- Được giao dịch trong suốt thời gian mở cửa thị trường tại Sở GDCK- Số lượng chứng chỉ quỹ luôn thay đổi - Được mua lại hoặc bán ra theo yc của nhà đầu tư - Giao dịch một lần trong ngà
Trang 1GIẢI PHÁP HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN QUỸ ĐẦU
TƯ CHỈ SỐ TẠI
VIỆT NAM
GVHD: Ts Thân Thị Thu Thủy Nhóm 5 Ngân hàng ngày 2 k21 GVHD: Ts Thân Thị Thu Thủy Nhóm 5 Ngân hàng ngày 2 k21
Trang 2• Nguyễn Hữu Trường
• Đào Thị Bảo Linh
Trang 3Nội dung
Phần I: Tổng quan lý thuyết về quỹ đầu tư chỉ số
Phần II: Bài học kinh nghiệm từ quỹ đầu tư chỉ
số trên thế giới
Phần III: Thực trạng phát triển của quỹ đầu tư
chỉ số tại Việt Nam
Phần IV: Định hướng và giải pháp
Slide 2-3
Trang 4Phần I
TỔNG QUAN
VỀ QUỸ ĐẦU
TƯ CHỈ SỐ
Trang 5Slide 2-5
NỘI DUNG
1.1 QUỸ ĐẦU TƯ
Trang 6Slide 2-6
Khái niệm
- Quỹ đầu tư là quỹ hình thành từ vốn góp của
nhà đầu tư vào các tài sản (chứng khoán, bất
động sản, vàng, ngoại tệ và các công cụ phái
sinh) nhằm mục đích lợi nhuận
- Nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng
ngày đối với việc ra quyết định của quỹ đầu tư
Trang 7- Được giao dịch trong suốt thời gian mở cửa thị trường tại Sở GDCK
- Số lượng chứng chỉ quỹ luôn thay đổi
- Được mua lại hoặc bán
ra theo yc của nhà đầu tư
- Giao dịch một lần trong ngày căn cứ vào mức giá cuối ngày của giao dịch
- Quỹ Có danh mục đầu tư như danh mục đầu tư của một chỉ số chứng khoán
- Phát hành theo lô
- Không trực tiếp phát hành cho nhà đt mà thông qua nhà phát hành
Giá cả giao
dich chứng
chỉ quỹ
- Xác định bởi cung cầu
- Khác giá trị tài sản ròng của quỹ
- Mua lại bán ra theo giá cuối ngày giao dịch
- Giá gd xoay quanh giá trị tài sản ròng của quỹ
- Giao dịch thường xuyên trong cả phiên giao dịch
- Giá cả gd xoay quanh giá trị tài sản ròng của quỹ
Ưu điểm Dễ dàng giao dịch suốt phiên
giao dịch
Có thể mua lại bán ra chứng chỉ quỹ theo yêu cầu của nhà đầu tư-linh hoạt
Tổng hợp của 2 loại trên
Khắc phục nhược điểm của hai loại trên
Trang 8Định giá phát hành chứng chỉ quỹ
Giá trị tài sản ròng của quỹ NAV): bằng tổng giá trị tài
sản có và các khoản đầu tư của quỹ trừ đi các nghĩa vụ
Trang 9Slide 2-9
NỘI DUNG
1.2 CHỈ SỐ CHỨNG KHOÁN
Trang 10Slide 2-10
Khái niệm
Chỉ số chứng khoán là chỉ tiêu thống kê dùng để tổng hợp những thay đổi về giá trong nhóm danh mục (cổ phiếu hoặc trái phiếu) được chọn lọc để đại diện một phân khúc của thị trường Sự khác biệt chính giữa các chỉ số là danh mục chứng
khoán nắm giữ và cách tính tỉ trọng.
- Cách chọn các chứng khoán trong một chỉ số.
