Tìm hiểu về hệ sinh thái nông nghiệp và ảnh hưởng của hệ sinh thái nông nghiệp đến môi trường. Các biện pháp bảo vệ môi trường
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục tiêu đề tài: 4
3 Nhiệm vụ 4
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 4
5 Giới hạn, phạm vi đề tài 5
6 Cấu trúc đề tài: 5
PHẦN NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: HỆ SINH THÁI NÔNG NGHIỆP (HSTNN) 6
1.1 Các khái niệm 6
1.2 Đặc điểm của HSTNN 7
1.3 Tổ chức của HSTNN 9
1.4 Hoạt động của hệ sinh thái nông nghiệp 10
1.4.1 Sự trao đổi chất và năng lượng trong HSTNN 10
1.4.2 Các mối quan hệ sinh học trong HSTNN 12
1.5 Sự phát triển của hệ sinh thái nông nghiệp (diễn thế) 13
1.6 Nền nông nghiệp sinh thái học 14
1.7 Một số hệ sinh thái nông nghiệp ở Việt Nam 14
CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA HSTNN ĐẾN MÔI TRƯỜNG CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 27
2.1 Ảnh hưởng của HSTNN đến môi trường 27
2.1.1 Vai trò của HSTNN đối với môi trường và con người 27
2.1.2 Ô nhiễm môi trường từ hoạt động sản xuất trong HSTNN 29
a Thực trạng 29
b Nguyên nhân 30
c Hậu quả 32
2.2 Biện pháp hạn chế ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp 41
2.2.1 Biện pháp môi trường 41
2.2.2 Biện pháp di truyền 42
2.2.3 Biện pháp hóa học 42
2.2.4 Biện pháp canh tác 43
2.2.5 Phương pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) 43
Trang 22.2.6 Biện pháp tuyên truyền, giáo dục 43
2.2.7 Biện pháp chính sách 44
2.3 Một số mô hình nông nghiệp sinh thái 44
2.3.1 Mô hình VAC: 44
2.3.2 Mô hình VACB 45
2.3.3 Mô hình nông lâm kết hợp: 46
KẾT LUẬN 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xã hội ngày càng phát triển, cùng theo đó là hàng loạt các vấn đề cần giảiquyết Hiện nay vấn đề làm sao để bảo vệ môi trường sinh thái là vấn đề khôngchỉ diễn ra trên nước ta mà còn diễn ra trên toàn thế giới
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì vấn đề môi trườngngày càng nghiêm trọng Và hiện tượng ô nhiễm môi trường không phải chỉ diễn
ra ở các nước phát triển mà ở cả các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
Ô nhiễm môi trường xuất phát từ nhiều nguyên nhân, một trong số những nguyênnhân đó là từ ngành nông nghiệp
Do sự phát triển kinh tế, khoa học công nghệ đã khiến cho sản lượng, năngsuất sản xuất nông nghiệp tăng lên rất nhanh Việc gia tăng sản phẩm đó đã vàđang tác động rất nhiều đến môi trường Ở nước ta, sự tác động đó diễn ra trênphạm vi lớn vì đất đai hẹp, người dân lao động và sản xuất chủ yếu trong lĩnh vựcnông nghiệp Như vậy bên cạnh những thành tựu đạt được, cũng nảy sinh nhữngbất cập tác động đến môi trường, đe dọa sự phát triển bền vững Sản xuất nôngnghiệp đang phải chịu áp lực do ô nhiễm môi trường đất, nước và chất lượngnông sản bị suy giảm do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá mức Mặc dù đượcgiới khoa học cảnh báo, song nông dân vẫn lạm dụng các loại hóa chất trong quátrình sản xuất và chưa có kế hoạch hành động bảo vệ môi trường Vì vậy, đòi hỏichúng ta phải tập trung, kiên trì, giải quyết một cách hài hòa mối quan hệ giữatăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường
Vấn đề ô nhiễm môi trường trong các hệ sinh thái nông nghiệp đang là vấn đềnan giải đặt ra cho xã hội, mục đích phát triển một nền nông nghiệp sinh thái, bềnvững, không đe dọa nhiều đến môi trường, đặc biệt là môi trường nông thôn đang
là định hướng của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Từ những lý do trên,
em xin lựa chọn đề tài " hệ sinh thái nông nghiệp và ảnh hưởng của hệ sinh
thái nông nghiệp đến môi trường Các biện pháp bảo vệ môi trường" là đề tài
nghiên cứu Nhằm tìm hiểu sơ lược về những đặc điểm của hệ sinh thái nôngnghiệp, và tìm hiểu những ảnh hưởng đến môi trường, từ đó đề xuất giải pháp
Trang 4bảo vệ môi trường Trong bài viết hẳn có một số ít thiếu sót, em mong nhận được
sự góp ý của Thầy giáo để bài viết hoàn thiện hơn
2 Mục tiêu đề tài:
- Tìm hiểu về hệ sinh thái nông nghiệp
- Phân tích những ảnh hưởng của hệ sinh thái nông nghiệp đến môi trường
- Trình bày một số biện pháp bảo vệ môi trường
Đề xuất được các biện pháp bảo vệ môi trường
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, em đã sử dụng hệ thống các quan điểm vàphương pháp cơ bản sau:
4.1 Quan điểm nghiên cứu:
- Quan điểm hệ thống.
