1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học tác phẩm văn học nước ngoài trong chương trình ngữ văn trung học cơ sở ( khảo sát trên địa bàn huyện kỳ anh, tỉnh hà tĩnh) luận văn thạc sỹ ngữ văn

138 1,6K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dạy học tác phẩm văn học nước ngoài trong chương trình ngữ văn trung học cơ sở ( khảo sát trên địa bàn huyện kỳ anh, tỉnh hà tĩnh)
Tác giả Nguyễn Đình Hiếu
Người hướng dẫn TS. Hoàng Mạnh Hùng
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 742,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả Luận văn nhận thấy các công trình nghiên cứu trên đã đưa rađược một số định hướng quan trọng cho việc dạy học tác phẩm văn học trongnhà trường, đã đề xuất một số biện pháp, phươn

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

nguyễn đình hiếu

dạy học tác phẩm văn học nớc ngoài trong chơng trình ngữ văn trung học cơ sở (khảo sát trên địa bàn huyện kỳ anh, tỉnh hà tĩnh)

luận văn thạc sĩ giáo dục

vinh - 2011

Trang 2

nguyễn đình hiếu

dạy học tác phẩm văn học nớc ngoài trong chơng trình ngữ văn trung học cơ sở(khảo sát trên địa bàn huyện kỳ anh, tỉnh hà tĩnh)

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tìnhcủa các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, các giảng viên ở Khoa Ngữ văn, KhoaSau Đại học - Trường Đại học Vinh, sự quan tâm tạo điều kiện của TrườngTrung học cơ sở Phong Bắc, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Kỳ Anh, tỉnh

Hà Tĩnh, đặc biệt là sự hướng dẫn đóng góp nhiều ý kiến quý báu của

TS Hoàng Mạnh Hùng - người thầy giáo trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thànhLuận văn này Nhân đây cho phép tôi được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến sựgiúp đỡ quý giá đó

Đề tài này còn mới, thuộc về lĩnh vực mà tôi còn chưa có nhiều kinhnghiệm nghiên cứu, do đó Luận văn chắc chắn còn nhiều hạn chế, thiếu sót.Tác giả Luận văn rất mong nhận được sự góp ý xây dựng của quý thầy cô vàbạn đọc quan tâm đến đề tài này

Vinh, tháng 12 năm 2011

Tác giả

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử vấn đề 5

3 Đối tượng nghiên cứu 10

4 Phạm vi nghiên cứu 10

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 11

6 Phương pháp nghiên cứu 12

7 Đóng góp của luận văn 13

8 Cấu trúc luận văn 13

Chương 1 Vị trí, vai trò, cấu trúc chương trình VHNN trong chương trình Ngữ văn THCS 14

1.1 Vị trí, vai trò, chương trình VHNN trong chương trình Ngữ văn THCS 14

1.1.1 Vị trí, vai trò của VHNN trong chương trình Ngữ văn THCS 151

1.1.2 Cấu trúc chương trình VHNN trong chương trình Ngữ văn THCS 15

1.2 Nhìn chung về việc dạy học tác phẩm VHNN trong chương trình Ngữ văn THCS hiện nay 19

1.2.1 Nhìn chung về việc giảng dạy của giáo viên 19

1.2.2 Nhìn chung về việc học VHNN của học sinh 23

1.3 Thuận lợi, khó khăn trong việc dạy học tác phẩm VHNN trong chương trình Ngữ văn THCS 26

1.3.1 Thuận lợi 26

1.3.2 Khó khăn 28

1.4 Một số vấn đề khác 32

Chương 2 Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả dạy - học VHNN trong chương trình Ngữ văn THCS hiện nay 40

Trang 5

2.1 Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả dạy thơ nước ngoài trong

chương trình Ngữ văn THCS 40

2.1.1 Thực trạng dạy thơ nước ngoài trong chương trình Ngữ văn THCS (thơ Đường Trung Quốc) 41

2.1.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học thơ nước ngoài trong chương trình Ngữ văn THCS (thơ Đường Trung Quốc) 46

2.2 Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả dạy truyện nước ngoài trong chương trình Ngữ văn THCS 58

2.2.1 Thực trạng 59

2.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả dạy truyện nước ngoài trong chương trình Ngữ văn THCS 62

2.3 Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả dạy kịch nước ngoài 74

2.3.1 Thực trạng 75

2.3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học kịch nước ngoài trong chương trình Ngữ văn THCS 79

2.4 Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả dạy văn học dân gian nước ngoài 91

2.4.1 Thực trạng 88

2.4.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả dạy - học văn học dân gian nước ngoài 92

Chương 3 Thiết kế một số giáo án thể nghiệm 105

Bài 1: Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê 105

Bài 2: Bố của Xi -mông 111

Bài 3: Ông Giuốc -đanh mặc lễ phục 117

Bài 4: Ông lão đánh cá và con cá vàng 123

KẾT LUẬN 128

TÀI LIỆU THAM KHẢO 130

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Chương trình Ngữ văn trung học cơ sở (THCS) hiện nay, bên cạnhvăn học Việt Nam (VHVN), văn học nước ngoài (VHNN) chiếm vị trí khôngkém phần quan trọng và có đặc điểm riêng cần được chú ý Qua những bàithơ, truyện ngắn, vở kịch nổi tiếng của các tác giả nước ngoài tiêu biểu, họcsinh THCS được tiếp nhận những nội dung phong phú, sâu sắc, tinh tế, những

tư tưởng tích cực, những tâm hồn cao thượng và nghệ thuật viết văn điêuluyện, độc đáo v.v Học sinh được tiếp nhận qua các tác phẩm đó nguồn trithức đa dạng, hấp dẫn, bổ ích đồng thời thế giới tinh thần, trí tuệ của thế hệtrẻ được giàu có hơn, sâu sắc hơn, rộng mở hơn Trong nhà trường THCS,VHNN đã góp phần trả lời cho lứa tuổi mới lớn nhiều vấn đề từng trăn trở vềanh hùng và cá nhân, tự do và trách nhiệm, hạnh phúc và khổ đau, hy sinh vàhưởng thụ, lòng bao dung và tội ác, hiện thực và lý tưởng, cái thật và cái giả VHNN đã giúp các em hiểu biết thêm về con người, đất nước, văn hóa, vănhọc, văn minh của các nước trên thế giới để hướng tới mục đích cuối cùng làhình thành và phát triển nhân cách của những con người trẻ tuổi Do đóVHNN có vai trò hết sức quan trọng trong chương trình Ngữ văn THCS

1.2 Tuy nhiên, chương trình VHNN, sách giáo khoa, việc giảng dạycủa giáo viên, học tập của học sinh vẫn còn một số vấn đề còn phải bàn bạc,trao đổi Một số giáo viên chỉ coi trọng dạy các tác phẩm VHVN mà chưa chú

ý đến việc dạy các tác phẩm VHNN Phương pháp giảng dạy VHNN cũngchưa được nghiên cứu nhiều, chưa được quan tâm đúng mức Một số học sinhvẫn còn thờ ơ với các bài giảng VHNN, học hành qua loa, đại khái để đối phóvới thầy cô cho nên kiến thức VHNN còn mơ hồ, ít ỏi, không hệ thống Nhìnchung một số nhà quản lý, một số giáo viên, học sinh chưa thấy hết vai trò

Trang 7

quan trọng của VHNN đối với việc bồi dưỡng thẩm mỹ, nhân cách, kiến thức,trau dồi bản lĩnh, hành động cho các em học sinh THCS Bởi vậy, chúng tôichọn đề tài này nhằm phản ánh thực trạng giảng dạy VHNN trong chươngtrình Ngữ văn THCS Trên cơ sở đó, tác giả Luận văn đề xuất một số giảipháp nhằm mục đích cuối cùng là góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả củaviệc dạy, học VHNN ở trường THCS.

1.3 Một điểm nữa cần phải nhắc đến là mấy thập kỷ trở lại đây, số bàinghiên cứu về thực trạng, giải pháp và phương pháp giảng dạy VHNN ở nhàtrường THCS còn quá ít, nếu có thì đa số ý kiến còn chung chung, khái quát.Chưa hề có giáo trình riêng nào viết về phương pháp giảng dạy VHNN trongnhà trường THCS Bởi vậy, với đề tài này, tác giả Luận văn hy vọng sẽ đóng

góp một vài ý kiến nhỏ cho một vấn đề lớn: Thực trạng và giải pháp nâng

cao hiệu quả dạy học Văn học nước ngoài trong chương trình Ngữ văn THCS.

Chúng tôi hy vọng, Luận văn này sẽ góp thêm một tiếng nói dù là nhỏ

bé cho vấn đề dạy học VHNN trong chương trình Ngữ văn THCS hiện nay

2 Lịch sử vấn đề

Mấy chục năm trở lại đây, vấn đề dạy học tác phẩm văn học, trong đó

có tác phẩm VHNN trong nhà trường đã được một số nhà nghiên cứu đề cậpđến Có thể kể tên một số tác giả như: Tạ Phong Châu, Phan Trọng Luận,Trương Dĩnh, Đỗ Quang Lưu, Vũ Ngọc Khánh, Trần Thanh Đạm, HoàngNhư Mai, Huỳnh Lý, Nguyễn Sỹ Cẩn, Hoàng Tiến Tựu, Phan Huy Dũng,Nguyễn Đức Nam, Nguyễn Xuân Lạc, Hoàng Hữu Bội, Đỗ Huy Quang,Nguyễn Huy Quát v.v Điểm qua các công trình, có thể thấy các tác giả đã

đề cập vấn đề theo ba xu hướng chính:

- Xu hướng thứ nhất: Nghiên cứu dạy học văn dưới cách nhìn chung,khái quát

Trang 8

- Xu hướng thứ hai: Nghiên cứu dạy học văn dưới góc độ loại thể vănhọc.

- Xu hướng thứ ba: Nghiên cứu vấn đề dạy học văn gắn với một số tácphẩm văn học cụ thể

Sau đây chúng tôi đi vào từng xu hướng cụ thể

2.1 Xu hướng một: Nghiên cứu dạy học văn dưới cái nhìn chung, khái quát.Một trong những tác giả tiêu biểu cho xu hướng này là Phan Trọng

Luận Trong cuốn Phương pháp dạy học văn, Tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội,

1993 tác giả Phan Trọng Luận đã đề cập đến bốn vấn đề chung trước khi trìnhbày những phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn:

- Vấn đề một: Khoa học về phương pháp dạy học văn, trang 7

- Vấn đề hai: Môn Văn ở nhà trường phổ thông, trang 49

- Vấn đề ba: Học sinh trong cơ chế dạy học văn, trang 107

- Vấn đề bốn: Hệ thống cấu trúc năng lực văn cần hình thành cho họcsinh, trang 116

Tiếp đó, trong phần “Phương pháp dạy bộ môn văn” tác giả tập trungtrình bày hai vấn đề:

- Vấn đề một: Vấn đề giảng dạy văn ở nhà trường

- Vấn đề hai: Những công việc chính của giảng văn ở trong nhà trường

Ở phần này tác giả đề xuất ba công việc chính của giảng văn ở nhàtrường, đó là:

Một: Nhận diện tác phẩm văn chương và văn chương trong nhà trường.Hai: Con đường tiếp cận và cắt nghĩa tác phẩm văn chương trong nhàtrường