- Qui tắc tính toán các quyền số trong một chỉ số (trọng số
theo giá trị vốn hóa của thị trường, theo giá chứng khoán,
trọng số như nhau)
- Qui tắc để duy trì chỉ số khi các thành phần chỉ số thay đổi
Trang 11Slide 2-11
Phương pháp tính toán chỉ số
1.2.2.1 Phương pháp bình quân số học giản đơn
1.2.2.2 Phương pháp bình quân gia quyền theo
giá thị trường cổ phiếu niêm yết
1.2.2.3 Phương pháp tính chỉ số theo giá thị trường cổ phiếu sẵn sàng giao dịch
1.2.2.4.Chỉ số toàn thu nhập (total return index)
Trang 12Phương pháp tính chỉ số theo giá thị trường cổ phiếu
sẵn sàng giao dịch
Slide 2-12
Trong đó:
-IWF: Tỷ lệ số cổ phiếu tự do chuyển nhượng so
với chỉ số niêm yết
- pj : Giá cổ phiếu
- Qj :Khối lượng cổ phiếu niêm yết của cổ phiếu j
- D: Số chia
Trang 13Phương pháp tính chỉ số theo giá thị trường cổ
phiếu sẵn sàng giao dịch
Được tính bằng cách lấy bình quân gia quyền giá chứng
khoán và khối lượng chứng khoán sẵn sàng giao dịch, dùng
hệ số chia để loại trừ các tác động ngoài nguyên nhân giá.
Khi thay đổi các thành phần của chỉ số không phải do giá
như: khối lượng cổ phiếu niêm yết, chia cổ tức, thưởng cổ phiếu cần chú ý đến kỹ thuật điều chỉnh hệ số chia D nhằm đảm bảo tính liên tục của chỉ số và so sánh theo thời gian
Được xem là phương pháp cải tiến tốt nhất
Slide 2-13
Trang 14Ý nghĩa của chỉ số chứng khoán
Chỉ số cho thấy sự thay đổi tổng thể về giá và mức sinh lợi của một danh mục chứng khoán và là cột mốc (benchmark) cho các quỹ đầu tư chỉ số
Nhà đầu tư so sánh giữa chỉ số chuẩn và hoạt động của quỹ để biết mức sinh lợi và hiệu quả của một quỹ đầu tư chỉ số
Quỹ đầu tư chỉ số không thể hoạt động nếu thiếu chỉ
số vì chỉ số là cơ sở để thiết lập danh mục đầu tư
Các chỉ số thị trường làm chỉ số chuẩn cho quỹ đầu tư chỉ số chủ yếu được xây dựng bởi các công ty hoặc SGDCK được thành lập lâu đời, được tín nhiệm rộng rãi
Trang 15Slide 2-15
NỘI DUNG
1.3 QUỸ ĐẦU TƯ CHỈ SỐ
(INDEX FUND)
Trang 16Slide 2-16
Định nghĩa
Quỹ đầu tư chỉ số là quỹ đầu tư quản lí danh
mục đầu tư bám sát chỉ số chứng khoán đã được
xác định trước
Rủi ro và mức sinh lợi của quỹ đầu tư chỉ số sẽ
tương đương với mức sinh lợi và rủi ro của chỉ
số chứng khoán
Trang 17Slide 2-17
Đặc điểm quỹ đầu tư chỉ số
-Quỹ đầu tư chỉ số là một dạng của quỹ đầu tư, lấy mục tiêu bám sát chỉ số chuẩn làm phương châm hoạt động, được nêu tại Điều lệ quỹ
- Đăng ký kinh doanh tại UBCK
- Đáp ứng nhu cầu mua hoặc bán ra chứng chỉ quỹ của nhà đầu tư với giá tương tự giá trị tài sản ròng của quỹ
Trang 18Slide 2-18
Phân loại quỹ đầu tư chỉ số theo
hình thức pháp lý
-Căn cứ theo tiêu chí cách thức phát hành và giao
dịch chứng chỉ quỹ, quỹ đầu tư chỉ số chỉ tồn tại dưới hai dạng: quỹ mở hoặc quỹ ETF
- Quỹ chỉ số không tồn tại ở dạng đóng cho dù có thể niêm yết trên SGDCK vì nhược điểm giá giao dịch
thường cách biệt với tài sản ròng một chứng chỉ quỹ
nên không bám sát chỉ số thị trường
Trang 19Slide 2-19
Quỹ đầu tư theo chỉ số dạng mở là Quỹ đầu tư chỉ số mua bán lại chứng chỉ quỹ đã phát hành với giá tương đương tài sản ròng đơn vị chứng chỉ quỹ (do thực tế giao dịch thường phát sinh phí giao dịch) với giá được xác định vào cuối ngày.
