đề quan trọng nào đó Tuy nhiên “cái tôi” nhiều khi hòa vào cái chung Bởi thái độ chính trị, khuynh hướng tư tưởng của người viết nhiều khi xuất phát từ quyền lợi, lợi ích của một giai cấp, một tổ chức của đất nước Điều này được thể hiện rõ

trong các văn bản chính luận thời trung đại Chẳng hạn như như trong Bình

Ngô đại cáo, “cái tôi” của Lê Lợi được thể hiện qua cách viết của Nguyễn

Trãi là lòng tự hào về truyền thống, về lịch sử, về nền văn hiến của dân tộc, tư tưởng nhân nghĩa khác với Nho giáo Với Lê Lợi và Nguyễn Trãi thì lòng nhân nghĩa là phải chiến đấu, phải làm sao cho “dân yên”; Giặc Minh đã gây nên bao tội ác đối với dân mình nên Lê Lợi và Nguyễn Trãi căm phẫn tột độ Chính sự căm phẫn đó đã tạo nên sự quyết tâm và đồng lòng của quân và dân, tạo nên những trận đánh giành được thắng lợi liên tiếp và vang dội “Cái tôi”

đó còn được thể hiện rất riêng khi tuyên cáo nền độc lâp Có được sự thắng lợi

đó, vị anh hùng áo vải cho rằng ngoài sự đồng lòng quyết tâm của quân và dân còn có sự giúp đỡ của tổ tiên nữa Bước sang thời hiện đại, cái tôi trong

các tác phẩm chính luận càng thể hiện rõ nét Chẳng hạn trong văn bản Thuế

máu của Nguyễn Ái Quốc “cái tôi” được thể hiện dứt khoát, mạnh mẽ lột trần

bản chất tàn ác, đểu giả của bọn “cá mập thực dân”qua sự lật lỏng, tráo trở của chúng “Cái tôi” dám thẳng thắn đứng lên vạch trần sự thực của bọn cướp nước thực dân bằng những tư liệu phong phú với tấm lòng của một người yêu

Trang 25

nước, một người cộng sản

Dạy văn chính luận Việt Nam trung đại và văn chính luận Việt Nam hiện đại giáo viên đều phải chú ý đến nội dung mà các văn bản đề cập Đó là những vấn đề chính trị xã hội của đất nước, là những vấn đề có ý nghĩa rộng lớn và hết sức bức thiết đối với toàn dân Nhìn chung tất cả đều gắn liền với tình hình chính trị, xã hội của cả đất nước, có ý nghĩa trọng đại với đông đảo Trong đời sống của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Văn chính luận đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa thời sự nóng hổi nên nội dung mà nó hướng đến bao giờ cũng là những vấn đề trọng đại đang diễn ra

Các tác giả viết các văn bản chính luận phản ánh một vấn đề nào đó của đất nước, vấn đề nào đó của xã hội nhằm bày tỏ quan điểm, chính kiến, giải thích, thuyết phục, làm cho người đọc, người nghe có nhận thức đúng, từ đó

có hành động đúng, cùng tham gia giải quyết những vấn đề mang tính thời sự của đất nước Mỗi văn bản chính luận đều đề cập đến những vấn đề thiết

yếu của dân tộc Chẳng hạn Trần Quốc Tuấn viết Hịch tướng sĩ nhằm mục

đích kêu gọi các tướng lĩnh thức tỉnh để đánh đuổi giặc ngoại xâm Hay ở

văn chính luận hiện đại Lê Anh Trà viết Phong cách Hồ Chí Minh với mục

đích cho người đọc thấy được vẻ đẹp trong phong cách sống và làm việc của Hồ Chí Minh Như vậy khi viết các văn bản chính luận dù ở hiện đại hay ở trung đại người viết hướng tới mục đích khác nhau ứng với mỗi hoàn cảnh nơi tác gải sống Do đó giáo viên cần khích lệ, hướng dẫn học sinh tìm các yếu tố ngoài văn bản Bởi các yếu tố ngoài văn bản ở những tác phẩm rất quan trong để nhận ra được mục viết của tác giả Ví dụ ở thế kỷ

XV, khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn diễn ra trong hàng chục năm trời đã

giành thắng lợi hoàn toàn, Lê Lợi giao cho Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại

cáo nhằm mục đích tổng kết cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược, lên án

tội ác của giặc, ca ngợi tinh thần nhân nghĩa, vượt qua hi sinh gian khổ của nhân dân ta, tuyên bố đất nước thái bình