Ba: Con đường tổ chức học sinh đến với tác phẩm văn chương

Tác giả Phan Trọng Luận đã trình bày kỹ lưỡng về việc “Đổi mới

phương pháp dạy học tác phẩm văn chương” [60, 275 - 297] Theo tác giả, so

Trang 9

với phương pháp dạy văn truyền thống thì “Phương pháp dạy học tác phẩm

văn chương mới đổi khác về mục đích, về con đường đạt tới mục đích, do đó cũng đổi khác về cơ chế hoạt động dạy học cùng hàng loạt vấn đề về tiến trình tổ chức giờ dạy, phương pháp tiếp cận tác phẩm ở học sinh Mục đích cao nhất của giờ dạy học tác phẩm văn theo phương pháp mới là làm sao để chủ thể học sinh, dưới sự hướng dẫn của thầy biết cảm nhận, khám phá chiếm lĩnh tác phẩm” [60, 281] Từ xuất phát điểm đó, tác giả đã đề xuất phương

pháp chung để hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh tác phẩm: Hoạt động tái hiệnhình tượng; tìm tòi, phát hiện; phân tích, khái quát; tự bộc lộ của học sinh; tựđánh giá; tự nhận thức; ứng dụng

Những ý kiến trên đây của Phan Trọng Luận có nhiều điều mới mẻ, tuynhiên công trình của tác giả nghiêng về lý luận mà ít đi vào những tác phẩm

cụ thể của VHNN trong nhà trường Cùng với Phan Trọng Luận, theo xuhướng trên còn có các công trình nghiên cứu của Đỗ Huy Quang, TrươngDĩnh, Nguyễn Sỹ Cẩn, Lê Trí Viễn, Nguyễn Văn Hạnh, Đỗ Quang Lưu,

2.2 Xu hướng hai: Nghiên cứu dạy học văn dưới góc độ loại thể văn học.

Tác giả Nguyễn Viết Chữ, trong cuốn Phương pháp dạy học tác phẩm

văn chương theo loại thể, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001, đã bàn về

phương pháp dạy học tác phẩm văn học theo loại thể Theo ông, các tác phẩmvăn học có thể chia thành hai loại lớn: tác phẩm tự sự và tác phẩm trữ tình

Ông đã dành cả chương 3 để bàn về “Phương pháp dạy học chung dành cho

các loại thể VHNN” [10, 146 - 199] Tác giả đã nêu những thuận lợi, khó

khăn của giáo viên và học sinh khi tiếp xúc với các tác phẩm VHNN Ôngcũng đề ra một số nguyên tắc khi lựa chọn tác phẩm VHNN để dạy học trongnhà trường, đó là:

- Tác phẩm VHNN đó có ý nghĩa tư tưởng sâu sắc và tầm quan trọnglớn lao

Trang 10

- Nội dung tư tưởng của tác phẩm VHNN đó phải có tác dụng thiết thựctrong việc hình thành nhân cách người học sinh, người công dân mới.

- Phải đặt tác phẩm VHNN đó trong tương quan văn hóa của hai dântộc

- Phải đặt tác phẩm văn học đó trong trào lưu văn học

- Tác phẩm VHNN đó phải tiêu biểu cho phong cách của tác giả

- Tác phẩm VHNN đó phải có bản dịch thích hợp và có chất lượng.Nguyễn Viết Chữ cũng đứng ở góc độ loại thể để đề xuất phương phápdạy học tác phẩm văn học nước ngoài Ông đã có những ý kiến quan trọng khi

đề xuất phương pháp dạy học tác phẩm tự sự dân gian, tự sự trung đại, tiểuthuyết hiện đại, truyện ngắn hiện đại của nước ngoài [10, 86 - 111]

Cũng theo xu thế này còn có cuốn Dạy học văn bản Ngữ văn THCS

theo đặc trưng phương thức biểu đạt, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006 của Trần

Đình Chung Sau khi phân tích sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạyhọc Ngữ văn trong trường THCS, tác giả đã đề xuất các phương pháp dạy họcvăn bản tự sự, trữ tình - biểu cảm trong đó có văn bản tự sự, trữ tình - biểucảm nước ngoài Ông đã có ý kiến cụ thể về cách dạy học từng tiểu loại.Chẳng hạn khi bàn về phương pháp dạy học văn bản tự sự dân gian, ông đãnêu ý kiến đề xuất cách dạy truyện truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn và trongmỗi loại truyện như vậy, Trần Đình Chung đã trình bày các yêu cầu mà quátrình dạy phải đạt được như dạy học truyện cổ tích phải khai thác vấn đề phùhợp đặc trưng truyện cổ tích, phải đáp ứng dạy học tích hợp, tích cực Tiếp

đó tác giả đã thực hành bằng cách trình bày một bản thiết kế bài học cụ thể, tỉ

mỉ Các loại thể khác cũng được ông trình bày theo phương pháp như vậy.Đáng chú ý là Trần Đình Chung đã có đóng góp khi bàn về việc dạy học vănbản Nhật dụng - một vấn đề mà trước đây các nhà giáo học pháp ít đề cậpđến

Trang 11

Theo xu hướng này, cuốn Cảm thụ và giảng dạy Văn học nước ngoài

của Phùng Văn Tửu, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2003 là một công trình nghiêncứu đáng chú ý Trước hết, Giáo sư đề xuất một số nguyên tắc khi giảng dạytác phẩm văn học dịch như: dạy thơ nước ngoài, giáo viên cần đối chiếu cặn

kẽ bản dịch thơ với bản dịch nghĩa để thấy những chỗ sai biệt, trên cơ sở đócân nhắc nên giảng dạy bài thơ này thế nào cho phù hợp với mục tiêu bàigiảng, với tâm lý lứa tuổi học sinh Giáo sư cho rằng, một số yếu tố hình thứccủa thơ như vần, nhịp điệu, âm hưởng, thể thơ thường bị mất khi dịch sangmột thứ tiếng khác Nhưng những gì bản dịch giữ lại được, nhất là về hìnhthức của thơ thì giáo viên nên khai thác cho hết, đặc biệt là khi những dấuhiệu hình thức ấy nói lên được đặc điểm nghệ thuật của bản gốc, của tác giả,của thơ một dân tộc nào đó trên thế giới; hoặc khi những dấu hiệu hình thức

ấy liên quan chặt chẽ đến bài thơ và ý đồ sáng tác của thi sỹ Tiếp đó, cũngdưới góc độ loại thể, Phùng Văn Tửu đã đề xuất một vài ý kiến cụ thể, ví dụ

nên dạy thơ Đường ra sao, dạy trích đoạn tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình

của L.Tôn-xtôi như thế nào Cũng theo xu hướng này còn có một số nhànghiên cứu khác như Trần Thanh Đạm, Hoàng Như Mai, Huỳnh Lý v.v

2.3 Xu hướng ba: Nghiên cứu dạy học văn gắn với tác phẩm văn học

cụ thể

Theo xu hướng này, có các tác giả: Phan Trọng Luận, Nguyễn KhắcPhi, Phùng Văn Tửu, Đỗ Kim Hồi, Nguyễn Văn Đồng, Hoàng Dân, NguyễnĐình Chú, Đỗ Ngọc Thống, Nguyễn Văn Long Mục tiêu có tính chấtnguyên tắc của các tác phẩm theo xu hướng này là hướng tới người học, trên

cơ sở đó các tác giả đã xác định các nội dung, biện pháp, hình thức thích hợpcho từng kiểu văn bản, từng bài học, tiết học, lấy kết quả cần đạt với yêu cầugiảm tải và vừa sức để chọn lựa, tránh cứng nhắc, khiên cưỡng Các tác giả đãbiên soạn tỉ mỉ, cụ thể cả nội dung và tiến trình giảng dạy, cụ thể hóa các hoạt

Trang 12

động dạy học từng bài theo từng tình huống sư phạm, dự kiến bằng các câuhỏi, bài tập, định hướng thao tác của thầy và trò Nhìn chung đó là nhữngcuốn sách bổ ích, tạo nhiều thuận lợi cho giáo viên tham khảo khi dạy học tácphẩm VHNN trong nhà trường

Tác giả Luận văn nhận thấy các công trình nghiên cứu trên đã đưa rađược một số định hướng quan trọng cho việc dạy học tác phẩm văn học trongnhà trường, đã đề xuất một số biện pháp, phương pháp cơ bản nhằm nâng caohiệu quả việc dạy học Ngữ văn trong trường phổ thông Tuy nhiên, các tác giảchưa nêu được thực trạng, phương pháp, giải pháp chính cho vấn đề dạy họcVHNN; chưa đáp ứng đầy đủ, toàn diện yêu cầu về phương pháp dạy họcVHNN trong trường THPT cũng như ở trường THCS Hiện nay, nội dungchương trình, sách giáo khoa Ngữ văn có sự đổi mới, do đó đòi hỏi phải đổimới phương pháp giảng dạy Bởi vậy, chúng tôi đã chọn đề tài này nhằm góp

một tiếng nói khiêm tốn vào một vấn đề lớn: Dạy học VHNN trong chương

trình Ngữ văn THCS.

3 Đối tượng nghiên cứu

Với đề tài Dạy học VHNN trong chương trình Ngữ văn THCS, chúng

tôi xác định đối tượng nghiên cứu là dự giờ, khảo sát tìm hiểu thực trạng việcgiảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh đối với VHNN trong chươngtrình Ngữ văn THCS ở một số trường THCS trên địa bàn Huyện Kỳ Anh, tỉnh

Hà Tĩnh Trên cơ sở đó, tác giả Luận văn sẽ đề xuất một số giải pháp gópphần tháo gỡ những khó khăn nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả việc giảngdạy, học tập VHNN ở trường THCS hiện nay

4 Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi quan niệm dạy học tác phẩm VHNN trong chương trình Ngữvăn THCS có thể được nghiên cứu dưới nhiều góc độ: lý luận, tác giả, tácphẩm, nội dung, nghệ thuật, thi pháp, loại thể v.v Nhưng với đề tài này,

Trang 13

chúng tôi chỉ tập trung vào việc nghiên cứu dạy học tác phẩm VHNN ở góc

độ thực trạng, giải pháp, phương pháp giảng dạy Tác giả Luận văn cho rằngphương pháp giảng dạy quan hệ chặt chẽ với mục đích giảng dạy: có phươngpháp tốt nhất thì sẽ đạt được mục đích cao nhất và ngược lại Trong tình hìnhhiện nay, việc tìm ra giải pháp, phương pháp giảng dạy tác phẩm VHNN phùhợp là đã góp phần đáp ứng mục tiêu, yêu cầu của đất nước trong giai đoạnphát triển mới Với đề tài này, chúng tôi nghiên cứu kỹ tất cả các tác phẩmVHNN từ lớp 6 đến lớp 9, đồng thời để nắm rõ thực trạng dạy và học, tác giảLuận văn tiến hành đi thực tế, dự giờ, khảo sát chất lượng các tiết dạy VHNN

ở một số trường THCS trên địa bàn Huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh như trườngTHCS Kỳ Tân, Thị Trấn, Kỳ Ninh, Kỳ Xuân, Kỳ Thượng, Lâm Hợp, KỳTiến, Kỳ Giang với tiêu chí chọn trường đại diện cho từng vùng miền để trên

cơ sở đó đề xuất những ý kiến phù hợp với tình hình thực tế

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Do tính chất mới mẻ và ý nghĩa quan trọng của đề tài đối với hoạt độngdạy học VHNN hiện nay trong trường THCS, chúng tôi đặt cho mình nhữngnhiệm vụ:

5.1 Cung cấp cho người đọc cái nhìn bao quát, tổng thể về cấu trúc, vaitrò, vị trí VHNN trong chương trình Ngữ văn THCS

5.2 Trình bày thực trạng dạy và học các tác phẩm VHNN trong cáctrường THCS hiện nay, cụ thể trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh vớitiêu chí chọn trường đại diện cho từng vùng miền, đồng thời nêu rõ nhữngthuận lợi, khó khăn trong hoạt động dạy học VHNN ở trường THCS

