PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Sau 30 năm đổi mới (từ năm 1986), việt Nam chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng ở tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội. Những thành quả đó là minh chứng cho các chủ trương, đường lối của Đảng cũng như các chính sách, pháp luật của Nhà nước đã đi vào thực tiễn của đời sống xã hội, phù hợp với quy luật phát triển, vận động chung của khu vực và trên toàn thế giới. Trong các thành tựu sau 30 năm đổi mới, ngành Giáo dục Đào tạo đã có những đóng góp hết sức quan trọng, góp phần nâng cao dân trí, bồi dưỡngvà phát triển nhân tài cho đất nước. Phát huy thành quả này, Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm bằng việc nghiên cứu lý luận, đúc kết thực tiễn để xây dựng, ban hành các chính sách, chiến lược về giáo dục, đào tạo, với mục tiêu là “Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực ”74 Để đưa nền giáo dục việt Nam vươn lên tâm cao mới theo mục tiêu đã đề ra, Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 20112020 đã nêu rõ các thành tựu, hạn chế, yếu kém và các nguyên nhân, cũng như đề ra các giải pháp căn cơ để thực hiện thành công các mục tiêu đã đề ra. về bất cập, yếu kém, chiến lược khẳng định “Quản lý giáo dục vẫn còn nhiều bất cập, còn mang tính bao cấp, ôm đồm, sự vụ và chồng chéo, phân tán; trách nhiệm và quyền hạn quản lý chuyên môn chưa đi đôi với trách nhiệm, quyền hạn quản lý về nhân sự và tài chính. Hệ thống pháp luật và chính sách về giáo dục thiếu đồng bộ, chậm được sửa đổi, bổ sung; “Một bộ phận nhà giáo và cán bộ quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục trong thời kỳ mới. Đội ngũ nhà giáo vừa thừa, vừa thiếu cục bộ, vừa không đồng bộ về cơ cấu chuyên môn. Tỷ lệ nhà giáo có trình độ sau đại học trong giáo dục đại học còn thấp”; “Năng lực của một bộ phận nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn thấp. Các chế độ chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, đặc biệt là chính sách lương và phụ cấp theo lương, chưa thỏa đáng, chưa thu hút được người giỏi vào ngành giáo dục, chưa tạo được động lực phấn đấu vươn lên trong hoạt động nghề nghiệp. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo chưa đáp ứng được các yêu cầu đổi mới giáo dục”45. Lý giải cho những bất cập, hạn chế nêu trên, trong nội dung của chiến lược này cũng đã nêu “Chưa nhận thức đúng vai trò quyết định của đội ngũ nhà giáo và sự cần thiết phải tập trung đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục ”45 Hệ thống giáo dục quốc dân việt Nam bao gồm nhiều cấp, trong đó giáo dục đại học là cấp cuối cùng và đóng vai trò hết sức quan trọng. Giáo dục đại học có mục tiêu đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, nghiên cứu khoa học công nghệ để tạo ra tri thức và sản phẩm mới. Bên cạnh đó, giáo dục đại học là nơi giúp người học hoàn thiện cả về kiến thức, kỹ năng và thái độ. Chuẩn bị tốt nhất các điều kiện cần thiết để tham gia vào thị trường lao động có hàm lượng tri thức cao, đáp ứng các yêu cầu về phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho sự ngiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, đặc biệt là hội nhập về tri thức và khoa học. Để các trường đại học hoàn thành được sứ mệnh cao cả này, đòi hỏi cần phải có các chiến lược quy hoạch, phát triển, quản lý các trường đại học một cách cụ thể, trong đó, vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học là một trong những yếu tố có vai trò quyết định quan trọng. Trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước, Chính phủ cũng như Bộ giáo dục và Đào tạo và các Bộ, ngành liên quan đã xây dựng và ban hành nhiều chính sách đối với Giáo dục Đào tạo nói chung và đội ngũ giảng viên các trường đại học nói riêng. Đây là những căn cứ và là cơ sở pháp lý cho các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các trường đại học thực hiện tốt hơn công tác quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn một số bất cập, hạn chế cần phải nghiên cứu để hoàn thiện và đưa vào áp dụng, nhằm hướng tới hiệu quả, hiệu lực trong công tác quản lý nhà nước đối với đội ngũ này. Từ đó góp phần quan trọng chung để thực hiện thành công chiến lược phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bộ Xây dựng là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Quy hoạch xây dựng, kiến trúc; hoạt động đầu tư xây dựng; phát triển đô thị; hạ tầng kỹ thuật đô thị và khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao; nhà ở; công sở; thị trường bất động sản; vật liệu xây dựng; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ theo quy định của pháp luật 95. Cũng như các bộ, ngành khác, Bộ Xây dựng cũng có các đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó có các trường đại học. Đối với khu vực Miền Nam hiện nay Bộ Xây dựng có 02 trường Đại học là đại học Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh và đại học Xây dựng Miền Tây. Các trường Đại học công lập thuộc Bộ Xây dựng có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng nhân lực cho Bộ và nguồn nhân lực chung của đất nước. việc quản lý nhà nước đối với các trường đại học công lập thuộc Bộ Xây dựng ở khu vực Miền Nam là hết sức cần thiết và trong thời gian qua đã được chú trọng. Tuy nhiên, hiện nay công tác quản lý nhà nước đối với các trường đại học công lập thuộc Bộ Xây dựng ở khu vực phía Nam còn tồn tại nhiều bất cấp. Những quy định pháp lý về lĩnh vực này còn chưa thống nhất và đồng bộ. Công tác thanh tra, kiểm tra về đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập thuộc Bộ Xây dựng chưa được chú trọng và tiến hành thường xuyên, các chế độ chính sách liên quan và mang tính đặc thù riêng chưa có các văn bản quy định cụ thể. Xuất phát từ lý do trên, tác giả chọn đề tài “Quản lý Nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các Trường đại học công lập thuộc Bộ Xây dựng ở khu vực Miền Nam làm luận văn thạc sỹ Quản lý công.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài:
Sau 30 năm đổi mới (từ năm 1986), việt Nam chúng ta đã đạt được nhữngthành tựu quan trọng ở tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội Nhữngthành quả đó là minh chứng cho các chủ trương, đường lối của Đảng cũng nhưcác chính sách, pháp luật của Nhà nước đã đi vào thực tiễn của đời sống xã hội,phù hợp với quy luật phát triển, vận động chung của khu vực và trên toàn thếgiới Trong các thành tựu sau 30 năm đổi mới, ngành Giáo dục - Đào tạo đã cónhững đóng góp hết sức quan trọng, góp phần nâng cao dân trí, bồi dưỡngvàphát triển nhân tài cho đất nước Phát huy thành quả này, Đảng và Nhà nước hếtsức quan tâm bằng việc nghiên cứu lý luận, đúc kết thực tiễn để xây dựng, banhành các chính sách, chiến lược về giáo dục, đào tạo, với mục tiêu là “Phấn đấuđến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực ”[74]
Để đưa nền giáo dục việt Nam vươn lên tâm cao mới theo mục tiêu đã đề
ra, Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 đã nêu rõ các thành tựu,hạn chế, yếu kém và các nguyên nhân, cũng như đề ra các giải pháp căn cơ đểthực hiện thành công các mục tiêu đã đề ra về bất cập, yếu kém, chiến lượckhẳng định
“Quản lý giáo dục vẫn còn nhiều bất cập, còn mang tính bao cấp, ôm đồm, sự vụ
và chồng chéo, phân tán; trách nhiệm và quyền hạn quản lý chuyên môn chưa điđôi với trách nhiệm, quyền hạn quản lý về nhân sự và tài chính Hệ thống phápluật và chính sách về giáo dục thiếu đồng bộ, chậm được sửa đổi, bổ sung";
“Một bộ phận nhà giáo và cán bộ quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụgiáo dục trong thời kỳ mới Đội ngũ nhà giáo vừa thừa, vừa thiếu cục bộ, vừakhông đồng bộ về cơ cấu chuyên môn Tỷ lệ nhà giáo có trình độ sau đại họctrong giáo dục đại học còn thấp”; “Năng lực của một bộ phận nhà giáo và cán bộquản lý giáo dục còn thấp Các chế độ chính sách đối với nhà giáo và cán bộquản lý giáo dục, đặc biệt là chính sách lương và phụ cấp theo lương, chưa thỏađáng, chưa thu hút được người giỏi vào ngành giáo dục, chưa tạo được động lực
Trang 2phấn đấu vươn lên trong hoạt động nghề nghiệp Công tác đào tạo, bồi dưỡngđội ngũ nhà giáo chưa đáp ứng được các yêu cầu đổi mới giáo dục”[45] Lý giảicho những bất cập, hạn chế nêu trên, trong nội dung của chiến lược này cũng đãnêu “Chưa nhận thức đúng vai trò quyết định của đội ngũ nhà giáo và sự cầnthiết phải tập trung đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục ”[45]
Hệ thống giáo dục quốc dân việt Nam bao gồm nhiều cấp, trong đó giáodục đại học là cấp cuối cùng và đóng vai trò hết sức quan trọng Giáo dục đạihọc có mục tiêu đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, nghiêncứu khoa học công nghệ để tạo ra tri thức và sản phẩm mới Bên cạnh đó, giáodục đại học là nơi giúp người học hoàn thiện cả về kiến thức, kỹ năng và thái độ.Chuẩn bị tốt nhất các điều kiện cần thiết để tham gia vào thị trường lao động cóhàm lượng tri thức cao, đáp ứng các yêu cầu về phát triển nguồn nhân lực phục
vụ cho sự ngiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, đặcbiệt là hội nhập về tri thức và khoa học Để các trường đại học hoàn thành được
sứ mệnh cao cả này, đòi hỏi cần phải có các chiến lược quy hoạch, phát triển,quản lý các trường đại học một cách cụ thể, trong đó, vai trò của các cơ quanquản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học là một trongnhững yếu tố có vai trò quyết định quan trọng
Trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước, Chính phủ cũng như Bộ giáo dục
và Đào tạo và các Bộ, ngành liên quan đã xây dựng và ban hành nhiều chínhsách đối với Giáo dục - Đào tạo nói chung và đội ngũ giảng viên các trường đạihọc nói riêng Đây là những căn cứ và là cơ sở pháp lý cho các cơ quan quản lýnhà nước cũng như các trường đại học thực hiện tốt hơn công tác quản lý nhànước đối với đội ngũ giảng viên Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn một số bất cập,hạn chế cần phải nghiên cứu để hoàn thiện và đưa vào áp dụng, nhằm hướng tớihiệu quả, hiệu lực trong công tác quản lý nhà nước đối với đội ngũ này Từ đógóp phần quan trọng chung để thực hiện thành công chiến lược phát triển giáodục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 3Bộ Xây dựng là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhànước về: Quy hoạch xây dựng, kiến trúc; hoạt động đầu tư xây dựng; phát triển
đô thị; hạ tầng kỹ thuật đô thị và khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệcao; nhà ở; công sở; thị trường bất động sản; vật liệu xây dựng; quản lý nhànước các dịch vụ công trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ theo quyđịnh của pháp luật [95] Cũng như các bộ, ngành khác, Bộ Xây dựng cũng cócác đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó có các trường đại học Đối với khu vựcMiền Nam hiện nay Bộ Xây dựng có 02 trường Đại học là đại học Kiến trúc TP
Hồ Chí Minh và đại học Xây dựng Miền Tây Các trường Đại học công lậpthuộc Bộ Xây dựng có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng nhân lực cho Bộ vànguồn nhân lực chung của đất nước việc quản lý nhà nước đối với các trườngđại học công lập thuộc Bộ Xây dựng ở khu vực Miền Nam là hết sức cần thiết vàtrong thời gian qua đã được chú trọng Tuy nhiên, hiện nay công tác quản lý nhànước đối với các trường đại học công lập thuộc Bộ Xây dựng ở khu vực phíaNam còn tồn tại nhiều bất cấp Những quy định pháp lý về lĩnh vực này cònchưa thống nhất và đồng bộ Công tác thanh tra, kiểm tra về đội ngũ giảng viêncác trường đại học công lập thuộc Bộ Xây dựng chưa được chú trọng và tiếnhành thường xuyên, các chế độ chính sách liên quan và mang tính đặc thù riêngchưa có các văn bản quy định cụ thể
Xuất phát từ lý do trên, tác giả chọn đề tài “Quản lý Nhà nước đối với độingũ giảng viên các Trường đại học công lập thuộc Bộ Xây dựng ở khu vực MiềnNam" làm luận văn thạc sỹ Quản lý công
Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học nói chung và quản lý nhànước về đội ngũ giảng viên các trường đại học là một vấn đề rất quan trọng, vìvậy đã có nhiều công trình, ấn phẩm khoa học nghiên cứu về vấn đề này Có thể
kể đến các công trình nghiên cứu sau:
- Lê Thị Phương Nam, Hoàng văn Lợi, “Thực trạng và giải pháp nâng caochất lượng đội ngũ giảng viên đại học giai đoạn 2010 - 2015”, viện Nghiên cứu
Trang 4Lập pháp Công trình này đã làm rõ thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên đạihọc giai đoạn 2010 - 2015, từ đó công trình nghiên cứu này đã để ra các
3
giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đại học Phương pháp nghiêncứu chính của công trình theo hướng khảo sát thực trạng đội ngũ giảng viên ởcác trường đại học xoay quanh các nội dung chính về chất lượng chuyên môn,các kỹ năng cần có của giảng viên theo hướng đối chiếu với các tiêu chuẩn theoquy định của các cơ quan quản lý nhà nước Từ các khảo sát đó, tác giả đưa racác so sánh, nhận định và phân tích các nguyên nhân của thực trạng Đối tượngnghiên cứu của đề tài chỉ dừng lại ở một trong rất nhiều nội dung liên quan tớiđội ngũ giảng viên các trường đại học
Nguyễn Thị Thu Hương, “Xây dựng đội ngũ giảng viên các trường đạihọc - Thực trạng và giải pháp Công trình nghiên cứu đã phân tích thực trạng độingũ giảng viên các trường đại học hiện nay" Công trình nghiên cứu này đã đềxuất các giải pháp nhằm đảm bảo sự phát triển cần đối, hài hòa về cơ cấu, sốlượng, trình độ chuyên môn và các kỹ năng cần có của đội ngũ giảng viên cáctrường đại học Các giải pháp được đề xuất trên nhiều phương diện từ phươngdiện thể chế, về tiêu chuẩn, chế độ chính sách
Trần Tuấn Duy, “Lý luận và thực trạng quản lý nhà nước đối với đội ngũgiảng viên Học viện Cán bộ thành phố Hồ Chí Minh ” Công trình này đã nêuđược căn căn cứ pháp lý, thực trạng cũng như đề xuất một số giải pháp để thựchiện tốt hơn công tác quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên thuộc Họcviện cán bộ TP Hồ Chí Minh.với công trình này, tác giả chỉ mới tiếp cận ở góc
độ một bài báo khoa học, trên cơ sở khái quát các căn cứ pháp lý, thực tế tổ chứchoạt động, cá khó khăn và thuận ợi, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiệncông tác quản lý nhà nước đối với đối ngũ giảng viên thuộc học viện trong bốicảnh Học viên các bộ thành phố Hồ Chí Minh có nhiều thay đổi khi nâng cấp từmột Trường cán bộ cấp tỉnh/thành phố lên cấp học viện
Trang 5Lê Thị Nga (2015), “Quản lý nhà nước về phát triển đội ngũ giảng viênđại học công lập trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh ”.Luận văn thạc sỹchuyên ngành Quản lý hành chính công (MS: 603482) Công trình này đã nghiêncứu các vấn đề lý luận, pháp lý, thực trạng và đề xuất một số biện pháp liên quantới phát
4
Trang 6triển đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn Thành phố HồChí Minh Tuy nhiên, công trình này, về mặt lý luận và cơ sở pháp lý, tác giả chỉdừng lại ở việc liệt kê, tổng hợp các quy định, các văn bản pháp lý liên quan tớiđội ngũ giảng viên nói chung và phát triển đội ngũ giảng viên nói riêng, đồngthời chưa phân tích sâu các nguyên nhân, sự cần thiết phải ban hành các quyđịnh để điều chỉnh các nội dung quản lý nhà nước về đội ngũ giảng viên Hơnnữa, công trình này chỉ mới nghiên cứu chuyên sâu về một mảng đó là “quản lýnhà nước về phát triển đội ngũ giảng viên” mà chưa nghiên cứu tổng thể tất cảnội dung quản lý nhà nước về đội ngũ giảng viên theo các quy định của phápluật.
Lê Thị Huyền Trang (2014), “Quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảngviên các trường đại học công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh (từ thực tiễn đạihọc Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) ”.Luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản
lý công (MS: 603482) Công trình này đã nghiên cứu các cơ sở lý luận, pháp lýliên quan tới quản lý nhà nước đối vối đội ngũ giảng viên các trường đại họccông lập Thực tế tổ chức, quản lý đối với đội ngũ giảng viên các trường thànhviên thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Đồng thời đề xuất cácgiải pháp gắn với đặc thù là một đại học vùng, có chức năng, vị trí quan trọngtrong hệ thống các trường đại học trên toàn quốc nói chung và khu vực MiềnNam nói riêng
Nguyễn Đức Toàn (2010), “Quản lý nhà nước đối với viên chức các cơ
sở giáo dục đại học công lập” Trong luận văn này, tác giả nghiên cứu tổng thểcác nội dung quản lý nhà nước về đội ngũ viên chức ở các cơ sở giáo dục đạihọc công lập Trong đó, đội ngũ giảng viên là một bộ phận của viên chức nóichung, do đó công trình chỉ đưa ra các nhận định chung, các giải pháp tổng thể
để thực hiện tốt hơn công tác quản lý nhà nước ở đội ngũ này Riêng đối với độingũ giảng viên, tác giả chỉ mới khái quát, nêu ra các đặc thù cơ bản khác với đốitượng là viên chức không làm công tác giảng dạy Do vậy chưa có các giải pháp
Trang 7cụ thể để hoàn thiện công tác tác quản lý nhà đối với đội ngũ giảng viên ở các cơ
sở giáo dục đại học công lập
Hầu hết các công trình nghiên cứu trong thời gian qua đều đã khẳng địnhvai trò quan trọng của đội ngũ giảng viên các trường đại học và sự cần thiết phảiquản lý nhà nước về đội ngũ giảng viên các trường đại học Tuy nhiên hiện naycác công trình chủ yếu chỉ tiếp cận ở từng nội dung riêng lẻ trong tổng thể cácnội dung quản lý nhà nước về đội ngũ giảng viên như giải pháp phát triển, nângcao chất lượng đội ngũ giảng viên các trường đại học; công tác tuyển dụng, đánhgiá giảng viên đại học Hiện nay rất ít công trình nghiên cứu tổng thể liên quanđến quản lý nhà nước về đội ngũ giảng viên các trường đại học Riêng đối vớicác trường đại học thuộc Bộ Xây dựng ở Miền Nam thì chưa có công trìnhnghiên cứu nào được công bố chính thức vì vậy việc lựa chọn đề tài của luậnvăn là phù hợp và đảm bảo không có sự trùng lặp
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Mục đích cơ bản của luận văn này là nghiên cứu cơ sở lý luận và pháp lý
về quản lý nhà nước đối với giảng viên các trường đại học công lập.Từ đó đềxuất các giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước đối với giảngviên các trường đại học công lập nói chung và các trường đại học thuộc Bộ Xâydựng ở khu vực Miền Nam nói riêng
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sauđây:
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp lý của quản lý nhà nước đối với độingũ giảng viên đại học trường đại học công lập
Đánh giá thực trạng về hoạt động quản lý nhà nước đối với giảng viên cáctrường đại học thuộc Bộ Xây dựng ở khu vực Miền Nam
Trang 8Đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn hoạt động quản lý nhà nướcđối với giảng viên các trường đại học công lập nói chung và các trường đại họcthuộc Bộ Xây dựng ở khu vực Miền Nam nói riêng.