Dạy học văn bản chính luận Việt Nam trung đại và văn bản chính luận

Trang 26

Việt Nam hiện đại là giáo viên đều cần phải chú ý đến kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu văn bản Bởi vì “ thể văn nghị luận viết về những vấn đề nóng bỏng thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau: chính trị, kinh tế, triết học, văn hoá….Mục đích của văn chính luận là bàn bạc, thảo luận, phê phán hay truyền

bá tức thời một tư tưởng, một quan điểm nào đó nhằm phục vụ trực tiếp cho lợi ích một giai cấp, một tầng lớp nhất định Chính vì thế, tác phẩm chính luận bao giờ cũng thể hiện khuynh hướng tư tưởng, lập trường công dân rõ ràng Tình cảm sục sôi, luận chiến quyết liệt và tính công khai là những dấu hiệu quan trọng của phong cách chính luận Tất cả những cái đó làm cho giọng điệu, cấu trúc và chức năng của lời văn chính luận gần gũi với giọng điệu, cấu trúc và chức năng của lời văn tuyên truyền, hùng biện” [31; 400] Thông thường một văn bản chính luận ( kể cả văn bản chính luận Việt Nam trung đại hay văn bản chính luận Việt Nam hiện đại ) kết cấu thường như: Luận điểm

→ Luận cứ → luận chứng Chẳng hạn trong Hịch tướng sĩ của Trần Quốc

Tuấn có ba luận điểm chính, trong các luận điểm có các luận cứ và luận chứng

cụ thể:

a) Nêu những tấm gương trung thần nghĩa sĩ

- Những tấm gương trung thần nghĩa sĩ xưa:

+ Kỉ Tín, Do Vu, Dự Nhượng, Thân Khoái, Kính Đức, Cảo Khanh…

- Những tấm gương trung thần nghĩa sĩ nay:

+ Vương Công Kiên, Cốt Đãi Ngột Lang…

b) Trình bày tình hình đất nước và phê phán những cách sống không phù hợp với người tướng lĩnh

- Tình hình đất nước

+ sứ giặc:

“đi lại nghênh ngang”

“uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình”

“đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ”

“thác mệnh Hố Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, để thỏa lòng tham không cùng”

Trang 27

“giả hiệu Vân Nam Vương thu bạc vàng, để vét của kho có hạn”

+ Nỗi lòng của vị chủ tướng:

“Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắ, nước

mắt đầm đìa"

“căm tức chưa xả thịt, lột da, nuốt gan, uống máu quân thù".

“Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da

ngựa, ta cũng vui lòng"

- Phê phán những cách sống không phù hợp của các tướng lĩnh:

+ Phê phán lối sống hưởng lạc, ích kỉ của các tướng lĩnh

+ Mối ân tình giữa chủ tướng và các tướng lĩnh

c) Nêu cách hành xử thuận và nghịch để các tướng sĩ lựa chọn

- Con đường “chính”: “Nay ta chọn binh pháp các nhà hợp làm một

quyển gọi là Binh thư yếu lược Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo

lời dạy bảo của ta, thì mới phải đạo thần chủ.”

- Con đường “tà”: “Nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo của

c) Kết quả của sự hi sinh

Các luận điểm lớn này có các luận cứ và các luận cứ chứng minh cho các luận điểm

Văn bản chính luận Việt Nam trung đại và văn bản chính luận Việt Nam hiện đại đều mang những đặc trưng chung của văn chính luận Do các văn bản thường bàn về các vấn đề chính trị, xã hội cho nên giọng ðiệu của ngýời viết trong vãn chính luận luôn là giọng ðanh thép, cýõng quyết, dứt khoát và thể hiện thái ðộ, lập trýờng rõ ràng Giọng điệu của người viết biến đổi linh hoạt

để thuyết phục người đọc, người nghe Chẳng hạn trong Hịch tướng sĩ chúng

Trang 28

ta bắt gặp sự nồng nhiệt, mãnh liệt, thiết tha của tác giả được thể hiện thông qua hình tượng một vị chủ tướng “tới bữa quên ăn, nữa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa” Ngôn ngữ văn chính luận bộc lộ rất rõ cảm xúc

của người viết Ví dụ như trong Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn đã tỏ rõ lòng

căm thù giặc đến tột độ: Nguỵ sứ “đi lại nghênh ngang”, “uốn lưỡi cú diều”,

Văn chính luận trung đại mang đậm tính nguyên hợp còn văn chính luân hiện đại chủ yếu dùng lý lẽ Tính chất nguyên hợp của văn chính luận trung đại thể hiện ở sự kết hợp nhiều loại kiến thức: “văn, sử, triết bất phân” Ví dụ như

văn bản Bình Ngô đại cáo, bên cạnh giá trị văn chương xuất sắc là giá trị lịch sử hết sức nội bật Bình Ngô đại cáo trước hết là một văn kiện lịch sử bố cáo cho

toàn dân biết sự nghiệp bình Ngô đã hoàn toàn thắng lợi, quân thù đã thảm bại và

phải cút khỏi nước ta, một vận hội mới đã mở ra cho giang sơn xã tắc Còn giá

trị văn chương thể hiện ở chỗ nó là văn bản chính luận có hệ thống lập luận chặt chẽ, thể hiện sâu sắc và sinh động những vấn đề ý nghĩa trọng đại của quốc gia dân tộc Giá trị văn chương còn thể hiện ở cách nhìn sự vật, hiện tượng của tác giả Người viết luôn nhìn nhận sự vật, hiện tượng bằng trí tuệ sắc sảo và tâm hồn tinh nhạy, con tim giàu cảm xúc Từ cái nhìn đó tác giả đã cho ra đời tác phẩm giàu hình tượng và hình ảnh, ngôn từ giàu tính nhạc điệu

