1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

MOT SO BIEN PHAP REN KI NANG GIAI TOAN CO LOI VAN CHO HOC SINH LOP 1

24 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 109,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua bài tập này HS từng bước làm quen với lời thay cho hình vẽ, HS dần dần thoát ly khỏi hình ảnh trực quan từng bước tiếp cận đề bài toán.Yêu cầu học sinh phải đọc và hiểu được tóm tắt,[r]

Trang 1

Môn : Toán Tên tác giả:

Chức vụ: Giáo viên

Năm học: 2012 - 2013

Trang 2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Trình độ chuyên môn: Cao đẳng sư phạm

Hệ đào tạo: Tại chức

Trang 3

A ĐẶT VẤN ĐỀ

I Lý do chọn đề tài:

Xuất phát từ mục tiêu giáo dục của Đảng: Giáo dục đào tạo là quốc sáchhàng đầu, là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân Mục tiêu của Đảng đối với bậcgiáo dục Tiểu học là: Nhằm cung cấp cho học sinh một nền giáo dục cơ sở đểphát triển nhiều mặt,cân đối nhân cách con người Cấp bậc Tiểu học là bậc họcđầu tiên của nền giáo dục, nó góp phần vô cùng quan trọng hình thành tư duy,nâng dần từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng Một trong những mônhọc quan trọng ở Tiểu học là môn Toán

Môn toán là môn học “công cụ, cung cấp kiến thức, kĩ năng phương pháp,góp phần xây dựng nền tảng văn hóa phổ thông của con người lao động mới.Toán học là công cụ của khoa học kĩ thuật có nguồn gốc trong thực tiễn.Nhữngkiến thức toán học phổ thông cơ bản sẽ giúp cho học sinh có cơ sở để học cácmôn khoa học, kỹ thuật Cùng với kiến thức, môn toán trong nhà trường còncung cấp cho học sinh những kỹ năng như: Kỹ năng tính (tính viết, tínhnhẩm…); Kỹ năng sử dụng các dụng cụ toán học (thước kẻ, com pa …); Kỹnăng đọc , vẽ hình, kỹ năng đo đạc (bằng dụng cụ), ước lượng (bằng mắt, bằngtay, bằng gang tay hay bằng bước chân

Đồng thời với việc trau dồi kiến thức, kĩ năng toán học cơ bản cho họcsinh, môn toán còn giúp cho học sinh phương pháp suy luận, phương pháp laođộng tốt, phương pháp tự học, phương pháp giải quyết các vấn đề, từ đó họcsinh có phương pháp tự học và phát triển trí thông minh sáng tạo Qua hoạt độnghọc toán, học sinh được rèn luyện tính cẩn thận, phân biệt rõ ràng, đúng sai.Môn toán còn có tác dụng trau dồi cho học sinh óc thẩm mĩ: giúp các em thíchhọc toán, thể hiện trong lợi ích của môn toán, trong hình thức trình bày

Dạy học môn Toán ở lớp Một nhằm giúp học sinh:

+ Bước đầu có một số kiến thức cơ bản, đơn giản, thiết thực về phépđếm, về các số tự nhiên trong phạm vi 100, về độ dài và đo độ dài trong phạm vi

20, về tuần lễ và ngày trong tuần, về giờ đúng trên đồng hồ; về một số hình học(Đoạn thẳng, điểm, hình vuông, hình tam giác, hình tròn); về bài toán có lời văn

+ Hình thành và rèn luyện kỹ năng thực hành đọc ,viết, đếm, so sánhcác số trong phạm vi 100; cộng trừ không nhớ trong phạm vi 100;đo và ướclượng độ dài doạn thẳng (với các số là số tự nhiên trong phạm vi 20 cm).Nhậnbiết hình vuông, hình tam giác, hình tròn, đoạn thẳng, điểm, vẽ điểm, đoạnthẳng) Giải một số bài dạng bài toán đơn về cộng trừ, bước đầu biết biểu đạtbằng lời, bằng ký hiệu, một số nội dung đơn giản của bài học và bài thực hành,tập so sánh , phân tích , tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa trong phạm vicủa những nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế của học sinh