- Quan điểm tổng hợp
- Quan điểm lịch sử
- Quan điểm phát triển bền vững
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích hệ thống
Trang 5- Phương pháp nghiên cứu các công trình lý luận
Trang 6PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: HỆ SINH THÁI NÔNG NGHIỆP (HSTNN)
1.1 Các khái niệm
- Quần thể sinh vật là tập hợp những cá thể cùng loài, cùng sinh sống trong
một khoảng không gian xác định, vào một thời điểm nhất định, có khả năng sinhsản và tạo thành những thế hệ mới
- Quần xã là một tập hợp các quần thể sinh vật cùng sống trong một vùng địa
lý hay sinh cảnh nhất định, là phần sống hay hữu sinh của hệ sinh thái Các sinhvật trong quần xã có mối quan hệhữu cơ với nhau (quan hệ thợ săn - conmồi, cạnh tranh cùng loài hay khác loài, quan hệ cộng sinh, quan hệ vật ký sinh -vật chủ) về nguồn thức ăn, điều kiện sống.v.v Mối quan hệ phức tạp này đượcthể hiện qua các lưới thức ăn, chuỗi thức ăn Một quần xã sinh vật thường có lịch
sử hình thành lâu dài và hoạt động như một hệ thống mở tương tác với các yếu tố
vô sinh của môi trường
- Hệ sinh thái (HST) bao gồm tất cả các sinh vật ở khu vực nhất định tác
động qua lại với môi trường vật lý (vô sinh) bằng các dòng năng lượng tạo nêncấu trúc dinh dưỡng, với sự đa dạng về loài và chu trình tuần hoàn vật chất trong
mạng lưới Ví dụ: HST rừng ngập mặn, hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm mưa mùa,
hệ sinh thái rừng úng phèn, hệ sinh thái đầm lầy, hệ sinh thái san hô đáy biển…
- Ngoài các HST tự nhiên – mà đặc điểm tính chất của nó không có hay ít có
sự can thiệp của con người, còn có hệ sinh thái nhân tạo, tức các hệ sinh thái docon người đã tác động làm nó biến đổi đi hoặc do con người tạo ra, như các
HSTNN – ruộng lúa, vườn cây ăn trái, rừng cây công nghiệp, ruộng rau màu,
cánh đồng cỏ chăn nuôi…
HSTNN là một tổng thể bao gồm môi trường và những quần thể sinh vật (cây
trồng, vật nuôi, cây rừng), các sinh vật gây hại (sâu, bệnh, chuột, cỏ dại, sinh vậtgây bệnh cho vật nuôi, vv.), các sinh vật có ích, đất, nước, khí hậu, con người,
Trang 7môi trường này được hình thành và biến đổi đều do hoạt động của con người.Mỗi hệ sinh thái phải có một tính đồng nhất nhất định về các điều kiện vật lí, khítượng, hoá học, thực vật học và động vật học Các thành phần trong HSTNN cóchức năng riêng và góp phần chu chuyển vật chất, năng lượng, các thành phần đó
có quan hệ chặt chẽ và thống nhất, có phản ứng hệ thống với mọi loại hình tácđộng
Hay cũng có một khái niệm khác như sau:
HSTNN là hệ sinh thái do con người tạo ra và duy trì trên cơ sở các quy
luật khách quan của HST, là các đơn vị sản xuất nông nghiệp, là các HST nhântạo do lao động của con người tạo ra
Ví dụ : Nông trường, hợp tác xã, nông trại hoặc làng, xóm
- HSTNN là đối tượng hoạt động nông nghiệp nhằm sản xuất lương thực,thực phẩm
- HSTNN nằm trong HST tự nhiên
- Do vậy cần có kiến thức liên quan nông học, sinh thái học để hiểu biếtHSTNN Vì nắm được các yếu tố sinh thái ta có thể dễ dàng quy hoạch các vùngsinh thái nông nghiệp
- Phát triển nông nghiệp bền vững được hiểu là tối đa hoá lợi ích kinh tế
trên cơ sở ràng buộc bởi duy trì chất lượng của nguồn lực tự nhiên theo thời gian
và tuân thủ các quy luật sau:
+ Đối với tài nguyên tái sinh thì sử dụng ở mức thấp hơn hoặc bằng
+ Đối với tài nguyên không tái sinh thì tối ưu hoá hiệu quả sử dụng chúngbằng giải pháp hợp lý từ các yếu tố đầu vào ( phân bón, kỹ thật canh tác…)
Phát triển nông nghiệp bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu tăngtrưởng chung của nền kinh tế nhưng không làm suy thoái môi trường tự nhiên –con người và đảm bảo trên mức nghèo đói của người dân nông thôn
1.2 Đặc điểm của HSTNN
Trang 8HSTNN là hệ quả của sự cải tạo, biến đổi các HST tự nhiên của con người
Vì vậy giữa HSTNN và các HST tự nhiên khó phân biệt ranh giới một cách rõràng Ðể phân biệt thường dựa chủ yếu vào mức độ can thiệp của người
Hơn nữa, hiện nay con người cũng đã và đang can thiệp vào HST tự nhiênnhư rừng, đồng cỏ, ao hồ để nhằm tăng năng suất của chúng
Tuy vậy giữa các HST tự nhiên và các HSTNN vẫn có những khác biệt cơbản
- Các HST tự nhiên có mục đích chủ yếu kéo dài sự sống của các loài Tráilại các HSTNN chủ yếu cung cấp cho con người các sản phẩm của cây trồng vậtnuôi, sự sống của sinh vật trong HSTNN bị quy định bởi con người Vì vậy vậtchất và năng lượng có sự khác nhau :
+ HST tự nhiên có sự trả lại hầu như hoàn toàn khối lượng chất hữu cơ vàchất khoáng trong sinh khối của các vật sống cho đất, chu trình vật chất khép kín
+ Ở các HSTNN, vật chất bị lấy đi khỏi HST để cung cấp cho con người,
vì vậy chu trình vật chất hở
- Các HST tự nhiên có sự tự phục hồi lớn, có quá trình phát triển lịch sử Trái lại HSTNN là các HST thứ cấp do con người phục hồi, khi con người biếtnuôi trồng mới có HSTNN
- HST tự nhiên thường đa dạng và phức tạp về thành phần loài thực vật vàđộng vật, còn các HSTNN thường có số lượng loài cây trồng, vật nuôi rất đơngiản HSTNN ứng với giai đoạn đầu của quá trình diễn thể của HST, là HST trẻcho năng suất cao nhưng lại không ổn định, dễ bị thiên tai hay sâu bệnh phá hoại
Như vậy HSTNN là hệ sinh thái tương đối đơn giản về thành phần và thườngđồng nhất về cấu trúc, cho nên khó bền vững Tuy nhiên, năng suất sinh vật (rễ,thân, lá, quả…) và năng suất kinh tế của ruộng vườn là mục đích hoạt động chủyếu của con người, lại phụ thuộc vào hệ thống các nhân tố vô sinh như thời tiết-
Trang 9khí hậu, bao gồm: bức xạ mặt trời, nhiệt độ, lượng mưa, ẩm độ không khí, gió,lượng khí O2, CO2… và các yếu tố vô cơ khác; các nhân tố hữu sinh như đất,nước, bao hàm các chất hữu cơ, động vật và hệ vi sinh vật trong đất; các yếu tốquần thể sinh vật bao gồm cây trồng, vật nuôi, các loài cỏ dại, côn trùng, nấmbệnh…; và hệ thống các biện pháp kỹ thuật canh tác từ giống, làm đất, gieotrồng, chăm sóc, bón phân, phòng chống và diệt trừ sâu bệnh hại, đến thu hoạch,bảo quản, chế biến và tiêu thụ nông sản phẩm trên từng hệ sinh thái nông nghiệpđó.