Tính nguyên hợp còn thể hiện sự thâm nhập đến độ khó có thể phân

Trang 29

biệt được đâu là người đứng ở tư cách phát ngôn và người chấp bút “nhập

vai” Điều này thể hiện rất rõ ở hai văn bản Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi và Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm Bình Ngô đại cáo là lời của Lê Lợi

bố cáo với toàn dân nhưng lại ẩn chứa tâm can và trí tuệ của Nguyễn Trãi Nên khi đọc văn bản người đọc nhiều khi khó phân biệt đâu là giọng của

Nguyễn Trãi, đâu là giọng của Lê Lợi Hay ở Chiếu cầu hiền là do Vua

Quang Trung giao nhiệm vụ cho Ngô Thì Nhậm viết với mục đích chiêu dụng người tài để xây dựng đất nước khi triều đại mới lên đang gặp khó khăn, để giúp vua nhưng cũng là giúp nước, giúp dân Đây là một trong những văn bản chiếu đạt đến độ thấu tình đạt lí “Giá trị đó không phải do tờ chiếu phản ánh được tư thế quang minh chính đại của người anh hùng áo vải, mà còn ẩn chứa ơn tri ngộ của Ngô Thì Nhậm Ông vốn là bề tôi của chúa Trịnh - kẻ thù chính trị của tân triều Nếu Quang Trung Nguyễn Huệ không đại lượng và không thực lòng tin dùng nhân tài thì tài năng của Ngô Thì Nhậm không được

sử dụng Bởi vậy chấp bút Chiếu cầu hiền của Quang Trung, Ngô Thì Nhậm

không chỉ quảng bá chủ trương của nhà vua mà còn ẩn sau đó là sự bày tỏ lòng tin đã được chính mình kiểm nghiệm” [95; 219]

Tính nguyên hợp còn được thể hiện ở sự tổng hòa nhiều loại văn như văn

nghị luận, văn trữ tình, văn miêu tả, văn triết lí Ví dụ như Bình Ngô đại cáo

là văn bản thể hiện khá rõ những sự kết hợp các loại văn nghị luận, miêu tả và trữ tình, triết lí Sự kết hợp này được thể hiện qua ngòi bút linh hoạt của tác giả: vừa kể lại những chiến thắng của quân ta vừa đúc kết những nguyên lý quân sự và những chân lý nhân sinh; tự sự về những thất bại liên tiếp của giặc kết hợp luận tội của chúng, đặt chúng trong sự tương phản với ta Có thể nói

sự kết hợp trên là đặc thù của văn chính luận trung đại nên khi dạy văn bản chính luận trung đại giáo viên phải chú ý khai thác

Văn chính luận Việt Nam trung đại chủ yếu viết bằng chữ Hán còn văn chính luận Việt nam hiện đại viết bằng chữ quốc ngữ, cho nên trong quá trình dạy học giáo viên cần chú ý đến văn tự của từng loại hình văn bản Trong văn

Trang 30

chính luận trung đại các tác giả thường sử dụng chữ Hán nên tạo cho văn bản sắc thái trang trọng, mặc dầu không phải người nào cũng hiểu Điều này cũng đồng nghĩa với việc ở một số văn bản có những chỗ dịch chưa chuẩn nên người dạy phải giải thích cho học sinh hiểu rõ Học sinh phổ thông hôm nay không biết nhiều về chữ Hán nên khó khăn cho việc tiếp nhận các văn bản Khi giảng dạy giáo viên phải nhận thấy được sự khác biệt giữa tác giả văn chính luận trung đại và tác giả văn chính luận hiện đại Người phát ngôn trong các văn bản chính luận trung đại có thể là chính tác giả - người viết nhưng cũng có thể chỉ là người được ủy quyền Người viết phải thể hiện được

tư tưởng và vị trí chính trị của người viết Còn trong văn chính luận hiện đại, người phát ngôn đồng thời chính là chủ thể của văn bản, trực tiếp bộc lộ quan điểm cá nhân trước các vấn đề của xã hội, của đất nước Các tác giả bộc lộ chân dung tư tưởng, tinh thần của mình rất rõ Đó là hình tượng một con người mạnh

mẽ, có tư tưởng, có chính kiến và dám bộc lộ, tranh biện để bảo vệ chính kiến Ở văn chính luận trung đại con người tác giả bộc lộ trên nhiều phương diện còn ở văn chính luận hiện đại con người tác giả bị hạn chế tối đa, thậm chí bị triệt tiêu

Chẳng hạn như trong Hịch tướng sĩ Trần Quốc Tuấn đã thẳng thắn bày tỏ nỗi

lòng của mình với các tướng lĩnh: “Ta thường tới bữa quyên ăn, nữa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù Dẫu cho trăm thây này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói

trong da ngựa ta cũng vui lòng” Còn trong Thuế máu Nguyễn Ái Quốc không

bày tỏ nỗi lòng của mình một cách trực tiếp về tội ác của giặc Mà tác giả chỉ trực tiếp và khách quan tố cáo tội ác của thực dân Pháp