+ Các em chăm chỉ, tự tin, cẩn thận, ham hiểu biết và học sinh có hứngthú học toán

Là người giáo viên trực tiếp dạy lớp 1 và đặc biệt là dạy môn toán, để thực hiện chương trình đổi mới giáo dục Toán học lớp 1 nói riêng và toán học Tiểu học nói chung tôi rất trăn trở và suy nghĩ nhiều làm sao để học sinh lớp 1

có kỹ năng giải các bài toán có lời văndạng đơn giản Xác định được tầm quan

Trang 4

trọng của việc dạy học giải toán có lời văn, tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp rèn kỹ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1.”

II Mục đích nghiên cứu:

- Tìm ra những giải pháp để giúp các em lớp một có kỹ năng giải toán cólời văn thật thành thạo

- Học sinh hiểu và yêu thích môn Toán từ đó các em có điều kiện rèn tưduy toán học tốt hơn

- Góp phần nâng cao chất lượng dạy học toán nói riêng và giáo dục nóichung trong trường Tiểu học Thị trấn Phùng

III.Đối tượng nghiên cứu

- HS lớp 1D trường Tiểu học năm học 2012-2013

IV Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng ban đầu về việc giải toán có lời văn ở lớp 1 trườngTiểu học Thị trấn Phùng

- Tìm ra những biện pháp để giúp các em lớp một có kỹ năng giải toán cólời văn thật thành thạo

- Học sinh hiểu và yêu thích môn Toán từ đó các em có điều kiện rèn tưduy toán học

- Trên cơ sở những kết quả đạt được và những tồn tại để rút ra bài họckinh nghiệm và có những đề xuất

V Các phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp quan sát sư phạm: Phương pháp này thực hiện trong quátrình dạy học , dự giờ các lớp, quan sát học sinh trong học tập

- Phương pháp điều tra giáo dục:

Hình thức: -Trò chuyện, hỏi đáp trực tiếp với học sinh

-Sử dụng phiếu điều tra

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, sản phẩm hoạt động của học sinh

- Phương pháp luyện tập thực hành

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

VI Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu

Phạm vi kiến thức và phương pháp dạy học môn toán rất đa dạng, phongphú.Ở đề tài này tôi tập trung nghiên cứu phương pháp dạy học “Phát huy tínhtích cực tự giác của học sinh” trong việc tổ chức và hướng dẫn học sinh lớp 1giải toán có lời văn

Trong bốn năm học gần đây, tôi được phân công giảng dạy ở lớp 1 Quátrình đó tôi luôn tìm hiểu, ghi chép, tập hợp những ưu điểm thiếu sót của học sinh ởtrong lớp về việc giải toán có lời văn Tôi đã mạnh dạn trao đổi với bạn bè đồngnghiệp để tìm hiểu nguyên nhân và cách khắc phục những ưu, nhược điểm trên

Năm học 2012 -2013 này tôi lại được phân công giảng dạy lớp 1 D trườngTiểu học Thị trấn Phùng Áp dụng những kinh nghiệm và đánh giá kết quả họctập của học sinh về “Giải toán có lời văn”.Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, quathực tế giảng dạy tôi xin mạnh dạn đề xuất một số biện pháp để nâng cao chấtlượng giảng dạy kiến thức “Giải toán có lời văn” ở lớp 1

Trang 5

B NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

I Cơ sở lý luận:

Giải toán có lời văn là một trong năm mạch kiến thức cơ bản xuyên suốtchương trình Toán cấp Tiểu học Thông qua giải toán có lời văn các em đượcphát triển trí tuệ, được rèn luyện kỹ năng tổng hợp :đọc viết, diễn đạt, trình bày,tính toán Toán có lời văn là mạch kiến thức tổng hợp của các mạch kiến thứctoán học Giải toán có lời văn các em sẽ được giải các loại toán về số học,cácyếu tố đại số, các yếu tố hình học và đo các đại lượng Toán có lời văn là chiếccầu nối giữa toán học và thực tế đời sống, giữa toán học với các môn khác Tuynhiên vì mới quen với môn toán, với các phép tính cộng, trừ lại tiếp xúc với việcgiải toán có lời văn nên không tránh khỏi có những bỡ ngỡ với học sinh

