Trong nền kinh tế thị trường, môi trường kinh doanhkhông ngừng thay đổi, do đó các công ty phải không ngừng cải tiến qui trình hoạtđộng và chất lượng của sản phẩm và dịch vụ để t
Trang 1Đề tài:
ÁP DỤNG SPC VÀO QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM TẠI XƯỞNG MAY ÁO CƯỚI ÁNH LINH
Tiểu luận Quản trị chất lượng
GVHD: TS NGÔ THỊ ÁNH NGƯỜI THỰC HIỆN: NHÓM 6 – ĐÊM 3 QTKD – K21
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2012
Trang 21 Nguyễn Đức Thiện
2 Nguyễn Đan Thi
3 Hoàng Thị Hương Thảo
Trang 3MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
1 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG CỤ THỐNG KÊ (SPC) 2
1.1 Quản lý chất lượng bằng các công cụ thống kê 2
1.2 Yêu cầu đối với đào tạo nhân lực trong việc áp dụng các công cụ thống kê 2
1.3 Các công cụ kiểm soát chất lượng 3
2 ÁP DỤNG CÁC SPC TẠI CÔNG TY ÁNH LINH 6
2.1 Giới thiệu công ty 6
2.2 Lưu đồ về quy trình sản xuất kinh doanh của công ty Ánh Linh 6
2.3 Các giai đoạn của quy trình sản xuất 6
2.3 Quy trình sản xuất tại công ty Ánh Linh 7
2.3.1 Lập đơn hàng 7
2.3.2 Nhập nguyên liệu 8
2.3.3 Kho nguyên liệu 9
2.3.4 Quá trình sản xuất 10
2.3.5 Kho thành phẩm 11
2.3.6 Quá trình tiêu thụ 11
2.4 Mô tả quá trình tạo sản phẩm tại xưởng may 12
2.4.1 Các công đoạn chi tiết cụ thể 12
2.4.2 Tóm tắt và biểu diễn lại dưới dạng lưu đồ 13
2.4.3 Diễn giải quy trình sản xuất 15
2.5 Áp dụng SPC 15
KẾT LUẬN 30
Trang 4MỞ ĐẦU
Kỹ thuật kiểm soát quá trình bằng thống kê (SPC-Statistical Process Control) làphương pháp thống kê để thu thập, trình bày, phân tích các dữ liệu một cách đúng đắn,chính xác và kịp thời nhằm theo dõi, kiểm soát và cải tiến quá trình hoạt động của tổchức bằng cách giảm tính biến động của nó
Thực tế chỉ ra rằng nếu ta giải quyết vấn đề chỉ dựa thuần túy vào kinh nghiệm,trực giác sẽ rất nguy hiểm vì ta có thể mất nhiều thời gian và công sức nhưng khôngxác định chính xác nguyên nhân chính yếu của vấn đề và do đó có hành động xử lýsai Chính vì thế, một trong những nguyên tắc của quản lý chất lượng là khi đánh giáhay ra quyết định bất kỳ vấn đề gì đều phải dựa trên những sự kiện biểu hiện bằngnhững dữ liệu cụ thể Thực tế chỉ ra rằng nếu ta giải quyết vấn đề chỉ dựa thuần ty vokinh nghiệm, trực gic sẽ rất nguy hiểm vì ta cĩ thể mất nhiều thời gian với công sứcnhưng không xác định chính xác nguyên nhân chính yếu của vấn đề vì do đã có nhữnghành động xử lý sai Chính vì thế, một trong những nguyên tắc của quản lý chất lượngkhi đánh giá hay ra quyết định bất kỳ vấn đề gì đều phải dựa trên những sự kiện biểuhiện bằng những dữ liệu cụ thể Chính vì thế,việc nghiên cứu, ứng dụng các công cụSPC để thu thập, xử lý và trình bày kết quả là điều kiện cần thiết giúp các tổ chức ViệtNam nhanh chóng hòa nhập thị trường thế giới
Trang 5NỘI DUNG
1 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG CỤ THỐNG KÊ (SPC)
1.1 Quản lý chất lượng bằng các công cụ thống kê