Văn chính luận Việt Nam trung đại thường mang tư tưởng tôn quân, xem các bậc đế vương là những giá trị toàn thiện, toàn mỹ, là những nhân vật siêu nhiên Ở thời trung đại nhà vua là người đứng đầu, là hiện thân của quốc gia, là chủ nhân của một nước và có quyền quyết định tất cả còn thần dân là

bề tôi Đặc điểm này văn chính luận Việt Nam hiện đại không có Bởi ở thời

hiện đại nhân dân là chủ nhân của đất nước Do đó tờ Chiếu cầu hiền do Ngô

Trang 31

Thì Nhậm viết nhân danh Quang Trung long trọng mở đầu bằng: “Từng nghe: người hiền ở trên đời cũng như sao sáng trên trời Sao tất phải chầu về Bắc thần, người hiền tất phải do thiên tử sử dụng”.

Văn chính luận trung đại thường thể hiện tư duy mang màu sắc thần linh chủ nghĩa Nó thường mang tư tưởng tôn quân, xem các bậc đế vương là những giá trị toàn thiện toàn mỹ, là những nhân vật siêu nhiên và cách xác lập chân lý của người xưa Đây là những điểm mà ở văn chính luận hiện đại không có

Điểm khác biệt nữa ở văn chính luận Việt Nam trung đại và văn chính luận Việt Nam hiện đại là thời trung đại xác lập chân lý bằng cách khẳng định

mình noi theo tiền nhân Ví dụ như ở Chiếu dời đô, Lí Công Uẩn viết: “Xưa

nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô; nhà Chu đến vua Thành Vương cũng ba lần dời đô” Cách mở đầu văn bản chiếu như thế này là do ý

đồ của tác giả Tác giả lấy dẫn chứng từ bên Trung Hoa, người Trung Hoa xưa

đã từng dời đô và không chỉ một triều đại và không chỉ một lần Mà nhà Thương năm lần dời đô, nhà Chu ba lần dời đô và chính việc đó đã giúp các triều đại đó phồn thịnh lâu dài Từ cách mở đầu khéo léo như vậy nhằm thuyết phục mọi thần dân cùng chung một chí hướng với ông là dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La

Ở văn chính luận trung đại sử dụng nhiều biện pháp tu từ nên tạo ra sự

đa nghĩa Ví dụ trong Hịch tướng sĩ Trần Quốc Tuấn sử dụng nghệ thuật

phóng đại “Dẫu cho trăm thây này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong

da ngựa, ta cũng vui lòng ” nhằm thể hiện ý chí quyết chiến, sẵn sàng hi sinh của tác giả Còn ở văn chính luận hiện đại sử dụng ít biện pháp tu từ hơn

Như vậy văn chính luận Việt Nam trung đại và văn chính luận Việt Nam hiện đại có những điểm khác biệt cơ bản Dựa vào những đặc điểm khác biệt giữa hai loại hình văn chính luận này giáo viên có thể đạt được kết quả giờ dạy tốt hơn

2.2 Phương pháp tạo hứng thú cho người học tiếp nhận những giá trị đặc

Trang 32

thù trong văn chính luận Việt Nam trung đại

2.2.1 Rèn luyện cho học sinh phương pháp đọc và năng lực đọc các văn bản chính luận Việt Nam trung đại

Công việc đầu tiên đối với dạy học văn nói chung và dạy học văn chính luận Việt Nam trung đại nói riêng là hướng dẫn học sinh đọc văn bản, bởi đọc

là chiếc cầu nối giữa tác giả với bạn đọc Không chỉ là đọc cho đúng câu, đúng chữ mà qua việc đọc, bạn đọc phải có sự phân tích, bình luận, đánh giá, phát hiện những chi tiết đặc sắc của văn bản

Khi dạy văn chính luận Việt Nam trung đại giáo viên phải biết kết hợp kiến thức văn học, kiến thức lịch sử và cả kiến thức xã hội đã được tích lũy từ các lớp dưới “Giáo viên còn phải huy động toàn bộ kinh nghiệm, vốn sống, vốn hiểu biết với nhu cầu, thị hiếu, thói quen và trình độ của học sinh để các

em đọc và hiểu tác phẩm văn chương trung đại, có như vậy tiếp nhận mới sâu Việc đọc còn giúp học sinh tìm ra mối quan hệ nội tại giữa nội dung và hình thức, giữa chi tiết nghệ thuật và cấu trúc nghệ thuật, giữa ý đồ nhà văn và sự phản ánh nghệ thuật, giữa phong cách nhà văn và phong cách nghệ thuật, giữa

cá tính sáng tạo và những đóng góp mới trong tác phẩm Bởi đọc văn là một quá trình giao tiếp, giao tiếp thẩm mỹ giữa người đọc với tác giả thông qua văn bản Đọc tác phẩm là hình thức hoạt động đặc thù của nhận thức văn học, nhằm tạo nên sự hòa đồng giữa tác giả và bạn đọc, làm cho khoảng cách giữa tác giả và độc giả được rút ngắn Giọng đọc biến đổi theo những xúc động, rung cảm của người đọc, từ đó họ dần dần rung cảm được chiều sâu tư tưởng trong tác phẩm và ý đồ nghệ thuật của tác giả gửi gắm trong đó Đã nói đến đọc là nói đến sự nhảy bén trong âm thanh, vần điệu, độ ngân vang dài của từ” [45; 31]