5.3 Trên cơ sở đó tác giả Luận văn đề xuất một số giải pháp, phươngpháp giảng dạy nhằm hướng tới mục đích cuối cùng là giúp cho việc dạy vănhọc, VHNN trong trường THCS ngày càng có chất lượng tốt hơn

Trang 14

6 Phương pháp nghiên cứu

Để tìm hiểu vấn đề Dạy học VHNN trong chương trình Ngữ văn

THCS, chúng tôi bắt đầu từ việc dự giờ, khảo sát thực trạng việc dạy học

VHNN ở các trường THCS trên địa bàn Huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, cùngvới việc xác định mục đích, đối tượng nghiên cứu, trong khuôn khổ một Luậnvăn Thạc sĩ, quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng cácphương pháp nghiên cứu sau:

6.1 Phương pháp điều tra

Tác giả Luận văn tiến hành điều tra, tìm hiểu tình hình thực trạng dạyhọc VHNN ở một số trường THCS trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnhtheo đại diện vùng miền để trên cơ sở đó có những nhận xét về thực trạng,khó khăn, thuận lợi và đề xuất những giải pháp khắc phục cho vấn đề này

6.2 Phương pháp thống kê phân loại

Để có ngữ liệu đủ độ tin cậy, tác giả Luận văn đã sử dụng phương phápthống kê - phân loại nhằm tạo cơ sở cho việc phân tích, lý giải các vấn đề, cáckhía cạnh có liên quan, đồng thời phân loại để đi sâu vào từng chi tiết, từngbình diện nhỏ trong bình diện lớn

6.3 Phương pháp so sánh - đối chiếu

Tác giả Luận văn đã dùng phương pháp so sánh - đối chiếu để tìm ranhững nét tương đồng và khác biệt của mỗi loại, mỗi khía cạnh Đây là cơ sở

để quy loại từng nhóm vấn đề nghiên cứu

6.4 Phương pháp phân tích - tổng hợp

Việc phân tích mổ xẻ từng khía cạnh hiện tượng riêng lẻ cũng như việc

lý giải mối quan hệ giữa một khía cạnh, hiện tượng với một khía cạnh, hiệntượng cùng loại hoặc khác loại được tiến hành đồng thời với quá trình tổnghợp để từ đó rút ra những nhận định khái quát, quy các khía cạnh, hiện tượngriêng lẻ đến một số kết luận chung một cách phù hợp

Trang 15

Tất nhiên, các phương pháp trên đây không tiến hành riêng lẻ, độc lập

mà chúng được tiến hành đồng thời, nghĩa là trong phương pháp này đã cóphương pháp kia và ngược lại

7 Đóng góp của luận văn

- Đưa đến một cái nhìn tổng thể về thực trạng dạy học VHNN ở trườngTHCS hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần cải tiến, nâng cao hiệu quảcủa việc dạy - học VHNN trong trường THCS

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận

văn được triển khai trong ba chương:

Chương 1 Vị trí, vai trò của VHNN trong chương trình Ngữ vănTHCS

Chương 2 Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả việcdạy học VHNN trong trường THCS

Chương 3 Thiết kế một vài giáo án thử nghiệm

Trang 16

Chương 1

VỊ TRÍ, VAI TRÒ, CẤU TRÚC CHƯƠNG TRÌNH VHNN

TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THCS

1.1 Vị trí, vai trò, chương trình VHNN trong chương trình Ngữ văn THCS

1.1.1 Vị trí, vai trò của VHNN trong chương trình Ngữ văn THCS

Chương trình Ngữ văn THCS hiện nay, bên cạnh văn học Việt Nam, vănhọc nước ngoài chiếm vị trí không kém phần quan trọng VHNN có vai trò, vịtrí xứng đáng trong chương trình Ngữ văn THCS Có nhiều tác phẩm giàu chất

lượng của nhiều tác giả tiêu biểu trên hành tinh như: Xa ngắm thác núi Lư của

Lý Bạch (Trung Quốc), Ngữ văn 7, tập 1, Con chó bấc của G Lơn- đơn (Mỹ),

Ngữ văn 9, tập 2, Cô bé bán diêm của An-đec-xen (Pháp), Ngữ văn 8, tập 1, Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục của Mô-li-e (Pháp), Ngữ văn 8, tập 2, Những đứa trẻ của M Go-rơ-ki (Nga), Ngữ văn 9, tập 1, Mây và sóng của R Ta-go,

(Ấn Độ), Ngữ văn 9, tập 2 Nhìn chung, các tác phẩm VHNN chứa đựng

những nội dung đa dạng, sâu sắc về cuộc sống sinh động, về con người, vềlịch sử đất nước, về văn hóa tinh thần, nét văn minh, tư tưởng và tâm hồn củacác dân tộc trên thế giới, giành được vị trí đáng chú ý trong chương trìnhNgữ văn THCS Với khả năng riêng của những hình tượng nghệ thuật, các tácphẩm VHNN đã có tác động sâu sắc, lâu bền đến đời sống tâm hồn và trí tuệcủa các thế hệ bạn đọc và các em học sinh Người ta thường nói, đối với họcsinh THCS, VHNN lạ mà quen, những vẻ đẹp riêng của khung cảnh, củakhông gian trong các tác phẩm VHNN còn lạ, chưa quen thuộc với học sinhTHCS nhưng những tư tưởng cơ bản, những vẻ đẹp tâm hồn nhân vật nhưlòng yêu nước, chí căm thù giặc, lòng nhân đạo, tấm lòng bao dung, độ lượng,khí phách anh hùng lại không hề xa lạ với các em Đời sống con người thì

Trang 17

hữu hạn nhưng cuộc sống của những tác phẩm văn học ưu tú của nhân loại thìmãi mãi tươi xanh, có khả năng khơi nguồn cho sự sáng tạo mãnh liệt, tiếp tụclàm phong phú cho tâm hồn thế hệ mới lớn Các tác phẩm đã trang bị cho họcsinh THCS mặt bằng tri thức và năng lực cảm thụ, bồi đắp, nâng cao nhu cầu,khả năng hưởng thụ thẩm mỹ cho học sinh, giúp các em tiếp thu những giá trịtinh thần phong phú và những đặc sắc về văn hóa, cảnh vật, cuộc sống, conngười, các dân tộc trên thế giới Các tác phẩm VHNN được dạy học trong nhàtrường đã giúp cho học sinh bước đầu biết cách phân tích, nhận xét tư tưởng,tình cảm và một số giá trị nghệ thuật, để từ đó hình thành ý thức và kinhnghiệm ứng xử thích hợp đối với các vấn đề được nêu ra trong các văn bản.VHNN đã góp phần định hình phát triển nhân cách tuổi trẻ, thúc giục tuổi trẻ

có những hành động đúng đắn và cao đẹp, tránh xa lối sống thực dụng ích kỷ,

tầm thường Chẳng hạn truyện Ông lão đánh cá và con cá vàng, thông qua

các dấu hiệu của phương thức tự sự dân gian như hệ thống sự việc, nhân vật,ngôi kể, trí tưởng tượng kỳ ảo tác giả muốn nói rằng sự đòi hỏi, lòng thamcủa con người phải có giới hạn, nếu vượt quá giới hạn thì lòng tham sẽ phảitrả giá; và chủ đề của bài này là khi con người bị lòng tham ngự trị, con người

sẽ bị tha hóa một cách ghê gớm Qua bài học này, các thế hệ trẻ sẽ rút ra đượcbài học sâu sắc cho cuộc đời mình

1.1.2 Cấu trúc chương trình VHNN trong chương trình Ngữ văn THCS

Chương trình Ngữ văn THCS hiện hành, các tác phẩm VHNN được dạyhọc đan xen với các tác phẩm thuộc phần VHVN, Tiếng Việt và Tập làm văn

Cứ sau bài VHVN hoặc bài Tiếng Việt, bài Tập làm văn, thỉnh thoảng lại cómột bài VHNN Việc nằm trong cấu trúc xen kẽ đó làm cho chương trình Ngữvăn THCS tránh được sự lặp lại nhàm chán, đơn điệu, tạo nên tính sinh động,phong phú, muôn hình vẻ của chương trình Ngữ văn VHNN là một thànhphần cấu tạo nên chương trình Ngữ văn THCS

Trang 18

Căn cứ vào định hướng chung, chương trình VHNN trong chương trìnhNgữ văn THCS đã quán triệt các yêu cầu: tích hợp, tích cực, giảm tải Nộidung chương trình mới đã tạo cho việc dạy học những dấu hiệu tích cực đángphấn khởi

Nhìn vào chương trình mới phần VHNN bậc THCS, chúng tôi thấy rõmục tiêu cơ bản của chương trình là hướng tới việc hình thành, phát triển cácnăng lực văn chương, năng lực cảm thụ thẩm mỹ cho học sinh nhằm đáp ứngyêu cầu phát triển trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Quá trình thực hiện, những người biên soạn nội dung chương trình đã chútrọng tới việc phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh,đồng thời cũng chú trọng tới phương pháp tự học, tự rèn luyện kỹ năng vậndụng kiến thức VHNN vào thực tiễn cuộc sống của học sinh THCS Trên tinhthần đó, chương trình mới đảm bảo nguyên tắc kế thừa, phát triển, lấy quanđiểm tích hợp làm tư tưởng chỉ đạo, giảm tải lý thuyết, tăng cường thực hành,tránh đưa vào những kiến thức hàn lâm, không hợp với lứa tuổi học sinh.Những tri thức và kỹ năng đưa vào chương trình được lựa chọn phù hợp với

sự phát triển tâm sinh lý học sinh và cập nhật với những đổi mới, những vấn

đề thời sự, tạo cho các em có năng lực tiếp nhận, cảm thụ, có khả năng phântích, bình giá tác phẩm

Đi vào cụ thể, các bài học trong chương trình VHNN giảng dạy ởtrường THCS được sắp xếp theo thứ tự từ lớp 6 đến lớp 9 như sau:

Lớp 6:

1 Cây bút thần, Truyện cổ tích của Trung Quốc, tập 1, trang 80.

2 Ông lão đánh cá và con cá vàng, Truyện cổ tích của Pus-kin, tập 1,

trang 91

3 Đeo nhạc cho mèo, Truyện ngụ ngôn, Ê-dốp (Hy Lạp), tập 1, trang 104.

4 Mẹ hiền dạy con, Truyện cổ trung đại Trung Quốc, tập 1, trang 150.

Trang 19

5 Buổi học cuối cùng, A Đô-đê (Pháp), tập 2, trang 49.

6 Lòng yêu nước, I Ê-ren-bua (Liên xô cũ), tập 2, trang 106.

7 Bức thư của thủ lĩnh da đỏ, Xi-át-tơn (Mỹ), tập 2, trang 135.

Lớp 7:

1 Đọc thêm Trường học, E A-mi-xi (I-ta-li-a), tập 1, trang 9.

2 Mẹ tôi, E A-mi-xi (I-ta-li-a), tập 1, trang 10.

3 Xa ngắm thác núi Lư, Lý Bạch (Trung Quốc), tập 1, trang 109

4 Đọc thêm Đêm đỗ thuyền ở Phong Kiều, Trương Kế (Trung Quốc),

1 Cô bé bán diêm, An đéc xen (Đan Mạch), tập 1, trang 64.

2 Đánh nhau với cối xay gió, Xéc van téc (Tây Ban Nha), tập 1, trang

75

3 Chiếc lá cuối cùng, O Hen-ri (Mỹ), tập 1, trang 86.

4 Hai cây phong, Ai-ma-tốp (Cư-rơ-gư-xtan), tập 1, trang 96.

5 Đi bộ ngao du, Ru-xô (Pháp), tập 2, trang 98.

