1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Nhận xét đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm gen BRAF v600e ở bệnh nhân ung thư tuyến giáp dưới 45 tuổi

74 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (11)
    • 1.1 Tổng quan về ung thư tuyến giáp (11)
      • 1.1.1 Dịch tễ học (11)
      • 1.1.2. Nguyên nhân, yếu tố nguy cơ (12)
      • 1.1.3. Đặc điểm ung thư giáp theo giải phẫu bệnh (13)
      • 1.1.4 Chẩn đoán (16)
      • 1.1.5 Chẩn đoán giai đoạn (21)
      • 1.2.6 Điều trị (23)
      • 1.2.7 Tiên lượng bệnh (26)
    • 1.2 Tổng quan về đột biến gen BRAF V600E ở bệnh nhân ung thư giáp trạng (28)
      • 1.2.1 Đột biến BRAF V600E (28)
      • 1.2.2 Phương pháp phát hiện đột biến gen BRAF V600E (31)
    • 1.3 Một số nghiên cứu về mối liên quan giữa đột biến BRAF V600E với (32)
      • 1.3.1 Trên thế giới (32)
      • 1.3.2 Tại Việt Nam (33)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (34)
    • 3.1 Đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân Ung thư tuyến giáp dưới 45 tuổi có xét nghiệm gen BRAF V600E (37)
      • 3.1.1 Đặc điểm lâm sàng (37)
      • 3.1.2 Đặc điểm mô bệnh học (38)
      • 3.1.3 Đặc điểm giai đoạn tiến triển khối u (39)
      • 3.1.4 Phương pháp và kết quả điều trị (41)
    • 3.2 Tình trạng đột biến gen BRAF V600E trên bệnh nhân ung thư tuyến giáp dưới 45 tuổi (42)
      • 3.2.1 Tỷ lệ đột biến gen BRAF V600E (42)
  • CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN (47)
    • 4.1 Đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân UTTG dưới 45 tuổi có xét nghiệm gen (47)
      • 4.1.1 Đặc điểm lâm sàng (47)
      • 4.1.2 Đặc điểm mô bệnh học (48)
      • 4.1.3 Đặc điểm giai đoạn tiến triển của bệnh (48)
      • 4.1.4 Đặc điểm về phương pháp và kết quả điều trị (51)
    • 4.2 Nhận xét tỷ lệ đột biến gen BRAF V600E và mối liên quan giữa đột biến với các đặc điểm lâm sàng (52)
      • 4.2.1 Nhận xét tỷ lệ đột biến gen BRAF V600E (52)
      • 4.2.2 Nhận xét mối liên quan giữa đột biến gen BRAF V600E với một số đặc điểm lâm sàng (53)
  • CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN (57)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (58)
  • PHỤ LỤC (64)

Nội dung

Hình 1.6 PET/CT của bệnh nhân UTTG tái phát Hình 1.7 Con đường tín hiệu MAPK Hình 1.8 Con đường tín hiệu đột biến gen BRAF V600E trong ung thư tuyến giáp... Danh mục bảng Bảng 3.1 Phân b

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân Ung thư tuyến giáp dưới 45 tuổi có xét nghiệm gen BRAF V600E

Bảng 3.1 Phân bố tuổi giới Đặc Điểm Nam Nữ

Nhận xét : Tỷ lệ nữ chiếm 79%, nhiều hơn số bệnh nhân nam 3,7 lần Trong số

81 ca bệnh được nghiên cứu, tuổi trung bình mắc bệnh là 36,73 ± 5,5 Tuổi nhỏ nhất mắc bệnh là 23

Biểu đồ 3.1 Lý do vào viện

Nhận xét: Ung thư tuyến giáp thường diễn biến mà không có các triệu chứng lâm sàng đặc hiệu, phần lớn bệnh nhân ung thư tuyến giáp đều vô tình phát hiện bệnh khi khám sức khỏe, tỷ lệ lên đến 51,9%

Hạch cổ Đau Nuốt vướng

3.1.2 Đặc điểm mô bệnh học

Bảng 3.2 Đặc điểm vị trí lấy mẫu bệnh phẩm

Số bệnh nhân Tỷ lệ (%)