Trang 9Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài có đối tượng nghiên cứu là quản lý nhà nước đối với giảng viên cáctrường đại học thuộc Bộ Xây dựng ở khu vực Miền Nam
Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu: Các trường đại học thuộc Bộ Xây dựng ở khuvực Miền Nam (bao gồm: Trường đại học Kiến trúc TP Hồ Chí Minh và Trườngđại học Xây dựng Miền Tây)
Thời gian nghiên cứu: từ năm 2010 đến nay
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Phương pháp luận
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủnghĩa Mác - Lê Nin; Tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm của Đảng và pháp luậtcủa Nhà nước về giáo dục, đào tạo làm cơ sở phương pháp luận
Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những vấn đề cụ thể mà nội dung của đề tài hướng đến, cácphương pháp nghiên cứu chuyên ngành đều được áp dụng như:
Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấpTiến hành nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các tài liệu, tưliệu từ các nguồn khác nhau đã có liên quan đến các nội dung nghiên cứu củaLuận văn như: Các công trình nghiên cứu là luận án, luận văn; các văn kiện củaĐảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của Chính phủ, của Bộ giáo dục và Đàotạo về giáo dục, quản lý giáo dục đại học, quản lý nhà nước đối với giảng viênđại học; Các văn bản, quy định, kết luận thanh tra, kiểm tra của Bộ Nội vụ, BộGiáo dục và Đào tạo, Bộ Xây dựng về hoạt động quản lý nhà nước đối với cáctrường đại học công lập; Các tham luận, bài báo khoa học trong và ngoài nướcliên quan tới Luận văn Đồng thời nghiên cứu, phân tích các chương trình, kế
Trang 10hoạch, quy hoạch, đánh giá đối với đội ngũ giảng viên của hai trường đại họcKiến trúc TP Hồ Chí Minh và Xây dựng Miền Tây.Từ những phân tích tài liệuthứ cấp sẽ cung cấp những số liệu, những đánh giá tổng quan phục vụ cho việcnghiên cứu luận văn.Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp sẽ cung cấp nhữngluận cứ, luận điểm cả về mặt lý luận và thực tiễn
Phương pháp phỏng vấn sâu
Để nắm bắt thêm các thông tin từ khách thể nghiên cứu, luận văn tiếnhành phỏng vấn sâu Kết quả của phỏng vấn sâu là những ý kiến, nhận định,kiến nghị của khách thể nghiên cứu Khách thể phỏng vấn sâu bao gồm:
Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Trưởng các Khoa, Chủ nhiệm Bộ môn,trưởng phòng Tổ chức nhân sự thuộc hai Trường đại học Kiến trúc TP Hồ ChíMinh và Xây dựng Miền Tây
Giảng viên cơ hữu các Trường thuộc phạm vi nghiên cứu
Các phương pháp khácBên cạnh việc sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp, luận văncũng sử dụng một số phương pháp khác như: phương pháp so sánh, đối chiếu;phương pháp tổng hợp,
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý nhà nước đối với độingũ giảng viên các trường đại họccông lập
Nêu rõ thực trạng về quản lý nhà nước đối vớiđội ngũ giảng viên cáctrường đai học thuộc Bộ Xây dựng ở Miền Nam là đại học Kiến trúc TP Hồ ChíMinh và đại học Xây dựng Miền Tây
Trang 111 0
Từ thực trạng nêu ra, luận văn đề xuất hệ thống các giải pháp quản lý nhànước đối với đội ngũgiảng viên nói chung và giảng viên các trường đại họcthuộc Bộ Xây dựng ở khu vực Miền Nam nói riêng
Mặc dù luận văn chỉ nghiên cứu ở phạm vi các trường đại học thuộc BộXây dựng ở Miền Nam, tuy nhiên đối với các Bộ khác cũng có thể áp dụng cácgiải pháp, kiến nghị mà luận văn đưa ra nếu các Bộ này cũng quản lý các trườngđại học có đặc điểm như hai trường đại học là đại học Kiến trúc TP Hồ ChíMinh và đại học Xây dựng Miền Tây
Luận văn là nguồn tài liệu cung cấp cho việc nghiên cứu về hoạt độngquản lý nhà nước về giáo dục nói chung và đội ngũ giảng viên đại học nói riêngtrong thời gian tới
Luận văn cũng sẽ là tài liệu tham khảo, nghiên cứu cụ thể cho công tácquản lý đội ngũ giảng viên trực tiếp tại hai trường trong phạm vi nghiên cứu
Kết cấu luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụlục thì được thiết kế thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý nhà nước đối với giảngviên các trường đại học công lập
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên cáctrường đại học công lập thuộc Bộ Xây dựng ở khu vực Miền Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảngviên các trường đại học công lập nói chung và các trường đại học công lập thuộc
Bộ Xây dựng ở khu vực Miền Nam nói riêng
Trang 12CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP
1.1 Giảng viên các Trường đại học công lập
Khái niệm giảng viên và giảng viên đại học công lập
Theo quy định của Chính phủ tại Quyết định số 202/TCCP-VC ngày08/6/1994 của Ban tổ chức - Cán bộ Chính phủ về việc ban hành tiêu chuẩnnghiệp vụ các ngạch công chức ngành giáo dục vào đào tạo Theo đó “Giảngviên là viên chức chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy và đào tạo ở bậc đạihọc, cao đẳng thuộc chuyên ngành đào tạo của trường đại học hoặc cao đẳng[47] Như vậy, theo quy định tại Quyết định này, giảng viên trước hết là mộtviên chức chuyên môn trong trường đại học, cao đẳng, có vị trí công việc làgiảng dạy và đào tạo tại trường học đó Đây có thể được xem là văn bản quyphạm pháp luật sớm nhất nêu rõ khái niệm về giảng viên đại học
Theo quy định trong Luật giáo dục 2005 thì “Nhà giáo là người làm nhiệm
vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác Nhà giáo giảngdạy trong các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghềnghiệp gọi là giáo viên, ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên [84] Từ quyđịnh này có thể thấy rằng, giảng viên là những “nhà giáo”, làm nhiệm vụ giảngdạy, giáo dục ở cơ sở giáo dục đại học
Ngoài hai các quy định nói trên, giảng viên còn được đề cập ở Luật giáodục đại học, Điều lệ Trường đại học Tuy nhiên, ở các văn bản này, giảng viênchủ yếu được đề cập ở các nội dung như tiêu chuẩn, chức năng nhiệm vụ, quyềnhạn, chế độ chính sách mà không nói rõ khái niệm về giảng viên Như vậy, kháiniệm giảng viên đại học được hiểu là những người trực tiếp làm công tác giảngdạy, nghiên cứu ở một hoặc nhiều hơn một chuyên ngành ở các cơ sở đào tạo ởbậc đại học, cao đẳng và được bổ nhiệm vào ngạch giảng viên
Ở Việt Nam hiện nay có nhiều loại hình trường đại học được thành lập và
tổ chức hoạt động theo quy định của pháp luật Cơ sở giáo dục đại học bao gồm
Trang 13tổ hợp các trường cao đẳng, trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thànhviên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp là đại học
và cao đẳng, để đào tạo các trình độ của giáo dục đại học
Hệ thống cơ sở giáo dục đại học có thể được phân theo nhiều cáchkhác nhau [81]:
Căn cứ vào tính chất sở hữu, các trường đại học được phân loại thành:đại học công lập, đại học tư thục và đại học có vốn đầu tư nước ngoài
Căn cứ theo loại hình đào tạo, các trường đại học được phân loại thành:đại học truyền thống, đại học mở
Căn cứ vào vùng, lãnh thổ, các trường đại học được phân loại thành: Đạihọc quốc tế, quốc gia, đại học vùng, đại học địa phương
Căn cứ vào lĩnh vực đào tạo, các trường đại học được phân loại thành:Đại học đa ngành, đại học đơn ngành
Các trường đại học công lập được thành lập theo quy định của pháp luật
và là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực giáo dục Theo đó giảng viêngiảng dạy tại các cơ sở đại học công lập được hiểu là giảng viên đại học cônglập Giảng viên đại học công lập khác với giảng viên đại học ngoài công lập là:ngoài việc chịu sự điều chỉnh sự điều chỉnh của các quy định pháp luật như Luậtgiáo dục, Luật giáo dục đại học, Điều lệ Trường đại học như nhau thì giảng viênđại học công lập là viên chức, chịu sự điều chỉnh của Luật Viên chức 2010