6 Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục, kịch của Mô-li-e (Pháp), tập 2, trang

118

Lớp 9:

1 Đấu tranh cho một thế giới hòa bình, G Mac-Két (Cô-lom-bi-a), tập

1, trang 17

Trang 20

2 Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển

của trẻ em Trích Tuyên bố của Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em, tập 1,

trang 31

3 Cố hương, Lỗ Tấn (Trung Quốc), tập 1, trang 207.

4 Những đứa trẻ, M Go-rơ-ki (Nga), tập 1, trang 229.

5 Bàn về đọc sách, Chu Quang Tiềm (Trung Quốc), tập 2, trang 3.

6 Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La Phông-Ten, Hi-pô-lít Ten

(Pháp), tập 2, trang 37

7 Mây và sóng, R Ta-go (Ấn Độ), tập 2, trang 86.

8 Rô-Bin-Xơn ngoài đảo hoang, Đ Đi-phô (Anh), tập 2, trang 127.

9 Bố của Xi-Mông, G Mô-pát-xăng (Pháp), tập 2, trang 140.

10 Con chó Bấc, G Lơn-đơn (Mỹ), trang 151.

Từ chương trình VHNN cụ thể ở trên và thực tế dạy học VHNN ởtrường THCS, chúng tôi có một số nhận xét sau:

Các nhà soạn sách giáo khoa đã chọn lọc được 29 tác phẩm có chấtlượng của 26 tác giả tiêu biểu ở khắp các châu lục, các đất nước trên thế giới:Nga, Hy Lạp, Pháp, Mỹ, I-ta-li-a, Ấn Độ, Trung Quốc, Tây Ban Nha, Anh Các tác phẩm được đưa vào chương trình gồm nhiều loại thể: truyện dân gian(cổ tích, ngụ ngôn), truyện cổ trung đại, truyện hiện đại, thơ trung đại, thơ hiệnđại, kịch hiện đại và văn bản nghị luận Điều đáng chú ý, một trong nhữngđiểm mới của nội dung chương trình là có sự hiện diện của một bộ phận vănbản có nội dung gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống trước mắt của con người

và cộng đồng xã hội mà căn cứ vào nội dung cập nhật của nó, ta gọi là văn bảnNhật dụng Những văn bản này giúp cho học sinh gắn kết với những vấn đềvừa quen thuộc vừa có ý nghĩa lâu dài với cuộc sống của nhân loại

Tuy nhiên, nhiều giáo viên cho rằng chương trình VHNN nhiều bài gâycảm giác nặng nề cho người học và người dạy, nhiều bài phân phối thời gian

Trang 21

chưa hợp lý, nhiều bài chưa phù hợp với lứa tuổi Chẳng hạn thơ Đường đưavào kỳ 1 lớp 7 là quá sớm vì học sinh mới 11- 12 tuổi tiếp thu rất khó Hơnnữa những bài thơ của Đỗ Phủ, Lý Bạch, Hạ Tri Chương người lớn cảm nhận

là hay nhưng xa lạ với các em về không gian, thời gian, hình ảnh, ngôn từ nên các em không cảm thấy hay

1.2 Nhìn chung về việc dạy học tác phẩm VHNN trong chương trình Ngữ văn THCS hiện nay

1.2.1 Nhìn chung về việc giảng dạy của giáo viên

Việc đổi mới phương pháp dạy học đang là yêu cầu, nhiệm vụ, tráchnhiệm được đặt ra và triển khai đồng bộ trong toàn bộ các hoạt động giảngdạy và học tập ở nhà trường Đó là sự đổi mới chương trình, nội dung giảngdạy, phương pháp dạy học, hình thức đánh giá… trong đó đổi mới phươngpháp dạy học là một trong những yêu cầu được đặt ra cấp thiết nhất Có thểnói việc đổi mới phương pháp dạy học là nhằm đáp ứng mục tiêu, yêu cầu của

sự nghiệp giáo dục, của đất nước, của nhân dân trong thời kỳ phát triển mới.Đồng thời đây cũng là tâm tư, nguyện vọng, niềm mong mỏi của những ngườiquản lý giáo dục và đội ngũ giáo viên với mong muốn nâng cao chất lượnggiáo dục

Đổi mới giảng dạy VHNN trong chương trình Ngữ văn THCS cũngkhông nằm ngoài quỹ đạo chung ấy Người giáo viên hiểu rõ rằng những tácphẩm VHNN là những sáng tạo tinh thần độc đáo của các nhà văn, nhà thơ,nhà viết kịch thế giới Hiệu quả của việc dạy thơ, truyện, kịch nước ngoàiphải tính đến những tác động về tâm hồn, tình cảm, thẩm mỹ cho người học.Giáo viên biết rõ việc tiếp nhận tác phẩm VHNN ngoài xã hội khác với việctiếp nhận nó trong nhà trường: ở ngoài xã hội, việc tiếp nhận đó mang tínhchất tự do, độc lập, mang tính cá nhân là chính, còn việc tiếp nhận tác phẩmVHNN trong nhà trường mang tính chất tập thể và dưới sự hướng dẫn trực

Trang 22

tiếp của người giáo viên Vì thế tiếp nhận VHNN trong nhà trường có tính đặcthù riêng và vô cùng quan trọng.

Người giáo viên phải thấy rõ vị trí, vai trò, đặc điểm, sức mạnh riêngcủa VHNN Thông qua những hình tượng nghệ thuật độc đáo, các tác phẩmtiêu biểu đã chứa đựng những nội dung hấp dẫn phong phú về văn hóa, vănminh, cuộc sống, con người các dân tộc trên trái đất Trên cơ sở đó, làm thỏamãn nhu cầu thẩm mỹ của thế hệ trẻ, góp phần hình thành, phát triển nhâncách lứa tuổi mới lớn, thúc dục học sinh có những hành động cao cả vì cộngđồng, vì sự nghiệp chung của Tổ quốc, của nhân loại

Từ nhận thức đó, hầu hết giáo viên thường xuyên có ý thức trau dồi, bồi

bổ kiến thức VHNN, quan tâm sâu sát các em học sinh để tìm hiểu cách cảm,cách nghĩ, cách tiếp nhận của học sinh đối với VHNN Qua đó, người giáoviên tự rút kinh nghiệm trong việc dạy học hàng ngày để ngày càng có chấtlượng, hiệu quả Đặc biệt, người giáo viên đã tự tìm ra những điểm mới trongchương trình, xác định được những định hướng đổi mới phương pháp dạyhọc, những việc làm cụ thể trong phương pháp dạy học để vận dụng vào thực

tế giảng dạy Trong quá trình tiến hành dạy học, giáo viên lấy người học làmtrung tâm, tích cực hóa hoạt động của học sinh, phát huy tính chủ động, sángtạo, coi trọng việc rèn luyện kỹ năng tự học của các em, phối hợp chặt chẽ sự

nỗ lực cá nhân với việc hợp tác tập thể, gắn việc đổi mới phương pháp dạyhọc với phương pháp kiểm tra, đánh giá, khuyến khích việc đa dạng hóa hìnhthức học tập ngoài giờ lên lớp

Trên cơ sở các định hướng đó, giáo viên đã tự tìm ra các biện pháp đổimới dạy học VHNN như: đổi mới kỹ năng xác định mục tiêu bài dạy, kỹ năng

tổ chức cho học sinh hoạt động, kỹ năng đặt câu hỏi để gợi mở, dẫn dắt họcsinh Người giáo viên cũng luôn đổi mới việc soạn giáo án, thiết kế bàigiảng, đổi mới trong việc giới thiệu tác giả, tác phẩm, vị trí đoạn trích trong

Trang 23

tác phẩm, đổi mới trong việc phân tích tác phẩm (chủ yếu dựa vào đặc trưngthể loại của tác phẩm v.v ) Vì vậy, những năm qua, việc dạy VHNN đã cónhững nét mới Chẳng hạn, trước khi soạn giáo án, giáo viên có ý thức tìmhiểu sâu những yếu tố ngoài văn bản như thời đại tác giả sống, hoàn cảnh rađời cụ thể của tác phẩm, cuộc đời riêng của tác giả (nhấn mạnh những điểmtrong cuộc đời tác giả có liên quan mật thiết đến việc sáng tác tác phẩm đangtìm hiểu) để từ đó hiểu sâu tính hiện thực của tác phẩm, suy nghĩ, nghiềnngẫm về hiện thực đó Người giáo viên có ý thức bám sát đặc trưng thể loạicủa tác phẩm sắp dạy, những đặc trưng thể loại này làm nổi bật thêm, sốngđộng thêm những vấn đề về con người, cuộc sống mà tác giả cảm nhận bằngchính trái tim mình Giáo viên có ý thức gắn văn bản với cuộc đời (cuộc đờilúc tác phẩm ra đời và cuộc sống hiện nay) Giáo viên có ý thức lấy mục tiêugiáo dục người công dân mới làm một trong những tiêu chí quan trọng trongviệc dạy học VHNN

Việc đổi mới phương pháp dạy học VHNN nằm trong tinh thần đổi mớitoàn diện của ngành Giáo dục cũng thuận lợi, tạo niềm phấn khởi, hào hứngcho anh chị em giáo viên trong việc đổi mới phương pháp dạy học VHNN ởtrường THCS

Tuy nhiên cũng cần thẳng thắn nói rằng bên cạnh nhiều giáo viên tíchcực, gương mẫu dồn tâm huyết, công sức cho việc dạy học vẫn còn một số ítgiáo viên chưa tâm huyết, chưa tận tụy với nghề Chính sách đãi ngộ, tôn vinhgiáo viên giỏi vẫn còn nhiều bất cập, đồng lương giáo viên hạn chế, sự thờ ơcủa học sinh, sự bùng nổ của các phương tiện nghe nhìn, v.v tất cả đã ảnhhưởng đến người giáo viên Những yếu tố khách quan đó làm cho một số ítgiáo viên làm việc cầm chừng với thái độ trung bình chủ nghĩa, làm việcchung chung đại khái dẫn đến tình trạng dạy thơ nước ngoài mà không thuộcthơ, dạy truyện nước ngoài mà không nắm chắc nội dung cốt truyện, chỉ coi

Trang 24

trọng ý nội dung tác phẩm Họ cho rằng hiệu quả của một giờ học cuối cùng

là có ý, đủ ý, là đủ để phục vụ cho kiểm tra, thi và chấm điểm theo ý thầy dạy.Một số giáo viên không gắn tác phẩm với thời đại, với phong cách tác giả,một số ít giáo viên cũng không chú ý phân biệt khi giảng thơ dịch, văn xuôidịch Phương pháp dạy học của một số giáo viên vẫn theo đường mòn cũ mà

ít có đột phá (các câu hỏi gợi mở, dẫn dắt ít tiêu biểu, khi khó quá, khi dễ quá;câu hỏi ít hấp dẫn do không đọc kỹ, soạn kỹ; chưa đổi mới kiểm tra đánh giáhọc sinh, chỉ mới nặng về kiểm tra đánh giá bài cũ mà chưa có ý thức kiểm trađánh giá kỹ năng nói chung và kỹ năng giải quyết các tình huống cụ thể )

