Tình hình đó đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu sâu sắc quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo, nghiên cứu sự vận dụng của Đảng ta tron
Trang 1A MỞ ĐẦU
Xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa hiện nay đang tạo ra những cơ hội thuận lợi cho sự phát triển đất nước, đời sống đa phần nhân dân được cải thiện, trong
đó có các tín đồ tôn giáo; bên cạnh đó cũng tạo môi trường khách quan, thuận lợi cho sự phát triển tín ngưỡng tôn giáo và tàng trữ trong lòng nó những yếu tố tiêu cực Cùng với những vấn đề “dân tộc”, “dân chủ”, “nhân quyền”, vấn đề tôn giáo hiện nay đang là một vấn đề nhạy cảm và có nhiều diễn biến phức tạp Các thế lực thù địch đang lợi dụng vấn đề “tôn giáo” để tác động, can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta, phục vụ các ý đồ chính trị phản động của chúng Tình trạng lợi dụng tôn giáo để chống phá, vu khống đường lối lãnh đạo của Đảng, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc đang có xu hướng tăng lên Một số lực lượng trong các tôn giáo đang có ý định liên kết với nhau, thực hiện “liên tôn” chống cộng
Tình hình đó đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu sâu sắc quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo, nghiên cứu sự vận dụng của Đảng ta trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, làm sáng
tỏ hơn giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo đối với cách mạng Việt Nam, đồng thời vận dụng linh hoạt phương pháp Hồ Chí Minh
để giải quyết vấn đề tôn giáo hiện nay Dựa trên thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng và những kiến thức lý luận đã được học, em lựa chọn
vấn đề “Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và sự vận dụng của Đảng và Nhà nước Việt Nam” làm đề tài thu hoạch kết
thúc môn học Tôn giáo và tín ngưỡng của mình
B NỘI DUNG
Trang 21 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin về tôn giáo
1.1 Bản chất của tôn giáo
Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, tôn giáo là một hiện tượng xã hội đa dạng, phức tạp gắn liền với những lĩnh vực xã hội khác nhau của đời sống con người;
là một hình thái ý thức xã hội do con người sáng tạo ra, nó phản ánh cách giải quyết mối quan hệ giữa con người với cái siêu nhiên, cái hiện thực với cái hư ảo, cái trần tục với cái thiêng liêng, cái trần gian với cái siêu trần gian Tôn giáo là sự sáng tạo, nó phản ánh hư ảo, ảo tưởng, sự tưởng tượng, là thế giới quan lộn ngược của con người với những sức mạnh bên ngoài chi phối họ Ăngghen viết “Bất cứ tôn giáo nào cũng đều là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc người, là những sức mạnh bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh mà trong đó
sức mạnh ở thế gian đã mang hình thức siêu thế gian”
Tôn giáo là một nhu cầu của xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định Nó không chỉ là việc đạo, nó còn là việc đời
Tôn giáo không có nội dung riêng, nó phản ánh hiện thực xã hội một cách sai lệch, hư ảo Tôn giáo là hạnh phúc hư ảo, là thuốc phiện của tín đồ tôn giáo
Tóm lại, Tôn giáo vừa là một hình thái ý thức xã hội vừa là một thực thể xã
hội Song xét về bản chất, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, nó phản ánh một cách hoang đường, hư ảo, lệch lạc hiện thực khách quan vào đầu
óc con người Sự hoang đường của tôn giáo do chính con người sáng tạo ra; cái thế giới hư ảo ấy không ai nhìn thấy được và chưa ai chứng minh được bằng cơ
sở khoa học Hoang đường và hư ảo chính là bản chất của tôn giáo