Giải toán có lời văn góp phần củng cố kiến thức toán, rèn luyện kỹ năngdiễn đạt, tích cực góp phần phát triển tư duy cho học sinh Tiểu học

II Cơ sở thực tiễn

Đối với trẻ em lớp 1, môn toán tuy có dễ nhưng để học sinh đọc hiểu bàitoán có lời văn quả không dễ dàng Bởi vì đối với lớp 1: vốn từ, vốn hiểu biết,khả năng đọc hiểu, khả năng tư duy lôgic của các em còn rất hạn chế Các emchưa biết cách tự học, học tập chưa tích cực Bởi vậy nỗi băn khoăn của giáoviên hoàn toàn chính đáng

Vậy làm thế nào để giáo viên nói, học sinh hiểu và thực hành diễn đạtđúng yêu cầu của bài toán?

Đó là mục đích chính của dề tài này

- Các số (Gắn với các thông tin đã biết)

- Câu hỏi (Chỉ thông tin cần tìm)

2 Một số học sinh chưa biết cách tóm tắt bài toán

3 Chưa phân biệt được các dạng toán có lời văn ở lớp 1

4 Học sinh không hiểu một số từ, một số thuật ngữ trong bài toán Do đó, các

em không hiểu nội dung bài toán có lời văn dẫn đến không biết cách giải bàitoán

5 Học sinh rất lúng túng khi nêu câu lời giải, thậm chí có những em viết câutrả lời sai, viết sai phép tính, viết sai đáp số Những tiết đầu tiên của giải toán cólời văn, mỗi lớp chỉ có khoảng 20% số học sinh biết nêu câu trả lời, viết đúngphép tính và đáp số Số còn lại các em vẫn chưa nắm rõ những vấn đề trên

6 Không biết xác định tên đơn vị tính toán khi giải

Trang 6

8 Không biết trình bày bài giải.

- Bài giải chưa đủ các bước như:

Bài giải+ Câu trả lời

+ Phép tính

+ Đáp số

- Có học sinh không làm phép tính mà trả lời luôn câu hỏi Cũng có emnêu miệng thì đúng nhưng viết vào vở lại sai Có em không ghi đáp số hoặctrình bày bài làm còn chưa sạch đẹp

Về phía giáo viên:

1 Chưa nghiên cứu kỹ hệ thống bài toán có lời văn trong chương trình toánlớp 1 cụ thể như sau:

- Giải bài toán một cách đơn giản (nhìn tranh để nêu phép tính thích hợp.)

- Giải bài toán để tìm ra cách giải cơ bản, đầy đủ nhất

- Các dạng toán có lời văn ở lớp 1: Chủ yếu hai dạng chính là thêm vàbớt

2 Chưa lựa chọn phương pháp thích hợp giúp học sinh nắm chắc đặc điểm

cơ bản của bài toán có lời văn

3 Chưa xác định được học sinh cần phải làm gì trong mỗi tiết dạy, giáo viêncần chốt điều cơ bản nào để học sinh hiểu chắc chắn kiến thức cần ghi nhớ

4 Giáo viên chưa tạo cơ hội để học sinh phát huy tích cực, chủ động tiếp thukiến thức Giáo viên thường sợ cháy giáo án mà làm thay học sinh rất nhiều

5 Giáo viên ngại sử dụng đồ dùng minh họa, ngại tóm tắt bằng sơ đồ, hình

8 Giáo viên chưa có những biện pháp hướng dẫn cụ thể, phù hợp để các emphát triển năng lực tư duy của mình

Trước những thực trạng trên tôi nhận thấy mình cần phải có những biện pháp

cụ thể để giúp các em rèn kĩ năng giải toán có lời văn đạt hiệu quả cao nhất

IV Các biện pháp thực hiện

Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, qua điều tra thực trạng ban đầu, trướchết tôi nắm bắt rõ nội dung chương trình sau đó nghiên cứu và tìm ra các giảipháp để rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1

Biện pháp 1: Nghiên cứu hệ thống bài toán có lời văn trong chương trình toán lớp 1.