Nhận xét: 74/81 bệnh nhân (91,4 %) lấy mẫu bệnh phẩm từ khối u tuyến giáp

Chỉ có 8,6% bệnh nhân lấy mẫu bệnh phẩm từ hạch di căn Không có trường hợp nào lấy mẫu bệnh phẩm từ tổ chức di căn xa

Biểu đồ 3.2 Đặc điểm mô bệnh học

Nhận xét: Phần lớn bệnh nhân có mô bệnh học là ung thư tuyến giáp biểu mô nhú (chiếm 96,3%); 2,6% là thể nhú biến thể nang Chỉ có 3 bệnh nhân (chiếm 3,7%) có mô bệnh học là ung thư biểu mô tuyến giáp thể nang

Thể nhú Thể nhú nang Thể nang

3.1.3 Đặc điểm giai đoạn tiến triển khối u

Bảng 3.3 Đặc điểm tiến triển khối u Đặc điểm tiến triển Số bệnh nhân

Xâm lấn ngoài tuyến giáp

Khu trú trong tuyến giáp 50 61,7

Có di căn hạch cổ 31 38,3

Giai đoạn bệnh theo AJCC

Nhận xét: Trong số 81 bệnh nhân nghiên cứu, có 35 bệnh nhân u thùy Phải tuyến giáp (chiếm 43,2%), 31 bệnh nhân có khối u ở thùy Trái tuyến giáp (chiếm 38,3%) 13,6% bệnh nhân có u ở cả 2 thùy tuyến giáp U xuất hiện ở eo tuyến giáp với tỷ lệ thấp (4,9%) Khối u tuyến giáp có kích thước trung bình 9,1 mm Trong đó, khối u có kích thước dưới 1cm khá cao, lên tới 65,4%, bên cạnh đó, chỉ có 6/81 trường hợp khối u có kích thước lớn hơn 2cm chiếm 7,4%

Về độ tiến triển của khối u, 31/81 bệnh nhân, chiếm 38,3% bệnh nhân có khối u xâm lấn ra tổ chức ngoài tuyến giáp 38,3% bệnh nhân có di căn hạch, 2 bệnh nhân (chiếm 2,5%) có di căn xa Trong số 81 bệnh nhân nghiên cứu, chỉ có 2 bệnh nhân ung thư tuyến giáp giai đoạn II, chiếm 2,5% tổng số bệnh nhân Vị trí di căn được thể hiện trong bảng dưới đây

Bảng 3.4 Vị trí di căn hạch, di căn xa

Vị trí di căn Số bệnh nhân Tỷ lệ (%)

Di căn hạch cổ cùng bên 19 61,3

Di căn hạch cổ đối bên 2 6,5

Nhận xét: Trong nghiên cứu của tôi, 31 bệnh nhân được ghi nhận có di căn hạch, trong đó chủ yếu là di căn hạch cùng bên (61,3%) Chỉ một lượng nhỏ bệnh

32 nhân (chiếm 6,5%) di căn hạch đối bên Đối với những trường hợp có di căn xa, vị trí di căn ở cả 2 trường hợp đều tại phổi

Bảng 3.5 Đặc điểm lâm sàng theo độ tuổi Độ tuổi Nam n(%)

Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân ở nhóm 20-29 tuổi có giới tính nam chiếm tỷ lệ khá lớn, lên tới 63,6%, đồng thời, tỷ lệ T3/4 ở nhóm này cũng lên tới 45,4% Tỷ lệ di căn hạch cao nhất ở nhóm 20-29 và thấp nhất ở nhóm 40-44 Tỷ lệ đột biến cao nhất ở nhóm 40-44 tuổi (71,4%)

3.1.4 Phương pháp và kết quả điều trị

Bảng 3.6 Đặc điểm về phương pháp và kết quả điều trị

Phương pháp điều trị Số bệnh nhân Tỷ lệ (%)

Phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp 50 61.7

Phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp kèm nạo vét hạch

Phẫu thuật cắt bỏ một thùy giáp 0 0 Điều trị bằng I-131

Không 17 21 Điều trị thay thế hormone 81 100

Kết quả xạ hình tuyến giáp sau phẫu thuật 60

Không còn tổ chức giáp 15 18,5

Còn tổ chức giáp tại giường tuyến giáp 45 55,6

Nhận xét: Phẫu thuật hiện là phương pháp đầu tay trong điều trị ung thư tuyến giáp, 100% bệnh nhân được thực hiện phẫu thuật, trong đó 50/81 bệnh nhân, chiếm 61,7% bệnh nhân phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp, 8,3% bệnh nhân phẫu thuật cắt toàn bộ giáp kết hợp nạo vét hạch cổ Liệu pháp thay thế hormone được chỉ định điều trị ở 100% bệnh nhân ung thư tuyến giáp Điều trị bằng I-131 được chỉ định điều trị ở 79% bệnh nhân sau phẫu thuật cắt tuyến giáp.