Vai trò của giảng viên đại học
Từ xa xưa, vai trò của người giáo viên đã được xã hội nhìn nhận là hết sứcquan trọng Cách đây hơn 200 năm, người thầy đầu tiên của đất Nam Bộ - VõTrường Toản đã nói đến vai trò và đóng góp của những người làm nghề giáo, đó
là đạo lý “Lương sư, hưng quốc”, nghĩa là quốc gia có những người thầy giỏi và
có một nền giáo dục tốt, thì sẽ hưng thịnh "Lương sư, hưng quốc" vừa nhắc nhở11
Trang 14trọng trách, vừa ngợi ca những người thầy vừa có tầm, vừa có tâm và có đạohạnh Giảng viên là đội ngũ tri thức có đóng góp quan trọng trong sự nghiệp xâydựng, bảo vệ và phát triển đất nước Chính vì thế, trên Bia đề danh Tiến sỹ năm
1484 (ghi lại khoa thi năm 1442) tại Văn miếu Quốc Tử Giám khẳng định rằng
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lêncao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp”
Trong giai đoạn hội nhập và phát triển hiện nay, vai trò của người giáoviên nói chung và giảng viên đại học nói riêng tiếp tục được khẳng định và giữnguyên giá trị vốn có từ xưa Giảng viên đại học là yếu tố quyết định quan trọngđối với chất lượng đào tạo, là lực lượng tham gia trực tiếp vào quà trình đào tạo,quyết định đến chất lượng đầu ra của sinh viên - những sản phẩm của quá trìnhđào tạo sẻ trực tiếp tham gia vào thị trường lao động, tạo ra các giá trị và sảnphẩm lao động mang hàm lượng tri thức cao, trực tiếp đóng góp vào quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước
Chất lượng, sản phẩm của quá trình đào tạo (những sinh viên tốt nghiệp ratrường) không chỉ dừng lại ở việc có kiến thức chuyên môn vững vàng mà đòihỏi sinh viên phải có các kỹ năng nghề ngiệp, xã hội tốt, cũng như phải có thái
độ tích cực trong ngành nghề và đời sống xã hội Để sinh viên hội tụ đủ các yếu
tố này, vai trò của giảng viên vì thế càng quan trọng hơn để cùng với nhà trườnghoàn thành sứ mệnh đào tạo, cùng cả nước nâng cao chất lượng giáo dục, đàotạo, từ đó đáp ứng được các yêu cầu về đổi mới giáo dục nói chung và giáo dụcđại học nói riêng hiện nay
Về cơ bản, trong các cơ sở giáo dục đại học, giảng viên đảm nhận hai vaitrò chính như sau:
- Thứ nhất là vai trò đào tạo:
Vai trò về đào tạo của giảng viên trong trường đại học thể hiện qua việcgiảng viên tuyền tải các kiến thức qua thời gian nghiên cứu, học tập, tích lũykinh nghiệm có được tới sinh viên của mình Từ đó trang bị cho sinh viên các
Trang 15kiến thức cần thiết phục vụ cho việc lĩnh hội tri thức, chuẩn bị cho hành trangtham gia vào thị trường lao động Trong xu hướng phát triển chung hiện nay, cáctrường đại học hầu hết đã chuyển từ hình thức đào tạo theo niên chế sang hìnhthức đào tạo theo tín chỉ Chính hình thức đào tạo mới cũng đã làm “chuyểndịch” vai trò của người giảng viên đại học so với trước đây Theo đó, giảng viênđại học không chỉ đơn thuần là người truyền tải tri thức theo hướng thụ độngmột chiều, mà còn là người gợi mở, hướng dẫn sinh viên tự nghiên cứu, tìm tòicác kiến thức mới bằng con đường ngắn nhất, đồng thời cùng sinh viên giảiquyết các vấn đề không chỉ thuộc lĩnh vực khoa học, chuyên môn ngành nghề,
mà còn cùng sinh viên giải quyết các vấn đềđặt ra trong mọi lĩnh vựccủa đờisống xã hội Do vậy, giảng viên chính là ngườiđào tạo, cũng là ngườiđịnh hướngcho sinh viên tính tự chủ gắn với trách nhiệm xã hội trong quá trìnhđào tạo vàhoàn thiện bản than
Để đào tạo ra các lớp sinh viên “vừa chuyên vừa hồng” theo kịp xu hướnghội nhập và phát triển trong khu vực và trên thế giới, đòi hỏi người giảng viêncũng không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn Do vậy, đòi hỏi tinhthần tự học tập, nghiên cứu để không bị lạc hậu của người giảng viên cũng rấtcao Đây được gọi là quá trình đào tạo và tự đào tạo Chính quá trình này củangười giảng viên đã phục vụ trở lại cho hoạt động đào tạo mang tính liên tục vàphát triển không ngừng
- Thứ hai là chức năng nghiên cứu khoa học:
Trường đại học không chỉ là nơi đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượngcao, đáp ứng các yêu cầu xã hội, mà còn là trung tâm nghiên cứu ứng dụng,chuyển giao khoa học và công nghệ Nghiên cứu khoa học ở trường đại học cómột vai trò hết sức quan trọng Nó là một trong hai trụ cột chính để một trườngđại học có thể tồn tại và phát triển, đặc biệt trong xu hướng bùng nổ công nghệ
và khoa học như hiện nay
Nghiên cứu khoa học có tác động trực tiếp đến quá trình tự đào tạo vànâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực nghề nghiệp của người
Trang 16giảng viên Chính những công trình, đề tài nghiên cứu khoa họcsẽ trở thành13
Trang 171 6
nguồn tri thức mới, là cơ sở cho công tác giảng dạy, truyền tải kiến thức mangtính lý thuyết, khoa học và kinh nghiệm thực tế cho sinh viên
Hiện nay, các nhà khoa học Việt Nam chúng ta phần nhiều cũng là độingũ giảng viên ở các trường đại học Và như thế, giảng viên vừa là nhà giáo(thực hiện công tác đào tạo, giảng dạy), vừa là nhà khoa học trên nhiều lĩnh vựckhác nhau Thực tế đã chứng minh rằng, chính nhờ có đội ngũ giảng viên ở cáctrường đại học mà chúng ta đã có có các công trình nghiên cứu khoa học quantrọng, ứng dụng thực tế vào sự phát triển của kinh tế, xã hội, mang lại các giá trịlợi ích thiết thực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà
Như vậy, nhiệm vụ của giảng viên về cơ bản là thực hiện công tác đào tạo
và nghiên cứu khoa học Hai nhiệm vụ này song hành, bổ trợ và có mối quan hệhữu cơ với nhau Nghiên cứu khoa học hướng tới mục tiêu tìm kiếm tri thứcmới, tư đó hỗ trợ cho công tác giảng dạy, truyền đạt tri thức, giảng dạy lại chosinh viên Qua công tác giảng dạy, người giảng viên tiếp tục phát hiện ra các vấn
đề mới, từ đó đi tìm các giải pháp, câu trả lời thông qua nghiên cứu khoa học
Ngoài hai nhiệm vụ cơ bản nói trên, trong môi trường đại học, vai trò củangười giảng viên còn thực hiện ở các nhiệm vụ điều hành, quản lý ở các cấp, các
tổ chức trong Nhà trường (Đảng ủy, Ban giám hiệu, Công đoàn, Đoàn Thanhniên, Ban chủ nhiệm các Khoa, Trưởng bộ môn) Vài trò này cũng thật sự quantrọng, bởi lẽ giảng viên tham gia công tác quản lý phải thực sự là những người
có chuyên môn nghiệp vụ tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đặc biệt là có khảnăng điều hành, quản lý, xây dựng các chương trình, kế hoạch, chiến lược pháttriển, đảm bảo sự vận hành củađơn vị, tổ chức Và quan trọng hơn, đội ngũgiảng viên kiêm nhiệm công tác quản lý là những người cùng tham gia quyếtđịnh và trực tiếp triển khai thực hiện chiến lược phát triển củađơn vị, tổ chứctrong trường Từ đó góp phần thực hiện thành công các mục tiêu ngắn hạn, trunghạn và dài hạn của nhà trường Tuy nhiên đội ngũ giảng viên làm công tác kiêmnhiệm quản lý chỉ chiếm số lượng nhỏ trong tổng số giảng viên của một trườngđại học
Trang 18Giảng viên ngoài vai trò là một nhà sư phạm, nhà nghiên cứu khoa học,nhà quản lý thì con là một nhà chuyên gia trong lĩnh vực mình công tác, giảngdạy chuyên môn của mình Tính chuyên gia của giảng viên thể hiện qua việc làngười trực tiếp tham gia thực tế vào ngành nghề của mình ở ngoài xã hội (hànhnghề), đóng góp sức lực, tài năng và trí tuệ của mình để phát triển một lĩnh vực,ngành nghề nhất định Đặc biệt, giảng viên với vai trò chuyên gia của mình, cóthể tham gia tư vấn, hiến kế cho các cơ quan, tổ chức thông qua các tham luận,báo cáo khoa học giúp các cơ quan, tổ chức hoàn thiện một chủ trương, chínhsách nhất định để thực hiện rộng rãi vào đời sống xã hội.