1.3 Tổ chức của HSTNN
HSTNN là đơn vị sản xuất nông nghiệp, là một bộ phận của sinh quyển, là
một hệ thống nên HSTNN có các mức tổ chức Trong sinh quyển phân ra cácloại hệ sinh thái chủ yếu sau:
- HST tự nhiên như : rừng, đồng cỏ, sông hồ, biển
- HST đô thị bao gồm các thành phố lớn và các khu công nghiệp
- HSTNN
Giữa 3 loại HST trên có một sự trao đổi năng lượng và vật chất nhất định
Theo Bouwman (1988) diện tích Trái đất khoảng 510 x 106 Km2 trong đóphần diện tích lục địa chiếm khoảng 149 x 106 Km2 và phần đại dương chiếmkhoảng 361 x 106 Km2 : phần diện tích lục địa có thể chia thành 15 loại HST
Cũng theo Bouwman thì tổng diện tích đất có tiềm năng sản xuất nôngnghiệp của thế giới khoảng 3.200 triệu ha, 46% trong số này (1.475 triệu ha)đang canh tác Diện tích đất canh tác trong suốt thời kỳ 1970 - 1990 chỉ tăng4,8%; thế nhưng diện tích đất canh tác trên đầu người giảm từ chỉ số trung bìnhthế giới là 0,38 ha/năm (1970) xuống còn 0,28 ha/năm (1990) mà chủ yếu là dotăng trưởng dân số và mất đất nông nghiệp (Khoa, 1999)
Trang 10HSTNN cũng có tổ chức bên trong của nó, có thể chia ra các HST phụ sau:
- Ðồng ruộng cây hàng năm (lúa, cây công nghiệp ngắn ngày : mía,đay, bố )
- Vườn cây lâu năm
- Ðồng cỏ chăn nuôi
- Ao nuôi thủy sản
- Khu vực dân cư
Trong các HST phụ, HST đồng ruộng cây hàng năm chiếm diện tíchrất lớn HST cây lâu năm về thực chất không khác mấy so với HST rừng HSTđồng cỏ về tính chất gần giống các HST tự nhiên HST ao hồ là nội dung nghiêncứu chủ yếu của nghề nuôi cá, dính đến HST nước ngọt
1.4 Hoạt động của hệ sinh thái nông nghiệp
1.4.1 Sự trao đổi chất và năng lượng trong HSTNN
Giống như tất cả các HST khác, HSTNN là một hệ thống chức năng, hoạtđộng theo những quy luật nhất định, có sự trao đổi vật chất và năng lượng từngoài
- Ruộng cây trồng trao đổi năng lượng với khí quyển bằng cách nhận nănglượng bức xạ của mặt trời, thông qua quá trình quang hợp của lá xanh, tổng hợpnên chất hữu cơ Ðồng thời cây trồng có sự trao đổi CO2 với khí quyển, nước vớikhí quyển và đất, đạm và các chất khoáng với đất Trong các sản phẩm của câytrồng (lúa, màu, thức ăn gia súc) có tích lũy năng lượng, protêin và các chấtkhoáng Tất cả những sản phẩm đó là năng suất sơ cấp của HST
Trang 11- Năng lượng và vật chất trong lương thực thực phẩm được cung cấp chokhối dân cư để làm thức ăn cho người Ðồng thời, con người qua lao động cũngtrả về cây trồng phân bón, cung cấp năng lượng cho ruộng cây trồng
Một phần sản phẩm cây trồng dư được cung cấp cho các trại chăn nuôi vàvật nuôi trong gia đình Vật nuôi chế biến năng lượng và vật chất của cây trồngthành các sản phẩm chăn nuôi, đó chính là năng suất thứ cấp của HST Các chấtbài tiết của vật nuôi được trả về cho đồng ruộng qua dạng phân bón Các vậtnuôi lớn như trâu, bò cũng cung cấp một phần năng lượng cho đồng ruộng quacày kéo
- Giữa người và gia súc cũng có sự trao đổi năng lượng và vật chất thôngqua sự cung cấp sản phẩm chăn nuôi làm thức ăn cho người và việc sử dụng laođộng vào chăn nuôi
Thực chất, sự trao đổi chất và năng lượng nói trên nằm trong hai quá trìnhchính:
- Quá trình tạo năng suất sơ cấp (sản phẩm trồng trọt) của ruộng cây trồng
- Quá trình tạo năng suất thứ cấp (sản phẩm chăn nuôi) của khối chăn nuôi.Giữa HSTNN và các HST khác có sự trao đổi HSTNN cung cấp lương thực thựcphẩm cho HST đô thị, ngược lại HST đô thị cung cấp vật tư cho HSTNN (điện,máy móc, thuốc trừ sâu ) Thực chất đây là sự trao đổi giữa nông thôn với thànhthị, giữa nông nghiệp với công nghiệp
HSTNN trao đổi chất và năng lượng với HST tự nhiên như : lúa gạo bị côntrùng, chuột bọ phá hại hay sự xâm nhập của vật lạ, khai thác nông nghiệp, sănbắt thú hoang hoặc vật nuôi thoát ra ngoài thành thú hoang
Như vậy năng suất của HSTNN phụ thuộc vài 2 nguồn năng lượng chính :
- Năng lượng do bức xạ của mặt trời cung cấp
Trang 12- Năng lượng do công nghiệp cung cấp
Mô hình hệ sinh thái nông nghiệp của Đào Thế Tuấn (1984)
1.4.2 Các mối quan hệ sinh học trong HSTNN
Trong HSTNN, quần thể sinh vật có nhiều đặc điểm khác trong các HST tựnhiên HSTNN do con người tổ chức theo ý muốn của mình, do đấy một số thuộctính của quần thể sinh vật được con người điều chỉnh Quần thể cây trồng làquần thể chủ đạo của HST đồng ruộng, có những đặc điểm chủ yếu sau :
- Mật độ của quần thể do con người quy định trước, từ lúc gieo trồng
- Sự sinh sản, tử vong và phát tán không xảy ra một cách tự phát mà chịu
sự điều khiển của con người
- Ðộ tuổi của quần thể cũng đồng đều vì có sự tác động của con người Ngoài ra trong các quần thể của HSTNN cũng có một số loài quần thể gầngiống với các quần thể tự nhiên như cỏ dại, côn trùng trong các ruộng câytrồng Những quần thể này cũng chịu tác động thay đổi của con người nhưng íthơn quần thể cây trồng
Quần thể một loài là dạng phổ biến nhất trong ruộng cây trồng
Sự cạnh tranh:
Trang 13- Có 2 loại cạnh tranh : cạnh tranh cùng loài và cạnh tranh khác loài Cạnhtranh trong loài là một nhân tố quan trọng trong các quần thể , khiến các quần thểnày tự điều chỉnh để tránh sự quá đông Trong HSTNN, vấn đề cạnh tranh trongloài được đặt ra ở các ruộng trồng một loại cây (cạnh tranh ánh sáng) Trongtrồng trọt, để tránh sự cạnh tranh, cây lương thực thường có dạng thẳng (nhậnánh sáng nhiều, có thể đứng sát nhau) Hay sự cạnh tranh giữa lúa - cỏ dại (loại