Tình trạng đột biến gen BRAF V600E trên bệnh nhân ung thư tuyến giáp dưới 45 tuổi

3.2.1 Tỷ lệ đột biến gen BRAF V600E

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ đột biến gen BRAF V600E

Nhận xét: trong số 81 bệnh nhân ung thư tuyến giáp dưới 45 tuổi, có 52 bệnh nhân phát hiện đột biến gen BRAF V600E, chiếm 64% tổng số bệnh nhân

3.2.2 Mối liên quan giữa đột biến gen BRAF V600E và một số đặc điểm lâm sàng

3.2.2.1 Mối liên quan đột biến gen và BRAF V600E với đặc điểm nhân khẩu

Không đột biến 36% Đột biến BRAF

Không đột biến Đột biến BRAF V600E

Bảng 3.7 Mối liên quan giữa đột biến gen BRAF V600E và đặc điểm nhân khẩu Đặc điểm Đột biến gen BRAF V600E n(%) p BRAF (-) n)

Nhận xét: Trong số bệnh nhân mắc đột biến gen BRAF V600E, đột tuổi trung bình phát hiện là 37,31 ± 5,436, giới tính nữ (40/52) Chưa phát hiện mối liên quan mang ý nghĩa thống kê giữa đột biến gen và yếu tố dịch tễ như tuổi, giới tính

3.3.2.2 Mối liên quan giữa đột biến gen và vị trí lấy mẫu bệnh phẩm

Bảng 3.8 Mối liên quan giữa đột biến gen và vị trí lấy mẫu

Vị trí lấy mẫu Đột biến gen BRAF V600E n(%) p

Nhận xét: Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ đột biến BRAF

V600E với vị trí lấy mẫu với p> 0,05

3.3.2.3 Mối liên quan giữa đột biến gen và mô bệnh học

Bảng 3.9 Mối liên quan giữa đột biến gen và mô bệnh học

Mô bệnh học Đột biến gen BRAF V600E n (%) p BRAF (-) n)

Nhận xét: Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ đột biến

BRAF V600E với kết quả mô bệnh học với p>0,05

3.3.2.4 Mối liên quan giữa đột biến gen và đặc điểm lâm sàng

Bảng 3.10 Mối liên quan giữa đột biến gen BRAF V600E với tiến triển khối u tuyến giáp Đặc điểm Đột biến gen BRAF V600E n(%) p

BRAF (+) nR Kích thước khối u (cm) 0,98 (0,1-4,0) 0,88 (0,1-4,0) 0,865

Xâm lấn ngoài tuyến giáp

Giai đoạn bệnh theo AJCC

Nhận xét: Dựa vào số liệu chưa thấy sự khác biệt có ý nghĩa giữa 2 nhóm bệnh nhân đột biến và không đột biến gen BRAF V600E một số đặc điểm giai đoạn bệnh, kích thước khối u, số lượng u, di căn hạch hay di căn xa Tuy nhiên, nhận thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng đột biến gen với

37 độ xâm lấn ra ngoài tuyến giáp với p=0,004 Bên cạnh đó, so sánh giai đoạn phát triển khối u giữa hai nhóm bệnh nhân nhận thấy sự khác biệt có ý nghĩa với p

3.3.2.4 Mối liên quan giữa đột biến BRAF V600E với phương pháp điều trị

Bảng 3.11 Mối liên quan giữa đột biến gen BRAF với phương pháp điều trị Đặc điểm Đột biến gen BRAF V600E n(%) p

Tổng liều điều trị (mCi)

Nhận xét: không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về số lượt điều trị bằng

I-131, tổng liều điều trị I-131 giữa 2 nhóm đột biến và không đột biến gen BRAF với p>0,05