1 Làm quen với toán có lời văn:

Để dạy tốt môn toán lớp 1 nói chung, “Giải toán có lời văn” nói riêng, điều đầutiên mỗi giáo viên phải nắm thật chắc nội dung chương trình, sách giáo khoa

Trang 7

Trong chương trình toán lớp 1, giai đoạn đầu học sinh còn đang học chữnên chưa thể đưa ngay “Bài toán có lời văn” Mặc dù đến tuần 22, học sinh mớiđược chính thức học cách giải bài toán có lời văn nhưng giáo viên đã ngầmchuẩn bị từ xa cho việc này ngay từ bài “ Phép cộng trong phạm vi 3” ở tuần 7.

Bắt đầu từ tuần 7 cho đến tuần 16 đều có các bài tập thuộc dạng “ Nhìntranh nêu phép tính” Ở đây học sinh được làm quen với việc:

- Xem tranh vẽ

- Nêu bài toán bằng lời

- Nêu câu trả lời

- Điền phép tính thích hợp (với tình huống trong tranh)

VD: Dạy bài luyện tập (trang 48)

Sau khi xem tranh vẽ ở trang 48 (SGK).HS tập nêu bài toán bằng lời:

“Có 1 bạn học sinh thêm 3 bạn nữa đang đi tới Hỏi tất cả có bao nhiêubạn học sinh?

HS tập nêu miệng câu trả lời: Có tất cả 4 bạn học sinh.Sau đó viết phéptính thích hợp vào ô trống: 1 + 3 = 4

Việc ngầm chuẩn bị cho học sinh các tiền đề để giải toán có lời văn làchuẩn bị cho học sinh cả về viết câu trả lời và viết phép tính.Chính vì vậy ngaysau các bài tập “Nhìn tranh điền phép tính thích hợp vào dãy 5 ô trống.” Chúng

ta đặt thêm cho các em những câu hỏi để các em trả lời miệng

VD: Từ bức tranh “Có 6 con bướm, 1 con nữa bay tới.” Ở trang 68-SGK Sau khi học sinh điền phép tính vào ô trống

GV nên hỏi tiếp: “Vậy có tất cả mấy con bướm?”

HS trả lời được:Có tất cả 7 con bướm; Hoặc Số bướm có tất cả là 7 con Bài tập 3 trang 85: HS quan sát và hiểu được:

Lúc đầu trên cành có 10 quả táo, có 2 quả táo rụng xuống Hỏi còn lạimấy quả?

HS trả lời được : Trên cành còn lại 8 quả táo

Cứ làm như vậy nhiều lần, học sinh sẽ quen dần với cách nêu lời giảibằng miệng Từ đó các em dễ dàng viết được các câu lời giải sau này

Tiếp theo đó, từ tuần 17 cho đến tuần 22, học sinh được làm quen với việcđọc tóm tắt rồi nêu đề toán bằng lời, sau đó nêu cách giải và tự điền số và phéptính thích hợp vào dãy năm ô trống

VD: Bài luyện tập chung (trang 89)

Bài 5: Viết phép tính thích hợp

a Có : 5quả

Thêm : 3 quả

Có tất cả : … quả ?

Trang 8

Qua bài tập này HS từng bước làm quen với lời thay cho hình vẽ, HS dầndần thoát ly khỏi hình ảnh trực quan từng bước tiếp cận đề bài toán.Yêu cầu họcsinh phải đọc và hiểu được tóm tắt, biết diễn đạt đề bài và lời giải bài toán bằnglời, chọn phép tính thích hợp điền vào ô trống nhưng chưa cần viết lời giải.