Hoạt động đọc văn trong nhà trường có nhiều hình thức và nội dung với yêu cầu đa dạng, như đọc thầm, đọc to, đọc lướt, đọc chậm, đọc kĩ, đọc sâu, đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm, đọc phân vai, đọc đối thoại, đọc tái hiện, đọc trải nghiệm, đọc phân tích, đọc bình giá, đọc tóm tắt, đọc khắc sâu, đọc

Trang 33

sáng tạo… Đó là con đường để học sinh tự mình cảm nhận cái hay cái đẹp của hình thức tồn tại của văn bản nghệ thuật tiến tới hiểu nội dung tư tưởng khái quát về nhân tâm thế sự Do đó dạy học văn chính luận Việt Nam trung đại ở trung học cơ sở mặc dầu chỉ có ba văn bản thuộc ba thể loại nhưng giáo viên cũng cần hướng dẫn cho học sinh cách đọc phù hợp để bước đầu các em có hứng thú tiếp nhận những giá trị đặc thù của nó:

- Đọc đúng là cách đọc không vi phạm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp của văn bản Để đọc được đúng học sinh phải thông chữ, hiểu câu

- Đọc kỹ tức là đọc nhiều lần, không bỏ sót một đơn vị nào của văn bản Đọc kỹ giúp học sinh nắm được chính xác nội dung văn bản, hiểu được ý đồ sáng tác của tác giả

- Đọc từ dưới lên là đọc theo văn bản, đọc từ đầu cho đến hết văn bản Đây là kiểu đọc tất yếu phải trải qua để nắm bắt được văn bản, để biết được trình tự trần thuật của tác giả Kiểu đọc này giúp người ta không bỏ sót được các yếu tố cấu thành văn bản, nắm được trật tự cấu trúc của văn bản Đối với học sinh, đặc biệt là học sinh trung học cơ sở thì kiểu đọc này rất cần, tạo nên

kỹ thuật đọc cho học sinh

`Từ các kiểu đọc nói trên chúng tôi vận dụng vào một số văn bản chính luận Việt Nam trung đại như sau:

* Đọc văn bản Chiếu dời đô : Học sinh phải nắm được hoàn cảnh ra đời

Trang 34

của văn bản và ý đồ của tác giả Văn bản ra đời vào năm Canh Tuất niên hiệu Thuận Thiên thứ nhất (1010), Lí Công Uẩn viết bài chiếu này bày tỏ ý định dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La (Hà Nội ngày nay) để mưu toan nghiệp lớn Tác giả thuyết phục thần dân cùng chung chí hướng của mình

là dời đô về Hoa Lư để mưu toan nghiệp lớn Giọng đọc vừa trang trọng, vừa tâm tình, tha thiết lại vừa mạnh mẽ hùng hồn của một vị vua

* Đọc văn bản Hịch tướng sĩ : Cũng như văn bản Chiếu dời đô học

sinh phải nắm được hoàn cảnh ra đời của văn bản, ý đồ của tác giả là nêu lên sự cấp bách, sự nguy cấp của đất nước trước sự xâm lược của giặc ngoại xâm và kêu gọi các tướng lĩnh đứng lên, cùng nhau đoàn kết chống giặc cứu nước Từ đó các em sẽ xác định được giọng đọc cho văn bản này

Đó là một giọng đọc mạnh mẽ, hùng hồn, khúc chiết, giọng đọc phải làm

âm vang lên từng câu, từng chữ trong văn bản, phải thổi linh hồn vào các từ ngữ cho chúng sống dậy, đi lại, tác động vào tình cảm, trí tuệ người nghe…Đây là văn bản kêu gọi các tướng lĩnh của Trần Quốc Tuấn trong đó ông vừa thể hiện thái độ căm tức, vừa có giọng khích lệ nên học sinh đọc giọng vừa gia giết, vừa căm thù, vừa khích lệ khiến người nghe hiểu rõ tình hình

và cùng đồng cảm với tác giả

* Đọc văn bản Nước Đại Việt ta: Để đọc được văn bản này có hiệu quả

thì học sinh phải nắm được hoàn cảnh ra đời của văn bản và mục đích, ý đồ của tác giả Văn bản ra đời sau khi chiến thắng giặc Minh Trong không khí hào hùng của ngày vui đại thắng, ngày vui độc lập đó Nguyễn Trãi thừa lệnh

Lê Lợi viết Bình Ngô đại cáo Văn bản Nước Đại Việt ta nằm ở phần đầu của

Bình Ngô đại cáo nêu lên luận đề chính nghĩa nên giọng đọc phải trang trọng,

hùng hồn, khúc chiết và tự hào

Như vậy đối với mỗi văn bản chính luận Việt Nam trung đại lại có những cách đọc khác nhau Để có được giọng đọc phù hợp với từng văn bản đòi hỏi phải xác định được hoàn cảnh ra đời và mục đích viết của tác giả