BÀN LUẬN

Đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân UTTG dưới 45 tuổi có xét nghiệm gen

Ung thư tuyến giáp có thể gặp ở nhiều độ tuổi khác nhau, tuổi mắc bệnh được coi là một trong những yếu tố tiên lượng bệnh từ những năm 1960, bởi lão hóa là suy giảm sinh lý không thể tránh khỏi và là yếu tố nguy cơ chính gây ung thư [46] Trong phân loại giai đoạn bệnh theo AJCC lần thứ 8, bệnh nhân dưới 55 tuổi được xem là yếu tố nguy cơ thấp, tiên lượng tốt Tuy nhiên, trong giới hạn đề tài này, chúng tôi sử dụng mức 45 tuổi theo AJCC lần thứ 7 để phân loại bệnh nhân dưới 45 tuổi với mô bệnh học biệt hóa tốt phân loại thành 2 giai đoạn bệnh, giai đoạn I với ung thư chưa di căn xa và giai đoạn II với trường hợp có di căn xa [38] Trong nghiên cứu này, với 81 bệnh nhân UTTG cho thấy độ tuổi trung bình phát hiện bệnh ở độ tuổi dưới 45 là 36,73 ± 5,51 Số liệu này cũng khá tương đồng với một số nghiên cứu trên thế giới, như nghiên cứu của Yi Lu và cộng sự (2020) trên

1896 bệnh nhân dưới 45 tuổi, độ tuổi trung bình khi phát hiện bệnh là 35,7± 6,5 tuổi [63] Các số liệu này cũng phù hợp với một nghiên cứu khác của Adam và cộng sự (2015) thống kê dựa trên nguồn dữ liệu quốc gia Hoa Kỳ (NCDB, SEER database) cho thấy độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 34 ± 7 tuổi[57] hay nghiên cứu của Sung và cộng sự (2017) cho kết quả tương tự 36,2 ± 7,4 [42]

Theo kết quả nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân nữ chiếm 79% nhiều gấp 3,7 lần số bệnh nhân nam Tỷ lệ cách biệt giới tính trong nghiên cứu này tương đồng với tỷ lệ bệnh nhân nữ gấp 3 lần bệnh nhân nam theo thống kê của Fugazzola và cộng sự ( dựa trên số liệu của Mạng lưới ung thư Châu Âu (ENCR), hay trên nghiên cứu của Zheng và cộng sự trên 512 bệnh nhân, cho thấy tỷ lệ giới tính là 3,03 [15][26] Một nghiên cứu khác của Meiling Huang (2018) với 2490 bệnh nhân tại Trung Quốc cũng cho tỷ lệ 3,03 [52] Tuy nhiên, theo một số nghiên cứu khác, tỷ lệ này lại cao hơn rất nhiều, nghiên cứu của Mohamed Adam (2015), hay một nghiên cứu trong nước của Mai Trọng Khoa và cộng sự (2018) ở cùng độ tuổi, đều cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nữ gấp 6 lần bệnh nhân nam [2][45]

Về lý do phát hiện bệnh, hình 3.2 cho thấy phần lớn bệnh nhân UTTG phát hiện bệnh một cách vô tình, không có triệu chứng biểu hiện bệnh (51,9%) Một số khác phát hiện khi khối u đã lớn, có các biểu hiện chèn ép các cơ quan lân cận như thực quản, khí quản, thần kinh thanh quản quặt ngược gây ra các triệu chứng như

39 đau, khó thở, nuốt vướng, nói khàn, sau đó là các biểu hiện toàn thân Điều này cho thấy vai trò quan trọng của khám sàng lọc tuyến giáp tại cộng đồng và khám định kỳ tuyến giáp cho những đối tượng có nguy cơ cao, nhằm phát hiện và điều trị bệnh ở giai đoạn sớm

4.1.2 Đặc điểm mô bệnh học

Về đặc điểm về vị trí lấy mẫu

100% các mẫu bệnh phẩm đều được thu thập sau khi phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ hoặc một phần tuyến giáp, có hoặc không kèm theo nạo vét hạch Ở giai đoạn sớm, chưa có di căn, khối u được lấy từ vị trí nguyên phát Ở giai đoạn muộn, khi đã có di căn hạch, mẫu bệnh phẩm có thể lấy từ khối u nguyên phát tại tuyến giáp hoặc từ hạch di căn Đối với xét nghiệm đột biến gen BRAF, giá trị của xét nghiệm là như nhau ở cả 2 loại mẫu bệnh phẩm tuyến giáp hoặc hạch di căn [7]