Kiểm soát chất lượng thống kê (SQC) được xem là công cụ để nắm bắt thực tếtạo trên cơ sở các dữ liệu số Trong nền kinh tế thị trường, môi trường kinh doanhkhông ngừng thay đổi, do đó các công ty phải không ngừng cải tiến qui trình hoạtđộng và chất lượng của sản phẩm và dịch vụ để tăng lợi nhuận, không chỉ duy trì vàkiểm soát chất lượng hiện thời của sản phẩm trên thị trường mà còn phải duy trì vàkiểm soát quá trình tạo ra sản phẩm Thêm vào đó, ý tưởng này được liên tưởng tới
“người phù hợp nhất, người mà có thể theo dõi chất lượng sản phẩm hàng ngày làngười gần nhất, người luôn luôn bên cạnh sản phẩm” Con người ở đây là công nhân,người điều hành phân xưởng, người trực tiếp tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm
và cung cấp dịch vụ Nếu những người đó có thể tham gia vào quá trình kiểm soát vàquản lý, thì đây sẽ là cơ sở để khuyến khích cải tiến hiệu quả nhất và là cách ít tốnkém nhất để đảm bảo chất lượng sản phẩm Như vậy nền tảng của thực hiện kiểm soátchất lượng dựa trên dữ liệu thực tế là sự tham gia của tất cả mọi người, đặc biệt lànhững những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và cung cấp dịch vụ
1.2 Yêu cầu đối với đào tạo nhân lực trong việc áp dụng các công cụ thống kê
Để đảm bảo việc thực hiện tốt việc kiểm soát chất lượng bằng các công cụthống kê, cán bộ công nhân viên cần phải được đào tạo hợp lý ở các mức độ khácnhau tuỳ mục đích sử dụng Cụ thể:
Cán bộ quản lý và các giám sát viên phải quen thuộc với các công cụ kiểm soátchất lượng và hiểu rõ cơ sở của phương pháp thống kê đựoc sử dụng trongquản lý chất lượng Họ cũng phải được đào tạo đầy đủ để hướng dẫn nhân viênáp dụng đúng các kỹ thuật thống kê
Tổ trưởng tổ dịch vụ hoặc phân xưởng sản xuất phải được đào tạo về cácphương pháp thống kê để có thể áp dụng của 7 công cụ quản lý chất lượng
Trang 6truyền thống và 7 công cụ quản lý chất lượng mới Họ phải có khả năng ápdụng các kỹ thuật thống kê để cải tiến việc kiểm soát chất lượng cũng như cáccông việc hàng ngày.
1.3 Các công cụ kiểm soát chất lượng
Hiện nay, các công cụ kiểm soát chất lượng dựa trên phân tích số liệu đượcchia thành hai nhóm:
Nhóm 1: Gồm 7 công cụ truyền thống hay còn gọi là 7 công cụ kiểm
soát chất lượng (7 QC tools) Các công cụ này đã được áp dụng mộtcách hiệu quả từ những năm của thập niên 60 và đã được người Nhật ápdụng rất thành công Cơ sở của các công cụ này là lý thuyết thống kê.Các công cụ bao gồm:
Phiếu kiểm tra (Check sheet): được sử dụng cho việc thu thập dữ liệu Dữ liệuthu được từ phiếu kiểm tra là đầu vào cho các công cụ phân tích dữ liệu khác,
do đó đây bước quan trọng quyết định hiệu quả sử dụng của các công cụ khác
Biểu đồ Pareto (Pareto chart): sử dụng các cột để minh hoạ các hiện tượng vànguyên nhân, nhóm lại các dạng như là các khuyết tật, tái sản xuất, sửa chữa,khiếu nại, tai nạn và hỏng hóc Các đường gấp khúc được thêm vào để chỉ ratần suất tích luỹ
Biểu đồ nhân quả (Cause-effect diagram)́ : chỉ mối liên hệ giữa các đặc tínhmục tiêu và các yếu tố, những yếu tố dường như có ảnh hưởng đến các đặctính, biểu diễn bằng hình vẽ giống xương cá
Biểu đồ phân bố (Histogram): là một dạng của đồ thị cột trong đó các yếu tốbiến động hay các dữ liệu đặc thù được chia thành các lớp hoặc thành các phần