Tuy không yêu cầu cao, tránh tình trạng quá tải với học sinh nhưng đối với

HS khá giỏi chúng ta có thể động viên các em diễn đạt nhiều cách khác nhau:

VD: Khi dạy bài tập trên, GV hướng dẫn HS dựa vào tóm tắt và nêu đềtoán Cùng một phần tóm tắt các em có thể nêu nhiều đề toán khác nhau

Cách 1: Em có 5 quả bóng , mẹ cho em thêm 3 quả bóng Hỏi em có tất cảmấy quả bóng?

Cách 2: Lan có 5 quả cam, cô cho Lan thêm 3 quả cam nữa Hỏi Lan cótất cả mấy quả cam?

Cách 3: Nhà em có 5 quả trứng , bà cho thêm 3 quả trứng nữa Hỏi nhà

em có tất cả mấy quả trứng?

HS được nêu nhiều đề toán khác nhau sẽ giúp các em phát huy được tínhtích cực chủ động trong việc tìm ra kiến thức mới

2 Giới thiệu bài toán có lời văn cụ thể.

*Tiếp theo, trước khi chính thức học “Giải các bài toán có lời văn” họcsinh được học bài nói về cấu tạo của một bài toán có lời văn (gồm hai thànhphần chính là những cái đã cho (đã biết) và những cái phải tìm (chưa biết) Vìkhó có thể giải thích cho HS “Bài toán là gì?’ nên mục tiêu của tiết học này làchỉ giới thiệu cho các em hai bộ phận của một bài toán:

+ Những điều đã cho (dữ kiện)

+ Và cái phải tìm (câu hỏi)

Khi dạy bài: “Bài toán có lời văn” (SGK- trang 115-116)

Trong bài này có bốn bức tranh, kèm theo là bốn đề toán: hai đề còn thiếu

dữ kiện một đề còn thiếu câu hỏi, một đề thiếu cả dữ kiện lẫn câu hỏi (biểu thị bằngdấu …) Với loại bài tập này, GV yêu cầu HS quan sát kỹ tranh vẽ rồi nêu miệng bàitoán sau đó điền số vào chỗ các dữ kiện còn thiếu rồi điền từ vào các câu hỏi (còn đểtrống) Từ đó GV giới thiệu cho các em: “Bài toán thường có hai phần”:

+ Những số đã cho

+ Số phải tìm (câu hỏi)

Dạng bài tập này giúp các em hiểu sâu hơn về cấu tao số của bài toán cólời văn

*Các loại toán có lời văn trong chương trình lớp 1 chủ yếu là hai loạitoán: “Thêm và bớt” thỉnh thoảng có biến tấu một chút:

- Bài toán “Thêm” thành bài toán gộp, chẳng hạn “An có 4 quả bóng,Bình có 3 quả bóng Hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng?”, dạng này khá phổ biến

- Bài toán “Bớt” thành bài toán tìm số hạng, chẳng hạn: “Lớp 1A có 35bạn, trong đó có 20 bạn nữ Hỏi lớp 1A có bao nhiêu bạn nam?”, dạng nàythường ít gặp vì dạng này hơi khó (Chương trình cũ dạy ở lớp 2)

* Về hình thức trình bày bài giải, HS phải trình bày bài giải đầy đủ theoquy định thống nhất từ lớp 1 đến lớp 5:

+ Câu lời giải

Trang 9

3 Giải bài toán có lời văn đơn giản

*Về số lượng bài toán trong một tiết học được rút bớt để dành thời giancho các em viết câu lời giải Chẳng hạn trước đây trong một tiết “Bài toán nhiềuhơn” HS phải giải 8 bài toán (4 bài mẫu, 4 bài luyện tập) thì bây giờ trong tiết “Giải toán có lời văn” (trang 117) chỉ có 4 bài (một bài mẫu và 3 bài luyện tập)

GV phải nắm chắc được nội dung chương trình, ý đồ của SGK để dạycho HS đạt kết quả cao nhất

Chính vì thế, khi dạy bài này, giáo viên dành thời gian cho học sinh đọc

kỹ yêu càu của bài sau đó tìm câu trả lời cho phù hợp Giáo viên khuyến khíchcác em tự nghĩ ra nhiều cách đặt lời giải khác nhau Ban đầu các em có thể trảlời câu hỏi một cách đơn giản

VD: Khi dạy bài toán: Nhà An có 5 con gà, mẹ mua thêm 4 con gà

nữa.Hỏi nhà An có tất cả mấy con gà ?