Bên cạnh đó, một số giáo viên ít tìm kiếm tư liệu ngoài sách giáo khoa,không sử dụng các phương tiện dạy học (máy chiếu, băng đĩa hình, tranh ảnhv.v ) trong khi giảng dạy, một số giáo viên chỉ chú trọng vào những vấn đềhay gặp khi thi cử, đó cũng là điều không hay Một số giáo viên còn làm việctheo kiểu quan liêu (xa rời học sinh, không gần gũi các em để hiểu tâm lý lứatuổi, tâm tư, tình cảm, việc tiếp thu của các em với các tác phẩm, tìm hiểu chỗmạnh chỗ yếu của mình khi dạy cho các em v.v ) để từ đó rút kinh nghiệm,nâng cao chất lượng bài dạy trong giờ dạy VHNN; một số giáo viên còn coinhẹ phương pháp đọc diễn cảm, một trong những phương pháp truyền thốngđược dùng trong các nhà trường ở Việt Nam Đọc diễn cảm không phải là thủthuật do chủ quan người đọc tạo ra mà chính là một hình thức lao động phùhợp với bản chất của hình tượng trong văn học và quy luật sáng tác của nhàvăn, nhà thơ Do nhận thức không đầy đủ tầm quan trọng của phương phápđọc diễn cảm, một số anh chị em giáo viên chỉ coi đọc là loại công việc cótính chất thủ tục mở đầu cho giờ dạy Thời gian còn lại đa số học sinh phảiđọc thầm văn bản thầy cô đang giảng Không những thế, một số giáo viên dạyVHNN lại không chú ý đến tính liên kết, tích hợp giữa các vấn đề về đặctrưng thể loại, phong cách tác giả v.v

Trang 25

Một điểm nữa là hầu hết giáo viên khi dạy văn, thơ, kịch nước ngoài

đã không đặt tác phẩm vào tương quan văn hóa giữa hai dân tộc Từ trước đếnnay, giáo viên dạy học VHNN cũng giống như dạy học VHVN, trong khi đódân tộc Việt Nam có những thuộc tính khác với dân tộc mà tác giả nước ngoài

là đại diện Điều kiện địa lý, hoàn cảnh lịch sử, ý thức triết học có ảnh hưởngrất rõ đến sự phát triển tính cách của mỗi dân tộc Vì thế cần tìm ra mối quan

hệ tương đồng hay khác biệt về văn hóa giữa hai dân tộc để tìm ra phương ántốt nhất trong giảng dạy tác phẩm Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng khi ngườigiáo viên dạy một tác phẩm VHNN, nếu họ đọc được trực tiếp tác phẩm bằngtiếng nước ngoài thì tốt nhất Muốn vậy giáo viên phải có trình độ ngoại ngữtốt Tuy nhiên hầu hết giáo viên trình độ ngoại ngữ chưa đáp ứng được yêucầu Tài liệu tham khảo ít, không có trình độ ngoại ngữ đó cũng là điều bất lợicho việc nâng cao chất lượng dạy học VHNN ở trườngTHCS hiện nay

1.2.2 Nhìn chung về việc học VHNN của học sinh

Hiện nay việc học VHNN của học sinh vẫn còn có những trăn trở Thờigian qua, tác giả Luận văn đã thực hiện một số cuộc khảo sát thực trạng dạyhọc VHNN ở một số trường THCS ở huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh như THCS

Kỳ Tân, Thị Trấn, Kỳ Ninh, Kỳ Xuân, Lâm Hợp, Kỳ Thượng, Kỳ Tiến, KỳGiang và nhận thấy một thực trạng: đa số học sinh không thích học VHNN.Khi chúng tôi hỏi học sinh thường quan tâm đến VHVN hay VHNN thì đa sốtrả lời là thích học và đọc VHVN hơn Chỉ một vài truyện nước ngoài như

Cây bút thần, Ông lão đánh cá và con cá vàng là các em hứng thú, còn đa số

không thu hút được sự chú ý của các em Tâm lý này của học sinh ảnh hưởngnhiều đến hứng thú giảng dạy của thầy cô và kết quả học tập của các em

Như chúng ta đã biết, học sinh THCS có tuổi từ 11 đến 15, lứa tuổiđang trong quá trình phát triển về tâm lý lứa tuổi, sinh lý cơ thể Đây là lứatuổi các em nhìn thế giới qua bản thân mình, lứa tuổi vui đó rồi buồn đó, thân

Trang 26

đó rồi ghét đó, lứa tuổi chưa có gì ổn định Cảm giác mình đã lớn thường ámảnh lứa tuổi này Đây là thời điểm quan trọng, là bước ngoặt lớn của một đờingười Học sinh THCS chưa là người lớn nhưng cũng không còn là trẻ con.Theo nhận xét của các nhà tâm lý học thì cảm xúc của các em ở thời kỳ độtbiến này rất dữ dội Các em còn ít kinh nghiệm sống, chưa có sự phát triểnđầy đủ về ý thức, dễ xúc cảm, dễ bị kích động, tư duy của các em thườngthiên về trực cảm một chiều Bản thân các em rất hiếu động Việc hướng cảmxúc các em vào giờ học VHNN là không dễ dàng Có những tác phẩm đối với

lứa tuổi các em quả là khó hiểu Ví dụ như các bài thơ Đường trong sách Ngữ

văn 7 Chẳng hạn khi học bài Xa ngắm thác núi Lư của Lý Bạch, các em

không hiểu nội dung toàn bài nhất là câu “Dao khan bộc bố quải tiền xuyên”(Xa trông dòng thác trước sông này) Do không hiểu nên các em đã không trảlời được câu hỏi ở phần đọc hiểu văn bản: “Phân tích sự thành công của tácgiả trong việc dùng từ “quải” trong câu thứ 2 của bài này, từ đó chỉ ra sự hạnchế của bản dịch thơ” Nội dung bài thơ đã khó tiếp thu, câu hỏi này lại khóvới sự hiểu biết của các em Bên cạnh đó còn có những khái niệm trừu tượngnhư Chủ nghĩa Phục hưng, thơ Đường luật v.v càng khiến các em khó tiếpnhận Trong giờ dạy, một số giáo viên coi trọng khai thác ý, không chú ýnghệ thuật của tác phẩm nên học sinh thấy bài học khô khan, không lôi cuốn.Khi học, hầu như học sinh không có tác phẩm trọn vẹn để đọc, không có sáchtham khảo, học trích đoạn nào chỉ biết trích đoạn ấy Vốn liếng về VHNN đãkhông có, lại không có sách đọc thêm khiến các em chán học VHNN Tuổicác em đã ít, chưa từng trải, nghe bốn chữ “Văn học nước ngoài” đã có ngay

ấn tượng xa lạ về không gian, về văn hóa, văn học Những cảnh vật trong cácbài học VHNN cũng là lạ đối với các em Mặt khác, trong hoàn cảnh xã hộihiện nay có phần xuống cấp ở một số mặt, đời sống giáo viên còn khó khăn,tài liệu tham khảo còn ít, phương pháp giảng dạy của giáo viên còn hạn chế

Trang 27

nên chưa phát huy tối đa thế mạnh của VHNN, những tác động tiêu cực củamặt trái của cơ chế thị trường vào trường học v.v cũng làm đa số học sinhkhông hào hứng học các tác phẩm VHNN Các đề kiểm tra, đề thi cũngthường không có câu hỏi về VHNN, hoặc nếu có cũng chỉ là một phần nhỏ,

có tính chất chiếu lệ, số điểm thường rất ít, từ đó làm cho học sinh có suynghĩ VHNN chỉ là phần phụ, nếu làm tốt những câu hỏi về phần VHVN cũngđạt yêu cầu trở lên rổi, nên không chú ý học VHNN

Cũng cần nói thêm là phương pháp dạy học của nhiều giáo viên cũngkhông làm cho các em thích học VHNN Đa số giáo viên chưa đầu tư thờigian, công sức để tìm hiểu đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm cảm thụ VHNN củahọc sinh THCS ở Việt Nam, không đào sâu vào phương pháp gợi tìm, nặng vềgiảng văn, ít khơi gợi được trí tưởng tượng của các em Nhiều khi giáo viên

có tâm lý dạy cho có, giảng cho xong, gây cho học sinh cảm giác thầy dạycho xong nghĩa vụ của mình

Có một điều cần nói thẳng là khi học văn học nói chung, VHNN nóiriêng, đa số học sinh đã bộc lộ sự non yếu về năng lực cảm thụ văn chương,

về kỹ năng tiếp nhận văn Tình trạng học sinh chạy theo loại “văn học giả”ngày càng nhiều, học sinh bị giảm sút nhiều về chất lượng nhân văn Điều nàythể hiện khá rõ trong quá trình tiếp nhận văn bản của học sinh qua các giờ dạy

của giáo viên Chẳng hạn khi học đoạn trích Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang trích từ tiểu thuyết Rô-bin-xơn Cru-xô của Đ Đi-phô, nhà văn Anh, học sinh

đã có thái độ dửng dưng, hờ hững, thờ ơ trước cuộc sống vô cùng khó khănthiếu thốn mà Rô-bin-xơn đã một mình chịu đựng nơi đảo hoang vùng xíchđạo suốt mấy mươi năm ròng rã Nhiều giáo viên còn tỏ ra buồn chán, thấtvọng khi giảng đến những bài nói về những nhân vật dám xả thân vì nghĩalớn, có những hành động cao thượng mà ở dưới lớp, học sinh không hề xúcđộng, cảm phục

Trang 28

1.3 Thuận lợi, khó khăn trong việc dạy học tác phẩm VHNN trong chương trình Ngữ văn THCS

1.3.1 Thuận lợi

Thứ nhất, hầu hết giáo viên Ngữ văn đều nhận thức được cần đổi mới

phương pháp dạy học VHNN ở trường THCS Đây là điều rất quan trọng vìgiáo viên xét cho cùng là người quyết định sự thành công hay thất bại củaviệc truyền đạt các tác phẩm VHNN cho các em học sinh Với nhận thức mới,với tình cảm hướng về thế hệ tương lai, với sự sáng tạo, người giáo viên hàngngày sẽ là người tiên phong thể nghiệm và thực thi việc đổi mới phương phápdạy học VHNN trong nhà trường Họ hiểu rõ rằng đổi mới phương pháp dạyhọc VHNN là nhằm đáp ứng mục tiêu, yêu cầu của sự nghiệp giáo dục tronggiai đoạn mới của Tổ quốc

Thứ hai, đất nước ta đang đứng trước sự phát triển mới Con người

trong tương lai phải là con người biết hành động năng động, sáng tạo, thíchứng nhanh với những thay đổi trong xã hội, có khả năng tiếp cận, giải quyếtvấn đề một cách mềm dẻo, linh hoạt Phương pháp dạy cổ truyền ở nhàtrường cùng với thời gian đã hoàn thành sứ mạng lịch sử của nó, phải nhườngchỗ cho sự xuất hiện phương pháp dạy học mới, đảm bảo cho ra đời nhữngthế hệ học sinh đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thế kỷ XXI Giáo viênnhận thức được dạy học VHNN không những phải phù hợp với đặc trưng thểloại mà còn phải đáp ứng dạy học tích hợp và tích cực Trong dạy học tíchhợp giáo viên không những phải phối hợp các tri thức, kỹ năng thuộc từngphân môn của môn Ngữ văn mà còn phải tích hợp với các bộ môn khác nếu

có sự tương đồng (tích hợp liên môn) Còn dạy học tích cực, giáo viên phảiphát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh ở tất cả các khâu, phảitạo điều kiện cho học sinh chủ động tiếp nhận các văn bản Những nhận thứctrên đây của giáo viên là một trong những thuận lợi cơ bản giúp họ có những

Trang 29

việc làm cụ thể có chất lượng bởi phương pháp dạy học là một trong những

khâu đột phá về chất lượng đào tạo của ngành Giáo dục “Điều quan trọng

không phải là dạy cái gì mà là dạy như thế nào Diện mạo tinh thần của đất nước trong tương lai ra sao phụ thuộc vào việc nhà trường giảng dạy như thế nào” (Mi-Khan-Côp, nhà giáo dục học Nga).