và được diễn tả như các cột với khoảng cách lớp được biểu thị qua đường đáy
và tần suất biểu thị qua chiều cao
Biểu đồ kiểm soát (Control chart): Biểu đồ kiểm soát là đồ thị đường gấp khúcbiểu diễn giá trị trung bình của các đặc tính, tỷ lệ khuyết tật hoặc số khuyết tật.Chúng được sử dụng để kiểm tra sự bất thường của quá trình dựa trên sự thayđổi của các đặc tính (đặc tính kiểm soát) Biểu đồ kiểm soát bao gồm 2 loại
Trang 7đường kiểm soát: đường trung tâm và các đường giới hạn kiểm soát, được sửdụng để xác định xem quâ trình có bình thường hay không Trên các đường này
vẽ các điểm thể hiện chất lượng hoặc điều kiện quá trình Nếu các điểm nàynằm trong các đường giới hạn và không thể hiện xu hướng thì quá trình đó ổnđịnh Nếu các điểm này nằm ngoài giới hạn kiểm soát hoặc thể hiện xu hướngthì tồn tại một nguyên nhân gốc
Biểu đồ phân tán (Scatter diagram)́ : Biểu đồ phân tán chỉ ra mối quan hệ giữa
2 biến trong phân tích bằng số Để giải quyết các vấn đề và xác định điều kiệntối ưu bằng cách phân tích định lượng mối quan hệ nhân quả giữa các biến số
Phương pháp phân vùng (Stratified diagram): Phân vùng thông thường để tìm
ra nguyên nhân của khuyết tật
Nhóm 2: Gồm 7 công cụ hay còn gọi là 7 công cụ mới (7 new tools)
được phát triển và sử dụng từ những năm đầu của thập niên 80 Cáccông cụ này hỗ trợ rất đắc lực cho quá trình phân tích để tìm ra nguyênnhân gây ra chất lượng kém cũng như tìm giải pháp để cải tiến chấtlượng 7 công cụ này bao gồm:
Biểu đồ tương đồng (Affinity diagram): Phân tích vấn đề dựa trên cảm giác
Biểu đồ quan hệ (Relation diagram): Phân tích vấn đề dựa trên logic
Biểu đồ ma trận (Matrix diagram): Phát hiện mối quan hệ giữa mục tiêu vàchiến lược, giữa giải pháp đề ra và khả năng thực hiện
Phân tích dữ liệu theo phương pháp ma trận: Tìm ra mức độ ưu tiên cho cácgiải pháp đề ra
Biểu đồ cây (Tree diagram): chia một mục tiêu thành các mục tiêu nhỏ hay mộtphương án thành các phương án chi tiết có thể thực hiện được trong thực tế.Biểu đồ này cũng có thể sử dụng để phân tích nguyên nhân tương tự như biểu
đồ nhân quả
Biểu đồ mũi tên (Arrow diagram): Sử dụng để để xác định rõ các sự kiện, cácnguyên nhân của vấn đề nhằm tăng hiệu quả hoạch định giải pháp
Trang 8 Sơ đồ quá trình ra quyết định (PDPC): Công cụ lập kế hoạch ngẫu nhiên và dựbáo sự không chắc chắn qua việc phối hợp thông tin tại mọi giai đoạn của quátrình.
Trong số các công cụ này, biểu đồ cây và biểu đồ ma trận thường được sử dụng kếthợp hiệu quả nhất với 7 công cụ truyền thống nói trên
Trang 92 ÁP DỤNG CÁC SPC TẠI CÔNG TY ÁNH LINH
2.1 Giới thiệu công ty
Công ty TNHH Sản xuất - Thương mại- Dịch vụ Áo Cưới Ánh Linh (Ánh LinhBridal) đặt tại số 20 đường 3/2, phường 12, Quận 10, Tp.HCM
Ánh Linh là một công ty hàng đầu về sản xuất, cung cấp sản phẩm, dich vụ vềthời trang cưới trọn gói trong nước, và xuất khẩu
Công ty Thời trang Áo Cưới Ánh Linh, khởi đầu từ 2001 đến nay, gặt hái được rấtnhiều thành công, uy tín, và phát triển một thương hiệu Ánh Linh vững mạnh, chiếmlĩnh thị trường trong nước và quốc tế, đáp ứng được mọi yêu cầu khắt khe nhất về kỹthuật, chất liệu, mẫu mã và trên hết là nhu cầu tôn vinh vẻ đẹp