Trong nghiên cứu của chúng tôi, với cỡ mẫu hạn chế nên chỉ gặp một số thể mô bệnh học thông thường Tất cả 81 bệnh nhân trong nghiên cứu đều là ung thư biểu mô tuyến giáp biệt hóa với tỷ lệ mô bệnh học thể nhú chiếm phần lớn, lên đến 96,3% Kết quả này cũng tương đồng với một số nghiên cứu trong nước như nghiên cứu của Mai Trọng Khoa (2018) và nghiên cứu của Ngô Thị Minh Hạnh (2019) lần lượt là 93,7% và 96,1% [5,6] hay nghiên cứu nước ngoài như nghiên cứu của Iwadate M và cộng sự (2020) với tỷ lệ UTBMTG thể nhú chiếm 98,6% [59] hay với nghiên cứu của Huang và cộng sự (2018), tỷ lệ UTTGBM thể nhú cũng chiếm một tỷ lệ lớn lên đến 98,8% [52]

4.1.3 Đặc điểm giai đoạn tiến triển của bệnh

Về vị trí khối u Vị trí khối u là một trong những yếu tố để quyết định phẫu thuật cắt bỏ một phần hay toàn bộ tuyến giáp Trong nghiên cứu của chúng tôi, cho thấy tỷ lệ ung thư tuyến giáp xuất hiện ở cả hai thùy chiếm tỷ lệ nhỏ, chỉ 13,6%

Tỷ lệ này cũng tương tự với báo cáo của Yi Lu (2020), trong 1896 bệnh nhân ông quan sát, cho thấy 15,3% số bệnh nhân có ung thư ở cả 2 thùy giáp [63] hay trong nghiên cứu của Sung và cộng sự (2017) thống kê cho thấy 17,1% bệnh nhân dưới

45 tuổi có khối u ở 2 bên thùy tuyến giáp [42] Tuy nhiên với nghiên cứu khác của Huang và cộng sự (2018) với các bệnh nhân tại Đông Bắc Trung Quốc, cho thấy lượng bệnh nhân dưới 45 tuổi có khối u ở cả hai thùy tuyến giáp cao tới 40,3 %

Về kích thước khối u Cũng như tất cả các loại ung thư khác, kích thước khối u tăng lên, tiên lượng bệnh cũng xấu hơn Hầu hết các hệ thống tiên lượng bệnh đều đưa kích thước khối u là một trong những yếu tố tiêu chuẩn tiên lượng bệnh Trong phân loại AMES, những khối u ≥ 5cm được coi là một trong những yếu tố làm tăng nguy cơ tử vong của bệnh Trong nghiên cứu của chúng tôi, kích thước trung bình của khối u là 0,9±0,78 cm, có 53 bệnh nhân có khối u < 1cm, chiếm 65,4%, có 2 bệnh nhân có khối u > 4cm, chiếm 2,5% Nghiên cứu của Sung và cộng sự (2017), kích thước khối u trung bình là 1,6±1,1cm hay trong nghiên cứu của Iwadate và cộng sự (2020) là 1,5± 0,89cm với 27,5% bệnh nhân có khối u ≤ 1cm; 2,2% khối u > 4cm [42,59] Celik và cộng sự (2020) thống kê 56,3% bệnh nhân có vi ung thư, 1,6% bệnh nhân có khối u > 4cm [23] Kích thước trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi nhỏ hơn so với kích thước trung bình của các nghiên cứu trên thế giới, tỷ lệ các bệnh nhân có khối u vi ung thư với kích thước

0,05) Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác trên thể giới lại chứng minh được mối liên quan giữa mô bệnh học với đột biến gen BRAF V600E Theo Huang và cộng sự (2018), trong số 1145 bệnh nhân dương tính với BRAF V600E (trong số 1708 bệnh nhân) tại Trung Quốc có tới 99,17% trường hợp là UTBMTG thể nhú, p

Ngày đăng: 07/10/2021, 11:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y Tế (2020), "Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh ung bướu", Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh ung bướu
Tác giả: Bộ Y Tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2020
2. Mai Trọng Khoa, "Vai trò của xạ hình SPECT trong ung thư tuyến giáp tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai", UR:https://ungthubachmai.vn/dao-tao--nghien-cuu/vai-tro-cua-xa-hinh-spect-trong-ung-thu-tuyen-giap-tai-trung-tam-y-hoc-hat-nhan-va-ung-buou-%E2%80%93-benh-vien-bach-mai.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của xạ hình SPECT trong ung thư tuyến giáp tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai
3. Mai Trọng Khoa, Nguyễn Duy Anh, "Giá trị của PET/CT trong phát hiện tái phát di căn ung thư tuyến giáp thể biệt hóa sau điều trị I-131", UR:https://ungthubachmai.vn/y-hoc-hat-nhan/gia-tri-cua-petct-trong-phat-hien-tai-phat-di-can-ung-thu-tuyen-giap-the-biet-hoa-sau-dieu-tri-i-131.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị của PET/CT trong phát hiện tái phát di căn ung thư tuyến giáp thể biệt hóa sau điều trị I-131
4. Mai Trọng Khoa, Phạm Cẩm Phương (2017), "Điều trị ung thư tuyến giáp thể biệt hóa bằng I131", Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trị ung thư tuyến giáp thể biệt hóa bằng I131
Tác giả: Mai Trọng Khoa, Phạm Cẩm Phương
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2017
7. Ngô Thị Minh Hạnh, Trịnh Tuấn Dũng, Hoàng Quốc Trường (2020), "Mô bệnh học, hóa mô miễn dịch, đột biến gen BRAF V600E trong ung thư biểu mô tuyến giáp biệt hóa, tái phát, di căn", Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô bệnh học, hóa mô miễn dịch, đột biến gen BRAF V600E trong ung thư biểu mô tuyến giáp biệt hóa, tái phát, di căn
Tác giả: Ngô Thị Minh Hạnh, Trịnh Tuấn Dũng, Hoàng Quốc Trường
Năm: 2020
8. Nguyễn Thị Xuyên, Lương Ngọc Khuê, Thái Hồng Quang (2015), "Bệnh tuyến giáp", Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh nội tiết - chuyển hóa, Bộ Y tế tr 51–142 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh tuyến giáp
Tác giả: Nguyễn Thị Xuyên, Lương Ngọc Khuê, Thái Hồng Quang
Năm: 2015
9. Nguyễn Thị Xuyên, Mai Trọng Khoa, Lương Ngọc Khuê (2014), "Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bằng Y học hạt nhân", , Tr.13–20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bằng Y học hạt nhân
Tác giả: Nguyễn Thị Xuyên, Mai Trọng Khoa, Lương Ngọc Khuê
Năm: 2014
12. Joseph KR, Edirimanne S, Eslick GD (2018), "Multifocality as a prognostic factor in thyroid cancer: A meta-analysis", International Journal of Surgery (London, England), Số 50, Tr.121–5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Multifocality as a prognostic factor in thyroid cancer: A meta-analysis
Tác giả: Joseph KR, Edirimanne S, Eslick GD
Năm: 2018
13. Do BA và c.s. (2014), "Is age associated with risk of malignancy in thyroid cancer?", Otolaryngology--Head and Neck Surgery: Official Journal of American Academy of Otolaryngology-Head and Neck Surgery, Số 151(5), Tr.746–50 14. Subash A, Sinha P, Singh A (2020), "BRAF mutation and age in differentiated thyroid cancer risk stratification: Two sides of the same coin", Oral Oncology, Số 106, Tr.104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Is age associated with risk of malignancy in thyroid cancer?", Otolaryngology--Head and Neck Surgery: Official Journal of American Academy of Otolaryngology-Head and Neck Surgery, Số 151(5), Tr.746–50 14. Subash A, Sinha P, Singh A (2020), "BRAF mutation and age in differentiated thyroid cancer risk stratification: Two sides of the same coin
Tác giả: Do BA và c.s. (2014), "Is age associated with risk of malignancy in thyroid cancer?", Otolaryngology--Head and Neck Surgery: Official Journal of American Academy of Otolaryngology-Head and Neck Surgery, Số 151(5), Tr.746–50 14. Subash A, Sinha P, Singh A
Năm: 2020