Thứ ba, những năm qua, giáo viên Ngữ văn thường xuyên được bồi

dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ Hiện nay ngành Giáo dục đang tiến hànhviệc đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy học Để việc này cóchất lượng, kết quả, cần xây dựng một đội ngũ giáo viên mạnh về chuyênmôn, giỏi về nghiệp vụ thì mới có thể đảm nhiệm được Chỉ tính trong 6 nămtrở lại đây, ở huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, các giáo viên đã được bồi dưỡngchuyên môn nghiệp vụ 24 lần theo lịch trình quy định từ đầu năm học Việcbồi dưỡng đã trở thành nhiệm vụ thường xuyên nhằm không ngừng nâng caotrình độ cho đội ngũ giáo viên, giúp họ có đủ phẩm chất và năng lực để làmtốt nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục thế hệ trẻ

Thứ tư, số giáo viên Ngữ văn THCS đạt chuẩn và trên chuẩn ngày càng

nhiều Theo điều tra của chúng tôi giáo viên Ngữ văn THCS của huyện KỳAnh đạt chuẩn là 225 người, đạt tỉ lệ 100%, trong đó trên chuẩn là 175 người,đạt tỉ lệ 77,77% Đây là minh chứng đáng phấn khởi về chất lượng đội ngũ

Thứ năm, tuy tài liệu tham khảo về VHNN rất ít nhưng tài liệu về

phương pháp dạy học Ngữ văn lại nhiều Theo thống kê của tác giả Luận văn,hiện nay có khoảng hơn 50 cuốn sách nói về phương pháp dạy học Ngữ văn

nói chung, Ngữ văn THCS nói riêng như: Phương pháp dạy học văn của Phan Trọng Luận, Dạy học văn bản Ngữ văn THCS theo đặc trưng phương thức

biểu đạt của Trần Đình Chung, Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường của Nguyễn Viết Chữ, Một số vấn đề giảng dạy phần VHNN ở trường phổ thông của Phùng Văn Tửu v.v

Trang 30

1.3.2 Khó khăn

Thứ nhất, tâm lý học sinh đối với VHNN trong trường THCS Chúng

tôi đã khảo sát một số trường THCS trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnhnhư THCS Kỳ Tân, Thị Trấn, Kỳ Ninh, Kỳ Xuân, Lâm Hợp, Kỳ Thượng, KỳTiến, Kỳ Giang và có nhận xét là hầu hết học sinh không thích học VHNN.VHNN hiện đại đã xa lạ, VHNN trung đại, cổ đại, dân gian lại càng xa lạ bởithời gian đã lùi quá xa so với hiện tại Tất nhiên tình trạng này còn có nguyênnhân từ phía người dạy và một số nguyên nhân khác Cũng cần nói thêm rằngbản thân các tác phẩm VHNN trong nhà trường không gây hứng thú cho các

em, trong lúc đó ra khỏi lớp, ngoài xã hội lại có các phương tiện nghe nhìnhấp dẫn, lôi cuốn Nạn xuất bản tràn lan của cái gọi là “kế hoạch ba” trongxuất bản của các nhà xuất bản đã có khi tung ra xã hội biết bao đầu sách nhảmnhí với hàng chục triệu bản Ngoài giờ học, thứ “văn học đen”, “văn hóa đen”hàng ngày, hàng giờ tác động xấu đến thanh thiếu niên, học sinh Nhà trườngTHCS với những tiết học VHNN ít ỏi và hiệu lực hạn chế thật khó gieo vàohọc sinh những ấn tượng sâu sắc, khó đem lại cho các em những kiến thứccần thiết để tạo bản lĩnh, để có thể tự mình ứng xử trước cơn bão thông tinvăn hóa, văn học nghệ thuật ngoài xã hội Những cô bé, cậu bé mới lớn tiếpxúc, va chạm với nhiều luồng thông tin văn hóa thẩm mỹ xa lạ khác vớinhững điều thầy cô giảng sẽ dễ bị lôi cuốn Điều này thực tế cuộc sống đã chothấy rõ

Thứ hai, chương trình Ngữ văn THCS ít có những bài hay làm xúc

động mạnh, lôi cuốn học sinh, nếu có thì giáo viên cũng chưa làm cho họcsinh thấy hay Hàng ngày, trong giờ văn, trước mỗi giáo viên là một lớp họcvới mấy chục học sinh đang chuẩn bị tiếp cận với tác phẩm, với tác giả Khókhăn đầu tiên trong việc phát huy chủ thể học sinh trong giờ dạy VHNN nóiriêng, văn học nói chung là ở chỗ làm sao từ cái hay của tác phẩm văn học có

Trang 31

thể khơi nguồn cho những rung cảm ở mỗi cá thể học sinh vốn là những thế

giới đa dạng, phức tạp Ví dụ bài Đêm đỗ thuyền ở bến Phong Kiều của Lý Bạch, Ngữ văn 7, tập 1 là tác phẩm hấp dẫn, nhưng làm sao để mỗi học sinh cảm nhận được Truyện cổ tích Ông lão đánh cá và con cá vàng, Nga, Ngữ

văn 6, tập 1 là hay nhưng làm sao để mỗi thành viên trong lớp rung động? Đó

là vấn đề phải suy nghĩ Một tác phẩm VHNN hay, lôi cuốn học sinh đã khóhuống chi chương trình VHNN có nhiều bài không hay Trong quá trình điềutra, khảo sát, khi tác giả Luận văn hỏi, các em còn nói VHNN có một số bài

khó hiểu như các bài thơ Đường trong sách Ngữ văn 7, tập 1, hoặc nghệ thuật

xây dựng truyện của các tác giả có những điều xa lạ Sự khó hiểu, xa lạ nàytheo chúng tôi nghĩ có thể là do bản thân các bài đó khó hiểu, cũng có thể dophương pháp giảng dạy của giáo viên chưa phù hợp với trình độ, lứa tuổi các

em, cũng có thể do học sinh chưa chịu khó học tập, đào sâu suy nghĩ

Thứ ba, học sinh được học các tác phẩm qua bản dịch Thơ thì thường

có bản dịch nghĩa, dịch thơ, còn truyện, tiểu thuyết, kịch thì dịch trực tiếpsang tiếng Việt Tất nhiên, ai học VHNN cũng phải chấp nhận thực tế này.Điều cần chú ý là tác phẩm khi đã dịch sang tiếng Việt, đó là bản dịch chomọi đối tượng trong xã hội, bản thân học sinh cũng phải học theo bản dịch đó,nghĩa là tác phẩm VHNN dịch sang tiếng Việt và in trong sách giáo khoa Ngữvăn là bản dịch chung cho mọi người chứ không phải là bản dịch riêng chohọc sinh THCS Mà một văn bản khi chuyển dịch sang một ngôn ngữ khácthường bị mất mát hoặc ít hoặc nhiều nét riêng, cái hay của nguyên tác Nhưthơ chẳng hạn điều dĩ nhiên là những yếu tố hình thức như vần, nhịp điệu, âmhưởng, thể thơ v.v khó đảm bảo như nguyên tác Nội dung bài thơ thườnggắn với ngôn ngữ thơ cho nên khi học sinh học qua bản dịch nội dung ấy khógiữ được như trong bản gốc Có một số ý kiến đã bàn về vấn đề này, trong đó

PGS.TS Nguyễn Viết Chữ cũng cho rằng: “Việc sử dụng bản dịch của một

Trang 32

tác phẩm của tác giả nước ngoài để đưa vào giảng dạy ở nhà trường phổ thông nước ta có điều gì đó chưa hợp lý Giáo viên trong nhà trường của ta hầu như chỉ giảng dạy bản dịch như nguyên tác, thậm chí cả khi khai thác từ ngữ Đây là điều không thể chấp nhận được Đối với văn xuôi ở mức độ nào

đó có thể tạm coi là được, nhưng đối với thơ thì thật là khó” [11, 126].

Thứ tư, ngoài đa số giáo viên Ngữ văn tâm huyết, còn một số ít giáo

viên chưa thiết tha với việc đổi mới phương pháp dạy học Văn ở trườngTHCS Ở trên, tác giả Luận văn đã có nhận xét hầu hết giáo viên Ngữ văn đềunhận thức rõ cần đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học VHNN ở trườngTHCS nhưng việc đổi mới cụ thể như thế nào là một điều không đơn giản Sựchuyển biến trong thực tề vẫn còn chậm Trên phương diện nhận thức là thếnhưng đi vào những việc làm cụ thể thì vẫn còn tình trạng một số ít giáo viêncòn qua loa, đại khái chưa tập trung hết công sức cho việc đổi mới việc dạyhọc văn, do đó giờ dạy ít có hiệu quả, chất lượng còn hạn chế Bởi như chúng

ta đã biết, trong nhà trường sức hấp dẫn, sức mạnh của những tác phẩmVHNN đối với học sinh bao giờ cũng được nhân lên bởi phương pháp dạyhọc hiệu quả của người giáo viên Thơ, truyện, kịch nước ngoài đến với họcsinh thông qua vai trò trung gian của giáo viên Nhưng một số ít giáo viên đãkhông thấy hết tầm quan trọng đó nên đã làm không tốt vai trò của mình Một

số giáo viên khi dạy chưa khai thác sâu mục đích, ý đồ sáng tác của tác giảcũng như nội dung tác phẩm và sức mạnh riêng của tác phẩm, chưa thật sựlàm rõ mối liên hệ giữa tác giả với học sinh - người đọc, người học tác phẩm

Họ không nhận thấy đó chính là cơ sở quan trọng để xác định đúng phươnghướng, phương pháp chủ yếu và cơ bản cho việc khai thác và giảng dạy tácphẩm VHNN Phương pháp đọc diễn cảm, so sánh, nêu vấn đề, gợi mở, giảngbình, tái tạo v.v chưa được giáo viên sử dụng nhuần nhuyễn, chưa được pháthuy một cách tối đa Khi dạy, một số giáo viên chưa chú trọng đặc trưng thể

Trang 33

loại, chưa phân biệt đầy đủ đặc trưng thi pháp của từng thể loại Bởi vậy cótrường hợp một truyên cổ tích nước ngoài mà giáo viên lại dạy tương tự nhưmột truyện ngắn hiện đại, dạy tác phẩm truyện mà lại coi nhẹ yếu tố cốttruyện, nhân vật, lời kể, lời thoại Qua mỗi bài dạy, một số giáo viên chưarút ra được những nét tiêu biểu trong phong cách của tác giả, không gắn tácphẩm đang dạy với trào lưu văn học đương thời, với hoàn cảnh lịch sử khi tácphẩm ra đời, với không khí chung của thời đại, không nêu lên được tâm sựchung của thời đại và tâm sự riêng của tác giả.