- Không thể niêm yết trên các Sở giao dịch chứng khoán.
1 Quỹ đầu tư chỉ số dạng mở
(open-end fund)
Trang 20Slide 2-20
Quỹ đầu tư chỉ số dạng ETF là quỹ đầu tư được niêm yết có danh mục đầu tư tương tự như danh mục đầu tư của danh mục chứng khoán được chọn để xác định chỉ số chứng khoán thị trường, trong đó quỹ chỉ giao dịch chứng chỉ quỹ theo khối lớn với nhà phân phối, trong khi chứng chỉ quỹ theo lô lẻ được giao dịch hàng ngày trên các Sở giao dịch chứng khoán.
Về mặt pháp lý: quỹ ETF hình thành dưới dạng quỹ mở hoặc quỹ UIT (unit investment trust) UIT là dạng công ty đầu tư mua và nắm giữ lượng chứng chỉ quỹ cho đến khi ngừng hoạt động UIT thường phát hành một lần tất cả chứng chỉ quỹ ra công chúng Khi quỹ UIT được thành lập, nó cũng định trước ngày giải thể UIT không có giao dịch danh mục đầu tư mặc dù cho phép thay đổi danh mục trong điều kiện bất thường Chứng chỉ UIT có thể được mua lại vào bất kì ngày giao dịch nào, tương tự như quỹ mở UIT chào danh mục cố định, chi phí thấp và thời gian hoạt động bị giới hạn.
2 Quỹ đầu tư chỉ số dạng ETF
(exchange traded fund)
Trang 21Hoạt động của quỹ đầu tư chỉ số
ETF
Slide 2-21
Trang 22 Đối với quỹ ETF, việc cho phép các nhà phân phối mua và bán “đơn vị khởi tạo” (thường là 50.000 chứng chỉ quỹ) cho quỹ ETF và chia nhỏ “đơn vị khởi tạo” để giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán làm cho giá giao dịch chứng chỉ quỹ gần sát với giá trị tài sản ròng đơn vị chứng chỉ quỹ ETF.
Nếu giá giao dịch tại sàn giao dịch chứng khoán thấp hơn giá trị tài sản ròng đơn vị quỹ (giá trị của các chứng khoán trong doanh mục đầu tư) , nhà phân phối mua gom chứng chỉ ETF trên sàn giao dịch để đủ “đơn vị khởi tạo” và đổi
“đơn vị khởi tạo” lấy chứng khoán trong danh mục nhằm kinh doanh chênh lệch giá (arbitrage) để kiếm lợi Hoạt động này làm tăng cầu chứng chỉ ETF và đẩy giá giao dịch tiến gần giá trị tài sản ròng đơn vị quỹ.
Cơ chế hoạt động của quỹ ETF và tác
động đối với giá giao dịch
Trang 23Slide 2-23
Ngược lại, giá giao dịch chứng chỉ ETF cao hơn giá trị tài sản ròng đơn vị quỹ, nhà phân phối mua “đơn vị khởi tạo” từ quỹ ETF và chia nhỏ “đơn vị khởi tạo” thành nhiều chứng chỉ ETF bán lẻ cho các nhà đầu tư riêng lẻ thông qua thị trường thứ cấp để thu lợi Hoạt động này làm tăng cung chứng chỉ ETF và đẩy giá ETF rớt xuống gần giá trị tài sản ròng đơn vị quỹ.