2.2.2 Sử dụng phương pháp gợi mở trong dạy học văn bản chính luận

Trang 35

Việt Nam trung đại

Trong dạy học văn chương nói chung và dạy học văn chính luận Việt Nam trung đại ở trường trung học cơ sở nói riêng, phương pháp gợi mở (hay còn gọi là đàm thoại, vấn đáp) được sử dụng nhiều nhất Đó là phương pháp

mà giáo viên thông qua hệ thống câu hỏi và câu trả lời để truyền thụ tri thức cho học sinh Thông qua sự gợi mở, dẫn dắt, định hướng của giáo viên, học sinh tiến hành tiếp cận và chiếm lĩnh nội dung bài học Phương pháp gợi mở tạo ra bầu không khí dân chủ trong giờ học, tinh thần của giờ học là tinh thần đối thoại Trong lí luận dạy học hiện đại, các nhà nghiên cứu rất coi trọng việc đặt câu hỏi gợi mở Trong dạy học văn nói chung, dạy học văn bản chính luận Việt Nam trung đại nói riêng, để dẫn dắt học sinh tiếp cận và khám phá nội dung văn bản, người dạy cần sử dụng linh hoạt những câu hỏi gợi mở

Câu hỏi trong dạy học văn chính luận Việt Nam trung đại phải là những câu hỏi khơi dậy được khả năng tư duy của học sịnh, kích thích tính tò mò và ham hiểu biết của các em Bởi vì “tư duy của con người chỉ bắt đầu từ một vấn đề hay một câu hỏi, từ một sự ngạc nhiên hay sự thắc mắc, từ một sự mâu thuẫn” (Rubinstein) Chính vì vậy, giáo viên chỉ có thể buộc học sinh phải tư duy khi mỗi câu hỏi mà giáo viên đưa ra là một tình huống có vấn đề Không phải bất cứ vấn đề nào trong tác phẩm cũng tự nhiên trở thành tình huống có vấn đề đối với học sinh Điều cốt yếu là giáo viên biết nắm bắt được những tình huống có vấn đề từ tác phẩm, từ tầm đón nhận của học sinh theo dự kiến, đưa ra những câu hỏi để học sinh trả lời, thảo luận

Phương pháp gợi mở là một trong những phương pháp hữu hiệu đối với một giờ đọc hiểu tác phẩm văn chương Tuy nhiên không phải giáo viên nào lên lớp cũng sử dụng phương pháp này thành công Một thực tế khá phổ biến trong khi vận dung phương pháp gợi mở là sau khi đặt câu hỏi giáo viên chỉ gọi một học sinh đứng dậy trả lời, chỉ khi học sinh đó trả lời sai giáo viên mới gọi học sinh khác, và sau mỗi câu trả lời của học sinh thì giáo viên chỉ nói trọn vẹn trong hai từ “đúng rồi” hay “chưa đúng” sau đó cho các em ngồi

Trang 36

xuống rồi mải miết trình bày đáp án của mình và đọc cho học sinh chép Những câu hỏi mà người thầy đưa ra không thoát li tác phẩm và chỉ đưa ra câu hỏi khi cần tạo không khí hoặc phục vụ cho chủ kiến của thầy Một vấn đề bất cập nữa là mặc dầu đã sử dụng phương pháp gợi mở nhưng giáo viên vẫn ghi bảng nhiều Đầu tiên giáo viên đặt câu hỏi chờ học sinh trả lời, giáo viên trình bày rồi sau đó ghi bảng, như thế sẽ làm chậm tiến trình giờ dạy Từ thực

tế này chúng tôi đưa ra một số đề xuất nhằm tăng hiểu quả của việc sử dụng phương pháp gợi mở này như sau:

- Để có câu hỏi hay, phù hợp với sự tiếp nhận của học sinh, giáo viên phải nắm bắt được tinh thần của văn bản, hiểu kĩ lưỡng từng chi tiết của văn bản, phải biết nghiền ngẫm và cảm thụ được văn bản Đồng thời giáo viên cũng nên tham khảo các giáo án khác để rút ra kinh nghiệm cho bản thân

- Khi đặt câu hỏi xong, giáo viên có thể gọi một hoặc hai học sinh trả lời một câu hỏi, sau đó giáo viên nhận xét, đánh giá câu trả lời của học sinh Nếu học sinh trả lời đúng thì giáo viên nhân đó mà đặt câu hỏi khác hoặc có thể tóm tắt câu trả lời của học sinh Nếu học sinh trả lời sai giáo viên có thể thay đổi câu hỏi dễ hơn

- Câu hỏi cũng phải đi từ đơn giản đến phức tạp, đi từ câu hỏi yêu cầu tái hiện, phân tích khái quát đến đánh giá và thể hiện cảm xúc Câu hỏi tái hiện được hạn chế, câu hỏi áp đặt kiến thức bị loại trừ Câu hỏi theo hướng khám phá chứ không phải chứng minh một luận điểm sẵn hay theo sự áp đặt của người thầy