Có thể nói sản xuất áo cưới là một ngành sản xuất đòi hỏi sự khắc khe trong từngcông đoạn, sự đảm bảo quản lý chặt trong từng công đoạn hơn bất cứ một ngành đặcthù nào khác Mỗi sản phẩm có giá khá cao ( dao động từ 4 đến khoảng 15 triệu mỗisản phẩm), do đó công ty phải đảm bảo cho mỗi công đoạn nhỏ đều phải chính xác vàhạn chế đến mức thấp nhất tỷ lệ phế phẩm
Qua tìm hiểu, nhóm xin khái quát quy trình hoạt động của toàn công ty như sau:
2.2 Lưu đồ về quy trình sản xuất kinh doanh của công ty Ánh Linh
2.3 Các giai đoạn của quy trình sản xuất
Nhu cầu
Nước ngoài
Sản xuất Nhập NL
Kho Thành phẩm
Trang 102.3 Quy trình sản xuất tại công ty Ánh Linh
2.3.1 Lập đơn hàng
Đối với đơn hàng trong nước
Vì mặt hàng áo cưới là mặt hàng đơn chiếc, không thể sản xuất hàng loạt với chỉmột mẫu mã, mà phải cần đến khả năng sáng tạo của đội ngũ thiết kế kết hợp vớinghiên cứu thị hiếu của khách hàng, để đa dạng hóa về kiếu dáng và phong cách
Ai cũng biết rằng, mục tiêu của một Doanh nghiệp đa số là vì lợi nhuận, nên nhữngsản phẩm làm ra phải được người tiêu dùng đón nhận, nhưng đôi khi vì quá ngẫu hứng
mà nhân viên thiết kế đã cho ra những chiếc áo chỉ xuất hiện một lần trên sàn diễn(nếu có), hoặc hao tốn quá nhiều nhiên liệu và nhân công Vì thế chiếc áo làm rakhông bán được hoặc bị lỗ, làm kém hiệu quả và gây tổn thất cho Doanh nghiệp.Nhưng bên cạnh đó thì vẫn có những chiếc áo thành công ngoài mong đợi của BanGiám Đốc vì những ý tưởng khá táo bạo của nhân viên
Một rủi ro khác nữa cũng có thế xảy ra trong quá trình lập đơn hàng đó là: kháchhàng nhìn thấy kiểu áo từ đâu đó và muốn đặt may, nhưng người diễn tả kiểu này thìngười ghi lại kiểu khác mà họ cứ nghĩ rằng hai ý tưởng đã gặp nhau, cuối cùng họkhông chịu lấy áo, phương châm của Ánh Linhđặt cho nhân viên của mình là: “Kháchhàng luôn luôn đúng” nên phần tổn thất lại rơi vào Công ty
Đối với khách hàng nước ngoài
Với đơn hàng lẻ, tức một kiểu mẫu họ chỉ đặt với số lượng từ 1 đến 5 cái, việc đặthàng này có thể được thực hiện qua việc gửi hình ảnh cho nhau, hoặc cũng sẽ đượcghi lại ý tưởng, nhu cầu như ở trên Việc quan sát một chiếc áo qua hình ảnh sẽ khótính, họ đòi hỏi độ chính xác tuyệt đối đến từng chi tiết kể cả những họa tiết trang tríphải giống nhau đến từng khoảng cách Chính vì vậy, nếu không quan sát kỹ và làmđúng theo yêu cầu của khách hàng sẽ làm mất uy tín của Công ty, có được một kháchhàng không phải là chuyện dễ nhưng giữ chân được họ lại càng khó hơn
Những đơn hàng với số lượng lớn, mỗi một kiểu dáng có thể làm hàng trămchiếc, nhưng để có được đơn hàng này cũng phải rất gian truân, bắt đầu là việc đàm
Trang 11phán về giá cả sau đó sẽ tiến hành sản xuất thử Về giá phải sao cho phù hợp, bù đắpđược chi phí và mức lợi nhuận mong muốn, nhưng cũng không đước quá thấp hơn sovới sản phẩm có cùng chất lượng vì điều đó sẽ làm cho sản phẩm bị đánh giá thấp (bịcho là giống hàng chợ), như vậy sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh trên thương trường,mặc dù trên lý thuyết cung cầu, giá thấp hơn đối thủ là một lợi thế Đứng trên góc độcủa nhà quản trị, họ phải thường xuyên cân nhắc giữa lợi ích đạt được và chi phí bỏ
ra, nên sản phẩm xuất đi nước ngoài luôn luôn đặt chất lượng cao hơn hàng tiêu thụtrong nước từ đường kim mũi chỉ Vì vậy nếu sản phẩm may thử không đặt chất lượngthì toàn bộ đơn hàng từ đó về sau sẽ không thể có được nữa, rủi ro nghiêm trọng xảy
ra là việc mất khách hàng tiềm năng
2.3.2 Nhập nguyên liệu
Lưu đồ trên, từ nhu cầu khách hàng đến kho nguyên liệu được giải thích như sau:
vì Ánh Linhcó đội ngũ thiết kế nằm ở tất cả các chi nhánh trực thuộc, nên có thểnguyên liệu được nhập trước khi có đơn hàng, vì những thứ nguyên liệu đó sử dụngthường xuyên, hoặc chắc chắn rằng nó sẽ được sử dụng và được khách hàng đón nhận,như đã nói ở trên , một chiếc áo càng độc đáo về kiểu dáng và chất liệu và ít người cóthì khả năng được chấp nhận càng cao, còn nhánh lưu đồ thứ 2 chủ yếu dành cho đơnhàng lớn và thường là đơn hàng nước ngoài, mẫu mã do khách hàng cung cấp nênkhông cần qua thiết kế
Căn cứ vào đơn hàng, Ánh Linh tiến hành nhập nguyên liệu, có thể trong nướchoặc nhập khẩu, rủi ro tiềm tàng ở đây là nếu nhập trong nước, nguyên liệu sẽ không
ổn định Việc sử lý màu cho vải thường không giống nhau mỗi lần nhập, thời giangiao hàng thường không đúng như cam kết Nhập nguyên liệu từ trong nước có ưuđiểm là tiết kiệm được chi phí vận chuyển, văn hóa của ngươi mua và người bántương đồng với nhau, nên cũng dễ làm việc hơn, và quan trong trọng là được “ gốiđầu” nợ, nhưng nhược điểm là chất lượng thường thấp hơn hàng ngoại nhập, và làm
ăn kiểu “ chụp giật” hơn, ví dụ như công ty đặt một lượng hàng nhưng chưa tới thờigian nhận hàng, nếu có người hỏi mua, người bán có thể sẳn sàng bán từ trong số hàng
đó Điều này gây tổn thất cho công ty, vì có thể sẽ không giao đủ và đúng như nhu cầu
Trang 12đặt hàng, làm ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất của công ty, còn nếu loại nguyên liệu đóchưa có mặt trên thị trường thì công ty sẽ bị mất quyền là” người đi tiên phong”, vàđiều này cũng làm giảm khả năng cạnh tranh của công ty.
Nếu nhập từ nước ngoài, sẽ phải đặt đơn hàng với số lượng lớn, tùy từng loạinguyên liệu mà Ánh Linh có thể nhập bằng đường biển hoặc đường hàng không Phầnlớn hàng được nhập từ Đài Loan, nếu đi bằng đường biển, sẽ mất khoảng thời gian rấtdài, làm cho vải có thể bị mốc kém chất lượng Nếu đi bằng đường hàng không công
ty sẽ phải trả một khoản chi phí rất cao, vì giá cước được tính trên trọng lượng, sẽ làmtăng chi phí đầu vào và đội giá thành lên cao, làm cho sản phẩm cạnh tranh kém hơn.Hơn nữa vì mặt đặt hàng với số lượng lớn, nên sẽ làm hao tốn chi phí lưu kho, và vốn
bị ứ đọng nhiều làm cho vòng vay của vốn chậm lại Do khoảng cách xa về địa lý nênkhả năng xảy ra tai nạn trong quá trình chuyên chở bị mất cắp… cũng cao hơn nhậphàng trong nước Bên cạnh đó, thủ tục hành chính của Việt Nam còn nhiêu khê, nênhàng về tới cảng rồi mà không thể lấy tra ngay được làm tăng chi phí kho bãi
Ngoài ra công ty còn có thể gặp rủi ro do biến động về tỉ giá hối đoái, nếu tỷ giátăng, tức đồng Việt Nam mất giá, công ty sẽ phải trả giá đắt hơn cho một đơn vịnguyên liệu Về hình thức nhận hàng chủ yếu Ánh Linh nhận bằng hình thức trực tiếpkhông qua bảo lãnh thư tín dụng, nên sẽ gặp rủi ro rất lớn như: nhà cung cấp có thể là
“ công ty ma” vì giao dịch chủ yếu qua điện thoại, Internet, hoặc nhận tiền cọc rồinhưng kéo dài thời hạn giao hàng hoặc chứng từ liên quan, không đúng thủ tục pháplý…
2.3.3 Kho nguyên liệu
Kho chứa nguyên liệu của Ánh Linh hơi nhỏ nên việc sắp xếp chưa được trật tự, vì
là mặt hàng áo cưới nên nó có rất nhiều chi tiết trang trí kèm theo Chính vì vậy có rấtnhiều chủng loại nguyên phụ liệu và làm mất nhiều thời gian trong quá trình tìm kiếm.Cũng vì chật trội cùng với kệ chứa vải được làm từ sắt và gỗ nên rất dễ bị xướt sợi khirút, kéo Rồi mối mọt, chuột bọ hay ẩm thấp gây mất cũng làm giảm chất lượngnguyên liệu hoặc hủy hoàn toàn, nguy cơ hỏa hoạn cũng rất lớn vì toàn những nguyênliệu dễ cháy
Trang 13Ở các công đoạn khác, rủi ro về tai nạn lao động cũng rất lớn, các công nhânthường xuyên bị kim đâm vào tay, vì để làm nên một chiếc áo cưới đẹp, phải cần đếnsự khéo léo của công nhân, một lượng ghim lớn được sử dụng để ghim tạm thời trướckhi may lại, do đó cũng có một lượng ghim không nhỏ bị rơi xuống đất mà công nhânthì không được đi dép vào phạm vi sản xuất, trong khu vực trang trí áo được trải thảmnên khi kim rơi xuống rất khó phát hiện và vì vậy chuyện máu chảy diễn ra thườngxuyên.
Vì lượng đơn hàng nhiều nên thường phải ưu tiên cho những đơn hàng do kháchđặt, còn những mẫu tự thiết kế theo tìm hiểu thị trường phải lùi lại, do vậy lượng bánthành phẩm tồn đọng trên chuyền rất lớn, và thường ứ đọng ở khẩu kết cườm và trangtrí Do vậy các sào treo những sản phẩm này thường xuyên quá tải, vì phải chịu áp lựclớn nên bị võng xuống và nghiêng ra phía ngoài, nên có nguy cơ bị đổ và đè lên ngườicông nhân Cùng với lý do lượng hàng tồn đọng quá lớn như vậy sẽ xảy ra hiện tượngmẫu bị lỗi model, vì vậy là mặt hàng thời trang, sản phẩm thường được nghiên cứu vàthiết kế trong khoảng thời gian ngắn, việc ứ đọng như vậy, sẽ làm giảm giá trị của áo
và có thể bị lỗ
Đặc biệt những công nhân làm tại công đoạn thêu bị ảnh hưởng đến sức khỏe rấtlớn vì thường xuyên phải tiếp xúc với đàu hôi và phẩm màu, mỗi ngày công nhân ở bộphận này phải sử dụng dầu để in hoa văn lên vải rồi mới thêu được Bụi của vải baytrong không khí cũng không ít bản thân doanh nghiệp không đo độ ô nhiễm nên không
Trang 14biết chính xác nhưng chắc chắn rằng một lượng lớn bụi đã được các công nhân hít vàophổi mỗi ngày Tiếp đó là mạng dây điện tại công ty cũng rất chằng chịt, vì cần độchính xác cao nên phải có đủ lượng ánh sáng cần thiết, do đó hệ thống đèn chiếu sángđược hạ thấp xuống, ổ cắm điện cũng treo lơ lững trên đầu công nhân vì họ phải sửdụng đến các công cụ như bàn ủi, máy sấy, cây cắt nhiệt… nguy cơ xảy ra cháy nổ rấtcao và gây tổn thất lớn.
2.3.5 Kho thành phẩm
Sản phẩm sau khi hoàn thành được nhập vào kho thành phẩm, đối với đơn hàngnước ngoài thì sẽ được xuất ngay sau đó, một số được xuất đi các cửa hàng trực thuộc,một số khác được phân phối đến các cửa hàng áo cưới khác theo đơn đặt hàng, số cònlại sẽ được trưng bày tại trung tâm bán sỉ, vì mẫu áo rất đa đạng, mỗi áo là một kiểukhác nhau, nên phải treo lên sào tất cả đẻ khách lựa chọn (vì thế kho thành phẩmchính là nơi trưng bày và bán áo) Điều quan tâm ở đây là mỗi áo điều không đượcđóng bọc ni lông nên mỗi lượt khách vào, họ xem, ngắm nghía, và sờ mó, do đó có thểlàm cho chiếc áo bị dơ, hoặc những áo treo lâu ngày sẽ bám bụi, cũng sẽ làm giảm giátrị của áo
2.3.6 Quá trình tiêu thụ
Đối với hàng xuất khẩu từng áo phải được bọc trong ni lông và đóng thùng cartonchuyển đi, thường Ánh Linh sẽ gởi hàng bằng đường bay, nên cũng hạn chế vấn đềsản phẩm bị ẩm mốc, kém chất lượng Nhưng những rủi ro như tai nạn trong quá trìnhvận chuyển, thủ tục hải quan ở hai đầu và việc khách hàng chậm trễ ở hai đầu, và việckhách hàng chậm thanh toán cũng sẽ gây thiệt hại tương tự như ở khâu nhập nguyênliệu Một rủi ro khác dễ gặp đối với những đơn vị xuất khẩu là nếu không tìm hiểu kỹluật pháp, điều kiện về nhập sản phẩm của nước sở tại thì cũng gây ra nhưng trở ngạikhi hàng vào nước bạn Nhưng thật may mắn khi mặc hàng áo cưới của Ánh Lin hxuấtkhông nằm trong phạm vi giám sát đặc biệt ngày cả đối với thị trường Mỹ
Đối với hàng tiêu thụ trong nước, với những khách hàng ở xa, hàng được đóng bao
và gửi đi, vì để tiết kiệm chi phí nên phải nén chặt dẫn đến chiếc áo bị nhăn nhúmbiến dạng, khả năng bị thất lạc cũng rất cao, và trong quá trình giao tới tay khách
Trang 15hàng, có thể gặp trời mưa hoặc rơi rớt khiến áo bị dơ Áo làm ra không đúng mẫu nên
bị khách hàng hủy…và còn rất nhiều rủi ro tiềm tàng khác nữa mà còn có thể xảy ratrong quá trình hoạt động
2.4 Mô tả quá trình tạo sản phẩm tại xưởng may
Xưởng may của Ánh Linh đặt tại huyện Trảng Bàng, Tây Ninh là một côngđoạn khá quan trọng trong toàn bộ quy trình sản xuất của Ánh Linh, quyết định tất cảchất lượng cho toàn sản phẩm của công ty Có thể mô tả quá trình hoạt động củaxưởng may như sau:
2.4.1 Các công đoạn chi tiết cụ thể
Đây là các công đoạn nhỏ trong toàn bộ quá trình sản xuất của xưởng.
1 Cắt toàn áo 18 Ủi lai váy chính cuốn lai
2 Ghim thân 3 lớp 19 Tra dây kéo lộn
3 May thân 8 mảnh 3 lớp,tháo kim 20 Ủi dây kéo
4 Ủi thân chính lót 21 Kiểm lai
5 Vắt sổ thân 8 mảnh 3 lớp 22 Cuốn biên xoa
6 Vắt sổ lai váy chính 23 Nhúng tra lưới cứng 1 tầng
7 Xếp ly thân, xếp đắp hoa trang trí 24 Kết toàn áo (hạt)
8 May bông thân 25 May ghim tay, tháo kim
9 Tháo kim may bông 26 Rút tùng
10 Ủi bông than 27 Đính ghim,tháo kim
11 Luồng xương cá 28 Kiểm áo
12 Lượt thân tháo kim,xử lý trang sức 29 Lấy khuy kết nút
13 Ráp sườn chính lót áo 8 mảnh (3 lớp) 30 Cắt chỉ
14 Ủi sườn chính lót 31 Tẩy áo
15 Lộn cổ (kẹp dây kéo) 32 Gắn nhãn,bỏ bọc
16 Ủi cổ 33 Đóng thùng
17 Cuốn lai hai lớp 34 Xuất thành phẩm
Trang 162.4.2 Tóm tắt và biểu diễn lại dưới dạng lưu đồ