bỏ cỏ bằng cơ giới, hóa chất, tay)
- Trong chăn nuôi phải giảm cạnh tranh với những vật lạ
+ Sự ký sinh và ăn thịt : là biểu hiện của quan hệ tiêu cực giữa các vậtsống Lợi dụng tính chất này ta có thể biết cách điều chỉnh sự đấu tranh sinh họcgiữa vật chủ và vật ký sinh giúp cả 2 tồn tại Như vậy khi đưa vật lạ vào,HSTNN xảy ra 2 khả năng : hoặc phát triển mạnh hoặc bị phá hoại Ở những loàimới, chưa có lịch sử đấu tranh gây hại
+ Sự cộng sinh và các mối quan hệ giữa các loài : những yếu tố này đượccon người phát triển mạnh
Giữa các loài còn có mối quan hệ tích cực, như sống hợp tác và giúp íchlẫn nhau Phổ biến nhất là sự cộng sinh giữa sinh vật tự dưỡng và sinh vật dịdưỡng như cộng sinh giữa cây bộ Ðậu với vi chuẩn cố định đạm
Trong HSTNN, hiện tượng cộng sinh biểu hiện rõ nhất ở sự cố định đạm
và ở rễ nấm (giống hút chất khoáng của đất, nhất là ở đất cằn cỗi)
1.5 Sự phát triển của hệ sinh thái nông nghiệp (diễn thế)
HSTNN ứng với giai đoạn trẻ của diễn thế sinh thái
- Về mặt năng lượng, các hệ sinh thái trẻ thường có năng suất cao, sinhkhối nhỏ Trái lại, các HST già có sinh khối cao
Chuỗi thức ăn ở các HST trẻ thẳng và có kiểu của đồng cỏ : thực vật, độngvật ăn cỏ, động vật ăn thịt
- Về mặt cấu trúc : HST trẻ ít đa dạng về loài, ít có các tầng trong khônggian Vật sống ở các HST trẻ thường không khép kín, tốc độ trao đổi chất giữasinh vật với môi trường cao Tốc độ sinh trưởng và sinh sản của các loài cỏ ở cácHST trẻ thường nhanh, năng suất chủ yếu do năng số lượng quyết định
Con người khai thác nông nghiệp để giữ năng suất, vì vậy giữ HSTNN ởgiai đoạn trẻ Các HSTNN do đấy không ổn định, dễ bị thiên tai và sâu bệnh pháhoại Muốn tăng năng suất và tăng tính ổn định, con người phải đầu tư ngày càngnhiều năng lượng hóa thạch vào các HSTNN Trong hoạt động của mình, con
Trang 14người có những cố gắng làm già một số quá trình của HST nhằm nâng cao tính
ổn định của chúng :
- Ðộc canh thay bằng luân canh làm cho HSTNN thêm phong phú, mặc dù
sự phong phú đó là trong thời gian, không trong không gian Hoặc trồng xen,trồng gối vụ cũng có tác dụng tương tự
- Dùng phân hữu cơ, kết hợp trồng trọt chăn nuôi, tăng sự quay vòng chấthữu cơ có tác dụng làm tăng thêm kiểu chuỗi thức ăn dựa vào phế liệu
- Sử dụng mối quan hệ sinh học trong QT để nâng cao năng suất và tăngtính ổn định của các HST HST tự nhiên có khuynh hướng kéo HSTNN về HST
tự nhiên : lơ là trong canh tác thì sâu bệnh phát triển, sự đa dạng tăng Tuy nhiên,trong HSTNN thường rất ít loài, khi bị sâu bệnh trở tay không kịp nạn đói
Phải có kiến thức sinh thái học trong khai thác nông nghiệp Vì giữa cácloài có mối quan hệ chằng chịt, con người phải tập sống với các loài vì con ngườicũng là một loài như những sinh vật khác
1.6 Nền nông nghiệp sinh thái học
Nền nông nghiệp STH phải tuân thủ các nguyên tắc sau :
- Không phá hoại môi trường
- Ðảm bảo năng suất ổn định
- Ðảm bảo khả năng thực thi, không phụ thuộc vào bên ngoài
- Ít lệ thuộc vào hàng ngoại nhập
Bên cạnh việc áp dụng có chọn lọc, cân nhắc những tiến bộ của nền nôngnghiệp tiên tiến, cần thiết phải mô phỏng theo kiểu của HST rừng tự nhiên; thựchiện đa dạng sinh học (trồng nhiều loại cây khác nhau, luân canh, xen canh, laitạo giống mới, trồng theo phương thức nông - lâm kết hợp, bảo tồn và giữ gìn cácgiống vật khác loài); nuôi dưỡng đất cho đất sống (thường xuyên bón phân hữu
cơ, che phủ mặt đất để chống xói món, rữa trôi, tìm biện pháp khử các yếu tố gây
hư hại); đảm bảo tái sinh vật chất tạo ra mối quan hệ đúng đắn giữa các thànhphần và tác nhân của HSTNN; cấu tạo cây trồng theo cấu trúc nhiều tầng
1.7 Một số hệ sinh thái nông nghiệp ở Việt Nam
Trang 151.7.1 Miền núi phía Bắc
a Điều kiện tự nhiên
Tây Bắc Bộ: Tổng diện tích tự nhiên chiếm khoảng 3,5 triệu ha Hơn một nửa
diện tích là đồi và núi cao Đất nông nghiệp (268.000 ha) chiếm chưa tới 10%tổng diện tích tự nhiên, hầu hết là đất dốc và nhạy cảm về môi trường Giữa cácvùng đồi và núi là các thung lũng nhỏ hẹp có đất phù sa thích hợp cho phát triểnnông nghiệp Khí hậu của vùng là khí hậu gió mùa, có mùa hè nóng ẩm (từ tháng
4 – tháng 8) và mùa đông ẩm và lạnh (tháng 11 – tháng 2) Nhiệt độ không khítrung bình là 25oC Nhiệt độ trung bình cao nhất khoảng 35oC và nhiệt độ trung
lượng mưa tập trung vào giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 10
Đông Bắc Bộ: Tổng diện tích tự nhiên là 6,5 triệu ha với 80% diện tích là đồi
và núi cao (một số cao hơn 2000 m) Giữa các vùng đồi và núi là các thung lũngnhỏ hẹp, có đất phù sa thích hợp cho phát triển nông nghiệp Đất nông nghiệp(1,4 triệu ha) chiếm 18% diện tích tự nhiên và hầu hết là đất đồi dốc và nhạy cảm
về môi trường
b Các hệ thống canh tác hiện nay
Hầu hết các hệ thống nông nghiệp ở vùng miền núi phía Bắc chủ yếu là để tựcung tự cấp trong đó lúa được coi là cây trồng được ưu tiên hàng đầu Tuy nhiên,các ruộng lúa màu mỡ tập trung ở các thung lũng giữa các vùng đồi và núi mà chỉmột bộ phận nhỏ nông dân có thể tiếp cận được Vùng này hiện đang đối mặt vớinguy cơ môi trường bị suy thoái nghiêm trọng do rừng bị tàn phá nặng nề, đe dọatính bền vững của phát triển nông nghiệp