Tóm lại, giảng viên đại học luôn có vai trò quan trọng trong các trườngđại học, trong hệ thống giáo dục của đất nướcở mọi thời đại Và quan trọng hơnhết đó là “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáodục” [84]
Tiêu chuẩn giảng viên đại học
Nhà giáo luôn được xem là một nghề cao quý, là nghề vun đắp, xây dựng,nuôi dưỡng các ước mơ, hoài bão, mang tới sự phát triển theo hướng hoàn thiện
về nhân cách, trí tuệ và năng lực của con người Tạo ra các giá trị tốt đẹp làmnền tảng cho một tương lai tươi sáng Thành ngữ có câu “Muốn làm thầy phảidày sự học’’, và là nghề được xã hội tôn quý, do đó để trở thành giảng viên đạihọc thì bắt buộc phải đạt các tiêu chuẩn nhất định tối thiểu cần phải có
Để đảm bảo sự thống nhất, làm cơ sở cho việc tuyển dụng, sử dụng vàquản lý giảng viên các trường đại học, Nhà nước đã ban hành các quy định vềgiảng viên nói chung và tiêu chuẩn giảng viên nói riêng Theo đó hiện nay tiêuchuẩn giảng viên được quy định cụ thể trong Luật giáo dục và Luật giáo dục đạihọc Bên cạnh đó, tiêu chuẩn giảng viên còn được quy định trong Điều lệTrường đại học, cụ thể các tiêu chuẩn của giảng viên được quy định như sau[46]
Trang 191 8
- Phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt; đạt trình độ đạt chuẩn được đào tạo vềchuyên môn, nghiệp vụ; đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; lý lịch bản thân
rõ ràng
Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ
sư phạm đối với nhà giáo giáo giảng dạy cao đẳng, đại học; có bằng thạc sỹ trởlên đối với nhà giáo giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn luận văn thạc sĩ; có bằngtiến sĩ trở lên đối với nhà giáo giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn luậnán tiến sĩ
Giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học là người có nhân thân rõ ràng; cóphẩm chất, đạo đức tốt; có sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; đạt trình độ vềchuyên môn nghiệp vụ quy định tại điểm e, khoản 1, Điều 77, của Luật giáo dục
Tiêu chuẩn giảng viên đại học được bổ sung thêm các nội dung trong Luậtgiáo dục đại học, bao gồm [81]
Trình độ chuẩn của chức danh giảng viên giảng dạy trình độ đại học làthạc sĩ trở lên Trường hợp đặc biệtở một số ngành chuyên môn đặc thù do Bộtrưởng Bộ giáo dục và Đào tạo quy định
Hiệu trưởng các cơ sở giáo dục ưu tiên tuyển dụng người có trình độ thạc
sĩ trở lên
Qua các văn bản quy định nói trên, tác giả luận văn nhận thấy rằng, về cơbản tiêu chuẩn giảng viên đại học bao gồm các nhóm sau; nhóm bằng cấpchuyên môn (phải có bằng tốt nghiệp đại học trở lên và có học vị thạc sĩ); nhóm
kỹ năng, nghiệp vụ (có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, tâm lý dạyhọc); nhóm nhân thân (có lý lịch bản thân rõ ràng, có phẩm chất chính trị tôt,đạo đức lối sống trong sáng, có sức khỏe phù hợp với ngành nghề )
Để cụ thể hóa về tiêu chuẩn giảng viên, Bộ giáo dục và Đào tạo phối hợpvới Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số 36/2014/TTLT-BGDĐT-BNV
về tiêu chuẩn giảng viên đại học Tại thông tư này, các tiêu chuẩn của giảng viênđại học đã cụ thể hóa một cách đầy đủ, chi tiết, được phân định rõ ràng cho cácchức danh giảng viên Theo đó chức danh giảng viên gồm có: [4]
Trang 20Giảng viên cao cấp (hạng I) Mã số: V.07.01.01
Giảng viên chính (hạng II) Mã số: V.07.01.02
Giảng viên (hạng III) Mã số: V.07.01.03
Tóm lại, giảng viên đại học phải tuân thủ đầy đủ các quy định về tiêuchuẩn tối thiểu cần phải đạt được theo quy định của các Luật liên quan Nhữngtiêu chuẩn này là cơ sở cho các cơ sở giáo dục đại học tuyển dụng giảng viênban đầu, đồng thời là cơ sở cho việc giúp các cơ quan quản lý nhà nước quản lýđược đội ngũ giảng viên về chất lượng, để đảm bảo cho việc duy trì và nâng caochất lượng giáo dục và đào tạo của cơ sở giáo dục nói riêng và chất lượng giáodục đại học nói chung
Nhiệm vụ và quyền hạn của giảng viên
1.41 Nhiệm vụ của giảng viênGiảng viên là nhà giáo, do vậy nhiệm vụ của giảng viên trước hết lànhiệm vụ của một nhà giáo Tại Điều 72 Luật giáo dục 2005 quy định nhiệm vụcủa nhà giáo như sau: [84]
Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ
và có chất lượng chương trình giáo dục;
Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật vàĐiều lệ nhà trường;
Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách củangười học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học;
Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độchính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gươngtốt cho người học
Theo Điều 55 Luật giáo dục đại học, giảng viên có thêm các nhiệm vụsau: [81]
Giảng dạy theo mục tiêu, chương trình đào tạo và thực hiện đầy đủ, cóchất lượng chương trình đào tạo;
Trang 212 0
Nghiên cứu, phát triển ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ, bảođảm chất lượng đào tạo
Định kỳ học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyênmôn nghiệp vụ và phương pháp giảng dạy;
Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của giảng viên;
Tôn trọng nhân cách người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệcác quyền, lợi ích chính đáng của người học;
Tham gia quản lý và giám sát cơ sở giáo dục đại học, tham gia công tácĐảng, đoàn thể và công tác khác
Theo Điều 45, Điều lệ Trường đại học, giảng viên còn có thêm các nhiệm
vụ sau: [46]
Chấp hành các quy chế, nội quy, quy định của nhà trường;
Thực hiện quy định về chế độ làm việc đối với chức danh giảng viên do
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành;
Để cụ thể hóa chế độ làm việc đối với chức danh giảng viên, ngày 13tháng 12 năm 2014, Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT về việc “Quy định chế độ làm việc đối với giảng viên” Thông tư nàyquy định cụ thể về chế độ làm việc đối với giảng viên, bao gồm: nhiệm vụ củacác chức danh giảng viên; quy định về thời gian làm việc, giờ chuẩn giảng dạy
và nghiên cứu khoa học
Quyền của giảng viên
Để đảm bảo quyền lợi của giảng viên, song song với việc quy định vềnhiệm vụ của giảng viên, quyền lợi của giảng viên cũng được quy định cụ thể, rõràng trong các văn bản luật Đây là cơ sở để đảm bảo các quyền giảng viên đượcthực hiện trong các cơ sở giáo dục Đồng thời để giảng viên thấyđược với quyềnlợi mà bản thân mình có được thì trách nhiệm, nghĩa vụ phải tương xứng đểhoàn thành các yêu cầu mà cơ quan, đơn vị mình đặt ra trong vai trò, vị trí là
Trang 22giảng viên giảng dạy tại cơ sở giáo dục Quyền lợi của giảng viên được phápluật quy định như sau:
Theo điều 73, Luật giáo dục, giảng viên có quyền [84]
Được giảng dạy đúng chuyên ngành đào tạo;
Được đào tạo nâng cao trình độ bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ;
Được hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học tại các trường, cơ sởgiáo dục khác và cơ sở nghiên cứu khoa học;
Được bảo vệ phẩm chất, danh dự;
Được nghỉ hè, nghỉ Tết âm lịch, nghỉ học kỳ theo quy định của Bộ Giáodục và Đào tạo và các ngày nghỉ khác theo quy định của Bộ luật Lao động
Theo điều 55, Luật giáo dục Đại học, giảng viên có quyền thêm các quyềnkhác ngoài các quyền quy định trong Luật giáo dục, bao gồm [81]:
Được bổ nhiệm chức danh của giảng viên, được phong tặng Nhà giáonhân dân, Nhà giáo ưu tú và được khen thưởng theo quy định của pháp luật
Theo Điều 46, Điều lệ Trường đại học, giảng viên được bổ sung cácquyền sau:
Được bảo đảm về mặt tổ chức và vật chất kỹ thuật cho các hoạt độngnghề nghiệp; được sử dụng các dịch vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và côngnghệ và dịch vụ công cộng của nhà trường;
Được quyền lựa chọn giáo trình, tài liệu tham khảo, phương pháp vàphương tiện giảng dạy nhằm phát huy năng lực cá nhân, bảo đảm nội dungchương trình, chất lượng và hiệu quả của hoạt độngđào tạo, khoa học và côngnghệ;
Được tham dự các hội thảo, hội nghị khoa học trong và ngoài nước theoquy định để công bố các công trình khoa học, giáo dục
Về cơ bản, quyền của giảng viên đã được cụ thể hóa đầy đủ, đa phần cácquy định ở các văn bản khác nhau cũng đều nêu rõ các quyền của người viênchức trong cơ sở sự nghiệp công lập Trong đó đảm bảo quyền về hoạt độngnghề nghiệp; quyền về tiền lương và các chế độ liên quan; quyền về nghỉ ngơi;quyền về hoạt động kinh doanh và làm việc ngoài thời gian quy định; quyền về
Trang 232 2
khen thưởng, tôn vinh trong nghề nghiệp, chuyên môn mà cá nhân cùng tập thểđơn vị đạt được
Trang 24Quản lý nhà nước đối với giảng viên các Trường đại học công lập.
Khái niệm quản lý
Trên thế giới, thuật ngữ quản lý được các nhà khoa học, các nhà quản lýđưa ra với nhiều khái niệm, cách hiểu khác nhau như:
Theo H Koontz: Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sựphối hợp nỗ lực giữa các cá nhân để đạt được mục đích của nhóm hay tổ chức.Mục tiêu quản lý là hình thành một môi trường, trong đó con người có thể đạtđược mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất với sự bất mãn cá nhân
ít nhất
Theo F.W Taylor: Quản lý là biết chính xác người khác làm và sau đóthấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất với giá rẻ nhất
Ở Việt Nam chúng ta, khái niệm quản lý cũng được các nhà khoa học, các
tổ chức khác nhau đưa ra với các khái niệm khác nhau như:
Theo Đại từ điển tiếng Việt, “Quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt độngcủa một số đơn vị, một cơ quan” [94]
Theo giáo trình Quản lý hành chính nhà nước và quản lý ngành giáo dục
và đào tạo thì “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đốitượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành
vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luậtkhách quan” [92]
Theo PGS-TS Nguyễn Cửu Việt, “Quản lý” là đối tượng nghiên cứu củanhiều ngành khoa học tự nhiên và xã hội, vì vậy mỗi ngành khoa học định nghĩa
về quản lý dưới giác độ riêng của mình Nhưng quan điểm chung nhất về quản
lý là do điều khiển học đưa ra Theo đó, quản lý là sự tác động định hướng bất
kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa nó và hướng nó phát triển phù hợpvới những quy luật nhất định Là tác động định hướng nên có các yếu tố cầuthành là: chủ thể là nơi phát sinh tác động quản lý, khách thể là cái mà tác động
Trang 25quản lý hướng tới - đó là hành vi của đối tượng bị quản lý và mục đích quản lý20
Trang 26là cái đích mà chủ thể hướng tới khi thực hiện sự tác động quản lý Quan niệmnày không những phù hợp với quá trình tự điều khiển của máy móc tự động hóa,
mà cả với động vật, với xã hội loài người, tức là quản lý xã hội [92]
Từ nhiều khái niệm, cách hiểu khác nhau như trên, chúng ta có thể kháiquát về quản lý như sau: Quan lý là quá trình điều hành, hướng dẫn, theo dõi, hỗtrợ, đôn đốc, kiểm tra (gọi chung là tác động) của chủ thể quản lý đối với cáchoạt động, hành vi của đối tượng và khách thể quản lý nhằm hướng tới đạt đượccác mục tiêu đề ra trong một thời gian nhất định với các chi phí tối thiểu về sứclao động và tài chính
Quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của các nhà nước trênthế giới.Đó là quá trình các cơ quan quyền lực nhà nước dùng hệ thống pháp luậtcủa mình để thực hiện quá trình quản lý, tổ chức và vận hành các mặt của đờisống xã hội
Cũng giống như khái niệm “quản lý”, quản lý nhà nước cũng có nhiềukhái niệm và cách hiểu khác nhau:
Theo Giáo trình Quản lý hành chính nhà nước và quản lý ngành giáo dục
và đào tạo: “Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành xã hội để thực thi quyềnlực nhà nước; là tổng thể về thể chế, về tổ chức và cán bộ của bộ máy nhà nước
có trách nhiệm quản lí công việc hàng ngày của nhà nước, do các cơ quan nhànước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) có tư cách pháp nhân công pháp (côngquyền) tiến hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện các chứcnăng, nhiệm vụ và quyền hạn mà nhà nước đã giao cho trong việc tổ chức vàđiều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân [93]
Theo sách “1200 thuật ngữ pháp lý Việt Nam”: “Quản lý nhà nước là sựtác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình
xã hội và hành vi hoạt động của con người do hệ thống cơ quan nhà nước từTrung ương đến cơ sở tiến hành dựa trên cơ sở pháp luật để thực hiện luật phápnhà nước Quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lậppháp, hành pháp
Trang 27và tư pháp, nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước” [87].21
Khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng được hiểu là toàn bộ mọihoạt động của nhà nước nói chung, mọi hoạt động mang tính chất nhà nước,nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước [92] Theo nghĩa hẹp,quản lý nhà nước được hiểu là hoạt động hành pháp - một trong ba loại hoạtđộng cơ bản của nhà nước, tức là hoạt động chấp hành hiến pháp, luật và điềuhành trên cơ sở hiến pháp và các luật đó Do đó, quản lý nhà nước theo nghĩarộng bao hàm cả quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp Cách hiểu này của khái niệm
“quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp” chính là nghĩa vốn có của thuật ngữ “quản lýnhà nước” trong khoa học luật hành chính xã hội chủ nghĩa cũng như ở ViệtNam từ trước đến nay [92] Chủ thể của quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp chủyếu là toàn bộ hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước Bên cạnh đó, quản lýnhà nước còn được hiểu là “sự biểu hiện khả năng mà xã hội có thể sử dụng để
tổ chức và điều chỉnh cuộc sống của mình” [89]
Như vậy, từ một số khái niệm nêu trên, chúng ta có thể thấy rằng, quản lýnhà nước là sự tác động, điều chỉnh các hoạt động của cá nhân và toàn bộ hành
vi xã hội của các cơ quan, tổ chức nhà nước, các cá nhân được nhà nước ủyquyền bằng hệ thống pháp luật để thực thi quyền lực nhà nước, nhằm đảm bảo
sự vận hành mang tính ổn định và phát triển của toàn xã hội
Quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập
Khái niệm:
Quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập
là sự tác động, điều chỉnh của các cơ quan quản lý nhà nước lên các hoạt độngcủa đội ngũ giảng viên làm việc tại các trường đại học thông qua hệ thống phápluật quy định về các quyền, nghĩa vụ, các chế độ chính sách liên quan nhằm đảmbảo sự phát triển ổn định của đội ngũ giảng viên nhằm phục vụ tốt nhất cho sựnghiệp giáo dục và đào tạo
Trang 28Sự cần thiết và mục tiêu của quản lý nhà nước đối với đội ngũgiảng viên các trường đại học công lập.
Quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảngviên đại học nói riêng có một vai trò hết sức quan trọng Đó là cơ sở để đảm bảothực hiện đầy đủ, có hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật,chiến lược của Nhà nước về giáo dục, giáo dục đại học và đội ngũ những ngườilàm công tác giáo dục (bao gồm cả cán bộ làm công tác quản lý giáo dục, giảngdạy, nghiên cứu) Chính các cơ sở pháp lý, nội dung, phương thức, công cụ quản
lý sẽ quyết định đến hiệu lực, hiệu quảcủa quá trình quản lý nhà nước đối vớiđội ngũ giảng viên các trường đại học Do đó, quản lý nhà nước đối với đội ngũgiảng viên các trường đại học công lập là hết sức cần thiết trong bất kỳ mọi hoàncảnh, đặc biệt là trong giai đoạn nước ta đang tiến hành quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa, với mục tiêu trở thành một nước công nghiệp, hiện đại vàonăm 2020
Với xu hướng hội nhập quốc tế và trình độ phát triển tri thức nhân loạingày càng sâu rộng và mạnh mẽ hiện nay, giáo dục và đào tạo có một vai trò hếtsức quan trọng nhằm không ngừng nâng cao trình độ dân trí, bồi dưỡng nhân tài,phát triển khoa học, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu cao của quá trình hội nhập Dovậy quản lý nhà nước nhằm hướng tới mục tiêu đảm bảo sự hài hòa, hợp lý về sốlượng, chất lượng, cơ cấu đội ngũ giảng viên ở các trường đại học, từ đó đảmbảo việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của toàn ngành giáo dục mà Đảng và Nhànước đã giao phó
Cơ quan quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trườngđại học công lập
Đại học công lập là đơn vị sự nghiệp công lập do nhà nước thành lập, chịu
sự quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật Vàgiảng
viên các trường đại học công lập là viên chức, theo đó quản lý nhà nước đối với
Trang 29giảng viên đại học công lập trước hết là quản lý viên chức theo quy định củaLuật
Viên chức Theo quy định của luật này, các cơ quan quản lý nhà nước đối vớiviên
chức nói chung và giảng viên đại học công lập nói riêng bao gồm: [86]
23
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về viên chức
Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc quản lý nhànước về viên chức
Các cơ quan ngang bộ trong phạmvi nhiệm vụ, quyền hạn của mình cótrách nhiệm quản lý nhà nước về viên chức
Ủy ban Nhân dân Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vinhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm quản lý nhà nước về viên chức.Ngoài ra, tại Điều 48, Luật viên chức cũng quy định: Đơn vị sự nghiệpcông lập được giao quyền tự chủ cũng như chưa được giao quyền tự chủ thựchiện các nội dung vềquản lý viên chức theo quy định
Theo các nội dung nêu trên, giảng viên đại học chịu sự quản lý nhà nướccủa nhiều cơ quan khác nhau trên cơ sở tuân thủ các quy định của Luật viênchức và các luật và văn bản quy phạm pháp luật khác theo quy định
Nội dung quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trườngđại học công lập
Giảng viên đại học với tư cách là viên chức nhà nước, do vậy nội dungquản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên đại học trước hết chính là nội dungquản lý nhà nước đối với đội ngũ viên chức
Bộ Nội vụ có trách nhiệm chính trước Chính phủ, theo đó Bộ Nội vụ đượcquy định có các nhiệm vụ, quyền hạn sau về quản lý nhà nước đối với viên chức.[86]
Xây dựng và ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyềnban hành các vă bản quy phạm pháp luật về viên chức;
Trang 30Chủ trì và phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ lập quy hoạch, kế hoạchphát triển độingũ viên chức trình cơ quan có thẩm quyền quyết định;
Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ trong việc ban hành hệthống danh mục, tiêu chuẩn và mã số chức danh nghề nghiệp;
Trang 31Quản lý công tác thống kê về viên chức; hướng dẫn việc lập, quản lý hồ sơviên chức, phát triển và vận hành cơ sở dự liệu quốc gia về viên chức;
Thanh tra, kiểm tra quản lý nhà nước về viên chức;
Hàng năm báo cáo Chính phủ về đội ngũ viên chức
Theo Điều 44, Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2012,quy định về nội dung quản lý viên chức như sau [56]:
Xây dựng kế hoạch, quy hoạch viên chức;
Quy định tiêu chuẩn, chức danh nghề nghiệp viên chức, xác định vị trí việclàm, cơ cấu viên chứctheo chức danh nghề nghiệp và số lượng viên chức làmviệc tương ứng;
Tổ chức thực hiên việc tuyển dụng, ký hợp đồng làm việc, bố trí, phâncông nhiệm vụ, biệt phái, kiểm tra và đánh giá viên chức
Tổ chức thực hiện thay đổi chức danh nghề nghiệp
Tổ chức thực hiện chế độ đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức
Tổ chức thực hiện chế độ tiền lương và chế độ, chính sách đãi ngộ đối vớiviên chức
Tổ chức thực hiện việc khen thưởng, kỷ luật đối với viên chức
Giải quyết thôi việc và chế độ nghỉ hưu đối với viên chức
Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê và quản lý viên chức
Thanh tra, kiểm tra việc thi hành quy định pháp luật về viên chức
Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với viên chức
Hiện tại, chưa có một văn bản riêng nào quy định nội dung quản lý nhànước đối với đội ngũ giảng viên nói chung và giảng viên các trường đại họccông lập nói riêng Tuy nhiên giảng viên là một trong những đối tượng điềuchỉnh của Luật giao dục đại học, nội dung quản lý nhà nước đối với đội ngũgiảng viên đại học một phần đồng thời là nội dung quản lý nhà nước về giáo dục
Trang 32Quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục đại học; quy định về tiêu chuẩnđánh giá chất lượng giáo dục đại học, chuẩn quốc gia đối với cơ sở giáo dục đạihọc, chuẩn đối với chương trình đào tạo các trình độ giáo dục đại học và yêu cầutối thiểu để chương trình đào tạo được thực hiện, quy trình, chu kỳ kiểm địnhchất lượng giáo dục, quản lý nhà nước về kiểm định chất lượng giáo dục đại học Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo dụcđại học.
Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục đại học
Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý giảng viên và cán bộquản lý giáo dục đại học
Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển giáo dục đại học
Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, sảnxuất, kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục đại học
Tổ chức, quản lý hoạt động hợp tác quốc tế về giáo dục đại học
Quy định việc tặng danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công lao đối với
sự nghiệp giáo dục đại học
Trang 33Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo
và xử lý vi phạm pháp luật về giáo dục đại học
26
Trang 34Từ các nội dung quản lý nhà nước về viên chức cũng như nội dung quản
lý nhà nước về giáo dụcđại học, ta có thể nhận thấy nội dung quản lý nhà nước
về đội ngũ giảng viên báo gồm các nội dung chính như sau:
Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về đội ngũ giảng viên trongcác cơ sở giáo dục đại học công lập
Quy hoạch, kế hoạch xây dựng đội ngũ giảng viên trong các cơ sở giáodục đại học công lập
Hướng dẫn, quy định và tổ chức thực hiện các quy định pháp luật vềtuyển dụng, quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng giảng viên
Quy định và tổ chức thực hiện chế độ tiền lương, chính sách đãi ngộ, chế
độ khen thưởng và kỷ luật
Thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm pháp luật đối với giảng viêntrong các cơ sở giáo dục đại học công lập
Về ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về đội ngũ giảngviên trong các trường đại học công lập
Đội ngũ giảng viên nói chung và giảng viên các trường đại học công lậpnói riêng được điều chỉnh, quy định trong nhiều văn bản khác nhau, từ các Luật,Pháp lệnh của Quốc Hội đến các Nghị định, Quyết định của Chính phủ; Quyếtđịnh của Bộ Nội vụ và Bộ Giáo dục - Đào tạo; Thông tư hướng dẫn của Bộ Nội
vụ, Bộ giáo dục - Đào tạo và các Bộ liên quan Hầu hếtở tất cả các nội dungquản lý nhà nước về đội ngũ giảng viên đều có văn bản quy phạm pháp luật điềuchỉnh
Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một nội dung hết sức quantrọng trong quá trình điều hành và quản lý xã hội Thể hiện tính chấp hành vàđiều hành về mặt quản lý nhà nước đối với giảng viên nói chung và giảng viêncác trường đại học công lập nói riêng Trước đây, khi chưa có Luật Viên chức,giảng viên trong các cơ sở giáo dục đại học công lập được điều chỉnh, quy địnhtrong Pháp lệnh Cán bộ, công chức ngày 26 tháng 02 năm 1998 và Pháp lệnh
Trang 35sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức ngày 29 tháng 427
năm 2003 Theo đó, Nghị định số 116/2003/NĐ-CP của Chính phủ đã cụ thể hóa
về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sựnghiệp của Nhà nước Như vậy, việc quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảngviên trong các cơ sở giáo dục đại học công lập được thực hiện theo quy địnhnày Để cụ thể và hướng dẫn các cơ sở giáo dục thực hiện đúng, đầy đủ các nộidung trong Nghị định 43/2006/NĐ-CP, Bộ giáo dục và Đào tạo phối hợp với BộNội vụ ban hành Thông tư liên tịch số 07/2009/TTLT-BGDĐT-BNV ngày15/4/2009 về hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chứcthực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với các đơn vị sự nghiệp cônglập giáo dục và đào tạo
Trước yêu cầu của đổi mới trong công tác quản lý nhà nước về đội ngũviên chức, năm 2010, Quốc Hội ban hành Luật Viên chức số 58/2010/QH12.Với việc ra đời của Luật này, đội ngũ viên chức nói chung và giảng viên trongcác cơ sở giáo dục đại học công lập nói riêng được quy định một cách đầy đủ,chi tiết Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng, đầy đủ và cao nhất để các cơquan nhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về đội ngũ viên chức, trong
đó có đội ngũ giảng viên
Luật Giáo dục Đại học số 08/2012/QH13 và các văn bản hướng dẫn (đặcbiệt là Điều lệ Trường đại học theo Quyết định số 70/QĐ-TTg, ngày 10 tháng 12năm 2014) thực hiện sau đó thêm một bước quan trọng quy định riêng đối vớiđội ngũ giảng viên, trong đó có giảng viên các trường đại học đã tạo điều kiệnthuận lợi để việc quản lý giảng viên có thêm các cơ sở pháp lý Nghị quyết số
29, ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sảnViệt Nam khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứngyêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” Tiếp theo Luật giáo dục, ngày 24tháng 10 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 41/2013/NĐ-CP quy định
Trang 36chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục Đại học Việc rađời các văn bản quy phạm này đã tạo thêm các hành lang pháp lý căn bản, vữngchắc cho việc tổ chức và hoạt động của các cơ sở giáo dục, đào tạo Cụ thể thêmmột bước các nội dung, phương thức quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảngviên các trường đại học, trong đó có giảng viên các trường đại học công lập.