Nhờ cơ chế này mà quỹ ETF có thể được niêm yết trên các Sở giao dịch mà giá giao dịch trên thị trường sẽ luôn xấp xỉ với giá trị tài sản ròng của quỹ (NAV) Quỹ ETF thừa hưởng lợi thế của quỹ mở (giá giao dịch gần giá trị tài sản ròng đơn vị quỹ) và lợi thế của quỹ đóng (có thể niêm yết trên sàn giao dịch).
Cơ chế hoạt động của quỹ ETF và tác
động đối với giá giao dịch
Trang 24So sánh quỹ đầu tư chỉ số dạng mở
và ETF
Slide 2-24
Trang 253 So sánh giữa quỹ đầu tư chỉ số
dạng mở và dạng ETF
Nhược điểm của quỹ ETF là phải có nhà phân phối luôn phối hợp để tạo thị trường và điều chỉnh giá giao dịch quỹ trên SGDCK sao cho gần sát với giá trị tài sản ròng đơn vị chứng chỉ quỹ.
Trang 26Slide 2-26
Phân loại quỹ đầu tư chỉ số theo
tiêu chí chỉ số
1.3.4.1 Theo tiêu chí thành phần của chỉ số
1.3.4.2 Theo tiêu chí khu vực địa lý
Trang 27Slide 2-27
NỘI DUNG
1.4 SỰ CẦN THIẾT – VAI
TRÒ – ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA
QUỸ ĐẦU TƯ CHỈ SỐ
Trang 28Slide 2-28
1 Sự cần thiết và tính tất yếu
của quỹ đầu tư chỉ số
Nhu cầu vốn đầu tư ngày càng gia tăng cả về sự đa dạng của các hình thức đầu tư, số vốn đầu tư
Đầu tư theo cảm tính, tâm lý đám đông
Hiện tượng đầu cơ chứng khoán
Kênh đầu tư dài hạn ổn định thị trường
Kênh đầu tư hiệu quả, an toàn, tạo sự đa dạng trong sản phẩm đầu tư
Trang 29Slide 2-29
2 Vai trò của quỹ đầu tư chỉ số
Nhà đầu tư được hưởng mức lợi nhuận thu được từ quỹ, sau khi trừ các khoản phí hoạt động và phí quản lí.
Dễ quản lý, đơn giản thuế, tiết kiệm chi phí đầu tư, chuyên nghiệp quản lý
Tối thiếu hóa rủi ro
Đạt được mức lợi nhuận bình quân của thị trường là chắc chắn
Phù hợp phát triển thị trường chứng khoán ổn định
Công cụ bảo vệ nhà đầu tư khỏi lạm phát
Làm giảm hoặc hoãn nộp thuế
Thu hút vốn đầu tư và gia tăng hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế
Trang 30Slide 2-30
3 Hạn chế của quỹ đầu tư chỉ số
-Quỹ đầu tư chỉ số dù có đa dạng hóa không thể loại trừ rủi ro thị trường (rủi ro hệ thống)
-Tỷ suất lời nhuận bình quân thị trường
- Tốn chi phí quản lý quý, chi phí giao dịch chứng chỉ quỹ
Trang 31Phần II
Bài học kinh nghiệm từ quỹ đầu tư chỉ số trên thế giới
Trang 32Slide 2-32
NỘI DUNG
2.1 Bài học từ sự hình thành quỹ đầu tư chỉ số trên thế giới
2.1.1 Bài học từ sự hình thành quỹ đầu tư chỉ số dạng mở
2.1.2 Bài học từ sự hình thành quỹ đầu tư chỉ số dạng ETF
2.2 Bài học từ quỹ đầu tư chỉ số tại Hoa Kỳ
Trang 33Slide 2-33
2.1.1.Bài học từ quỹ đầu tư chỉ số dạng mở
- Năm 1986, ý Charles Dow đưa ra chỉ số Dow
đăng tải hàng ngày trên tạp chí Wall Street