Hệ thống cây trồng: Lúa, sắn, chè và lạc hiện là các cây trồng quan trọng
trong các hệ thống canh tác của các vùng này Các hệ thống canh tác thay đổitheo địa hình: lúa nước, lạc và đậu tương ở đất bằng; lúa nương, sắn, chè, cây ănquả ở đất đồi dốc Lúa là cây trồng quan trọng nhất và là nguồn dinh dưỡng chủyếu cho người dân ở đây Mục tiêu của các hộ và chính quyền địa phương là tựcung cấp đủ gạo, do đó cây lúa luôn được ưu tiên về thủy lợi và lao động Ở các
Trang 16ruộng lúa được tưới tiêu, nông dân chuyên canh hai vụ lúa hoặc chỉ canh tác một
vụ sau đó bỏ trống (khoảng 6 tháng) để chăn thả gia súc nhằm tăng thêm độ màu
mỡ cho đất bằng phân gia súc Những nông dân không có ruộng lúa nước thìcanh tác lúa nương trên đất đồi dốc nhưng sản lượng đạt được thấp và không ổnđịnh bởi vì chỉ sau một vài năm canh tác, độ dinh dưỡng của đất sẽ trở nên kém
đi Đây thường là những nông dân nghèo và phải chuyển đổi trồng các loại câykhác nhau như sắn, ngô, đậu, chè, cây ăn quả, v.v…trên đất dốc hoặc thu hái cácsản phẩm từ rừng để cung cấp đủ lương thực cho gia đình họ Trong hai thập kỷqua, rất nhiều cánh rừng tự nhiên bị tàn phá để lấy đất canh tác, đặc biệt để trồngcây ăn quả nhưng doanh thu đạt được thấp bởi vì các hoạt động canh tác khôngmang tính bền vững về môi trường Từ thập niên 90, Nhà nước đã nhận ra vấn đềnày và đã nỗ lực trồng rừng và bảo vệ rừng, tuy nhiên, phần lớn rừng nguyên sinh
tự nhiên đã bị biến mất hoặc bị suy thoái
Chăn nuôi: Hiện nay, phát triển chăn nuôi ở Đông Bắc Bộ và Tây Bắc Bộ có
quy mô nhỏ mặc dù trong những năm gần đây đã có sự tăng trưởng nhất định(tăng trưởng đàn bò hàng năm 3,6%, trâu 3,2%, lợn 3,8% và gia cầm 2,2%) Năm
2002, vùng Đông Bắc Bộ có 3,5 triệu con lợn (chiếm 17,4% tổng số lợn cả nước),1,2 triệu con trâu (43,2%) và 31,9 triệu gia cầm (16,3%) Trong khi trâu đượcnuôi chủ yếu để lấy sức kéo thì nuôi lợn, gà và dê để bán đã đem lại một nguồnthu nhập đáng kể cho nông dân để tái đầu tư vào sản xuất hoặc xây nhà Vật nuôithường được nuôi bằng sắn, ngũ cốc hoặc phụ phẩm và phân gia súc được sửdụng để bón cho ruộng lúa hoặc ao cá Những khó khăn chính đối với việc pháttriển chăn nuôi ở vùng miền núi phía Bắc đó là làm sao có được nguồn thức ănchăn nuôi quanh năm và vấn đề phòng bệnh cho vật nuôi vào mùa đông khi nhiệt
độ xuống thấp hơn 10oC
Nuôi trồng thuỷ sản: Cá được nuôi trong các hồ của hợp tác xã hoặc trong ao
nuôi của hộ gia đình Cũng giống như chăn nuôi, nuôi cá cung cấp một nguồn thunhập đáng kể cho những hộ nông nghiệp có đủ đất để đào ao nuôi cá Mặc dùvùng núi phía Bắc có tiềm năng về nguồn nước tự nhiên để phát triển nuôi cánhưng hoạt động này vẫn kém phát triển do nông dân thiếu kiến thức nuôi thả và
Trang 17không có khả năng đầu tư Hiện nay, diện tích nuôi thả ở vùng miền núi phía Bắcchiếm khoảng 67.000 ha, tương đương 7% diện tích nuôi trồng thủy sản cả nước.Gần đây, ở tỉnh Quảng Ninh đã phát triển nghề nuôi trồng thuỷ sản ven biển(tôm, cua, động vật thân mềm) và nuôi cá lồng, tuy nhiên sự phát triển này vẫnchưa được qui hoạch tốt, đặc biệt ở khu vực gần vịnh Hạ Long (di sản văn hóathế giới) và đã gây ra những mâu thuẫn về sử dụng nguồn lợi.
c Khả năng đa dạng hóa
Miền núi phía Bắc giàu tài nguyên rừng và tính đa dạng sinh học cao, cónhiều tiềm năng cho phát triển du lịch sinh thái Vùng này có hơn 50 khu bảo tồn(gồm các vườn quốc gia, khu bảo tồn tự nhiên và khu di sản văn hóa, lịch sử), cógiá trị môi trường toàn cầu quan trọng và là nơi sinh sống của hơn 40 dân tộcthiểu số bản địa với các giá trị văn hóa đặc trưng Ngoài ra, vùng miền núi phíaBắc có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ vùng đồng bằng miền xuôi, đặc biệt
là vùng đồng bằng sông Hồng Với qui hoạch hợp lý và các chiến lược dài hạnthích hợp, vùng miền núi phía Bắc không chỉ có thể tự cung cấp đủ lương thực
mà còn có thể cung cấp các dịch vụ môi trường cho các vùng đồng bằng Nhữngkhó khăn chính đối với việc phát triển nông nghiệp ở vùng miền núi phía Bắcgồm: ít đất nông nghiệp, cách xa các địa phương khác, đặc biệt là xa các thịtrường nội địa lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Trong những thập kỷqua, nhiều rừng tự nhiên đã bị tàn phá để phát triển nông nghiệp trên đất dốc, gâysuy thoái môi trường nghiêm trọng đặc biệt là mất tính đa dạng sinh học và xóimòn đất Ngoài ra, các điều kiện kinh tế-xã hội bao gồm cơ sở hạ tầng và cácdịch vụ hỗ trợ ở vùng miền núi phía Bắc vẫn kém phát triển, không đủ để hỗ trợ
và phát triển nông nghiệp thương mại
1.7.2 Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ
a Điều kiện tự nhiên
Tây Nguyên: Tổng diện tích đất tự nhiên của vùng này là 5,4 triệu ha trong
đó đất nông nghiệp chiếm khoảng 1,3 triệu ha (24%) Vùng Tây nguyên có khíhậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Tổng lượng
Trang 18mưa là 2000 - 2500 mm/năm với hơn 80% lượng mưa tập trung vào giai đoạn từtháng 5 đến tháng 11 Vào mùa khô thường có hạn hán kéo dài.