Với bài toán này giáo viên chỉ yêu cầu học sinh trả lời đơn giản như sau:

Nhà An có tất cả là:

Có tất cả là :

Số con gà có tất cả là :Học sinh phải nắm rõ được tên đơn vị như: con gà, quả bóng hay con vịt Dần dần giáo viên hướng dẫn học sinh trả lời câu hỏi đầy đủ và hay hơn

Chẳng hạn với bài toán: An có 4 quả bóng, Bình có 3 quả bóng Hỏi cả

hai bạn mấy quả bóng? (SGK trang 117)

Ở bài này học sinh có thể đặt câu lời giải theo rất nhiều cách khác nhau như:

ra và trả lời được bằng cách làm như sau:

+ Học sinh phải đọc kỹ câu hỏi

+ Bỏ chữ hỏi ở đầu câu.

Trang 10

+ Thay chữ bao nhiêu (mấy) bằng chữ số.

+ Bỏ dấu hỏi chấm cuối câu hỏi rồi thêm chữ là và dấu hai chấm

Cụ thể khi dạy bài 2 (trang 122) như sau:

Tổ em có 5 bạn nam và 5 bạn nữ Hỏi tổ em có tất cả mấy bạn?

Câu trả lời là: Tổ em có tất cả số bạn là :

Khi dạy bài 2 (trang 150): Trên sân bay có 12 máy bay, sau đó có 2 máybay bay đi Hỏi trên sân bay còn lại bao nhiêu máy bay?

Câu trả lời là: Trên sân bay còn lại số máy bay là:

Với cách làm trên, tôi thấy việc dạy cho học sinh tìm câu trả lời cho bàitập toán có lời văn không còn khó với các em học sinh nữa

4 Giáo viên chốt các bước cơ bản khi giải toán có lời văn.

Để giải toán có lời văn được tốt, học sinh cần nắm được các bước như sau:

- Tóm tắt được bài toán

- Nắm được bài đó thuộc dạng toán gì?

Bài toán có lời văn ở lớp 1 bao gồm có hai dạng:

Còn lại :……… con gà? Còn lại……… ?

- Tìm được câu lời giải: Câu lời giải phải nêu được đầy đủ đại lượngphải tìm

- Phép tính và đơn vị tính (Đơn vị tính chuẩn theo đơn vị đo đại lượng:con, chiếc, bạn, quả, viên…)

- Đáp số: Phải ghi đầy đủ dữ liệu:

+ con gà, con chim, con vịt…

+ chiếc bánh, chiếc kẹo…

+ cái áo, cái cúc…

+ viên bi, viên kẹo…

Biện pháp 2: Quy trình “Giải bài toán có lời văn”

Trước hết, muốn giải được bài toán có lời văn, giáo viên cần cho học sinhnắm được đường lối chung để giải bài toán có lời văn được thực hiện theo nămbước sau:

Trang 11

Bước 1: Đọc và tìm hiểu đề toán.

Trong dạy học giải toán ở lớp 1 cái khó không phải không phải là tìmđược lời giải, mà cái khó là tìm cách giải cho phù hợp với tư duy kiến thức củahọc sinh Vì khi giải toán cho học sinh lớp 1, việc giải để học sinh nắm được các

"biểu tượng" là chưa đủ Nhiều khi học sinh gặp khó khăn trong giải toán khôngphải bài toán khó, mà lại là học sinh phải hiểu được từ ngữ được sử dụng trongbài toán Đối với học sinh kĩ năng đọc là rất quan trọng Đọc ở đây không phảiđọc to một từ mà là đọc và hiểu Nhiệm vụ đầu tiên của giáo viên là giúp họcsinh hiểu được đầu bài toán

Đây là bước cực kỳ quan trọng vì học sinh lớp 1 đọc còn phải đánh vần.Vốn từ, vốn hiểu biết của các em còn hạn chế Vì vậy tôi cho các em đọc thật kĩ

đề bài để giúp các em xác định rõ bài toán cho biết gì ? Hỏi gì?