Journal để đo lường biến động của 12 loại
chứng khoán tiêu biểu của Sở giao dịch chứng
khoán New York
-Năm 1933, Alfred Cowles xuất bản báo cáo về
sự nghiên cứu về chỉ số Cowles và chứng minh
hầu hết các quỹ không thể đạt được tỉ suất vượt
trội thị trường
Những năm 1950, học thuyết về thị trường
hiệu quả của Harry Markowitz, Paul Samuelson
Trang 34Slide 2-34
2.1.1.Bài học từ quỹ đầu tư chỉ số dạng mở
- Năm 1971, quỹ chỉ số đầu tiên được Wells
Fargo Bank thành lập quỹ chỉ số đầu tiên với 6
triệu đô la từ quỹ hưu của Samsonite Corporation
có danh mục quỹ là tất cả cổ phiếu trong chỉ số
S&P 500 và có quyền số như nhau Quỹ này
nhanh chóng thất bại do phí giao dịch quá cao và
quyền số như nhau mỗi loại cổ phiếu
Trang 35Slide 2-35
2.1.1.Bài học từ quỹ đầu tư chỉ số dạng mở
-Quỹ chỉ số thực sự thành công và tồn tại đến nay
được thành lập vào năm 1976 là quỹ First Index
Investment Trust của công ty Vanguard do John
Bogle sáng lập Sau này được đổi tên là Vanguard
500 Index Fund
-Kinh nghiệm thành công của John Bogle trong
việc lập quỹ đầu tư chỉ số là danh mục cơ cấu theo
theo chỉ số b́nh quân gia quyền, phát huy tính ưu
việt của quỹ: đa dạng hóa, phí thấp do tiết kiệm
nhân lực và phí giao dịch, bỏ trích thưởng ban
quản lư, gia tăng lợi nhuận đối với nhà đầu tư.
Trang 362.1.2 Bài học từ lịch sử hình thành quỹ ETF
- Ngày 5/11/1992, LOR giới thiệu quỹ Index Trust SuperUnit
SuperUnit cho phép nhà đầu tư tổ chức mua và bán rổ chứng
khoán để trao đổi lấy chứng chỉ quỹ trên Sở giao dịch chứng
khoán SuperUnit giao dịch với giá thấp hơn giá trị tài sản
ròng đơn vị quỹ, nhà đầu tư kinh doanh chênh lệch phi rủi ro
bằng cách mua chứng chỉ quỹ đổi lấy rổ chứng khoán bán ra
chứng khoán để thu lời
Khi giá giao dịch cao hơn giá trị tài sản ròng đơn vị quỹ, nhà
đầu tư mua rổ chứng khoán trên thị trường để đổi lấy chứng
chỉ quỹ và bán chứng chỉ quỹ trên thị trường để kiếm lợi
nhuận mà không gặp rủi ro.
Slide 2-36
Trang 372.1.2 Bài học từ lịch sử hình thành quỹ ETF
Năm 1997, công ty quản lý quỹ State
Street Global Advisors phát hành quỹ
Diamonds để bám sát chỉ số bình quân
công nghiệp Dow Jones (DJIA) Diamonds trở thành quỹ ETF thứ năm với 2,8 tỷ USD tài sản và 2 triệu chứng chỉ quỹ giao dịch
hàng ngày
Slide 2-37
Trang 382.1.2 Bài học từ lịch sử hình thành quỹ ETF
Tại Đức, sau khi nhìn thấy xu hướng phát triển ETF
mạnh mẽ tại Mỹ, Ngân hàng HVB, một ngân hàng lớn
của Đức, lập nên công ty Indexchange
Hồng Kông, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung
Quốc, Thái Lan lần lượt thành lập quỹ ETF vào năm
1999, 2000, 2002, 2003, 2005, 2007.
Slide 2-38
Trang 39Bài học từ hoạt động của quỹ đầu tư chỉ số tại
Hoa Kỳ
Mặc dù ra đời sau các dạng quỹ khác, quỹ đầu tư chỉ số
phát triển nhanh chóng với tốc độ 28%/năm trong giai đoạn 1993-2010 Cuối năm 1993, giá trị tài sản ròng của các quỹ chỉ số mở và ETF tại Hoa Kỳ là 27.924 triệu
USD (trong đó: quỹ chỉ số dạng mở: 27.460 triệu USD, quỹ chỉ số ETF: 464 triệu USD) Đến cuối năm 2010, giá trị tài sản ròng của các quỹ chỉ số dạng mở và dạng quỹ ETF là 1.905 USD (trong đó, quỹ ETF chỉ số: 888.198 triệu USD và quỹ chỉ số dạng mở là 1.016.713 triệu USD.
Slide 2-39
Trang 40Quỹ đầu tư chỉ số dạng mở tại
Hoa Kỳ:
Thứ nhất, quỹ chỉ số dạng mở ngày càng trở nên phổ
biến tại Hoa Kỳ và đóng vai tṛò ngày càng quan trọng
trong việc thu hút vốn phát triển nền kinh tế Trong số
gia định sở hữu chứng chỉ quỹ, 31% gia đình sở hữu
quỹ chỉ số dạng mở vào năm 2010 Tổng tài sản ròng
của quỹ chỉ số dạng mở tăng tốc độ 24%/năm trong
giai đoạn 1993-2010, từ 27 tỷ USD (năm 1993) lên 602
tỷ USD (năm 2008), 835 tỷ USD (năm 2009), 1.017 tỷ
USD (năm 2010).
Slide 2-40
Trang 41Quỹ đầu tư chỉ số dạng mở tại Hoa Kỳ:
Slide 2-41
Chỉ số S&P 500 vẫn là chỉ số quan trọng nhất đối với các quỹ
đầu tư dạng mở Hoa Kỳ
Trang 42Quỹ đầu tư chỉ số dạng mở tại
Hoa Kỳ:
Thứ ba, Vanguard là công ty quản lý quỹ
chỉ số lớn nhất Hoa Kỳ về quỹ chỉ số dạng
mở và có sản phẩm đa dạng với các loại
chỉ số theo ngành, chỉ số nội địa và chỉ số
quốc tế, cổ phiếu và trái phiếu
Slide 2-42
Trang 43Quỹ đầu tư chỉ số dạng ETF tại
Hoa Kỳ:
Slide 2-43
Quỹ ETF chỉ số chứng khoán phát triển với tốc độ thần ḱì
56%/năm trong thời kỳ 1993-2010
Trang 44Quỹ đầu tư chỉ số dạng ETF tại Hoa Kỳ:
Số lượng quỹ ETF cổ phiếu chung từ 1 quỹ -
SPDR S&P 500 (năm 1993) tăng lên con số là
243 quỹ (năm 2010) Quỹ ETF cổ phiếu quốc tế
xuất hiện từ năm 1996 với 17 quỹ nhưng đến
năm 2010 lên đến 298 quỹ Quỹ ETF cổ phiếu
nội địa theo ngành xuất hiện từ năm 1998 với 9
quỹ thì đến năm 2010 con số này lên đến 193
quỹ Năm 2002, số lượng quỹ ETF trái phiếu là 8 quỹ thì đến 2010 đă lên đến 128 quỹ
Slide 2-44
Trang 45Bài học rút ra từ quỹ đầu tư chỉ số
Hoa Kỳ:
Thứ nhất, về mặt pháp lý, quỹ đầu tư chỉ số tại Hoa Kỳ
được thành lập dưới dạng quỹ mở hoặc dạng ETF
Thứ hai, quỹ đầu tư chỉ số phải bám sát chỉ số với mức
sai lệch tối thiểu
Thứ ba, sự phát triển của quỹ đầu tư chỉ số do thực tế
số quỹ năng động thực hiện mục tiêu đánh bại chỉ số
thị trường rất ít
Slide 2-45