Về quy hoạch, kế hoạch xây dựng đội ngũ giảng viên trong cáctrường đại học công lập
Quy hoạch là quá trình thực hiện đồng bộ các chủ trương, biện pháp để tạonguồn và xây dựng đội ngũ giảng viên trong trường đại học công lập Làm tốtcông tác quy hoạch, không những duy trì được số lượng và chất lượng độingũgiảng viên hiện tại mà còn thu hút được đội ngũ giảng viên có trình độchuyên môn cao từ những nơi khác đến cho sự phát triển trong tương lai Bêncạnh đó, công tác quy hoạch, kế hoạch có thể giúp cho lãnh đạo trường lườngtrước được những vấn đề nảy sinh do dư thừa hay thiếu hụt nguồn nhân lực ởcác giai đoạn khác nhau, tạo ra tính chủ động và hiệu quả cao cho công tác đàotạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên của Trường, đáp ứng tốt yêu cầu nâng caochất lượng quản lý, chuyên môn ngành nghề giảng dạy, nghiên cứu Từ đó nângcao chất lượng dạy và học trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước và hội nhập quốc tế mà các trường đều hướng tới
Việc xây dựng các quy hoạch, kế hoạch xây dựng đội ngũ giảng viên cáctrường đại học công lập hiện nay phải đảm bảo tính hài hòa về cơ cấu và cân đối
về số lượng theo ngành nghề đào tạo, bám sát các yêu cầu chung của đất nước
về chiến lược phát triển nguồn nhân lực nói chung và nhân lực ngành giáo dụcnói riêng Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng(khoá VIII) về Chiến lược cán bộ thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
đã chỉ rõ: "Quy hoạch cán bộ là một nội dung trọng yếu của công tác cán bộ, bảođảm cho công tác cán bộ đi vào nền nếp, chủ động, có tầm nhìn xa, đáp ứng cảnhiệm vụ trước mắt và lâu dài" [3] Ngày 22 tháng 7 năm 2011, Thủ tướngChính phủ ban hành Quyết định số 1216/QĐ-TTg về việc phê duyệt quy hoạch
Trang 37phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Quyết định này đã nêu rõquan điểm, mục tiêu phát triển, phương hướng, giải pháp phát triển nhân lực29
Trang 38các ngành, lĩnh vực, trong đó có đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và độingũ giáo viên ở các cấp Cũng tại quyết định này nêu rõ “ Các Bộ, Ngành tổchức triển khai xây dựng và thực hiện Quy hoạch phát triển nhân lực của mìnhphù hợp với Quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia và yêu cầu phát triển củangành:”[45] Trên cơ sở đó, ngày 29 tháng 12 năm 2011, Bộ Giáo dục và Đàotạo ban hành Quyết định số 6639/QĐ-BGDĐT về việc phê duyệt quy hoạch pháttriển nhân lực ngành giáo dục giai đoạn 2011-2020 Quyết định này đã nêu racác bất cập, nguyên nhân của những hạn chế, đồng thời khẳng định tầm quantrọng của quy hoạch, phát triển đội ngũ giáo viênđó là “việc quy hoạch nhân lựcđội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý trong ngành giáo dục là một nhiệm vụ cấpthiết, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, thực hiệnthắng lợi Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010-2020 của đấtnước ” [18]
Nhìn chung, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ cũng như Quyết địnhcủa Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo nêu trên chủ yếu là quy hoạch về sốlượng, chất lượng và cơ cấu cán bộ, công chức và viên chức cũng như giảngviên đại học Tại hai quyết định này chưa nêu vấn đề về quy định liên quan đếnquy hoạch cán bộ quản lý trong các đơn vị sự nghiệp, trong đó có cán bộ lý giáodục giáo dục ở các cấp (Ban Giám hiệu, Trưởng khoa, Trưởng bộ môn ) Nộidung này được quy định và hướng dẫn thực hiện hàng năm, có sự thay đổi, điềuchỉnh, bổ sung ở các văn bản khác trên cơ sở Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày30/11/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) và hướng dẫn số 15-HD/BTCTW, ngày
05 tháng 11 năm 2012 về thực hiện công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lýtheo tinh thần nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30/11/2004 của Bộ chính trị (khóaIX) và kết luận số 24-KL/TW ngày 05/6/2012 củaBộ Chính trị (khóa XI) Cụthể, gần nhất là Hướng dẫn số 139-HD/BCSĐ ngày 19/09/2014 của Ban Cán sựĐảng Bộ Giáo dục và Đào tạo về công tác qui hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lýcác cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo Văn bản hướng dẫn này
đã giúp cho các cơ sở giáo dục đại học công lập về:thống nhất nhận thức chung
về quy hoạch; thẩm quyền và đối tượng quy hoạch; tiêu chuẩn quy hoạch; thời
Trang 393 8
gian quy hoạch Và các căn cứ, hướng dẫn của Bộ chính trị, Ban tổ chức Trungương Đảng cũng là cơ sở cho các Bộ, ngành khác thực hiện các hướng dẫn quyhoạch cán bộ quản lý thuộc thẩm quyền quản lý của mình
Trong chiến lược Phát triển giáo dục 2011 - 2020, Ban hành kèm theoQuyết định số711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủcũng là một trong những căn cứ quan trọng để các cơ quan quản lý liên quancũng như các trường đại học công lập thực hiện chiến lược phát triển đội ngũnhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, trong đó một nhiệm vụ quan trọng liênquan tới phát triển chất lượng đội ngũ hết sức quan trọng là “Thực hiện đề ánđào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ cho các trường đại học, cao đẳng vớiphương án kết hợp đào tạo trong và ngoài nước để đến năm 2020 có 25% giảngviên đại học và 8% giảng viên cao đẳng là tiến sỹ’ ’ [45]
Để cụ thể hơn và giúp các trường đại học định hướng xây dựng đội ngũgiảng viên, đặc biệt là đội ngũ giảng viên đạt trình độ Tiến sĩ, Chính phủ đã banhành Nghị định số 73/2015/NĐ-CP ngày 08 tháng 9 năm 2015 Quy định về tiêuchuẩn phân tầng, khung xếp hạng và tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở giáo dục đại học.Nghị định này nêu rõ các tiêu chuẩn cơ sở giáo dục đại họctheo ba định hướng:nghiên cứu, ứng dụng và thực hành
- Đối với trường định hướng nghiện cứu: Tỷ lệ giảng viên, nghiên cứuviên cơ hữu có trình độ tiến sĩ không thấp hơn 30% tổng số giảng viên, nghiêncứu viên cơ hữu của cơ sở giáo dục đại học; đối với các ngành, chuyên ngànhđào tạo theo định hướng nghiên cứu, tỷ lệ này không thấp hơn 50%; [70]
- Đối với trường định hướng ứng dụng: Tỷ lệ giảng viên, nghiên cứu viên
cơ hữu có trình độ tiến sĩ không thấp hơn 15% tổng số giảng viên, nghiên cứuviên cơ hữu của cơ sở giáo dục đại học [70]
Với các quy định này, các trường đại học sẽ thuận lợi hơn cho công tácphát triển đội ngũ, đặc biệt là chuẩn hóa đội ngũ có trình độ đào tạo Tiến sĩ
Trang 40Về hướng dẫn, quy định và tổ chức thực hiện các quy địnhpháp luật về tuyển dụng, quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng giảng viên.
Với bất kỳ cơ quan hay tổ chức nào, việc bổ sung đội ngũ nhân sự, quản lý,
sử dụng, đào tạo cũng như bồi dưỡng để phát triển là điều hết sức quan trọng.Với trường đại học, các nội dung này càng quan trọng hơn khi mà chất lượngviên chức (trong đó có giảng viên) không chỉ quyết định đến uy tín, chất lượngđào tạo, sự phát triển của nhà trường mà còn quyết định đến chất lượng nguồnlực lao động của toàn xã hội (bởi đại học là nơi đào tạo lao động chất lượng caocho xã hội, từ đó quyết định một phần năng suất, chất lượng lao động của toàn
xã hội) Do đó việc tuyển dụng, quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng giảng viênluôn được chú trọng thực hiện mang tính thường xuyên, liên tục
Tuyển dụng được hiểu là việc thu hút những người lao động có trình độ từlực lưỡng lao động trong xã hội Là quá trình đánh giá các ứng viên ở nhiều khíacạnh khác nhau dựa trên các yêu cầu của vị trí tuyển dụng, nhằm tìm ra ứng viênphù hợp nhất theo như mong muốn của nhà tuyển dụng Việc tuyển dụng ở mỗi
cơ quan khác nhau có thể khác nhau về phương thức, các bước tuyển dụng Songđối với các trường đại học công lập với vị trí là đơn vị sự nghiệp công phải đảmbảo tuân thủ các quy định của Nhà nước về tuyển dụng Hiện nay, Luật Viênchức ngày 15 tháng 11 năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành là căn cứpháp lý quan trọng để thực hiện các nội dụng liên quan đến tuyển dụng, quản lý,
sử dụng, đào tạo và bồi dưỡng.Theo đó, Nghị định số 29/NĐ-CP ngày 12 tháng
4 năm 2012 quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức đã quy địnhchi tiết Sau nghị định số 29/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2012 là các Thông tư
số 12/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ quy định về chức danh nghề nghiệp và thayđổi chức danh nghề nghiệp đối với viên chức; Thông tư 15/2012/TT-BNV của
Bộ Nội vụ hướng dẫn về tuyển dụng, ký kết hợp đồng làm việc và đền bù chi phíđào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức; Thông tư 16/2012/TT-BNV của Bộ Nội
vụ ban hành Quy chế thi tuyển, xét tuyển viên chức; quy chế thi thăng hạng chứcdanh nghề nghiệp đối với viên chức và Nội quy kỳ thi tuyển, thi thăng hạngchức danh nghề nghiệp đối với viên chức