Để học sinh dễ hiểu đề bài, giáo viên nên dùng phấn màu gạch chân các

từ ngữ chính trong đề bài

VD: Bài 3 trang upload.123doc.net: Giáo viên có thể hỏi:

- Em thấy ở dưới ao có mấy con vịt? (Có 5 con vịt)

- Trên bờ có mấy con vịt? (Có 4 con vịt)

- Em có bài toán thế nào?

Sau đó giáo viên cho học sinh đọc hoặc nêu đề toán trong sách giáo khoa

Bước 2: Phân tích bài toán

Sau khi học sinh đọc bài toán, giáo viên cần đặt câu hỏi gợi mở để họcsinh hiểu được để bài Từ đó giúp các em xác định rõ:

- Bài toán cho ta biết gì?

- Bài toán hỏi gì ?

- Muốn giải được bài toán ta phải sử dụng phép tính nào ?

Khi học sinh đã hiểu được bài toán, giáo viên hướng dẫn học sinh tóm tắt

Bước 3 : Tóm tắt bài toán

Lớp 1: sử dụng nhiều hình thức tóm tắt đầu bài toán Các hình thức này được nâng cao dần theo mức độ tư duy của học sinh Lúc đầu là dùng tranh ảnh, hình ảnh, hình vẽ Mức tiếp theo là tóm tắt bằng sơ đồ hình vẽ và sơ đồ lời (Bài

3 trang 87, bài 3 trang 90, Toán 1

Việc này giúp các em bỏ bớt được những câu, những chữ không thật quantrọng trong đề toán Biểu thị được bằng lời hoặc hình vẽ các mối quan hệ trongbài toán, làm cho bài toán được rút gọn lại, mối quan hệ giữa các số đã cho và sốphải tìm hiện ra rõ ràng hơn Từ phần tóm tắt, các em có thể đọc lại bài toán mộtcách chính xác

Ở phần này, giáo viên cho học sinh biết nhiều cách tóm tắt khác nhau

Cách 1 : Tóm tắt bằng lời :

VD : Nga gấp dược 3 cái thuyền, hà gấp được 4 cái thuyền Hỏi cả haibạn gấp được mấy cái thuyền ?

Tóm tắt Nga : 3 cái thuyền

Trang 12

VD :Bài 1 (SGK- 122) An có 4 quả bóng xanh và 5 quả bóng đỏ Hỏi An

Phần tóm tắt không nằm trong phần bài giải của bài toán nhưng phần này

HS cần được luyện kỹ để học sinh nắm chắc và hiểu rõ bài toán một cách đầy đủ

và chính xác

Bước 4 : Giải bài toán

Các em dựa vào tóm tắt trên để viết bài giải :

Bài giải

An có tất cả số quả bóng là :

4 + 5 = 9 (quả bóng)

Đáp số : 9 quả bóng

Ngày đăng: 07/10/2021, 08:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Cũng như các bài tập trên, việc dùng hình ảnh sinh động bằng cách GV cho học sinh quan sát trên  màn hình đàn vịt ở dưới ao 5 con và có 4 con đang ở trên bờ . - MOT SO BIEN PHAP REN KI NANG GIAI TOAN CO LOI VAN CHO HOC SINH LOP 1
ng như các bài tập trên, việc dùng hình ảnh sinh động bằng cách GV cho học sinh quan sát trên màn hình đàn vịt ở dưới ao 5 con và có 4 con đang ở trên bờ (Trang 16)
Bảng kết quả kiểm chứng (Qua 3 năm thực nghiệm áp dụng kinh nghiệm.) - MOT SO BIEN PHAP REN KI NANG GIAI TOAN CO LOI VAN CHO HOC SINH LOP 1
Bảng k ết quả kiểm chứng (Qua 3 năm thực nghiệm áp dụng kinh nghiệm.) (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w