1.2 Nguồn gốc của tôn giáo
Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng tôn giáo ra đời có 3 nguồn gốc cơ bản:
- Trước hết là nguồn gốc nhận thức: Tôn giáo đã nảy sinh trong xã hội mà trình độ sản xuất hết sức thấp kém, con người hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào
tự nhiên, bất lực trước những hiện tượng tự nhiên không thể giải thích được, dẫn đến sự bất lực “bổ sung” bằng cách giải thích là có một lực lượng siêu nhiên có sức mạnh ghê gớm ở bên ngoài con người, đang chi phối con người Vì vậy, tôn giáo lúc đầu là đa thần, tôn giáo gắn liền với đặc điểm nhận thức Ánh sáng khoa học đi đến đâu thì tôn giáo lùi đến đó Biết và chưa biết còn khoảng cách thì còn tôn giáo Vì vậy, tôn giáo còn tồn tại lâu dài
- Thứ hai là nguồn gốc kinh tế - xã hội: Khi xã hội loài người phân chia thành giai cấp và có đối kháng giai cấp, con người phải chịu sự bóc lột của giai cấp thống trị, xã hội bất bình đẳng, con người không giải thích được, nên tìm
Trang 3đến tôn giáo Con người tìm đến tôn giáo để được che chở bởi đức chúa trời, đức phật, thượng đế… Giai cấp thống trị luôn luôn sử dụng tôn giáo, lợi dụng triệt
để tôn giáo để thống trị nhân dân, khống chế nhân dân
- Thứ ba là nguồn gốc tâm lý tình cảm: Con người tìm đến tôn giáo như tìm đến niềm an ủi, chỗ dựa tinh thần, tôn giáo đã có tác dụng giữ trạng thái thăng bằng, tâm tư, tình cảm của con người Nó là quan niệm, lòng tin, tình cảm của con người trước những sức mạnh của tự nhiên, những biến cố của xã hội Vì thế tôn giáo chỉ là hạnh phúc hư ảo, song người ta vẫn cần đến nó
1.3 Tính chất của tôn giáo
1.3.1 Tính lịch sử của tôn giáo
Con người sáng tạo ra tôn giáo Mặc dù tôn giáo còn tồn tại lâu dài, nhưng nó chỉ là một phạm trù lịch sử Tôn giáo không phải xuất hiện cùng với
sự xuất hiện của con người Tôn giáo chỉ xuất hiện khi khả năng tư duy trừu tượng của con người đạt tới một mức độ 5 nhất định Tôn giáo là sản phẩm của lịch sử Trong từng thời kỳ của lịch sử, tôn giáo có sự biến đổi cho phù hợp với kết cấu chính trị và xã hội của thời đại đó Thời đại thay đổi, tôn giáo cũng có sự thay đổi, điều chỉnh theo Đến một giai đoạn lịch sử, khi những nguồn gốc sản sinh ra tôn giáo bị loại bỏ, khoa học và giáo dục giúp cho đại đa số quần chúng nhân dân nhận thức được bản chất các hiện tượng tự nhiên và xã hội thì tôn giáo
sẽ dần dần mất đi vị trí của nó trong đời sống xã hội và cả trong nhận thức, niềm tin của mỗi con người.Đương nhiên, để đi đến trình độ đó sẽ còn là một quá trình phát triển rất lâu dài của xã hội loài người
1.3.2 Tính quần chúng của tôn giáo
Tính quần chúng của tôn giáo không chỉ biểu hiện ở số lượng tín đồ các tôn giáo Hiện nay tín đồ của các tôn giáo chiếm tỷ lệ khá cao trong dân số thế giới (nếu chỉ tính các tôn giáo lớn, đã có tới từ 1/3 đến 1/2 dân số thế giới chịu ảnh hưởng của tôn giáo) Mặt khác, tính quần chúng của tôn giáo còn thể hiện ở chỗ các tôn giáo là nơi sinh hoạt văn hóa, tinh thần của một số bộ phận quần chúng nhân dân lao động Dù tôn giáo hướng con người niềm tin vào hạnh phúc
hư ảo của thế giới bên kia, song nó luôn luôn phản ánh khát vọng của những người bị áp bức về một xã hội tự do, bình đẳng, bác ái Bởi vì, tôn giáo thường
có tính nhân văn, nhân đạo và hướng thiện Vì vậy, còn nhiều người ở trong các tầng lớp khác nhau của xã hội tin theo
1.3.3 Tính chính trị của tôn giáo
Trong xã hội không có giai cấp, tôn giáo chưa mang tính chính trị Tính chất chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chia giai cấp, có sự