Đông Nam Bộ: Tổng diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ là 3,4 triệu
ha trong đó đất nông nghiệp chiếm 1,4 triệu ha (40%) Diện tích mặt nước tiềmnăng cho nuôi trồng thuỷ sản là 97.433 ha Vùng này có khí hậu nhiệt đới giómùa với hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa
b Các hệ thống canh tác hiện nay
Mặc dù với điều kiện địa hình cao nguyên, vùng Tây nguyên và Đông Nam
Bộ có nhiều đất nông nghiệp màu mỡ hơn so với vùng miền núi phía Bắc Ở TâyNguyên, đất nông nghiệp chiếm 24% tổng diện tích tự nhiên và vùng Đông Nam
Bộ 40% Đất nông nghiệp ở các vùng này là phù hợp nhất cho phát triển cây côngnghiệp thương mại Trong thập kỷ qua, sự phát triển các cây trồng như cà phê, hồtiêu và điều đã khiến rừng bị tàn phá nghiêm trọng ở các vùng này Tỉ lệ đóinghèo ở các vùng này đã giảm đi đáng kể nhờ phát triển các cây trồng thươngmại nhưng vẫn cao ở các khu vực dân tộc thiểu số
Hệ thống cây trồng: Tây Nguyên là vùng thích hợp nhất đối với các cây lâm
nghiệp và cây lâu năm Tăng trưởng nông nghiệp của vùng trong giai đoạn
1996-2002 đạt 18,3%/năm Tăng trưởng cây trồng đạt 21,4%, chủ yếu là tăng trưởngcây cà phê, cao su, các cây lâu năm khác (79%) và rau quả, cây họ đậu (16,6%)trong khi đó cây ăn quả, ngũ cốc và cây ngắn ngày giảm trong cùng kỳ Gần đây
đã có sự gia tăng đáng kể về số trang trại lớn Hiện nay, có khoảng 666.141 hacây lâu năm trong đó có 494.142 ha cà phê, , 97.200 ha cao su, 22.300 ha chè,23.500 ha điều, còn lại là diện tích cây ăn quả Từ 1990 đến 2000, Tây Nguyên
đã mất 330.000 ha rừng với tỉ lệ 3000-5000 ha/năm do phát triển cây trồng.Tương tự như Tây Nguyên, vùng Đông Nam Bộ chuyên canh các loại cây nhưcao su (khoảng 344.000 ha năm 2002, chiếm 80% tổng diện thích cả nước), điều(155.000 ha, chiếm 77% diện tích cả nước) và cà phê 61.000 ha (chiếm 11% diệntích cả nước) Các hệ thống canh tác khác gồm hai vụ lúa/năm, một vụ lúa/nămvới hai vụ ngô/đậu hoặc độc canh đậu/ngô
Trang 19Chăn nuôi: Trong năm năm qua, sản xuất chăn nuôi ở Tây Nguyên tăng đáng
kể trừ trâu và bò Trong giai đoạn 1999-2003, số gia súc giảm với mức 2,4%/nămtrong khi đó, số vịt tăng 26,2%/năm, gà 3,6%/năm, lợn 3,4%/năm và dê16,4%/năm Chăn nuôi dê phổ biến ở các dân tộc thiểu số vùng cao, mặc dù quy
mô nhỏ nhưng đem lại lợi nhuận và đang trở nên được ưa chuộng Nuôi lợn phổbiến trên toàn vùng Chăn nuôi gia cầm tăng nhanh nhất và là nguồn tạo thu nhập
lý tưởng cho phụ nữ thôn bản Nhưng gần đây, chăn nuôi gia cầm đang bị ảnhhưởng nghiêm trọng bởi đại dịch cúm gia cầm từ đầu năm 2004 Ở Đông Nam
Bộ, chăn nuôi đã phát triển trong những năm gần đây với mức tăng trưởng đạt8,7%/năm trong giai đoạn 1990–2001 Mặc dù chỉ chiếm 10% tổng số lợn và giacầm cả nước nhưng vùng này lại có đặc điểm trại nuôi có quy mô lớn và chănnuôi thương mại
Nuôi trồng thủy sản: Ở Tây Nguyên, nuôi trồng thủy sản có tiềm năng hạn
chế và kém phát triển nhất Hiện nay, nuôi trồng thuỷ sản của vùng này chiếmdiện tích 112.000 ha, tương đương khoảng 1% tổng diện tích nuôi trồng thủy sản
cả nước Nguyên nhân chính là do thiếu ao nuôi và các diện tích mặt nước Ngoài
ra, phần lớn nông dân tiết kiệm nước ngọt và sức lao động dành cho trồng cà phê
và các cây trồng tạo thu nhập khác mà họ cho rằng sẽ tạo lợi nhuận hơn nuôitrồng thủy sản Ở Đông Nam Bộ, diện tích nuôi trồng thủy sản hiện nay chiếmkhoảng 24.100 ha (2,4% tổng diện tích cả nước) Cá nước ngọt được nuôi thả ởcác hồ ao Cá và tôm biển được nuôi ở các vùng duyên hải Năm 2002, khoảng24,7% diện tích mặt nước tiềm năng cho nuôi trồng thuỷ sản đã được sử dụng và
có thể tăng lên trong tương lai
c Khả năng đa dạng hóa
Vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ đều có các điều kiện thuận lợi đối vớicây lâm nghiệp và cây công nghiệp Phát triển chăn nuôi (lợn và gia cầm) ở TâyNguyên và Đông Nam Bộ cũng rất có triển vọng nhưng tiềm năng cho phát triểnnuôi trồng thuỷ sản thì hạn chế Từ thập kỷ qua, Nhà nước đã tăng cường đầu tưcho vùng Tây Nguyên, đặc biệt là nâng cấp cơ sở hạ tầng cơ bản để hỗ trợ phát
Trang 20triển thị trường và tăng cường các dịch vụ xã hội cho cộng đồng các dân tộc thiểu
số Với sự có mặt của các trung tâm nghiên cứu và đào tạo mạnh trong vùng cộngvới chi phí lao động thấp, vùng này có nhiều thế mạnh để phát triển doanh nghiệpđầu nguồn và hạ nguồn nằm gần vùng sản xuất nguyên liệu Do đó, nếu có quihoạch và chiến lược phù hợp, vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ sẽ có thể trởthành vùng xuất khẩu nông nghiệp quan trọng của quốc gia mà không làm ảnhhưởng đến các mục tiêu bảo tồn và bảo vệ môi trường dài hạn Khó khăn chínhđối với phát triển nông nghiệp ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ đó là điều kiệnkinh tế-xã hội kém phát triển ở các thôn bản dân tộc thiểu số và tính nhạy cảmcao về môi trường của các hệ sinh thái nông nghiệp Trong thập kỷ qua, nhiềurừng tự nhiên đã bị chặt phá để phát triển cây trồng, gây ra những vấn đề môitrường nghiêm trọng Hiện nay, các vùng này phụ thuộc nhiều vào một vài mặthàng xuất khẩu mà có thể gây rủi ro cao đối với người sản xuất khi giá cả trên thịtrường thay đổi Đa dạng hóa sang các loại cây trồng khác và các hệ thống sảnxuất ổn định hơn đòi hỏi đầu tư xây mới cơ sở hạ tầng và phát triển các hệ thốngthị trường mới
1.7.3 Vùng Duyên hải Bắc và Nam Trung Bộ
a Điều kiện tự nhiên
Duyên hải Bắc Trung Bộ: Có tổng diện tích đất tự nhiên gần 5,1 triệu ha
trong đó 80% là đất đồi núi, còn lại là các đồng bằng duyên hải Đất nông nghiệpchiếm 0,7 triệu ha, tương đương 14% tổng diện tích tự nhiên Vùng này có khíhậu nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ trung bình hàng năm là 240C và lượng mưa trungbình khoảng 2500 mm với hai mùa trong một năm Mùa mưa kéo dài từ tháng 6đến tháng 12 kèm theo bão lũ với 85% lượng mưa tập trung vào khoảng từ tháng
9 đến tháng 11 Mùa khô kéo dài từ tháng 1 đến tháng 5
Duyên hải Nam Trung Bộ: Có tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 3,3 triệu
ha trong đó, đất nông nghiệp chiếm 0,8 triệu ha, tương đương 25% tổng diện tích
tự nhiên Vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ trung bình hàng năm là
Trang 21Mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 11 (chiếm 70-80% tổng lượng mưa hàngnăm) Mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 8 (lượng mưa/tháng chưa tới50mm) Vùng duyên hải Nam Trung Bộ là vùng khô hạn nhất của quốc gia.