15. Tang K-T, Lee C-H (2010), "BRAF mutation in papillary thyroid carcinoma: pathogenic role and clinical implications", Journal of the Chinese Medical Association: JCMA, Số 73(3), Tr.113–28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BRAF mutation in papillary thyroid carcinoma: pathogenic role and clinical implications
Tác giả: Tang K-T, Lee C-H
Năm: 2010
20. Adam MA và c.s. (2015), "Presence and Number of Lymph Node Metastases Are Associated With Compromised Survival for Patients Younger Than Age 45 Years With Papillary Thyroid Cancer", Journal of Clinical Oncology, American Society of Clinical Oncology Sách, tạp chí
Tiêu đề: Presence and Number of Lymph Node Metastases Are Associated With Compromised Survival for Patients Younger Than Age 45 Years With Papillary Thyroid Cancer
Tác giả: Adam MA và c.s
Năm: 2015
21. American Cancer Society, "Thyroid Cancer Risk Factors", UR: https://www.cancer.org/cancer/thyroid-cancer/causes-risks-prevention/risk-factors.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thyroid Cancer Risk Factors
22. Bin Xu (2020), "Papillary thyroid carcinoma", Diagnostic Pathology and Molecular Genetics of Thyroid, PathologyOutlines.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Papillary thyroid carcinoma
Tác giả: Bin Xu
Năm: 2020
23. Celik M và c.s. (2020), "The relation between BRAFV600E mutation and clinicopathological characteristics of papillary thyroid cancer", Medicinski Glasnik Ljekarske komore Zenicko-dobojskog kantona, (1) UR:https://doi.org/10.17392/1086-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The relation between BRAFV600E mutation and clinicopathological characteristics of papillary thyroid cancer
Tác giả: Celik M và c.s
Năm: 2020
24. Derwahl M, Nicula D (2014), "Estrogen and its role in thyroid cancer", Endocrine-Related Cancer, Bioscientifica LtdSố 21(5), Tr.T273–83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Estrogen and its role in thyroid cancer
Tác giả: Derwahl M, Nicula D
Năm: 2014
25. Figge JJ (2006), "Epidemiology of Thyroid Cancer", Thyroid Cancer: A Comprehensive Guide to Clinical Management, Humana Press, Totowa, NJ, tr 9–13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Epidemiology of Thyroid Cancer
Tác giả: Figge JJ
Năm: 2006
26. Fugazzola L và c.s. (2019), "2019 European Thyroid Association Guidelines for the Treatment and Follow-Up of Advanced Radioiodine-Refractory Thyroid Cancer", European Thyroid Journal, Karger PublishersSố 8(5), Tr.227–45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2019 European Thyroid Association Guidelines for the Treatment and Follow-Up of Advanced Radioiodine-Refractory Thyroid Cancer
Tác giả: Fugazzola L và c.s
Năm: 2019
27. Hay ID, Bergstralh EJ, Goellner JR (1993), "Predicting outcome in papillary thyroid carcinoma: development of a reliable prognostic scoring system in a cohort of 1779 patients surgically treated at one institution during 1940 through 1989.", Số 114, Tr.1050–7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Predicting outcome in papillary thyroid carcinoma: development of a reliable prognostic scoring system in a cohort of 1779 patients surgically treated at one institution during 1940 through 1989
Tác giả: Hay ID, Bergstralh EJ, Goellner JR
Năm: 1993
28. International Agency for Research on Cancer (2020), "GLOBOCAN 2020: New Global Cancer Data | UICC", 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: GLOBOCAN 2020: New Global Cancer Data | UICC
Tác giả: International Agency for Research on Cancer
Năm: 2020
29. Kakudo K, Bychkov A, Bai Y, Li Y, Liu Z, Jung CK (2018), "The new 4th edition World Health Organization classification for thyroid tumors, Asian perspectives", Pathology International, Số 68(12), Tr.641–64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The new 4th edition World Health Organization classification for thyroid tumors, Asian perspectives
Tác giả: Kakudo K, Bychkov A, Bai Y, Li Y, Liu Z, Jung CK
Năm: 2018

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w