- Câu hỏi phải nối tiếp nhau một cách tự nhiên, câu hỏi này được giải quyết lại gợi ra câu hỏi khác, làm cho tinh thần học tập của học sinh được nâng cao, giờ học sôi nổi không bị gián đoạn Hoặc giáo viên có thể tạo ra những câu hỏi bất ngờ, hay những câu hỏi kích thích suy nghĩ…

- Giáo viên phải bám sát học sinh, bởi không phải trình độ học sinh của các lớp cùng khối như nhau Vì vậy đối với những lớp có học lực khá giáo viên có thể đặt câu hỏi khó hơn để kích thích tư duy của các em, đồng thời

Trang 37

cũng tránh hiện tượng các em nhàm chán với những câu hỏi đơn điệu Còn ở những lớp có học sinh yếu hơn thì giáo viên có thể đặt câu hỏi dễ hơn để các

em có thể trả lời, từ đó tạo không khí học tập cho lớp học

- Khi sử dụng phương pháp dạy học gợi mở giáo viên cũng cần thay đổi cách ghi bảng Giáo viên không nên ghi bảng dài mà chỉ cần ghi những nội dung căn bản nhất với lời lẽ cô đúc nhất Giáo viên có thể nói chậm và khắc sâu những nội dung quan trọng để học sinh tự ghi, không nhất thiết phải ghi lên bảng mà thời gian đó dành để tổ chức hoạt động học tập cho học sinh

- Câu hỏi yêu cầu tư duy phải được đặt trong không khí trao đổi cởi mở,

tự do giữa giáo viên và học sinh Học sinh được tự do đánh giá, tự do thể hiện cảm xúc về hình tượng nghệ thuật.Và như vậy, giờ học sẽ tạo ra được cái thế

ba chân vững chãi: giáo viên - văn bản - học sinh Vai trò của học sính cũng vì thế mà được xác lập

- Hệ thống câu hỏi trong bối cảnh đổi mới phương pháp cũng phải được xây dựng dựa trên đặc trưng thể loại và thi pháp của từng tác phẩm Dạy văn bản chính luận phải có những câu hỏi liên quan đến thể loại, hoàn cảnh ra đời của văn bản, mục đích của tác giả …

* Dựa trên những đề xuất này chúng tôi tiến hành áp dụng phương pháp

gợi mở cho phần Nêu gương những trung thần nghĩa sĩ trong sử sách trong văn bản Hịch tướng sĩ như sau :

- Giáo viên hỏi: Mở đầu bài hịch, tác giả đã nêu một số tấm gương trung thần nghĩa sĩ trong sử sách của Trung Quốc ? Đó là những ai? Vì sao họ được nêu gương?

- Trả lời: +Xưa: Kỉ Tín, Do Vu, Dự Nhượng, Thân Khoái, Kính Đức, Cảo Khanh…

+ Nay: Vương Công Kiên, Cốt Đãi Ngột Lang…

→ Vì họ là những trung thần nghĩa sĩ hi sinh vì chủ, vì vua, vì nước

- Giáo viên: Quan sát lại toàn bộ phần 1, em thấy cách vào vấn đề của văn bản này có gì đặc biệt ?.

Trang 38

- Trả lời: Ở đoạn văn mở đầu này, tác giả đã vào vấn đề một cách rất tự

nhiên, nhẹ nhàng, khéo léo Đưa các gương trung thần nghĩa sĩ Trung Quốc thời Xuân Thu Chiến Quốc, đời Hán, đời Đường, hay có tính chất thời sự như đời Tống, Nguyên mà các tướng sĩ từng nghe, từng biết và không thể nghi ngờ gì nữa

→Cách vào bài tự nhiên, khéo léo, dẫn chứng thuyết phục

- Giáo viên hỏi: Tác giả nêu các gương trung thần nghĩa sĩ nhằm mục đích gì ?

- Trả lời: Theo quan niệm phong kiến, trung quân là hi sinh cho vua

chúa, chủ soái của mình, tức là hi sinh cho nước, và hi sinh đến mức cao là tự

huỷ hoại thân thể như nuốt than, chặt tay hay chịu tử thương Những tướng

lĩnh như Kỉ Tín, Do Vu, Dự Nhượng hay những viên quan nhỏ như: Thân Khoái, Kính Đức… đã nêu gương như thế Họ là những trung thần nghĩa sĩ được lưu tên trong sử sách Tác giả đưa những tấm gương sáng ấy nhằm khích

lệ lòng trung quân ái quốc của tướng sĩ nhà Trần Đây chính là phép nêu

gương, khích tướng trong binh pháp.

=> Khích lệ lòng trung quân ái quốc của các tướng sĩ thời Trần.

* Vận dụng phương pháp gợi mở cho phần Tìm hiểu chung của văn bản

Chiếu dời đô như sau:

- Giáo viên hỏi: Dựa vào phần chú thích * và hiểu biết của mình, em hãy giới thiệu vài nét về tác giả Trần Quốc Tuấn?