b Các hệ thống canh tác hiện nay
Vùng duyên hải Bắc và Nam Trung Bộ là các vùng có điều kiện tự nhiên đadạng với địa hình miền núi ở phía Tây và duyên hải ở phía Đông Hầu hết các bãibiển đẹp của Việt Nam nằm ở các vùng này Trong những năm gần đây, ngoài sựphát triển các cảng biển và du lịch, nuôi trồng thuỷ sản ven biển cũng phát triểnhết sức mạnh mẽ ở đây Về mặt địa lý, điều kiện tự nhiên của các vùng này thayđổi rõ rệt từ các đồng bằng duyên hải (20%) ở phía Đông đến vùng miền núi vàtrung du (80%) ở phía Tây Các đồng bằng duyên hải rất phù hợp cho phát triểncây trồng ngắn ngày nhưng chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi nguồn cung cấp nướcngọt Ở các vùng miền núi, đất nghèo dinh dưỡng do bị rửa trôi liên tục Hầu hếtcác vùng duyên hải có xu hướng phát triển nuôi trồng thuỷ sản ven biển và cácngành công nghiệp, trong khi đó ở các vùng miền núi, các dân tộc thiểu số chủyếu dựa vào nông nghiệp và lâm nghiệp đất dốc
Các hệ thống cây trồng: Lúa, ngô, lạc, đậu là những cây trồng chính của
vùng đồng bằng duyên hải ở phía Đông, phụ thuộc vào tính sẵn có của nguồnnước ngọt Mặc dù thuỷ lợi khá phát triển nhưng vẫn thường thiếu nước để trồnglúa hai vụ, do đó có xu hướng là trồng thay thế các loại cây cần ít nước hơn lúanhư đậu ngô Trong giai đoạn 1995- 2000, diện tích trồng ngô ở hai vùng nàytăng từ 83.000 ha đến 120.000 ha, mía từ 52.000 ha đến 103.000 ha, và lạc từ90.000 ha đến 100.000 ha Ở các vùng đồi núi, người dân thường trồng sắn vàcác cây công nghiệp như cao su, quế, hoặc cây lâm nghiệp như bạch đàn, thông.Các hệ thống canh tác điển hình của các vùng này bao gồm: cây trồng lâu năm,cây lấy gỗ, dừa, cây lấy sợi (đất cát duyên hải); hai vụ lúa (đất bằng được tướitiêu); lạc, lúa và rau (đất bằng được tưới tiêu nhờ mưa); và hai vụ cây ngắn ngày
có thu nhập cao (lạc, khoai lang, ngô, rau)
Trang 22Chăn nuôi: Cũng giống như vùng Tây Nguyên, chăn nuôi ở vùng duyên hải
miền Trung tăng trưởng đáng kể trong 5 năm qua, trừ trâu và bò Trong giai đoạn1999-2003, số gia súc giảm không đáng kể, số gà, vịt, lợn và dê tăng 8-10%/năm Ở vùng đất bằng, chăn nuôi mang tính thâm canh và thương mại hoáhơn, nuôi lợn và gia cầm thuận lợi hơn nuôi gia súc Ở vùng núi cao, chăn nuôiđại gia súc và gia cầm quy mô nhỏ có lợi thế phát triển và được nuôi theo cácphương pháp truyền thống hoặc bán thâm canh, tuy nhiên, ít có điều kiện sử dụngcác nguồn thức ăn công nghiệp và ít tiếp cận thị trường cũng như với các dịch vụ
hỗ trợ
Thuỷ sản: Nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt ít phát triển ở các vùng miền núi
nhưng nuôi trồng thuỷ sản ven biển, đặc biệt là tôm, đã phát triển nhanh chóngdọc theo vùng bờ biển miền Trung Trong giai đoạn 1995-2002, sản lượng nuôitrồng thuỷ sản ở các vùng này tăng gấp 2 lần, từ 23.000 tấn lên 54.000 tấn Hiệnnay, duyên hải Trung Bộ là vùng sản xuất tôm giống lớn nhất trên cả nước và lànơi tập trung của hầu hết các trại ương tôm giống do có nguồn nước biển tự nhiênchất lượng rất tốt
c Khả năng đa dạng hoá
Trong ngành nông nghiệp, vùng duyên hải miền Trung có nguồn nước rấtthích hợp để phát triển nuôi trồng thuỷ sản ven biển và các dịch vụ kèm theo nhưtrại ương nuôi cá, tôm giống, các công ty thức ăn chăn nuôi, và dịch vụ thươngmại Với nguồn lực xã hội dồi dào (như nguồn nhân lực) cộng với các trường đạihọc và trung tâm nghiên cứu trong vùng, Duyên hải miền Trung có lợi thế đểphát triển các dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp Vùng duyên hải miền Trung có tầmquan trọng chiến lược trong việc nối liền Hà Nội ở phía Bắc và Hồ Chí Minh ởphía Nam Vùng này cũng nổi tiếng với cảnh đẹp tự nhiên và các di tích văn hoálịch sử Do hạn chế về đất đai cho sản xuất nông nghiệp, nên các ngành côngnghiệp (như lọc dầu, cảng biển) và du lịch ở đây khá phát triển và đem lại nguồnthu nhập thay thế cho vùng, làm cho vùng duyên hải miền Trung trở thành mộtđiểm du lịch quan trọng của cả nước Khó khăn chủ yếu đối với phát triển nông
Trang 23nghiệp của vùng duyên hải miền Trung là đất trồng trọt ít, đất nghèo dinh dưỡng,
cơ sở hạ tầng nghèo nàn, thiếu nước ngọt vào mùa khô Trong vùng cũng thườngxảy ra bão, lũ hàng năm Ngoài ra, việc suy giảm môi trường do phá rừng và canhtác không bền vững trên đất dốc ở vùng núi phía tây cũng là mối quan tâm lâudài
1.7.4 Đồng bằng Sông Hồng và Sông Cửu Long
a Các điều kiện tự nhiên
Đồng bằng Sông Hồng : Có tổng diện tích đất tự nhiên xấp xỉ 1,5 triệu ha,
trong đó 0.7 triệu ha là đất nông nghiệp, chiếm 50% tổng diện tích đất tự nhiên.Vùng nay mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới và chịu ảnh hưởng mạnh của giómùa Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,4oC, độ ẩm trung bình là 84,5%, vàlượng mưa trung bình vào khoảng 1.802 mm với 4 mùa khác nhau trong năm
Đồng bằng Sông Cửu Long : Có tổng diện tích tự nhiên gần 4 triệu ha, trong
đó diện tích đất nông nghiệp là 2,97 triệu ha, chiếm 75% tổng diện tích tự nhiên.Vùng này mang khí hậu nhiệt đới Nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,7oC, độ
ẩm trung bình 80%, và lượng mưa trung bình 1.650 mm với hai mùa rõ rệt: mùamưa và mùa khô Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 tới tháng 11, tập trung hơn 92%tổng lượng mưa hàng năm Đồng bằng sông Cửu Long ít bị ảnh hưởng bởi cáccơn bão nhiệt đới nhưng dễ xảy ra lũ lụt trong giai đoạn tháng 9 – 11
b Các hệ thống canh tác hiện nay
Đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long là hai vùng sản xuất lúa gạo chính
ở Việt Nam Trong những năm gần đây, ngư nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và cây
ăn quả đang ngày càng đóng vai trò quan trọng Về sản lượng nông nghiệp, đồngbằng sông Hồng có sản lượng nông nghiệp thấp hơn nhiều so với đồng bằng sôngCửu Long, nhưng lại đóng vai trò quan trọng đối với các tỉnh phía Bắc Ở đồngbằng sông Hồng, đất đai hạn hẹp, do vậy nông dân có xu hướng đa dạng hoá sangcác cây trồng chất lượng cao để cung cấp cho các thị trường đô thị hoặc tìm kiếmcác nguồn thu nhập phi nông nghiệp Phần lớn đất đai ở vùng đồng bằng sôngHồng màu mỡ và thích hợp cho thâm canh Ngoài ra, sự đa dạng về điều kiện tự
Trang 24nhiên (từ đất đồng bằng tới trung du, miền núi, từ thời tiết rất lạnh vào mùa đôngtới rất nóng vào mùa hè), đồng bằng sông Hồng rất thích hợp để phát triển nhiềuloại cây trồng và vật nuôi khác nhau Ở đồng bằng sông Cửu Long, canh tác nôngnghiệp ít được thâm canh do diện tích đất sản xuất/hộ lớn và cơ sở hạ tầng sảnxuất kém phát triển hơn Với nhiệt độ cao ổn định quanh năm, đồng bằng sôngCửu Long chỉ thích hợp với các cây trồng và vật nuôi nhiệt đới.