Để dạy một trích đoạn, giáo viên phải đọc hết toàn bộ tác phẩm có đoạntrích đó, nhưng ý thức tự đọc thêm, tự học của một số giáo viên không cao.Tình trạng dạy tác phẩm VHNN theo kiểu “ăn đong” vẫn còn, dạy bài nàobiết bài đó

Thứ năm, trong giờ dạy học tác phẩm VHNN, các câu hỏi gợi tìm giáo

viên đưa ra cho học sinh trả lời chưa chuẩn, một số câu hỏi còn chung chung,đại khái, hoặc quá dài hoặc quá ngắn, ít khơi gợi trí tưởng tượng, hứng thúcho học sinh Ngoài ra, cũng cần nhắc đến một số vấn đề khác như trong các

kỳ thi học kỳ, cuối năm hoặc kiểm tra thường ngày ít có câu hỏi về VHNNhoặc nếu có thì câu VHNN điểm quá ít, do đó không thúc đẩy việc học tậpcủa các em Khi học VHNN, học sinh không có sách đọc thêm đã đành màthư viện trường cũng không có sách Số tiết học VHNN đã ít lại không cósách tham khảo nên dễ đưa đến tâm lý học cho qua, xong chuyện, đối phó vớithầy cô Cũng cần nhắc đến một khó khăn nữa là do chưa coi học sinh là trungtâm trong quá trình giảng dạy, là chủ thể tiếp nhận tác phẩm nên đã có tìnhtrạng trong giờ dạy học văn, vẫn còn một khoảng cách khá xa giữa giáo viên

và học sinh Trong giờ dạy, một số giáo viên chỉ quan tâm đến bài giảng, đếnvăn bản, đến nghệ thuật truyền giảng mà không tìm hiểu xem học sinh đang

có cảm nhận, có phản ứng thế nào về tác phẩm mình đang dạy Điều tra, khảo

Trang 34

sát học sinh ở một số trường THCS trên địa bàn huyện Kỳ Anh như THCS KỳTân, Thị Trấn, Kỳ Ninh, Kỳ Xuân, Lâm Hợp, Kỳ Thượng, Kỳ Tiến, KỳGiang, học sinh nói rằng giờ dạy văn, thầy và trò chưa có biểu hiện đồng cảm,gần gũi gắn bó với nhau Giáo viên chưa coi học sinh là bạn đọc như nhà vănnhà thơ muốn hướng tới Trong giờ giảng văn, học sinh có cảm giác hình nhưmình chỉ là người ngoài cuộc, một khách thể chịu tác động một chiều của giáoviên là chính Thậm chí mối quan hệ giữa học sinh với tác phẩm có khi cũng

bị rời rạc Cho nên nếu có hiện tượng trong giờ học văn, học sinh thờ ơ, lạnhnhạt với số phận nhân vật, với tiếng nói của tác giả, với lời giảng bài của giáoviên thì cũng không có gì là khó hiểu

Thứ sáu, tâm lý thực dụng của học sinh Các anh chị lớp trước thường

khuyên rằng hãy học các môn khoa học tự nhiên để sau này thi đại học, vàocác ngành kinh tế, dễ xin việc, dễ kiếm tiền, lương cao; còn đi vào các môn xãhội sau này thi đại học có ít ngành, ra trường khó xin việc, lương thấp Tuổicủa học sinh THCS chưa chín chắn, dễ bị những lời rủ rê đó lôi cuốn, cho nênviệc các em ít học Ngữ văn, ít học VHNN là điều dễ hiểu Khó khăn này làmột cản trở lớn không dễ khắc phục

1.4 Một số vấn đề khác

1.4.1 Yêu cầu chung khi lựa chọn và giảng dạy tác phẩm VHNN trong trường THCS

Thứ nhất, tác phẩm VHNN được chọn dạy phải góp phần hình thành

nhân cách người công dân mới, người công dân tương lai Như chúng tôi đãnói, những năm qua và hiện nay, mặt trái cơ chế thị trường đã tác động khámạnh vào nhà trường Dạy học văn là công việc nhạy cảm nên không thểkhông chịu sự tác động ấy Về phía học sinh, điều dễ nhận thấy nhất là sựgiảm sút về lý tưởng, đạo đức, lối sống, chất nhân văn Đây không phải làhiện tượng ít mà là của số đông Cho nên việc chọn và dạy VHNN phải góp

Trang 35

phần khắc phục tình trạng trên Dạy văn học mà không giáo dục lòng nhânvăn, lý tưởng, đạo đức, lối sống thì coi như không dạy cái gì hết Ví dụ dạy

truyện Hai cây phong của Ai-ma-tốp, là muốn đưa đến cho học sinh lời

khuyên: phải có tình yêu quê hương nồng nàn, tha thiết; hãy biết nhớ ơnnhững người thầy đã vun trồng ước mơ, hy vọng cho những học trò nhỏ

Rõ ràng chọn tác phẩm VHNN để dạy trong chương trình Ngữ vănTHCS phải có tính mục đích: giúp cho học sinh có chất nhân văn, có đạo đức,

tư tưởng cao đẹp, lối sống lành mạnh… Tác phẩm VHNN phải góp phần tạođược sự phát triển cân đối, toàn diện về tâm hồn, tư tưởng, đạo đức, trí tuệ, vềthẩm mỹ và tạo được sự hiểu biết để xây dựng nhân cách cho học sinh Cùngvới VHVN, dạy một tác phẩm VHNN là dạy cách nhìn, cách sống, dạy cách

mở mang trí tuệ, dạy cách thẩm mỹ cho lứa tuổi mới lớn, lứa tuổi đang cầnnhững câu trả lời về cách đến tương lai, đường đi đến tương lai Phải làm saocho mỗi học sinh khi học xong một tác phẩm VHNN, gấp sách lại biết suynghĩ, biết băn khoăn, xúc động, bồn chồn Những ý tưởng thu được qua mỗigiờ học như tan vào trong máu, ngấm lên ngây ngất như men rượu mạnh.Những ý tưởng ấy phải như những ngọn cờ vẫy gọi, thúc dục tuổi trẻ đi lên,sống sao cho không hoài phí, cho khỏi nuối tiếc

Khi đã định hướng như vậy, thì cùng với những tác phẩm VHVN, phảicoi trọng việc đưa vào chương trình Ngữ văn THCS hiện nay những tác phẩmVHNN giàu màu sắc nhân văn, khi triển khai giảng dạy giáo viên phải tậptrung việc giáo dục chủ nghĩa nhân văn cho học sinh Cùng với VHVN, giáoviên cần làm cho giờ dạy học tác phẩm VHNN kích thích được để bùng cháylên một cái gì đó trong tâm hồn những người trẻ tuổi, để mỗi con người đi tớichính mình trong tâm tưởng, để cho ngay cả “những điểm trơ, điểm ỳ, điểmchết” trong tâm linh mỗi người cũng sẽ bừng sáng lên ngọn lửa đẹp rực rỡ củalòng nhân ái, bao dung, độ lượng, thiêu cháy những gì xấu xa ích kỷ, ti tiện,

Trang 36

thấp hèn Chỉ có nghệ thuật và văn học mới làm được điều này Chất nhân văn

ấy là một trong những thuộc tính của nhân loại, của loài người, đối với nhữngquốc gia đang phát triển như Việt Nam thì giáo dục, tăng cường bổ sung tínhnhân loại này cho lớp trẻ là rất cần thiết

Thứ hai, tác phẩm VHNN được chọn dạy trong trường THCS phải là

tác phẩm tiêu biểu cho phong cách tác giả, cho nét cơ bản nhất của phongcách tác giả cả về nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật Phong cách nhàvăn là sự tổng hòa những phẩm chất độc đáo về nội dung tư tưởng, hình thứcnghệ thuật, thi pháp… chỉ có ở nhà văn đó, là cái để phân biệt nhà văn nàyvới nhà văn khác Mỗi nhà văn do năng lực, sở trường, vốn sống, cá tính…

mà tự tạo nên cho mình một phong cách riêng không lẫn với nhà văn khác.Trong VHNN, chúng ta có phong cách An-đec-xen, phong cách Lỗ Tấn,phong cách Mô-pat-xăng, phong cách M Go-rơ-ky trong truyện ngắn, phongcách R Ta-go trong thơ, phong cách Mô-ly-e trong kịch, phong cách Đỗ Phủ,

Lý Bạch trong thơ Đường v.v… Nói chính xác, tác phẩm VHNN nổi tiếngđược sinh ra từ một nhà văn có tài, là sản phẩm tất yếu giữa quan hệ tác giảvới đời sống tinh thần của xã hội Tất nhiên, nói đến phong cách tác giả trướchết phải nói đến thể loại văn học tác giả đó thành công nhất trong việc thểhiện tư tưởng, quan điểm Tác phẩm ấy lại phải tiêu biểu cho thi pháp của tácgiả Vì vậy, tác phẩm VHNN được chọn dạy trong nhà trường phải được đặttrong mối tương quan cả bề rộng lẫn bề sâu Như R Ta-go đã để lại cho đời

42 vở kịch, 12 bộ tiểu thuyết, hàng trăm ca khúc, hàng ngàn bức họa, hàngtrăm truyện ngắn nhưng lĩnh vực tiêu biểu nhất trong sự nghiệp văn học củaông lại là thơ trữ tình mang tình cảm cao đẹp, trong sáng với chiều sâu tâmlinh của con người Chương trình VHNN, những tác phẩm tiêu biểu chophong cách tác giả thường là những tác phẩm đạt đỉnh cao của nền văn họccủa một đất nước, một dân tộc Vì vậy khi chọn và dạy tác phẩm VHNN, phảilưu ý đến nét tiêu biểu cho thi pháp tác giả

Trang 37

Thứ ba, hai yêu cầu trên phải gắn bó, liên quan với yêu cầu thứ ba: khi

chọn và dạy tác phẩm VHNN phải đặt tác phẩm đó vào trào lưu văn học Tấtnhiên phải lựa chọn và giảng dạy những tác phẩm tiêu biểu cho trào lưu vănhọc nào phù hợp với những vấn đề thiết thực cho đời sống tinh thần công dânhiện tại và mai sau

Trong trào lưu thơ Đường, dù là bút pháp lãng mạn như Lý Bạch hayhiện thực như Đỗ Phủ thì các tác giả thơ Đường đều bị chi phối bởi triết họcĐạo giáo và Phật giáo chứ không đơn thuần bị chi phối bởi Nho giáo như vănhọc đời Hán Thơ Lý Bạch màu sắc Đạo giáo rất rõ, thơ Vương Duy lại cómàu sắc Phật giáo… Có thể nói trào lưu thơ Đường có những nét riêng đángchú ý như: đề tài thường trang trọng, ý thơ thường có nhiều tầng nghĩa gợimàu sắc trí tuệ, ngôn ngữ mang tính khái quát cao, ít đi vào chi tiết Trongquá trình biểu hiện, thơ Đường thường sử dụng những nguyên tắc chặt chẽ tạonên sự hài hòa thú vị và thường dùng tiểu đối (đối thanh, đối ý,…), hoặcdùng lối “dùng động tả tĩnh, dùng điểm tả diện, dùng cao tả thấp, dùng quákhứ tả hiện tại” Chất trí tuệ và nỗi buồn thiên cổ trong thơ Đường cũng rấtgần với hội họa đời Đường Ta thường gặp những khoảng trống trong thơĐường, đó là những khoảng trống gợi cho người xem rất nhiều suy tưởng Cáitôi trong thơ Đường thường là cái tôi phi cá thể ước lệ

Thứ tư, khi lựa chọn và dạy học tác phẩm VHNN trong trường THCS

phải đặt tác phẩm trong tương quan văn hóa giữa hai dân tộc Lâu nay, cóhiện tượng khá phổ biến là việc dạy tác phẩm VHNN cũng không khác gì việcdạy tác phẩm VHVN, trong khi đó dân tộc Việt Nam có những đặc điểmkhông giống một dân tộc nào trên thế giới Điều kiện lịch sử, địa lý, văn hóa,

hệ tư tưởng triết học… ảnh hưởng rất rõ đến tính cách của một dân tộc Do

đó, việc đặt tác phẩm trong tương quan văn hóa giữa hai dân tộc là điều cầnphải làm, đây là yêu cầu rất riêng khi dạy VHNN trong trường THCS Hoàn