Trang 4khác biệt về lợi ích, các giai cấp thống trị đã lợi dụng tôn giáo để phục vụ lợi ích của mình Những cuộc chiến tranh tôn giáo trong lịch sử và hiện tại, như các cuộc thập tự chinh thời trung cổ ở châu Âu hay xung đột tôn giáo ở bán đảo Ban Căng,
ở Pakixtan, ấn Độ, Angiêri, Bắc Ailen, Bắc Capcadơ (thuộc Nga) đều xuất phát
từ những ý đồ của những thế lực khác nhau trong xã hội, lợi dụng tôn giáo để thực hiện mục tiêu chính trị của mình Trong nội bộ các tôn giáo, cuộc đấu tranh giữa các dòng, hệ, phái nhiều khi cũng mang tính chính trị Trong những cuộc đấu tranh ý thức hệ, thì tôn giáo thường là một bộ phận của đấu tranh giai cấp
Ngày nay, tôn giáo đang có chiều hướng phát triển, đa dạng, phức tạp không chỉ thể hiện tính tự phát trong nhân dân, mỗi địa phương, mỗi quốc gia
mà còn có tổ chức ngày càng chặt chẽ, rộng lớn ngoài phạm vi địa phương, quốc gia - đó là nhiều tổ chức quốc tế của các tôn giáo với vai trò, thế lực không nhỏ trên toàn cầu và với những trang bị hiện đại tác động không chỉ trong lĩnh vực tư tưởng, tâm lý mà cả trong chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Vì vậy, cần nhận
rõ rằng: đa số quần chúng tín đồ đến với tôn giáo nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần; song, trên thực tế, tôn giáo đã và đang bị các thế lực chính trị - xã hội lợi
dụng cho thực hiện mục đích ngoài tôn giáo của họ
1.4 Chức năng của Tôn giáo
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tôn giáo có các chức năng:
- Chức năng đền bù hư ảo: Mặc dù tôn giáo phản ánh xuyên tạc, hoang đường cái hiện thực khách quan nhưng từ sự bất lực thực tiễn của con người, tôn giáo đáp ứng nhu cầu niềm tin tạo sự thăng bằng tâm lý và vấn an con người
- Chức năng thế giới quan: giúp cho con người nhận biết về sự giải thích thế giới quan thông qua sự giải thích của tôn giáo
- Chức năng điều chỉnh hành vi hoạt động của con người thông qua hệ thống chuẩn mực những giá trị xã hội do tôn giáo đưa ra
- Chức năng liên kết: Nó duy trì củng cố hệ thống xã hội hiện hành, củng cố cộng đồng, củng cố các mối quan hệ xã hội, nó có thể gắn hàng triệu con người vào mục tiêu nào đó
Đồng thời với những chức năng trên, tôn giáo còn có những hạn chế: Nó gò
bó con người, làm cho con người lệ thuộc bên ngoài Làm mờ nhạt ý thức đấu tranh, ý chí tự chủ vươn lên, ý thức trách nhiệm của con người, làm cho con
người nghèo đi Dễ bị lợi dụng vì mục đích đen tối
2 Tư tưởng của Hồ Chí Minh về tôn giáo
2.1 Tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về tôn giáo ở Việt Nam
Trang 5Trước hết, theo Hồ Chí Minh: cơ sở triết học của tôn giáo là chủ nghĩa duy tâm Người khẳng định: “tôn giáo là duy tâm, cộng sản là duy vật” Người tiếp cận tôn giáo dưới nhiều góc độ mang tính toàn diện với tính cách là triết học, văn hoá Đặc biệt, Hồ Chí Minh đã đi vào khai thác mặt tích cực đạo đức của tôn giáo Trong bài viết “đạo đức của Mỹ” đăng trên báo Nhân dân, số 12 ngày 14/6/1951, Người đã chỉ rõ: “Chúa Giêxu dạy: đạo đức là bác ái Phật thích
ca dạy: đạo đức là từ bi Khổng Tử dạy: đạo đức là nhân nghĩa” Rõ ràng, theo
Hồ Chí Minh, tôn giáo cũng có mặt tích cực của nó, chứ tôn giáo không phải là thứ hoàn toàn “độc hại”, xấu xa, tiêu cực
Về mặt tích cực của tôn giáo: Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, đối với người có tín ngưỡng, đức tin tôn giáo và lòng yêu nước không mâu thuẫn nhau, mà ngược lại luôn thống nhất với nhau Vì thế, Hồ Chí Minh không bao giờ xúc phạm đến đức tin tôn giáo, Người lên án khía cạnh chính trị của tôn giáo, nhưng lại rất trân trọng những những giá trị văn hoá, yếu tố tích cực về đạo đức và những khía cạnh nhân văn, niềm tin vào con người của tôn giáo Người nói: “vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn
bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá” Theo Người, ưu điểm của tôn giáo là có tính hướng thiện Người chỉ ra các ưu điểm cụ thể của các tôn giáo như: Đạo Khổng có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân; đạo thiên chúa có lòng nhân ái cao cả; đạo phật có lòng từ bi hỷ xả…đó chính là những giá trị nhân văn của nhân loại cần được bảo vệ, giữ gìn và phát triển
Từ quan niệm đúng đắn về tín ngưỡng, tôn giáo, Hồ chí Minh đã nhìn thấy sự tương đồng, sự phù hợp giữa mục đích của tôn giáo với sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới ở nước ta Người đã nhiều lần nói với đồng bào có tín ngưỡng rằng, mục tiêu của Đức Chúa, Đức Phật… không khác
gì mục tiêu của những người cách mạng Đến với đồng bào theo Phật giáo, Người nói: “Đức Phật đại từ, đại bi, cứu khổ cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn, Người phải đấu tranh diệt lũ ác ma Nay đồng bào ta đại đoàn kết
hy sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng để đánh tan thực dân phản động, để cứu dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ” Đến với đồng bào theo đạo Công giáo, Người nói: “Chúa Cơ đốc sinh ra làm gương mọi giống phúc đức như: hy sinh vì nước, vì dân, làm gương lao động… Tin thờ chúa bằng tinh thần Chúng
ta kháng chiến cứu nước, thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, cải cách ruộng đất
Trang 6làm cho người cày có ruộng, tín ngưỡng tự do Như thế là việc làm của chính phủ
và nhân dân ta đều hợp với tinh thần Phúc âm”
Hồ Chí Minh có quan điểm lịch sử cụ thể sâu sắc về tôn giáo Theo Người, ở Việt Nam không có tôn giáo như ở phương Tây Việc thờ cúng tổ tiên của con người Việt Nam như một việc làm phổ biến, không có một uy quyền tuyệt đối như một linh mục Người phát hiện ra tính nhân văn cao cả của việc thờ cúng tổ tiên của con người Việt Nam, đó chính là chủ nghĩa bình đẳng trong việc thờ cúng, tất cả mọi người khi chết đều được thờ cúng và đều có thể trở thành “thần” Quan điểm lịch sử cụ thể sâu sắc về tôn giáo của Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở việc Hồ Chí Minh đã đánh giá vai trò của các tín đồ, chức sắc trong tôn giáo là rất khác nhau và rất biện chứng Một mặt, Người đề cập đến mặt tốt của tôn giáo Theo Hồ Chí Minh: nhân dân ta dù lương hay giáo đều tốt
cả, phần lớn đồng bào tôn giáo đều yêu nước, kháng chiến, nhưng một phần bị địch lợi dụng như ngụy quân, cao đài, hoà hảo, công giáo ở Ninh Bình, dẫn đến hoài nghi chính sách của Đảng Người cũng tố cáo mạnh mẽ sâu sắc tội ác của giáo hội đối với nhân dân và dân tộc Việt Nam, Người vạch rõ: “người nông dân
An Nam bị hành hình vừa bằng lưỡi lê của nền văn minh tư bản chủ nghĩa, vừa bằng cây thánh giá của Hội Thánh đĩ bợm”, bọn giáo sĩ như bọn gian phi vào hôi của khi nhà cháy; nhà chung đã mua chuộc lừa đảo cưỡng bức nhân dân, họ thực hiện ăn cắp giấy chứng nhận ruộng đất, họ cho vay nặng lãi, hoặc bằng thủ đoạn đê hèn khác; do thám đưa đường làm tay sai cho thực dân Pháp, phản bội lại lợi ích của dân tộc, trực tiếp tham gia cướp, phá của cải của nhân dân, khiêu khích chia sẻ hận thù dân tộc…
Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh cũng kịp thời biểu dương những gương tốt, việc tốt của đồng bào theo đạo, theo Hồ Chí Minh: đồng bào lương, giáo đều tốt Đồng thời, Người còn trực tiếp khen ngợi những linh mục thực sự sống tốt đời, đẹp đạo, như linh mục Lê Văn Liêm, khen ngợi đồng bào theo đạo Hoà Hảo đã quay súng về với Tổ quốc chống xâm lược Người hết sức tôn trọng sự hy sinh cao cả của những người sáng lập ra tôn giáo Người viết: “Chúa cơ đốc hy sinh
để cứu loài người khỏi ách nô lệ và đưa loài người về hạnh phúc, bình đẳng, bác
ái, tự do”, hoặc Phật, Khổng Tử, Chúa trời là những vị chí tôn
Quan điểm của Hồ Chí Minh về tôn giáo còn được thể hiện ở sự nhận thức đúng và giải quyết đúng giữa tôn giáo và chính trị, giữa đạo và đời, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần Đặc biệt là tư tưởng về mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị: Tôn giáo không thể tách ra khỏi đời sống chính trị, Người đã phê phán kịch liệt quan điểm của linh mục Nguyễn Văn Lý đòi tách tôn giáo ra khỏi đời sống chính trị Theo Hồ Chí Minh: Tổ quốc độc lập, tổ quốc
Trang 7được giải phóng thì tôn giáo mới tự do Đồng bào ta no ấm phần xác, thong dong phần hồn, cha chỉ lo phần hồn còn phần đời là của chính phủ
1.2 Tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo ở Việt Nam
Hồ Chí Minh không chỉ có tầm nhìn sắc sảo, khách quan, khoa học về tôn giáo mà Người còn có những đóng góp lớn mang tính đặc sắc riêng có của mình
về công tác tôn giáo Hay nói cách khác, Hồ Chí Minh đã phát triển tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lê nin về công tác tôn giáo lên một trình độ mới, thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:
Một là, Hồ Chí Minh thật sự tôn trọng tự do, tín ngưỡng của nhân dân
Kể cả trước, trong và sau cách mạng tháng 8 năm 1945 cũng như xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình Hồ Chí Minh luôn luôn là tấm gương sáng trong cả nhận thức và hành động về sự tôn trọng tự do, tín ngưỡng của nhân dân Ngay từ năm 1941, trong 10 chính sách của Việt Minh, Người đã
đề cập đến vấn đề tự do, tín ngưỡng của nhân dân Người chỉ rõ: Chính phủ Việt Minh ban bố quyền tự do, tín ngưỡng và không phân biệt tôn giáo Đặc biệt, ngay sau khi cách mạng tháng 8 thành công, trong bài viết: “Những nhiệm vụ cấp bách của nhà nước Việt nam dân chủ cộng hoà” ngày 3/9/1945, một trong sáu nhiệm vụ mà Hồ Chí Minh đề cập đến là vấn đề tôn giáo Người chỉ rõ:
“thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương, để dễ thống trị Tôi đề nghị chính phủ ta tuyên bố: tín ngưỡ tự do và Lương Giáo đoàn kết”
Hồ Chí Minh phê phán các hành động, việc làm vi phạm đến tự do, tín ngưỡng của nhân dân Người vạch rõ: “Không nên xúc phạm tín ngưỡng phong tục của dân (như nằm trước bàn thờ, giơ chân lên bếp, đánh đàn trong nhà, v.v…” Đặc biệt, sự tôn trọng tự do, tín ngưỡng của nhân dân còn được thể hiện chính bằng hành động cao cả của Người Người đã đích thân dự những buổi lễ cầu hồn khi đồng bào công giáo bị giặc Pháp giết hại, hoặc tự tay vẽ ảnh phật cho đồng bào theo đạo phật
Hai là, theo quan điểm của Hồ Chí Minh: mọi công tác tôn giáo đều
hướng tới xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng khối đoàn kết giữa đồng bào theo đạo và không theo đạo, giữa đồng bào lương và đồng bào theo đạo thiên chúa Đồng thời, Hồ Chí Minh luôn luôn xác định đúng trọng tâm, trọng điểm công tác tôn giáo - đó là công tác công giáo
Đoàn kết không phân biệt lương, giáo và đoàn kết giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo với những người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo tôn giáo khác nhau là một bộ phận trong tư tưởng “Đoàn kết,
