TỔNG QUAN
Đại cương về bệnh thận mạn
Bệnh thận mạn (BTM) là tình trạng suy giảm chức năng thận kéo dài từ vài tháng đến nhiều năm và không thể hồi phục Việc sử dụng thuật ngữ BTM hiện nay giúp đánh giá và điều trị sớm các loại bệnh thận hiệu quả hơn.
1.1.1 Định nghĩa về bệnh thận mạn tính (theo KDIGO 2012)
Tổn thương về cấu trúc và chức năng thận kéo dài trên 3 tháng, kèm hoặc không kèm giảm mức lọc cầu thận (MLCT), đƣợc biểu hiện bởi:
- Bất thường bệnh học mô thận (sinh thiết thận)
- Dấu chứng tổn thương thận qua xét nghiệm máu, nước tiểu, xét nghiệm hình ảnh
Giảm mức lọc cầu thận (MLCT) < 60ml/ph/1,73 m2 da kéo dài trên 3 tháng kèm hoặc không kèm tổn thương thận [5]
1.1.2 Nguyên nhân bệnh thận mạn
Để chẩn đoán nguyên nhân bệnh thận mạn, cần dựa vào các yếu tố lâm sàng, tiền sử cá nhân và gia đình, hoàn cảnh xã hội, yếu tố môi trường, thuốc đã sử dụng, kết quả khám lâm sàng, xét nghiệm sinh hóa, hình ảnh học, và có thể cả sinh thiết thận.
Theo KDIGO 2012, bệnh thận mạn được phân loại dựa trên vị trí tổn thương giải phẫu và nguyên nhân chủ yếu tại thận, hoặc do các bệnh lý toàn thân gây ra.
Bảng 1.1 Phân loại nguyên nhân bệnh thận mạn
Nguyên nhân Bệnh thận nguyên phát Bệnh thận thứ phát sau bệnh toàn thân
Bệnh cầu thận Bệnh cầu thận tổn thương tối thiểu, bệnh cầu thận màng… Đái tháo đường, thuốc, bệnh ác tính, bệnh tự miễn
Bệnh ống thận mô kẽ
Nhiễm trùng tiểu, bệnh thận tắc nghẽn, sỏi niệu
Bệnh tự miễn, bệnh thận do thuốc, đa u tủy
Viêm mạch máu do kháng thể khác bào tương, loạn dƣỡng xơ cơ
Xơ vữa động mạch, tăng huyết áp, thuyên tắc do cholesterol
Bệnh nang thận và bệnh thận bẩm sinh
Thiểu sản thận, nang tủy thận
Bệnh thận đa nang, hội chứng Alport
1.1.3 Các yếu tố dịch tễ xã hội
Theo nghiên cứu NHANES III công bố năm 2007, tần suất bệnh thận mạn trong cộng đồng đạt 13% ở người trưởng thành trên 20 tuổi Mỗi bệnh nhân mắc bệnh thận mạn giai đoạn cuối cần điều trị thay thế thận thì có khoảng 100 người khác đang mắc bệnh thận ở các giai đoạn khác nhau Hiện nay, trên toàn thế giới có hơn 1,5 triệu người mắc bệnh thận mạn giai đoạn cuối đang được điều trị, và dự kiến con số này sẽ tăng gấp đôi vào năm 2020 Tuy nhiên, do chi phí cao của điều trị thay thế thận, khoảng 80% bệnh nhân được điều trị chủ yếu ở các nước phát triển, trong khi ở các nước đang phát triển chỉ có 10-20% bệnh nhân được tiếp cận điều trị, dẫn đến nguy cơ tử vong cao khi vào giai đoạn cuối của bệnh.
Tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu quy mô toàn quốc nào về tỷ lệ mắc bệnh thận mạn tính, mà chủ yếu chỉ có các báo cáo dịch tễ từ những vùng cụ thể Theo tác giả Võ Tam, tỷ lệ suy thận mạn ở tỉnh Thừa Thiên Huế là 0,92% trong số những người được khảo sát trong cộng đồng.
1.1.4 Chẩn đoán bệnh thận mạn
1.1.4.1 Chẩn đoán xác định bệnh thận mạn
Chẩn đoán bệnh thận mạn dựa vào[5]:
Lâm sàng có thể có hoặc không có biểu hiện lâm sàng của bệnh thận biểu hiện bệnh thận nhƣ phù toàn thân, tiểu máu…
Cận lâm sàng tầm soát:
Serum creatinine testing is essential for estimating creatinine clearance using the Cockcroft-Gault formula, or for assessing glomerular filtration rate (GFR) with the MDRD (Modification of Diet in Renal Disease) formula.
Xét nghiệm nước tiểu để phát hiện protein hoặc albumine là một phương pháp quan trọng, và mẫu nước tiểu lý tưởng nhất để thực hiện xét nghiệm này là mẫu nước tiểu đầu tiên vào buổi sáng sau khi thức dậy.
Bảng 1 2 Kết quả xét nghiệm albumine và protein trong nước tiểu
Xét nghiệm Bình thường Bất thường
Tỷ lệ albumine/creatinine niệu
≥ 3mg/mmol Albumine niệu 24 giờ