Các hệ thống cây trồng: Lúa là cây trồng chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng
với hai vụ lúa mỗi năm Do diện tích đất bình quân/hộ có hạn (trung bình 0,2 ha),
để tạo ra thu nhập hiệu quả, nông dân phải đa dạng hoá cây trồng của mình sangrau, cây ăn quả, chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản Hệ thống trồng trọt đặc thù ởcấp nông trại vùng đồng bằng sông Hồng là: hai vụ lúa; một vụ lúa và hai vụ rau;hai vụ lúa và một vụ rau; bốn vụ rau; và một vụ lúa và một vụ nuôi trồng thuỷsản Ở đồng bằng sông Cửu Long, tương tự như đồng bằng sông Hồng, lúa là câytrồng quan trọng nhất Ngoài ra là cây ăn quả, nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt lànuôi tôm phát triển rất mạnh trong thập kỷ qua Hệ thống trồng trọt đặc thù ởđồng bằng sông Cửu Long là: kết hợp trồng lúa với nuôi tôm/ cá nước ngọt; hai
vụ lúa và nuôi tôm/ cá nước ngọt cộng với vườn cây ăn quả; hai vụ lúa và một vụrau; và một vụ lúa và một vụ tôm nước lợ
Chăn nuôi: Nuôi lợn và gia cầm phát triển nhất ở vùng đồng bằng sông Hồng
và sông Cửu Long so với các vùng khác trên cả nước Ở cấp hộ gia đình, nuôi lợn
là phổ biến nhất mặc dù số lượng gia cầm tăng nhanh trong những năm qua.Trong thập kỷ qua, nuôi lợn và lợn nái ở vùng đồng bằng sông Hồng và sông CửuLong tăng khoảng 5-6%/năm Số lợn ở hai vùng đồng bằng này chiếm 23 và 14%tương ứng trong tổng số lợn cả nước Trong chăn nuôi gia cầm, gà chiếm khoảng76% tổng đàn và sản lượng thịt, còn lại chủ yếu là vịt Sản xuất thịt gia cầm ởđồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long chiếm 43% sản lượng gia cầm cả nước.Nuôi vịt phát triển nhất ở đồng bằng sông Cửu Long, chiếm 56% tổng số đàntrong cả nước Tuy nhiên, dịch Cúm Gia cầm xảy ra ở Việt Nam vào đầu năm
2004 và tái phát vào cuối năm 2004 đầu 2005 đã gây ra sự thiệt hại nghiêm trọng
Trang 25cho ngành gia cầm Sự phục hồi và phát triển ngành gia cầm trong tương lai phụthuộc vào sự thành công trong kiểm soát dịch Cúm gia cầm.
Thuỷ sản: Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực nuôi trồng thuỷ sản lớn
trong cả nước, chiếm khoảng 72% diện tích nuôi trồng và 62% sản lượng của cảnước; lớn thứ hai là vùng đồng bằng sông Hồng (9,7% diện tích nuôi trồng và17,6% sản xuất của cả nước trong năm 2002) Trong thập kỷ qua, nuôi tôm, sảnphẩm quan trọng nhất (về mặt giá trị), đã phát triển dọc theo các tỉnh ven biểncủa Đồng bằng sông Cửu Long làm cho diện tích rừng ngập mặn tự nhiên giảmđáng kể, đặc biệt ở bán đảo Cà Mau Trong những năm gần đây, chính phủ đãcho phép chuyển đổi hơn 200.000 ha diện tích lúa năng suất thấp (chủ yếu ở đồngbằng sông Cửu Long) sang diện tích nuôi trồng thuỷ sản Trong tương lai gần,nuôi trồng thuỷ sản có thể sẽ tiếp tục phát triển ở hai vùng Đồng Bằng sông Hồng
và Sông Cửu Long nhưng hy vọng rằng sẽ phát triển theo hướng đa dạng hoá rakhỏi nghề nuôi tôm đơn canh Trong những năm gần đây, nuôi trồng thuỷ sảnnước ngọt cũng phát triển mạnh như hệ thống nuôi kết hợp và nuôi ghép truyềnthống (mô hình vườn – ao - chuồng, hay được gọi là mô hình VAC), trồng lúa –nuôi tôm, và nuôi cá lồng/bè nước ngọt
c Khả năng đa dạng hoá
Đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long là những vùng sản xuất thực phẩmchính của cả nước, có các điều kiện tự nhiên, và kinh tế - xã hội thích hợp chophát triển nông nghiệp và thâm canh quanh năm Những vùng này đặc biệt thíchhợp đối với cây lúa, cây trồng tạo thu nhập cao, chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản.Đất đai ở vùng này màu mỡ và được tưới tiêu, cơ sở hạ tầng tương đối tốt Donằm gần Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là những thị trường và trung tâmchính trị lớn nhất trong cả nước, vùng ĐBSH và ĐBSCL có lợi thế trong pháttriển các dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp và các loại kinh doanh thượng nguồn và hạnguồn Vùng Đồng Bằng có nguồn nhân lực dồi dào cộng với các trường đại họckhu vực, đại học quốc gia và các trung tâm nghiên cứu nên thích hợp cả về mặtkinh tế lẫn kỹ thuật trong việc ứng dụng các hệ thống canh tác và công nghệ sản