Trang 8đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công” của Người Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đoàn kết lương - giáo được thể hiện trên những nội dung cơ bản đó là:
Hồ Chí Minh kiên quyết phê phán những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo, lợi dụng tự do tín ngưỡng để kích động hoạt động chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân, chia rẽ đoàn kết lương - giáo, xâm phạm lợi ích chung
của đất nước, của toàn dân tộc.
Ba là, Hồ Chí Minh luôn luôn sáng tạo hình thức, phương pháp mới trong
công tác tôn giáo Trong công tác tôn giáo, Hồ Chí Minh không cứng nhắc hình thức và phương pháp tiến hành mà Người luôn luôn có sự sáng tạo về hình thức
và phương pháp mới cho phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn Chính những cái không thành công trong công tác tôn giáo vừa chứng minh sự cao cả
vĩ đại của Hồ Chí Minh, vừa minh chứng cho sự sáng tạo hình thức, phương pháp mới về công tác tôn giáo Hồ Chí Minh định chủ trương xây dựng giáo hội việc làm theo tam đồng: tự sinh, tự dưỡng và tự lập không dính dáng đến toà thánh Vaticăng nhưng không được
3 Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
3.1 Đặc điểm, tình hình tôn giáo ở Việt Nam
Một là, Việt Nam là nước có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo
Theo số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0h ngày 01/4/2019, nước ta có 16 tôn giáo được phép hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam Tổng số
có 13,2 triệu người theo tôn giáo, chiếm 13,7% tổng dân số cả nước Trong đó,
số người theo công giáo là đông nhất với 5,9 triệu người, chiếm 44,ϲ% tổng số người theo tôn giáo và chiếm 6,1% tổng dân số cả nước Xếp thứ hai là số người theo Phật giáo chiếm 4,6 triệu người, chiếm 35,0% những người theo tôn giáo và chiếm 4,8% dân số cả nước Các tôn giáo còn lại chiếm tỷ trọng nhỏ Song nếu kể các hành vi thờ cúng tổ tiên, thành hoàng, vua Hùng… thì hầu hết người Việt có tâm linh tôn giáo
Hai là, các tôn giáo, tín ngưỡng dung hợp, đan xen và hoà đồng, không có
kỳ thị, tranh chấp và xung đột tôn giáo
Ba là, các tôn giáo chính có ảnh hưởng lớn trong xã hội Việt Nam đều du
nhập từ bên ngoài, ít nhiều đều có sự biến đổi và mang dấu ấn Việt Nam
Bốn là, sự pha trộn phức tạp giữa ý thức tôn giáo với tín ngưỡng truyền
thống và tình cảm, phong tục tập quán và nhân dân
Trang 9Mặc dù sự hình thành và phạm vi ảnh hưởng đối với số lượng tín đồ và tác động chính trị - xã hội không giống nhau, đồng bào các tôn giáo đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc
3.2 Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
Thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã
có nhiều chủ trương, chính sách về tôn giáo và công tác tôn giáo, như Nghị quyết số 24 của Bộ Chính trị (khóa VI); đặc biệt sau khi có Nghị quyết
25/NQ-TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về “công tác tôn giáo”; Nghị quyết hội nghị Trung ương 7 (Khóa IX) về công tác tôn giáo
năm 2013; Chỉ thị số 1940/CT-TTG về nhà, đất liên quan đến tôn giáo năm 2008; Luật tính ngưỡng, tôn giáo năm 2016, các tỉnh, thành phố đều xây dựng chương trình hành động; nhiều tỉnh, thành phố có Nghị quyết chuyên đề về công tác tôn giáo, thành lập Ban chỉ đạo công tác tôn giáo để chỉ đạo thống nhất trong
hệ thống chính trị thực hiện công tác tôn giáo