Trang 38

cảnh, điều kiện sản sinh tác phẩm VHNN dĩ nhiên là không giống với hoàncảnh, điều kiên sản sinh tác phẩm VHVN Không thể đem tri thức văn hóa,văn học của nước này để hiểu văn hóa, văn học của một nước khác Vì có sựkhác biệt như vậy cho nên khi giảng dạy tác phẩm VHNN, người giáo viênphải có ý thức tìm ra sự tương quan văn hóa giữa dân tộc có tác giả sống, cótác phẩm ra đời với dân tộc Việt Nam Phải cố gắng tìm hiểu để nêu ra đượcnhững nét giống nhau, khác nhau giữa hai dân tộc nhằm giúp cho học sinhcảm thụ tác phẩm dễ dàng hơn, thuận lợi hơn Chẳng hạn khi dạy tác phẩmthuộc sử thi Ấn Độ hay sử thi Hy Lạp, người giáo viên cần có liên hệ tới sựtương quan với sử thi Việt Nam Thi pháp của sử thi ba dân tộc này có nétchung là đều hướng về quá khứ oai hùng của dân tộc Ba nhân vật anh hùng:Ra-ma trong sử thi Ấn Độ, Uy-ly-xơ trong sử thi Hy Lạp, Đam San trong sửthi Tây Nguyên - Việt Nam đều có một số nét chung là: đều có sức mạnh phithường; đều lập nhiều công lao to lớn, nhiều chiến công hiển hách; đều có tàinăng, đức độ; đều có lòng thương yêu đồng loại sâu sắc, nồng nàn; đều cóthái độ bênh vực những người yếu ớt; đều có tình bạn cao cả, sâu nặng, trongsáng, thủy chung; đều có hành động dũng cảm, hy sinh để bảo vệ hạnh phúccho cộng đồng; đều có chí căm thù giặc cao độ Tuy nhiên ba nhân vật nàycũng có những nét riêng: trong sử thi Hy Lạp, Uy-ly-xơ thì dũng cảm năngđộng, linh hoạt, có tư duy sắc sảo, nhiều mưu lược, tài trí; còn trong sử thi Ấn

Độ, Ra-ma là con người có cốt cách phong nhã, hào hoa, có tài, có đức, trongchiến đấu thì anh hùng, trong đời thường thì hay trầm tư suy tưởng, có lúcmềm yếu nhưng bao giờ cũng có thái độ yêu ghét rõ ràng; còn trong sử thiTây Nguyên - Việt Nam thì Đam San là con người có bản chất chân thật, cókhi hơi thô kệch một chút, thường hành động theo bản năng, có lúc hành độngmột cách ngông cuồng… Sự xuất thân của họ cũng khác nhau: Ra-ma làhoàng tử do thần Vienu giáng sinh, Đam San là một tù trưởng, còn Uy-ly-xơ

Trang 39

là anh hùng chiến trận Khi người giáo viên đặt ba nhân vật sử thi này vào bahoàn cảnh địa lý, lịch sử của ba dân tộc thì sẽ dễ nhận ra những đặc điểmkhác biệt hay tương đồng của từng nhân vật.

Như vậy, khi xét nội dung xã hội của một tác phẩm VHNN, người giáoviên cần tìm hiểu cặn kẽ điều kiện lịch sử, văn hóa phát hiện những nét tươngđồng, khác biệt nhằm tạo điều kiện cho học sinh chiếm lĩnh tác phẩm mộtcách thuận lợi, dễ dàng, nhanh chóng Vì chỉ có tác phẩm VHNN mới đượcsản sinh ra trong môi trường văn học khác với tác phẩm VHVN, và cũng vìkhác về môi trường văn học nên giáo viên mới phải tìm hiểu sự tương quantrong văn học, văn hóa giữa hai dân tộc Có như thế mới góp phần giải quyếtthêm một số vấn đề khi dạy VHNN trong trường THCS, giúp ích cho việc họcVHNN, làm phong phú thêm đời sống tâm hồn, tình cảm dân tộc của mỗi họcsinh khi tiếp xúc với tác phẩm VHNN Trong thực tế giảng dạy và học tập,quá trình tiếp xúc với tác phẩm VHNN bao giờ trong trí óc, trong suy nghĩcủa mỗi người đều có sự liên tưởng, so sánh nào đó giữa dân tộc này với dântộc khác Đó là điều bình thường, tất yếu Khi biết được quy luật này, chúng

ta nâng lên thành yêu cầu có tính chất nguyên tắc, trên cơ sở đó, tiến hànhhoàn thiện những tài liệu tham khảo thích hợp, những tài liệu hướng dẫngiảng dạy cho giáo viên, hướng dẫn học tập cho học sinh, từ đó hỗ trợ tíchcực hiệu quả cho quá trình dạy học tác phẩm VHNN ở trường THCS

Thứ năm, cần có bản dịch thích hợp để dạy học VHNN Chúng tôi nghĩ,

cần thống nhất quan niệm về bản dịch dùng để dạy học trong chương trìnhTHCS

Trước hết nói về bản dịch thơ, cần có cả phần phiên âm nguyên tác,dịch nghĩa và dịch thơ Các bản dịch nghĩa cần dịch thật sát nghĩa gốc của vănbản nhưng làm sao để không làm mất vẻ đẹp, nhạc điệu của thơ ca Tất nhiênbản dịch nghĩa có bám sát nguyên bản thì học sinh mới tiếp nhận được

Trang 40

nguyên vẹn giá trị của tác phẩm Thơ trữ tình thể hiện chủ yếu bằng tiết tấu,

âm điệu Trong ngôn ngữ âm điệu rất đậm sắc thái dân tộc, truyền thống.Vượt qua được “hàng rào tâm lý dân tộc” này là việc làm gian khổ Tuy nhiênkhông phải là không có những thuận lợi Nếu bài thơ có ý thơ lạ, mới, đầysáng tạo thì nếu người dịch thơ trung thành với văn bản vẫn tạo được hứngthú cho người đọc Với một bài thơ nếu là dành cho công chúng đông đảo,nên sử dụng bản dịch thơ, càng sát với nội dung và nghệ thuật càng tốt, còntrong nhà trường mỗi bài thơ nên có cả hai bản dịch nghĩa và dịch thơ phùhợp với đối tượng học sinh để từ đó giúp cho giáo viên, học sinh tiếp cận vớinguyên tác, chiếm lĩnh được giá trị bài thơ ở mức độ cao nhất

Chúng tôi lưu ý rằng, quá trình học sinh THCS tiếp xúc với thơ, truyện,tiểu thuyết, kịch nước ngoài ấn tượng ban đầu rất quan trọng Quá trình tiếpxúc thẩm mỹ ấy suốt đời không thể quên được Do đó, khi đã đưa VHNN vàonhà trường để giảng dạy, chúng ta phải coi “phải có bản dịch thích hợp” làmột nguyên tắc quan trọng và cơ bản Nếu bản dịch thơ, truyện, tiểu thuyết,kịch chưa đạt yêu cầu, thì tác giả Luận văn nghĩ chưa nên đưa vào dạy họctrong nhà trường, bởi nếu đưa vào nhà trường những bản dịch còn hạn chế sẽgây tác hại không nhỏ Đối với nghệ thuật, văn học không có sự châm chướcnào cả Bản dịch chất lượng chưa đạt vừa không đem lại thỏa mãn thẩm mỹcho học sinh vừa gây ức chế trong cảm thụ văn học nghệ thuật Như vậy, khiđem vào giảng dạy bản dịch phải thích hợp với đặc điểm cảm thụ thẩm mỹcủa học sinh, với tâm lý lứa tuổi, với trình độ nhận thức, phải tạo được hứngthú Các bản dịch truyện, kịch nên đem vào dạy học nếu đạt chất lượng, cònbản dịch thơ thì một số bản có thể chỉ nên giới thiệu, bình chú chứ khônggiảng dạy bởi thơ khi dịch sang tiếng Việt, nếu không có trình độ dịch thuậtcao thì nội dung thường khó giữ được nguyên vẹn vì nội dung gắn với ngônngữ mà ngôn ngữ khi dịch sang tiếng Việt khó giữ được 100% sắc thái của

Ngày đăng: 25/12/2013, 20:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Huy Bắc (2006), Dạy - học văn học nước ngoài trong chương trình THCS (tập 1), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy - học văn học nước ngoài trong chương trìnhTHCS
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
2. Lê Huy Bắc (2006), Dạy - học văn học nước ngoài trong chương trình THCS (tập 2), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy - học văn học nước ngoài trong chương trìnhTHCS
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
3. Lê Huy Bắc (2007), Dạy - học văn học nước ngoài trong chương trình THCS (tập 3), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy - học văn học nước ngoài trong chương trìnhTHCS
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
4. Nguyễn Duy Bình (1983), Dạy cái hay cái đẹp của Văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy cái hay cái đẹp của Văn
Tác giả: Nguyễn Duy Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1983
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003), Chương trình giáo dục phổ thông cấp THCS, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông cấpTHCS
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kì III (2004 - 2007), môn Ngữ văn, quyển 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chogiáo viên THCS chu kì III (2004 - 2007), môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2005
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kì III (2004 - 2007), môn ngữ văn, quyển 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chogiáo viên THCS chu kì III (2004 - 2007), môn ngữ văn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2005
8. Lê Nguyên Cẩn (2001), Phân tích - bình giảng tác phẩm văn học nước ngoài (THCS), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích - bình giảng tác phẩm văn học nướcngoài (THCS)
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
9. Trần Đình Chung (2006), Dạy học văn bản Ngữ văn THCS theo đặc trưng phương pháp biểu đạt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học văn bản Ngữ văn THCS theo đặctrưng phương pháp biểu đạt
Tác giả: Trần Đình Chung
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
10. Nguyễn Viết Chữ (2001), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chươngtheo loại thể
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
11. Nguyễn Viết Chữ (2001), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chươngtrong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2001
12. Nguyễn Quang Cương (2005), Câu hỏi và bài tập với việc dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu hỏi và bài tập với việc dạy học tácphẩm văn chương trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Quang Cương
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
13. Trần Văn Dân (chủ biên, 1991), Tiếp nhận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp nhận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
14. Sử Khiết Doanh, Lưu Tiểu Hòa (2009), Kỹ năng giảng giải, kỹ năng nêu vấn đề, Nxb Giáo dục, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Kỹ năng giảng giải, kỹ năngnêu vấn đề
Tác giả: Sử Khiết Doanh, Lưu Tiểu Hòa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
16. Phan Huy Dũng (1995), “Mâu thuẫn nghệ thuật đặc thù của tác phẩm văn học và cách đặt câu hỏi then chốt cho một giờ giảng văn”, Kỉ yếu Hội thảo khoa học về đổi mới phương pháp dạy học văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mâu thuẫn nghệ thuật đặc thù của tác phẩmvăn học và cách đặt câu hỏi then chốt cho một giờ giảng văn”, "Kỉ yếuHội thảo khoa học về đổi mới phương pháp dạy học văn
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 1995
17. Phan Huy Dũng (2007), “Về vai trò người tham dự - chia sẻ của người giáo viên trong giờ dạy đọc văn”, Kỉ yếu hội thảo khoa học dạy học Ngữ văn ở trường PT theo chương trình và SGK mới, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vai trò người tham dự - chia sẻ của ngườigiáo viên trong giờ dạy đọc văn”, "Kỉ yếu hội thảo khoa học dạy họcNgữ văn ở trường PT theo chương trình và SGK mới
Tác giả: Phan Huy Dũng
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2007
18. Phan Huy Dũng (2009), Tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông, một góc nhìn, một cách đọc, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông,một góc nhìn, một cách đọc
Tác giả: Phan Huy Dũng
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
19. Khánh Dương (2002), “Quy trình sử dụng câu hỏi trong dạy học”, Tạp chí Giáo dục, (23) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình sử dụng câu hỏi trong dạy học”, "Tạpchí Giáo dục
Tác giả: Khánh Dương
Năm: 2002
20. Trần Thanh Đạm (1971), Vấn đề giảng dạy tác phẩm VH theo loại thể, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giảng dạy tác phẩm VH theo loại thể
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1971
21. Nguyễn Xuân Đường (chủ biên, 2002), Thiết kế bài giảng Ngữ văn 6, Tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ văn 6
Nhà XB: Nxb Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w