- Trả lời: - Trần Quốc Tuấn ( 1231?- 1300), tước Hưng Đạo Vương

- Ông là con An Sinh Vương Trần Liễu, quê ở Nam Định

- Ông là người đã biết vượt qua mọi hiềm khích cá nhân, đặt lợi ích của quốc gia lên trên hết

- 1257 cầm quân trấn giữ biên thuỳ chống quân Mông Cổ ở phía Bắc

- 1285-1287 được cử làm Tiết chế thống lĩnh các đạo quân Với tài lãnh đạo của ông, quân dân Đại Việt đã chiến thắng lẫy lừng ở Chương Dương, Hàm Tử, Vạn Kiếp, Bạch Đằng

- Ông là nhà lí luận quân sự với các tác phẩm :Vạn kiếp tông bí truyền

Trang 39

thư, Binh thư yếu lược…

- Đời Trần Anh Tông, ông về trí sĩ ở Vạn Kiếp (Chí Linh - Hải Dương)

- Một số thì mải mê hưởng lạc, một số khác sợ uy của giặc nên dao động,

muốn cầu hoà Hịch tướng sĩ ra đời để khích lệ tướng sĩ học tập Binh thư yếu

lược và đánh tan tư tưởng thờ ơ, thái độ cầu an hưởng lạc của họ.

+ Thể loại:

- Hịch là thể văn nghị luận xưa dùng để tập hợp lực lượng, lên án kẻ thù, kêu gọi hành động, răn dạy, vỗ về quân sĩ, dân chúng

- Tác phẩm Hịch tướng sĩ viết bằng chữ Hán, được chép trong Đại Việt

sử kí toàn thư, có nhiều bản dịch, nhưng văn bản mà chúng ta học là bản dịch

tiêu biểu nhất, in trong Hợp tuyển văn học Việt Nam thế kỷ X-XVII, Nhà xuất

bản Văn hóa 1976

- Giáo viên: Bố cục chung của một bài hịch?

- Trả lời: + Gồm 4 phần

- Phần mở đầu: nêu vấn đề.

- Phần thứ hai: nêu truyền thống vẻ vang trong sử sách để gây lòng tin tưởng

- Phần thứ ba: nhận định tình hình, phân tích phải trái để gây lòng căm

Trang 40

thù giặc.

- Phần kết thúc: nêu chủ trương cụ thể và kêu gọi hành động

Có thể thấy rằng việc sử dụng câu hỏi gợi mở nhằm phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong hoạt động chiếm lĩnh tri thức Chính vì vai trò của nó hết sức quan trọng trong việc khơi gợi khả năng tư duy của học sinh nên người dạy cần chú ý để xây dựng một hệ thống câu hỏi phù hợp với các đơn vị bài học văn chính luận Việt Nam trung đại cụ thể

2.2.3 Dạy học văn bản chính luận Việt Nam trung đại theo hướng tích hợp kiến thức văn học với kiến thức lịch sử và kiến thức xã hội

Tích hợp là xu thế dạy học hiện đại đã được nhiều nước áp dụng trong

đó có Việt Nam Chương trình trung học phổ thông, môn Ngữ văn, năm 2002

do Bộ GD&ĐT dự thảo đã ghi rõ: “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình, biên soạn sách giáo khoa và lựa chọn các phương pháp giảng dạy” [15; 27] “Nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn học, từ đọc Văn, Tiếng Việt đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp trong chương trình; tích hợp trong sách giáo khoa; tích hợp trong phương phương dạy học của giáo viên và tích hợp trong hoạt động học tập của học sinh; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo” [15; 40]

Tích hợp (integration) là sự hợp nhất, sự hoà nhập, sự kết hợp Nội

hàm của khái niệm tích hợp là sự hợp nhất hay sự nhất thể hóa đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng, chứ không phải là một phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy Như vậy tích hợp có hai nội dung cơ bản là tính liên kết và tính toàn vẹn Hai nội dung này gắn bó chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau

Trong lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu

cơ, có hệ thống, ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống

Ngày đăng: 25/12/2013, 20:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Ngữ văn 8, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 8
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Ngữ văn 8 (Sách giáo viên), tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 8
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
4. Phạm Tuấn Vũ (2010), Văn chính luận Việt Nam thời trung đại, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn chính luận Việt Nam thời trung đại
Tác giả: Phạm Tuấn Vũ
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2010
5. Phạm Tuấn Vũ (2007), Văn học Việt Nam trung đại trong nhà trường, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam trung đại trong nhà trường
Tác giả: Phạm Tuấn Vũ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
6. Nguyễn Thị Thanh Hương (2007), Để dạy và học tốt tác phẩm văn chương (Phần trung đại ở phổ thông), Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để dạy và học tốt tác phẩm văn chương (Phần "trung đại ở phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2007
7. Trần Thanh Đạm (1971), Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1971

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh ẩn dụ so sánh đó gợi lên   tâm   trạng   của   tác   giả   như   thế - Dạy học văn chính luận việt nam trung đại ở trung học cơ sở luận văn thạc sĩ ngữ văn
nh ảnh ẩn dụ so sánh đó gợi lên tâm trạng của tác giả như thế (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w