Nhận thức của cấp ủy Đảng, chính quyền, các cơ quan quản lý về công tác tôn giáo được nâng lên, trong xử lý những vấn đề liên quan đến tôn giáo đã vận dụng linh hoạt hơn các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương, giải quyết tương đối kịp thời các nhu cầu chính đáng về sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào; tạo điều kiện giúp đỡ các giáo hội, chức sắc sinh hoạt tôn giáo đúng pháp luật
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức
xã hội tích cực vận động đồng bào các tôn giáo thực hiện phương châm sống
“tốt đời, đẹp đạo”, chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia phát triển kinh tế - xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện tốt cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” Các đoàn thể đẩy mạng công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước trong đồng bào tôn giáo, tích cực phát triển đoàn viên, hội viên, tăng cường xây dựng lực lượng nòng cốt cho phong trào quần chúng ở địa phương
Công tác quản lý Nhà nước có chuyển biến, đã từng bước xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về tôn giáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Chính phủ có Nghị định số 22/NĐ-CP ngày 01/3/2005 Hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo;
Trang 10rồi Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg ngày 04/2/2005 của Thủ tướng Chính phủ về một số công tác đối với đạo Tin lành,…
Hệ thống pháp luật trên là công cụ pháp lý quan trọng để đảm bảo quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, giúp các cơ quan nhà nước nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; đã cụ thể hóa một cách hữu hiệu, tích cực đường lối chủ trương của Đảng đối với công tác tôn giáo trong thời kỳ mới, đồng thời toát lên tinh thần dân chủ đối với hoạt động tôn giáo, đáp ứng yêu cầu của cải cách hành chính trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời đảm bảo được tính tương thích của luật pháp quốc tế điều chỉnh về quyền con người trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt là những điều ước quốc tế
mà Việt Nam đã tham gia, ký kết hoặc gia nhập
Sự phối kết hợp giữa các bộ, ban, ngành và địa phương đã tạo được sự thống nhất trong việc thực hiện quản lý Nhà nước đối với tôn giáo, giảm bớt các thủ tục hành chính rườm rà Các bộ, ban, ngành chủ động cùng với Ban chỉ đạo Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ triển khai chủ trương công tác đối với đạo Tin lành, đề xuất chủ trương công tác đối với những vấn đề tôn giáo Hướng dẫn, giúp đỡ các tổ chức tôn giáo Đại hội nhiệm kỳ theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo theo quy định của pháp luật
Chính phủ và các địa phương đã giải quyết kịp thời, đúng quy định pháp luật về nhu cầu hoạt động tôn giáo và một số nhu cầu chính đáng của các tổ chức, cá nhân tôn giáo, như phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc các tôn giáo; cho xây mới và cải tạo nhiều cơ sở thờ tự Nhiều tỉnh, thành đã tích cực giải quyết việc lập hồ sơ, xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tôn giáo; tạo điều kiện thuận lợi để các tôn giáo sinh hoạt bình thường, đúng theo tinh thần Nghị quyết hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (khóa IX) về Công tác tôn giáo đã nêu: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đã, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đảng, Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đảng, Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng Công tác tôn giáo là trách nhiệm của
cả hệ thống chính trị Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ
sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng