1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan báo chí trực thuộc liên hiệp các hội KHKT việt nam

95 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 160,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong bối cảnh hiện nay, truyền thông nói chung và báo chí nói riêng là một trong những lĩnh vực đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống của nhân loại. Cùng với sự phát triển khoa học công nghệ như vũ bão trên phạm vi toàn thế giới, chúng ta đang bước vào giai đoạn bùng nổ thông tin và sự phát triển mạnh mẽ của các loại hình truyền thông và báo chí. Với bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới hiện nay việc xác định đúng lộ trình quản lý, phát triển và làm chủ được các hoạt động truyền thông, báo chí, thông tin đó chính là điều kiện cơ bản nhất để quốc gia đó đẩy nhanh quá trình phát triển nền kinh tế tri thức mô hình kinh tế của thế kỷ XXI. Từ nhiều năm nay Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến các chính sách quản lý, tạo môi trường cho báo chí Việt Nam phát triển, hội nhập với xu thế hiện đại chung của thế giới, đáp ứng được nhu cầu giao tiếp, trao đổi thông tin của toàn xã hội và phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Liên hiệp Hội Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 121 BT ngày 29 tháng 7 năm 1983 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) là một trong những cơ quan quản lý hệ thống báo chí lớn ở Việt Nam hiện nay, có chức năng và nhiệm vụ đoàn kết và tập hợp đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong nước, trí thức khoa học và công nghệ người Việt Nam ở nước ngoài; điều hòa, điều phối hoạt động của các hội thành viên,là đầu mối giữa các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức khác nhằm giải quyết những vấn đề chung trong việc phát triển khoa học và công nghệ;đại diện, bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các hội viên, hội thành viên, của trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam. Theo thống kê, Liên hiệp Hội Việt Nam đang trực tiếp và gián tiếp quản lý hàng trăm ấn phẩm báo chí bao gồm báo, tạp chí, bản tin, đặc san, trang tin, báo điện tử. Hệ thống tổ chức báo chí của Liên hiệp hội Việt Nam có tốc độ phát triển rất nhanh trên mọi loại hình và lĩnh vực khác nhau. Nhu cầu quản lý báo chí thống nhất trong hệ thống đang trở nên đặc biệt quan trọng và cần thiết. Trong khoảng 100 cơ quan báo chí trên, có 14 cơ quan báo chí trực thuộc trực tiếp đoàn Chủ tịch Liên hiệp hội: Báo Đất Việt, Báo Khoa học Đời sống, báo điện tử Tamnhin.net, Tạp chí Văn hiến, Tạp chí Truyền thống và Phát triển... Đây là những cơ quan có năng lực cao, với đội ngũ phóng viên, biên tập viên đông đảo, môi trường làm việc hiện đại. Đặc biệt, đây là những cơ quan báo chí do Đoàn Chủ tịch Liên hiệp hội trực tiếp quản lý, được coi là những cơ quan ngôn luận chính của Liên hiệp hội Việt Nam, có chức năng, vị trí, vai trò quan trọng trong việc truyền tải thông tin, hình ảnh cũng như các hoạt động của Liên hiệp hội. Trong hệ thống các cơ quan báo chí trực thuộc Đoàn Chủ tịch kể trên, báo điện tử tamnhin.net, tạp chí điện tử vanhien.vn và Tạp chí Truyền thống và Phát triển là ba trong số những cơ quan báo chí hoạt động tích cực, có vị trí, vai trò và tầm ảnh hưởng quan trọng trong công tác truyền bá tư tưởng, hình ảnh, hoạt động cho Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Có thể khẳng định, ba cơ quan báo chí kể trên đại diện cho ba loại hình báo chí cơ bản thuộc LHHVN, đó là báo điện tử, tạp chí điện tử và tạp chí in. Thông qua hoạt động của ba đơn vị báo chí này, ta có thể hiểu rõ hơn phần nào hoạt động chung của hệ thống báo chí thuộc LHHVN. Trong quá trình hoạt động của mình, các hoạt động của cơ quan báo chí thuộc Đoàn tịch nói chung và hoạt động của 3 cơ quan báo chí trên nói riêng đang gặp phải những khó khăn, thách thức trong xu thế hội nhập của cả nước, đồng thời cũng đang đặt ra không ít khó khăn cho công tác quản lí báo chí của Liên hiệp Hội Việt Nam. hiệu quả tổ chức hoạt động của các cơ quan báo chí trên hiện nay vẫn còn nhiều điểm đáng quan ngại, công tác phân công, phân tích công việc chưa rõ ràng, khâu tổ chức và điều hành công việc chưa mang lại hiệu quả như ý muốn, công tác lập kế hoạch, kiểm soát thông tin đăng tải trên bài viết chưa khoa học... dẫn lượng độc giả chưa đông đảo, sức ảnh hưởng chưa lớn, tính lan tỏa trong xã hội chưa thực sự mạnh mẽ. Bên cạnh đó, công tác quản lý và tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động của các cơ quan báo chí đã được triển khai nhưng chưa được chú trọng toàn diện, thiếu chủ động, sáng tạo, nhất là thiếu định hướng phát triển, hoạt động không đồng đều, chất lượng, hiệu quả đôi khi còn yếu so với yêu cầu. Cơ quan chủ quản là Liên hiệp Hội Việt Nam thực sự chưa đi sâu, đi sát hoạt động của các đơn vị báo chí, chưa có sự hỗ trợ đúng lúc, kịp thời với các đơn vị đang gặp khó khăn. Mặt khác, các cơ quan báo chí trên chú trọng phát triển đơn lẻ, mang tính lợi nhuận, thiếu gắn kết với Liên hiệp Hội Việt Nam, có khuynh hướng xa rời tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí. Vì vậy, việc nghiên cứu hiệu quả tổ chức hoạt động của các cơ quan báo chí một cách tập chung, hệ thống là việc hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm cung cấp những luận cứ khoa học cho việc xây dựng cơ chế quản lý hiệu quả cũng như nâng cao, phát huy vai trò của báo chí, truyền thông đối với sự phát triển của Liên hiệp hội Việt Nam. Từ những lý do nêu trên cùng với sự quan tâm của bản thân về vấn đề nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động của các cơ quan báo chí thuộc LHHVN, tôi đã chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan báo chí trực thuộc Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam (thực tế tại Tạp chí Truyền thống và Phát triển, Tạp chí điện tử Vanhien.vn, báo điện tử tamnhin.net)” để tìm hiểu, nghiên cứu với mong muốn có một cái nhìn tổng quan về thực trạng hoạt động của ba đơn vị báo chí đại diện trên, đồng thời từ đó có nhận diện, đánh giá về việc nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động của các cơ quan báo chí thuộc LHHVN trong giai đoạn hiện nay.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh hiện nay, truyền thông nói chung và báo chí nói riêng là một trongnhững lĩnh vực đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống của nhân loại Cùng với sựphát triển khoa học công nghệ như vũ bão trên phạm vi toàn thế giới, chúng ta đang bướcvào giai đoạn bùng nổ thông tin và sự phát triển mạnh mẽ của các loại hình truyền thông

và báo chí Với bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới hiện nay việc xác định đúng lộ trìnhquản lý, phát triển và làm chủ được các hoạt động truyền thông, báo chí, thông tin đó chính

là điều kiện cơ bản nhất để quốc gia đó đẩy nhanh quá trình phát triển nền kinh tế tri thức

-mô hình kinh tế của thế kỷ XXI

Từ nhiều năm nay Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến các chính sách quản

lý, tạo môi trường cho báo chí Việt Nam phát triển, hội nhập với xu thế hiện đại chung củathế giới, đáp ứng được nhu cầu giao tiếp, trao đổi thông tin của toàn xã hội và phục vụ mụctiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Liên hiệp Hội Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 121 BT ngày 29 tháng

7 năm 1983 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩaViệt Nam Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) làmột trong những cơ quan quản lý hệ thống báo chí lớn ở Việt Nam hiện nay, có chức năng

và nhiệm vụ đoàn kết và tập hợp đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong nước, tríthức khoa học và công nghệ người Việt Nam ở nước ngoài; điều hòa, điều phối hoạt độngcủa các hội thành viên,là đầu mối giữa các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốcViệt Nam và các tổ chức khác nhằm giải quyết những vấn đề chung trong việc phát triểnkhoa học và công nghệ;đại diện, bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các hội viên, hộithành viên, của trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam

Theo thống kê, Liên hiệp Hội Việt Nam đang trực tiếp và gián tiếp quản lý hàngtrăm ấn phẩm báo chí bao gồm báo, tạp chí, bản tin, đặc san, trang tin, báo điện tử Hệthống tổ chức báo chí của Liên hiệp hội Việt Nam có tốc độ phát triển rất nhanh trên mọiloại hình và lĩnh vực khác nhau Nhu cầu quản lý báo chí thống nhất trong hệ thống đang

Trang 2

trở nên đặc biệt quan trọng và cần thiết Trong khoảng 100 cơ quan báo chí trên, có 14 cơquan báo chí trực thuộc trực tiếp đoàn Chủ tịch Liên hiệp hội: Báo Đất Việt, Báo Khoa họcĐời sống, báo điện tử Tamnhin.net, Tạp chí Văn hiến, Tạp chí Truyền thống và Phát triển Đây là những cơ quan có năng lực cao, với đội ngũ phóng viên, biên tập viên đông đảo,môi trường làm việc hiện đại Đặc biệt, đây là những cơ quan báo chí do Đoàn Chủ tịchLiên hiệp hội trực tiếp quản lý, được coi là những cơ quan ngôn luận chính của Liên hiệphội Việt Nam, có chức năng, vị trí, vai trò quan trọng trong việc truyền tải thông tin, hìnhảnh cũng như các hoạt động của Liên hiệp hội.

Trong hệ thống các cơ quan báo chí trực thuộc Đoàn Chủ tịch kể trên, báo điện tửtamnhin.net, tạp chí điện tử vanhien.vn và Tạp chí Truyền thống và Phát triển là ba trong

số những cơ quan báo chí hoạt động tích cực, có vị trí, vai trò và tầm ảnh hưởng quantrọng trong công tác truyền bá tư tưởng, hình ảnh, hoạt động cho Liên hiệp các hội Khoahọc và Kỹ thuật Việt Nam Có thể khẳng định, ba cơ quan báo chí kể trên đại diện cho baloại hình báo chí cơ bản thuộc LHHVN, đó là báo điện tử, tạp chí điện tử và tạp chí in.Thông qua hoạt động của ba đơn vị báo chí này, ta có thể hiểu rõ hơn phần nào hoạt độngchung của hệ thống báo chí thuộc LHHVN

Trong quá trình hoạt động của mình, các hoạt động của cơ quan báo chí thuộcĐoàn tịch nói chung và hoạt động của 3 cơ quan báo chí trên nói riêng đang gặp phảinhững khó khăn, thách thức trong xu thế hội nhập của cả nước, đồng thời cũng đang đặt rakhông ít khó khăn cho công tác quản lí báo chí của Liên hiệp Hội Việt Nam hiệu quả tổchức hoạt động của các cơ quan báo chí trên hiện nay vẫn còn nhiều điểm đáng quan ngại,công tác phân công, phân tích công việc chưa rõ ràng, khâu tổ chức và điều hành công việcchưa mang lại hiệu quả như ý muốn, công tác lập kế hoạch, kiểm soát thông tin đăng tảitrên bài viết chưa khoa học dẫn lượng độc giả chưa đông đảo, sức ảnh hưởng chưa lớn,tính lan tỏa trong xã hội chưa thực sự mạnh mẽ Bên cạnh đó, công tác quản lý và tổ chứccác hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động của các cơ quan báo chí đã đượctriển khai nhưng chưa được chú trọng toàn diện, thiếu chủ động, sáng tạo, nhất là thiếuđịnh hướng phát triển, hoạt động không đồng đều, chất lượng, hiệu quả đôi khi còn yếu sovới yêu cầu Cơ quan chủ quản là Liên hiệp Hội Việt Nam thực sự chưa đi sâu, đi sát hoạt

Trang 3

động của các đơn vị báo chí, chưa có sự hỗ trợ đúng lúc, kịp thời với các đơn vị đang gặpkhó khăn Mặt khác, các cơ quan báo chí trên chú trọng phát triển đơn lẻ, mang tính lợinhuận, thiếu gắn kết với Liên hiệp Hội Việt Nam, có khuynh hướng xa rời tôn chỉ, mụcđích của cơ quan báo chí.

Vì vậy, việc nghiên cứu hiệu quả tổ chức hoạt động của các cơ quan báo chí mộtcách tập chung, hệ thống là việc hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm cung cấpnhững luận cứ khoa học cho việc xây dựng cơ chế quản lý hiệu quả cũng như nâng cao,phát huy vai trò của báo chí, truyền thông đối với sự phát triển của Liên hiệp hội ViệtNam

Từ những lý do nêu trên cùng với sự quan tâm của bản thân về vấn đề nâng caohiệu quả tổ chức hoạt động của các cơ quan báo chí thuộc LHHVN, tôi đã chọn đề tài:

“Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan báo chí trực thuộc Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam (thực tế tại Tạp chí Truyền thống và Phát triển, Tạp chí điện tử Vanhien.vn, báo điện tử tamnhin.net)” để tìm hiểu, nghiên cứu với mong muốn có một

cái nhìn tổng quan về thực trạng hoạt động của ba đơn vị báo chí đại diện trên, đồng thời

từ đó có nhận diện, đánh giá về việc nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động của các cơ quanbáo chí thuộc LHHVN trong giai đoạn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề nâng cao hiệu qủa hoạt động đối với các cơ quan báo chí nói chung là mộtvấn đề được nhiều tác giả, nhà nghiên cứu quan tâm với những nội dung, khía cạnh khácnhau Thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu của nhiều học giả có nhấn mạnhđến việc nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động của các cơ quan, văn phòng như sau:

Nhóm tác giả Bùi Thế Vĩnh, Võ Kim Sơn, Lê Thị Văn Hạnh , Đinh Văn Tiến trong

tác phẩm “Thiết kế tổ chức Hành chính Nhà nước”, do Bùi Thế Vĩnh làm chủ biên dài hơn

200 trang với kết cấu gồm 3 chương đã giúp độc giả hiểu rõ vấn đề cơ bản về đối tượng,căn cứ để thiết kế tổ chức hoạt động hiệu quả trong cơ quan hành chính nhà nước, đồngthời cũng nêu ra vai trò quan trọng của việc phân tích tổ chức - căn cứ để hoàn thiện thiết

kế các cơ quan hành chính Nhà nước trong bối cảnh hiện nay

Trang 4

Trong giáo trình “Tổ chức và điều hành công sở", do Nguyễn Văn Thâm là chủ

biên đã đưa ra những luận giải cơ bản nhất về công sở, hoạt động chủ yếu của các công sởhành chính hiện nay Đồng thời, qua tác phẩm này, tác giả cũng đã nêu ra những kỹ thuật

cơ bản để điều hành công sở hành chính đạt kết quả cao nhất, mang lại hiệu quả tổ chứchoạt động tích cực nhất cũng như ra các giải pháp nhằm đổi mới kỹ thuật điều hành công

sở trong cải cách hành chính Nhà nước

Tác giả Phan Hữu Trí trong ấn phẩm “Lý thuyết tổ chức” năm 2012 cũng đã đưa ra

những khái niệm cơ bản về vai trò, phương pháp nghiên cứu tổ chức nói chung, đồng thời,tác giả cũng đưa ra những quy luật về sự phát triển của tổ chức, cơ cấu và các cách thiết kếhoạt động của tổ chức, văn hóa tổ chức cũng như hệ thống tổ chức, một số khía cạnh liênquan đến việc vận dụng tâm lý trong việc quản lý tổ chức Đặc biệt, tác giả đã đưa vấn đềgiới và bình đẳng giới vào quản lý, phân tích, đánh giá các mặt hoạt động của tổ chứctrong bối cảnh ngày nay

Trong tác phẩm “Công tác hành chính - văn phòng trong cơ quan Nhà nước”do Tạ

Hữu Ánh là chủ biên cũng đã đưa ra khái niệm, vai trò của công tác hành chính - vănphòng, chức năng, nhiệm vụ của việc tổ chức hoạt động của văn phòng, tổ chức nghiệp vụ,

kỹ thuật hành chính - quản trị, ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức điều hành công

sở và đổi mới tổ chức hoạt động của văn phòng

Bên cạnh đó, trong ấn phẩm “Phương pháp quản lý hành chính hiệu quả - Nâng cao hiệu quả của tổ chức hành chính” của tác giả người Trung Quốc Miêu Tú Kiệt làm

chủ biên, do Trọng Kiên dịch đã đưa ra những phương pháp để xây dựng tổ chức hànhchính ưu việt: tổ chức hành chính hiệu quả, thiết kế tổ chức hành chính ưu việt, đặc biệt có

đề cao vai trò của người lãnh đạo trong tổ chức và uy lực, hiệu lực của quyết định hànhchính trong cơ quan hành chính hiện đại

Song song các công trình nghiên cứu, sách tham khảo do các nhà khoa học đã công

bố, một số luận văn, luận án do học viên, nghiên cứu sinh cũng đã tìm hiểu xung quanh vềvấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức Nổi bật trong đó là các côngtrình:

Trang 5

Luận văn “Nâng cao hiệu quả hoạt động của UBND Huyện từ thực tiễn ở Nghệ An” của tác giả Nguyễn Hữu Hiển Tại đây, tác giả đã đưa ra và nghiên cứu thực tiễn tổ

chức hoạt động của UBND huyện tại Nghệ An cũng như đưa ra được các phương án nhằmnâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan UBND huyện tại Nghệ An như: giải pháp về tổchức hoạt động, giải pháp về lập pháp, giải pháp về hiện đại hóa điều hành hoạt động củaUBND, tăng cường năng lực, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ

Luận văn “Nâng cao hiệu quả hoạt động của văn phòng HĐND và UBND huyện trên địa bàn Bắc Giang qua thực tiễn tại huyện Việt Yên - Bắc Giang” của tác giả Nguyễn

Văn Phương Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã đưa ra những vấn đề cơbản về hiệu quả, hiệu quả hoạt động nói chung và hiệu quả hoạt động của văn phòng nóiriêng Đồng thời, tác giả cũng đưa ra được thực trạng hoạt động của văn phòng UBND vàHĐND huyện Việt Yên cũng như đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạtđộng của cơ quan - văn phòng HĐND và UNND huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, đã đề cập đến công tác tổ chức hoạt độngcủa cơ quan, tổ chức cũng như các yêu cầu để nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động của cơquan,tổ chức nói chung Tuy nhiên, một đề tài riêng nghiên cứu tập chung về khía cạnh vềvấn đề nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động của các cơ quan báo chí trực thuộc Liên hiệpcác Hội KHKT Việt Nam, thì chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách chi tiết bởi tínhchất đặc thù của các cơ quan báo chí thuộc LHHVN Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài này đểtìm hiểu một cách cụ thể và chi tiết tình hình hoạt động của các đơn vị báo chí thuộcLHHVN với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động của một bộ phậnđơn vị báo chí thuộc LHHVN nói chung và tại ba cơ quan: Tạp chí Truyền thống và Pháttriển, Tạp chí điện tử Vanhien.vn, báo điện tử tamnhin.net nói riêng

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là: nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơquan báo chí trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 6

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tổ chức hoạt động của các cơ quan báo chíthuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: trong giới hạn của luận văn, đề tài chỉ lựa chọn nghiên cứu về hoạtđộng tổ chức điều hành trong các cơ quan báo chí thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹthuật Việt Nam Trên cơ sở việc tổ chức điều hành hoạt động được thực hiện với các nộidung: thiết kế và phân tích công việc, tổ chức và điều hành cuộc họp, xây dựng chươngtrình, kế hoạch làm việc, kiểm tra, kiểm soát công việc các nghiệp vụ báo chí (thu thập,

xử lý thông tin, đăng tải thông tin, viết bài, biên tập, in ấn, phát hành.) sẽ được thực hiện

Về không gian: luận văn tập chung nghiên cứu về hiệu quả hoạt động tại ba cơ quan báo chí trực thuộc Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam: Tạp chí Truyền thống và Phát triển, Tạp chí điện tử Vanhien.vn, báo điện tử tamnhin.net Về thời gian nghiên cứu: từ 01/ 2015 - 6/ 2016

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ hơn những vấn đề lý thuyết về hiệu quả và hiệu quả tổ chức hoạt độngtrong các cơ quan báo chí thuộc Liên hiệp các hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam

Khảo sát thực tế, đánh giá và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổchức hoạt động của các cơ quan báo chí thuộc Liên hiệp các hội Khoa học Kỹ thuật ViệtNam nói chung

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Phương pháp này được tác giả sử dụng khi tìm hiểu, thu thập thông tin về các mặthoạt động của các cơ quan báo chí thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả sẽtiến hành phân tích, tổng hợp nhằm tìm ra những mặt ưu điểm, hạn chế trong tổ chức hoạtđộng của các cơ quan báo chí để từ đó tổng hợp, đưa ra những nhận định, đánh giá, giảipháp phù hợp

6.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Trên cơ sở các số liệu thu thập được từ các cơ quan báo chí về công tác tổ chứchoạt động, học viên sẽ tiến hành đối chiếu, so sánh để tìm ra những điểm mới, khác biệt

Trang 7

trong các khâu tỏ chức và hoạt động, từ đây đưa ra những đánh giá phù hợp về vấn đềnghiên cứu tại các cơ quan báo chí được khảo sát.

6.3 Phương pháp quan sát trực quan

Tác giả sử dụng phương pháp này khi xuống trụ sở của các cơ quan báo chí nhằmtìm hiểu thực địa, thu thập thông tin để miêu tả thực tế tổ chức hoạt động tại Tạp chíTruyền thống và Phát triển, Tạp chí điện tử Vanhien.vn, báo điện tử tamnhin.net

Bên cạnh những phương pháp kể trên, tác giả còn áp dụng phương pháp chuyên gianhằm trao đổi thông tin, tham vấn và tiếp thu có chọn lọc các ý kiến đóng góp từ phía cácchuyên gia, các nhà quản lý báo chí tại cơ quan chủ quản, tổng biên tập, phó tổng biên tậpcũng như các phóng viên, biên tập viên, những người có nhiều kinh nghiệm về lý luận vàthực tiễn để phục vụ cho quá trình hoàn thiện luận văn

7 Dự kiến một số đóng góp của đề tài

Luận văn bổ sung thêm cơ sở lý luận liên quan đến hiệu quả và hiệu quả tổ chứchoạt động của các cơ quan báo chí

Từ những kết quả khảo sát thực tế, luận văn miêu tả về thực trạng tổ chức hoạtđộng của các cơ quan báo chí trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam, từ đây đưa ra các giảipháp thiết thực để giải quyết những tòn tại cũng như nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt độngcủa các cơ quan báo chí trong bối cảnh hiện nay

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cán

bộ, văn phòng các cơ quan báo chí trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam hiện nay

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3chương, cụ thể như sau:

Chương I: Cơ sở lý luận về hiệu quả và hiệu quả tổ chức hoạt động của các cơ quan báo chí.

Chương 2: Thực trạng tổ chức hoạt động tại các cơ quan báo chí trực thuộcLiên hiệp hội Việt Nam trong những năm qua (Qua thực tiễn tại Tạp chí Truyền thống và Phát triển, Tạp chí điện tử Vanhien.vn, báo điện tử tamnhin.net)

Trang 8

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động của một số cơ quan báo chí trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ VÀ HIỆU QUẢ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG

CỦA CÁC CƠ QUAN BÁO CHÍ

1.1 Những vấn đề chung về hiệu quả và hiệu quả tổ chức hoạt động của các cơ quan báo chí

1.1.1 Khái niệm về hiệu quả và hiệu quả tổ chức hoạt động của các cơ quan báo chí

Để tồn tại và phát triển, con người phải tiến hành rất nhiều các hoạt động khácnhau Hoạt động của con người khác loài vật ở chỗ là có ý thức, có sự quan tâm theo đuổihiệu quả Hiệu quả là sự tương quan, so sánh giữa kết quả (lợi ích) thu được với phần cácnguồn lực (chi phí) huy động, sử dụng để tạo ra các kết quả (đạt được đó với giá là baonhiêu)

Theo tiếng Latin, hiệu quả là efectus (chỉ hành động, kết quả của hành động) vàefftuvus (chỉ năng suất, kết quả, tác dụng) Theo Đại từ điển Tiếng Việt, Nhà Xuất bản Vănhóa - Thông tin, thì íí hiệu quả là kết quả đích thực’" [12, tr.55]

Theo định nghĩa trong sách Ngôn ngữ Việt Nam - Từ điển Tiếng Việt thì hiệu quả

là „ „kết quả như yêu cầu của công việc mang lại” [25, tr.198]

Theo các nhà ngôn ngữ học, khái niệm hiệu quả được hiểu là: kết quả như yêu cầumang lại Trong khi đó, các nhà quản lý hành chính lại cho rằng: Hiệu quả là mục tiêu chủyếu của khoa học hành chính, là sự so sánh giữa các chi phí đầu tư ở đầu vào với các giá trịcủa đầu ra, sự tăng tối đa lợi nhuận và tối thiểu chi phí, là mối tương quan giữa việc sửdụng nguồn lực và tỷ lệ đầu vào - đầu ra

Tuy nhiên đối với hoạt động xã hội nói chung và hoạt động quản lý nhà nước nóiriêng, để tính được hiệu quả đạt được rất khó khăn và phức tạp Bởi các loại hoạt động nàychủ yếu mang tính chất định tính chứ không phải định lượng Do đó, để tính hiệu quả chomột hoạt động xã hội, chúng ta phải vận dụng phương pháp tính hiệu quả kinh tế (tất nhiên

Trang 9

chỉ tương đối) Theo cách tiếp cận này thì “hiệu quả chính là chỉ số so sánh giữa kết quả thu về với chi phí, công sức bỏ ra” [24,tr.37]

Như vậy, có thể hiểu “ hiệu quả là kết quả cuối cùng của chủ thể tác động lên đối tượng, nhằm đạt và vượt mục tiêu ban đầu đề ra Nói cách khác, hiệu quả là sự so sánh kết quả trước và sau khi tiến hành một hoạt động, giữa kết quả đạt được với yêu cầu của hoạt động đó”

Hiện nay, vấn đềhiệu quả đang trở thành một chủ đề quan tâm của tất cả các tổchức, kể cả tổ chức nhà nước cũng như các đơn vị, tổ chức ngoài công lập Do vậy, việcnâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động chính là việc tìm ra những giải pháp hữu ích thúc đẩyquá trình hoạt động nhằm đạt được mục tiêu một cách tối ưu nhất.Tổ chức hoạt động chính

là “là quá trình sắp xếp và bố trí các công việc, giao quyền hạn, trách nhiệm và phân phối các nguồn lực của tổ chức đến các cá nhân, bộ phận thực hiện để họ tiến hành các hoạt động của mình nhằm đạt mục tiêu của tổ chức, đơn vị ”

Như vậy, có thể hiểu, hiệu quả tổ chức hoạt động là “quá trình sắp xếp, sử dụng đúng người, đúng việc cũng như phân công quyền hạn, trách nhiệm, phân phối các nguồn lực của tổ chức một cách rõ ràng, minh bạch, công khai đến các cá nhân, bộ phận thực hiện để họ thực thi nhiệm vụ của mình nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong việc thực hiện mục tiêu của tổ chức, đơn vị”

1.1.2 Đặc trưng hoạt động và tổ chức hoạt động của các cơ quan báo chí

1.1.2.1 Về hoạt động Xét về hoạt động của các cơ quan báo chí có những nét đặc

trưng riêng biệt, thể hiện đặc thù của các cơ quan báo chí:

Các cơ quan báo chí tham gia chính trị, trở thành hoạt động chính trị, nhưng yếu tốcốt lõi và làm nên sức mạnh của hoạt động này chính là thông tin Nói cách khác, báo chí

là hoạt động chính trị đặc biệt bằng thông tin Nhìn từ thực trạng báo chí Việt Nam nhữngnăm qua, chúng ta thấy rõ báo chí đã tham gia hoạt động chính trị như thế nào và sử dụngthông tin ra sao để trở thành một hoạt động chính trị đặc biệt

Trên phương diện chính trị, báo chí thực hiện 2 nhiệm vụ cơ bản, đó là góp phầnxây dựng và bảo vệ thành quả, sự nghiệp của đảng, giai cấp cầm quyền Trước hết, báo chítruyền bá những tư tưởng, quan điểm cơ bản của hệ tư tưởng chính thống của chế độ xã

Trang 10

hội tới quần chúng, làm cho hệ tư tưởng này trở thành hệ tư tưởng toàn dân Việc truyền báchủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thế giới quan khoa học của chủ nghĩa xãhội cho quần chúng luôn được báo chí Cách mạng Việt Nam duy trì, đẩy mạnh Báo chícũng tuyên truyền, giải thích cho quần chúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước

về các lĩnh vực của đời sống xã hội

Mối quan hệ và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với cơ quan báo chí.Đây là mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan nhà nước với các cơ quan báo chí trongviệc thông tin, tuyên truyền, phổ biến các nhiệm vụ chính tri, kinh tế, xã hội, quốc phòng,

an ninh ở địa phương Và nhiệm vụ này luôn được đặt lên hàng đầu trong các nhiệm vụ.Các cơ quan nhà nước chủ động triển khai các nội dung chương trình, kế hoạch phát triểncủa ngành, lĩnh vực mình phụ trách, thông qua các kênh của báo, đài phổ biến rộng ra toàn

xã hội nhằm thống nhất nhận thức và hành động Trong quá trình này, báo chí thực hiệnthông tin hai chiều, phản ánh những vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội, về ý chí,nguyện vọng của nhân dân giúp cơ quan nhà nước nắm được tình hình để chỉ đạo chínhxác, kịp thời Đó là yêu cầu rất cần thiết và rất quan trọng

Đối với hoạt động báo chí, thông tin trở thành phần tri thức, tư tưởng (do nhà báosáng tạo, tái tạo từ hiện thực) được chuyển dịch từ nhà báo đến công chúng để cung cấpkiến thức, thay đổi nhận thức và cảm biến hành vi Nói cách khác, thông tin chính là điểmkhởi đầu, gốc rễ cơ bản nhất của quá trình truyền thông, quyết định hiệu quả - kết quả sovới mục đích ban đầu của người làm truyền thông

Sản phẩm đầu ra của các cơ quan báo chí mang đặc tù riêng biệt, nó có thể hữuhình (báo giấy, báo mạng ) hoặc vô hình (báo nói) nhưng kết lại vẫn ẩn chứa trong nộidung của nó là dạng thức vô hình: thông tin Thông tin là sản phẩm đầu ra của các cơ quanbáo chí, được thể hiện dưới các dạng khác nhau với những nội dung mang thông điệp khácnhau, thể hiện ý chí của chủ thể tạo ra nó

1.1.2.2 Về tổ chức hoạt động

Khác với các cơ quan hành chính thông thường, các cơ quan báo chí có cơ cấu tổchức đặc thù riêng biệt Với người đứng đầu là tổng biên tập, các phó tổng biên tập, thư kýtòa soạn và đội ngũ phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên đông đảo, đặc biệt là số lượngcông tác viên đồ sộ trên nhiều địa phương, với nhiều lĩnh vực, chuyên ngành khác nhau

Trang 11

Hoạt động của các cơ quan báo chí, của đội ngũ nhân lực trong các cơ quan báo chíhiện hành không có sự bó hẹp về phạm vi hoạt động cũng như lĩnh vực thông tin (ngoại trừmột số phạm vi có quy định cấm của cơ quan nhà nước và một số thông tin mang tính nhạycảm).

Hiện nay, tổ chức hoạt động của các cơ quan báo chí có sự khác biệt nhiều so vớicác cơ quan hành chính khác: đội ngũ nhân lực đông đảo, hệ thống cơ sở vật chất, trụ sở,nhà xưởng cồng kềnh thì các cơ quan báo chí hiện nay tinh giảm đi rất nhiều về cơ sở vậtchất, trang thiết bị kỹ thuật, đặc biệt là các loại hình cơ quan báo điện tử, báo mạng Đốivới các cơ quan này, với sự hỗ trợ của khoa học công nghệ, chỉ cần được trang bị hệ thốngmáy chủ tốt, có kết nối mạng cùng với các phương tiện hỗ trợ hiện đại: máy tính, máy ảnh, thì đã có thể hoạt động bình thường mà vẫn đạt được hiệu quả trong công việc

Một trong những đặc trưng nữa trong hoạt động của các cơ quan báo chí là ở phạm

vi, lĩnh vực hoạt động Phạm vi, lĩnh vực hoạt động rất rộng bởi tính chất đặc thù là thôngtin, tuyên truyền, phổ biến ; là cơ quan ngôn luận của quần chúng, được tác nghiệp ở mọinơi (trừ những nơi cấm vì lý do chính trị, an ninh quốc phòng ), được bảo hộ của phápluật

Lĩnh vực hoạt động của các cơ quan bao chí thì rất rộng lớn, bao quát mọi lĩnh vựccủa đời sống chính trị - văn hóa - xã hội - lối sống - đạo đức và thực hiện theo đúng quyđịnh của pháp luật, dưới sự quản lý của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, tuân thủđúng tôn chỉ, mục đích đăng ký hoạt động trong lĩnh vực mình

Đội ngũ nhân sự hoạt động tại các cơ quan báo chí hiện nay đa phần không cònđông như trước Tuy nhiên thì năng lực chuyên môn lại đòi hỏi rất cao Việc một cá nhânlàm việc tại cơ quan báo chí phải kiêm nhiệm nhiều việc chuyên môn: phóng viên, biêntập, kỹ thuật nay không còn là chuyện hiếm

Nhân lực hoạt động tại các cơ quan báo chí bên cạnh đòi hỏi về năng lực chuyênmôn thì cần có yêu cầu: yêu nghề Bởi nghề báo là công việc đòi hỏi cao về thể lực, sứcchịu đựng, sự dũng cảm, sự năng động, sự linh hoạt cũng như sáng tạo và tất cả nhữngyếu tố trên được thể hiện dựa trên sự đo lường về kết quả công việc, đó là những bài báo,những hình ảnh

Trang 12

Như đã nói ở trên, sản phẩm của báo chí là thông tin được thể hiện dưới các dạngthức cụ thể: báo, bản tin truyền hình, đài nói dù được thể hiện dưới dạng ấn phẩm nào thìquy trình tạo ra sản phẩm của các cơ quan báo chí đều mang nét đặc thù riêng, đó là:

Để có được sản phảm đầu ra, về cơ bản các nhà báo đều thực hiện qua ba bướckhông tách rời: thu thập thông tin, xử lý và truyền tải thông tin

Nhờ sự can thiệp, hỗ trợ từ khoa học công nghệ mà sản phẩm của các cơ quan báochí được thực hiện một cách nhanh chóng, dù ở bất kỳ nơi đâu hay bất kỳ thời điểm nàomiễn là có công cụ, phương tiện tác nghiệp và có kết nối mạng

1.1.3 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động tại các cơ quan báo chí

Trong bối cảnh ngày nay, các cơ quan báo chí, cơ quan ngôn luận đóng vai trò, vịtrí quan trong đối với mọi sự phát triển Các cơ quan báo chí với tư cách là cơ quan ngônluận, là người phát ngôn, là tiếng nói của cơ quan, tổ chức, phản ánh bộ mặt hoạt động của

cơ quan, tổ chức chủ quản nhưng đồng thời cũng là cơ quan thông tấn báo chí có vai trò, vịtrí quan trọng trong việc truyền tải, thông tin những chính sách, pháp luật của Đảng và Nhànước đến đời sống người dân, cung cấp những thông tin thiết yếu về khoa học, kỹ thuật,văn hóa, y tế, xã hội đến đời sống người dân Vì vậy, với ý nghĩa và vai trò trò quan trọngcủa mình, việc nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động của các cơ quan báo chí này ngày càngtrở nên cấp bách và cần thiết

Thứ nhất, nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động là nhiệm vụ sống còn đối với bất kỳ

cơ quan, tổ chức nào trong xã hội hiện nay chứ không chỉ riêng các cơ quan báo chí Đâykhông chỉ đơn thuần là nhiệm vụ bắt buộc mà đồng thời nó còn là tính tất yếu trong sự pháttriển của mỗi cơ quan, đơn vị

Thứ hai, các cơ quan báo chí, truyền thông, các hãng thông tấn muốn tồn tại và

phát triển tấn trong xã hội mà thông tin ngày càng trở nên đặc biệt quan trọng cần thiết hơnbao giờ hết thì đòi hỏi các cơ quan này phải chấp nhận cạnh tranh và thắng thế trong cạnhtranh, muốn như thế họ cần phải nâng cao được hiệu quả Đồng thời, các cơ quan báo chí,truyền thông này được coi cơ quan ngôn luận của các cơ quan, các tổ chức chính trị, kinh

tế trong xã hội; Do đó nâng cao hiệu quả hoạt động được coi là nhiệm vụ tất yếu

Trang 13

Thứ ba, việc nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động của cơ quan ngôn luận là một

vấn đề thường xuyên mang tính chiến lược và lâu dài, nhằm tuyên truyền, truyền bá cácthông điệp, thông tin nhanh chóng, đầy đủ, chính xác tới người đọc Việc xã hội thông tinphát triển như vũ bão hiện nay tạo cho độc giả có rất nhiều các lựa chọn trong việc tìmkiếm thông tin mà mình mong muốn, đồng thời bản thân các nhà sản xuất thông tin, truyềntải thông điệp cũng rất phong phú và đa dạng, từ chính thống đến phi chính thống, từ cơquan lớn đến cơ quan có mô hình nhỏ, từ nguồn thông tin do tổ chức cung cấp đến nguồnthong tin do cá nhân cung cấp Từ đây, thông tin mang tính cạnh tranh cao, yêu cầu tínhtrung thực, khách quan, chính xác của thông tin càng đòi các cơ quan ngôn luận cơ quanbáo chí phải nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan mình hơn bao giờ hết

Thứ tư, việc thành lập cơ quan báo chí cũng như thành lập doanh nghiệp sản xuất

kinh doanh Tuy nhiên, với đặc thù của mình, các cơ quan báo chí đôi khi hoạt động khôngchỉ là nhằm mục đích cao nhất về kinh tế mà còn mang mục đích về chính trị, tuyên truyềnthông tin để những mục tiêu này đạt được những kết quả mà người sáng lập, nhà quản lý

đề ra thì đòi hỏi các cơ quan nói chung hay những con người hoạt động trong cơ quan, bộmáy ấy phải luôn năng động, sáng tạo trong công việc để đạt được kết quả cao nhất, đó bảnchất cũng là nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan báo chí này

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tổ chức hoạt động của các cơ quan báo chí

Nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động luôn luôn được coi là một nội dung tối quantrọng trong hoạt động của bất kỳ cơ quan, tổ chức nào Đối với các cơ quan báo chí nóichung, báo chí thuộc Liên hiệp hội Việt Nam nói riêng, hiệu quả tổ chức hoạt động của các

cơ quan báo chí phụ thuộc vào các yếu tố liên quan đến môi trường bên ngoài cũng nhưcác yếu tố bên trong các cơ quan báo chí đó

1.14.1 Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến hiệu quả tổ chức hoạt động của cơ quan báo chí

*Các yếu tố thuộc về môi trường pháp lý

Môi trường pháp lý có ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ quan nói chung, luônmang tính định hướng và có khả năng chi phối toàn bộ hoạt động của các cơ quan, tổ chức.Đối với cơ quan báo chí, nó bao gồm luật, văn bản dưới luật, quy trình, quy phạm kỹ thuật,

Trang 14

nghiệp vụ sản xuất Tất cả các quy phạm, kỹ thuật sản xuất bài viết, tác nghiệp đều tácđộng trực tiếp đến hiệu quả và kết quả hoạt động mỗi cá nhân phóng viên, biên tập viêncũng như tòa soạn báo chí.Đó là các quy định của Nhà nước về những thủ tục, vấn đề cóliên quan đến điều kiện tác nghiệp, đến quy định, nội quy khi tác nghiệp, đến quyền hạn vànghĩa vụ, trách nhiệm của các phóng viên, biên tập viên, quy định về nội dung được đăngtải, về xử lý vi phạm, kỷ luật trong nghề báo hay về đạo đức nghề

Điều này đòi hỏi mỗi cơ quan báo chí khi tham gia vào môi trường truyền thông,truyền tải thông tin cần phải nghiên cứu, tìm hiểu và người sản xuất thông tin cần phảichấp hành đúng theo những quy định đó như phạm vi, thẩm quyền của cơ quan; quyềnhạn, trách nhiệm và nghĩa vụ của người làm báo; nội dung đăng tải, phản hồi của côngchúng, tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo của người dân

Việc tuân thủ các quy định của Đảng, Nhà nước; tuân thủ quy định của pháp luật vềbáo chí, truyền thông tạo hành lang pháp lý đúng đắn, đảm bảo cho các cơ quan báo chíhoạt động theo đúng quy định của Đảng và Nhà nước, đồng thời đây cũng là cơ sở để tránhnhững thiếu sót, sai phạm trong công tác báo chí Tuân thủ các quy định thuộc về môitrường pháp lý với báo chí và vừa là trách nhiệm của các nhà báo, các tòa soạn nhưngđồng thời đảm bảo tuân thủ đạo đức nghề đối với người làm báo

Môi trường pháp lý của nước ta hiện nay luôn có sự biến đổi theo hướng tích cực

và phù hợp với sự phát triển chung của đất nước nhưng đồng thời cũng đảm bảo yếu tố hộinhập và phát triển theo xu thế quốc tế Điều này đòi hỏi các cơ quan, tổ chức phải có cơcấu thích ứng mạnh mẽ và phải có những đối sách hợp lý, khoa học nhằm loại trừ nhữngảnh hưởng bất lợi, tiêu cực đến đơn vị, tổ chức của mình

*Các yếu tố thuộc về môi trường chính trị, văn hóa - xã hội:

Hình thức, thể chế đường lối chính trị của Đảng và Nhà nước quyết định các chínhsách, đường lối hoạt động chung, từ đó quyết định các lĩnh vực, loại hình hoạt động cungcấp, truyền tải thông tin của các cơ quan báo chí

Môi trường văn hoá- xã hội bao gồm các nhân tố điều kiện xã hội, phong tục tậpquán, nhận thức, cách thức tiếp cận thông tin, trình độ phát triển kinh tế Đây là nhữngyếu tố rất gần gũi và có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động tác nghiệp củaphóng viên báo chí cũng như việc tiếp cận thông tin, xử lý thông tin của người đọc Cơquan báo chí hoạt động hiệu quả khi sản phẩm thông tin đó phù hợp với nhu cầu, thị hiếu

Trang 15

bạn đọc, phù hợp với lối sống, văn hóa của đối tượng hướng đến Mà những yếu tố này docác nhân tố thuộc môi trường văn hoá- xã hội quy định.

Hệ thống báo chí, truyền thông đã và đang là tiếng nói của Đảng, Nhà nước vàđồng thời là diễn đàn của tri thức, của nhân dân Trong công cuộc phát triển đất nước nhưhiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, hệ thống báo chí luôn đồnghành với việc thực hiện chủ chương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; là công

cụ để thông qua đó cổ vũ, động viên và khích lệ các tầng lớp cán bộ, trí thức và người dân

nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt các nhiệm vụ về chính trị, kinh tế, xã hội, tư tưởng, vănhóa, an ninh - quốc phòng

Tùy thuộc vào tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ và đối tượng bạn đọc, mỗiloại hình báo chí lại có những phương thức truyền tải thông tin khác nhau, nhưng chung lại

là nêu bật nhất những cốt lõi, bản chất của những chủ chương, đường lối về chính trị, vềvăn hóa xã hội cũng như tri thức về khoa học và công nghệ Bên cạnh đó, mỗi loại hìnhbáo chí lại sáng tạo và vận dụng vào lĩnh vực mình nghiên cứu, truyền tải thông tin, trithức nhằm làm sáng tỏ quan điểm đối với công chúng trên nội dung mà mình đăng tải

Hệ thống báo chí đã phát huy tốt vai trò quan trọng của mình trong đời sống chínhtrị - kinh tế - xã hội Bảo đảm làm nhịp cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân Thôngqua kênh báo chí, đã chú trọng thực hiện tốt công tác định hướng thông tin, giúp quầnchúng Nhân dân nhận thức sâu sắc thêm, nắm bắt rõ hơn chủ trương, chính sách của Đảng

và Nhà nước, sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng và chính quyền; đặc biệt là góp phầnđưa những chủ trương, chính sách, sự lãnh đạo, chỉ đạo đó trở thành hiện thực trong cuộcsống

1.1.4.2 Các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến hiệu quả tổ chức hoạt động của các

cơ quan báo chí

Ngoài các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng tới hoạt động báo chí như đã nói ở trên,hiệu quả hoạt động của các cơ quan báo chí còn chịu sự tác động của các nhân tố bêntrong Đây là các yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả hoạt động của các cơ quan Cácnhân tố bên trong có ảnh hưởng đến hiệu qủa hoạt động của các cơ quan báo chí có thể kểđến các yếu tố thuộc về nội tại công sở: hệ thống cơ sở vật chất, nhân sự, cơ cấu tổ chứccủa cơ quan, văn hóa tổ chức

Trang 16

* Cơ cấu tổ chức tại cơ quan báo chí:

Tùy thuộc vào quy mô, vị trí, chức năng và nhiệm vụ chính trị của từng cơ quanbáo chí mà mỗi cơ quan lại lựa chọn cho mình một cơ cấu tổ chức khác nhau Mặc dù vậy,

cơ cấu tổ chức tại cơ quan báo chí nói chung báo gồm các bộ phận cơ bản như sau:

- Ban biên tập: bao gồm: tổng biên tập, các phó tổng biên tập, thư ký tòasoạn và các ủy viên

- Các phòng, ban chuyên môn

- Bộ phận hành chính - dịch vụ: văn phòng, trung tâm vi tính

- Bộ phận ngoài tòa soạn: nhà in, văn phòng đại diện, phân xã thường trú,phóng viên thường chú

Cơ cấu tổ chức của một cơ quan báo chí truyền thống (báo in, báo truyền hình, báonói) về cơ bản bao gồm các bộ phận cấu thành như trên Tuy nhiên, hiện nay với sự pháttriển mạnh mẽ của loại hình báo điện tử, trong cơ cấu tổ chức của mình, các bộ phận trênvẫn giữ được vị trí như vậy nhưng có sự tinh giảm nhiều về số lượng các chức danh trong

cơ quan báo chí cũng như một số bộ phận không phù hợp với loại hình hoạt động của tòasoạn mình Việc phân loại các bộ phận được hiểu cụ thể như sau:

Thứ nhất, ban biên tập

Được coi là đầu não của một cơ quan báo chí, là bộ phận lãnh đạo và quản lý tòasoạn, do cơ quan chủ quản và tòa soạn lập ra nhằm quyết định các vấn đề liên quan đếntoàn bộ hoạt động của tòa soạn đó Ban biên tập báo gồm các thành viên: tổng biên tập, cácphó tổng biên tập, thư ký tòa soạn và các ủy viên thể hiện tính tập chung dân chủ, tập thểlãnh đạo, cá nhân phụ trách, nhưng vẫn đảm bảo được các nguyên tắc hoạt động cơ bản củabáo chí

Thứ hai: Các phòng, ban chuyên môn

Các phòng, ban là mắt xích quan trọng của mỗi tòa soạn, hoạt động không thể táchrời nhau, và vì mục tiêu hoạt động chung của tòa soạn Vì vậy, việc củng cố, xây dựng cácphòng, ban chuyên môn luôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và ảnh hưởng đến hiệu quả

tổ chức hoạt động của tòa soạn

Trang 17

Số lượng các phòng, ban tùy thuộc và Ban biên tập và Tổng biên tập, tùy thuộc theonhiệm vụ chính trị cũng như tôn chỉ, mục đích và đối tượng phục vụ của tòa soạn hướngđến.

Ban thư ký: Có vai trò rất quan trọng ở tòa soạn, là nơi kết nối các tòa soạn, tờ báokhác cũng như truyền đạt các quyết định của Ban biên tập Ban thư ký có vai trò giúp lãnhđạo xây dựng kế hoạch, chọn lọc, xử lý, biên tập tin bài, ảnh của cộng tác viên để thànhmột bài báo hoàn chỉnh Đóng vai trò quan trọng nhất trong ban thư ký là thư ký tòa soạn,

là người cánh tay phải của tổng biên tập, tổng biên tập có thể thông qua thư ký để kiểmsoát tờ báo của mình Thư ký tòa soạn thường là người có chuyên môn sâu, dày dạn kinhnghiệm, nhạy cảm về chính trị, có khả năng thẩm định cũng như đánh giá tốt tin bài Họđược coi là bậc thầy trong việc sử dụng “kéo”, tức là cắt, gọt dũa tin bài

Thứ ba: Bộ phận hành chính, dịch vụ

Là bộ phận hành chính, giúp việc cho tòa soạn để hoạt động của tòa soạn có hiệuquả, bao gồm các tổ trị sự, phòng quảng cáo, văn thư Các cán bộ tại bộ phận này đượctuyển lựa tùy theo yêu cầu, tính chất của công việc Dù vậy, cán bộ ở đây có thể viết báohoặc không viết báo

Thứ tư: Bộ phận bên ngoài tòa soạn

Bộ phận này bao gồm các văn phòng thường trú, văn phòng đại diện được đặt cáccác địa điểm khác nhau ở bên trong và ngoài nước

Nhìn chung, cơ cấu tổ chức của một cơ quan báo chí có ảnh hưởng không nhỏ đếnhiệu quả tổ chức hoạt động của tờ báo Việc bố trí, phân công, sắp xếp nhân sự, công việchợp lý cũng như việc phân định rõ ràng nhiệm vụ, chức năng của các bộ phận cấu thành cơquan báo chí ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tổ chức hoạt động của cơ quan đó, tránh sựchồng chéo, giảm thiểu các khâu thừa, hạn chế sử dụng dư thừa nguồn lực cũng như pháthuy được hiệu quả tối đa các nguồn lực mang lại hiệu quả tổ chức hoạt động tích cựctrong tòa soạn

* Hệ thống quy trình thủ tục tại các cơ quan báo chí

Quy trình thủ tục tại các cơ quan báo chí hiện nay không đồng nhất, căn cứ tùy theo

cơ cấu tổ chức của cơ quan mình Tuy nhiên, về cơ bản, các cơ quan báo chí hiện nay tuân

Trang 18

thủ theo một số bước, quy trình như: xác định nguồn thông tin chú ý, cử phóng viên đi thuthập, khảo sát thông tin và viết bài; gửi bài viết cho người phụ trách bộ phận (trưởng bộphận hoặc phó tổng biên tập) duyệt; gửi báo cáo về thư ký tòa soạn, duyệt; gửi lại ban biêntập duyệt; đăng tải, phát hành.

Quy trình, thủ tục tại các cơ quan báo chí được thực hiện nghiêm ngặt tùy theo tínhchất của nguồn tin, tầm quan trọng của bài viết Đối với các bài viết mang tính lý luận,chính trị, khoa học thì đòi hỏi trưởng các bộ phận, thư ký cần xem xét tính pháp lý, hợp lệ,tuân thủ theo đúng tôn chỉ, mục đích của báo vì vai trò và tầm ảnh hưởng của bài viết cótác động lớn đến hiệu quả tổ chức hoạt động của báo Đối với các bài viết mang tính thời

sự, lại đòi hỏi thông tin nhanh chóng, bài viết cần nhanh chóng thu thập thông tin, độ chínhxác của thông tin thì đòi hỏi người phóng viên, trưởng bộ phận, thư ký, ban biên tập cần có

sự phối hơp j nhịp nhàng, nhanh chóng, ăn ý để đem lại hiệu quả cho thông tin truyền tải.Điều này mang tính sống còn đối với hoạt động của cơ quan báo chí, đặc biệt đối với báođiện tử hoạt động trong lĩnh vực thương mại, tin tức mà có lượng người theo dõi, cập nhậtliên tục (báo giờ)

Quy trình thủ tục tại mỗi cơ quan báo chí là khác nhau và có ảnh hưởng, tác độngrất lớn đến hiệu quả tổ chức hoạt động của mỗi cơ quan Đối với các cơ quan báo in, báonói hay báo truyền hình, tạp chí; đòi hỏi các quy trình, thủ tục này được tuân thủ một cáchnghiêm ngặt, chặt chẽ Bởi các sản phẩm đầu ra đòi hỏi tính chính xác từng chút của nguồntin, tính hợp pháp, hợp lý của nguồn tin; các thông tin khi đã được đăng tải, được xuất bản

ra thì rất khó thay đổi, cải chính lại được và cũng tốn kém rất nhiều nguồn nhân lực, tàichính Ngược lại, đối với loại hình báo chí như báo điện tử, tạp chí, trang tin điện tử; cácquy trình, thủ tục đôi khi nhanh gọn hơn, nhẹ nhàng hơn do tính chất của loại hình báo chínày: thông tin đăng tải cần nhanh chóng, thời sự, có thể cải chính, thay đổi dễ dàng, ít tốnkém nguồn lực Vì vậy, các quy trình, thủ tục đơn giản, gọn nhẹ hơn

* Năng lực nhân sự tại cơ quan báo chí

Năng lực nhân sự trong các cơ quan báo chí bao gồm năng lực của chính ngườilãnh đạo, quản lý cơ quan (tổng biên tập) cũng như năng lực của đội ngũ những trưởng bộ

Trang 19

phận, phóng viên, biên tập viên, cộng tác viên của tòa soạn Điều này ảnh hưởng trực tiếpđến hiệu quả tổ chức hoạt động của tòa soạn.

Tổng biên tập là người đứng đầu cơ quan báo chí, do cơ quan chủ quản bổ nhiệm,trực tiếp lãnh đạo và tổ chức tòa soạn, chăm lo củng cố mối quan hệ nội bộ cũng như tăngcường mối quan hệ với quần chúng nhân dân Đồng thời, tổng biên tập cũng là người chịutrách nhiệm về nội dung chính trị, hình thức của tờ báo, chịu trách nhiệm trước pháp luật,trước bạn đọc và trước nhân dân cũng như trước chính tòa soạn của mình

Tổng biên tập là người giữ vị trí quan trọng nhất của tờ báo, đòi hỏi phải có nhữngphẩm chất đặc biệt:

Là người có lập trường, tư tưởng chính trị vững vàng Là nhà tổ chức, quản lý và điều hành giỏi

Là Đảng viên, có mối quan hệ tốt với các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể, các tổ chức xã hội và với chính cơ quan chủ quản

Năng lực của tổng biên tập có vai trò, ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của tòasoạn Điều này có thể ảnh hưởng đến toàn bộ đội ngũ nhân sự tại cơ quan Tổng biên tập làngười quyết định chính về đường lối, hướng đi, cơ sở vật chất, kỹ thuật, nhân sự tại cơquan Nó có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng chính trị, hướng đi, tiếp cận độc giảcũng như sự phát triển của tòa soạn

Nguồn nhân lực khác trong cơ quan báo chí bao gồm: đội ngũ các phó tổng biêntập, các trưởng bộ phận, ban thư ký cũng như đội ngũ phóng viên, biêp tập viên, cộng tácviên tham gia vào các hoạt động chung của tòa soạn, nhằm phát huy hiệu quả công việc,đạt mục đích hoạt động chung của tờ báo Phát huy hiệu quả tổ chức hoạt động trong côngviệc, phân công, sắp xếp đúng, hợp lý, phù hợp và đúng theo năng lực, trình độ chuyênmôn của từng cá nhân trong một cơ quan báo chí được coi là một trong những yếu tố ảnhhưởng đến hiệu quả tổ chức hoạt động của loại hình này Việc sử dụng đúng, phù hợp vớitừng người theo từng vị trí thích hợp sẽ giảm thiểu được sự sai sót cá nhân trong quá trìnhlàm việc, hạn chế rủi ro công việc cũng như phát huy tối đa hiệu quả công việc mà các cánhân đó được giao phó

* Văn hóa tổ chức tại cơ quan báo chí

Trang 20

“Văn hóa tổ chức được hiểu là toàn bộ các giá trị văn hóa được xây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một tổ chức, trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào các hoạt động của tổ chức ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ, hành vi của mọi thành viên của tổ chức theo đuổi và thực hiện các mục đích ”[17,tr.45]

Văn hóa tổ chức là hệ thống những niềm tin, giá trị, những quy phạm được chia sẻbởi các thành viên trong tổ chức, và hướng dẫn hành vi của người lao động trong tổ chức

Văn hóa tổ chức là điều khó thấy, tiềm ẩn nhưng chúng ta đều thừa nhận sự tồn tại

và tầm quan trọng của nó Sự ảnh hưởng của văn hóa tổ chức tới các hoạt động của tổ chứcđược biểu hiện đa dạng ở nhiều góc độ với những mức độ khác nhau

Trong các cơ quan, tổ chức nói chung và các cơ quan báo chí nói riêng, vai trò củavăn hóa tổ chức được xác định rất quan trọng, ảnh hưởng đến nội dung, cũng như hiệu quả

tổ chức hoạt động của chính tổ chức ấy

Tại các cơ quan báo chí, văn hóa tổ chức đóng vai trò quan trọng, tác động, ảnhhưởng nhiều đến hiệu quả của tòa soạn

Trước hết, văn hóa tổ chức trong cơ quan báo chí có vai trò xác định ranh giới, tạo

sự khác biệt, đặc thù giữa tòa soạn này với tòa soạn khác Thứ hai, văn hóa tổ chức tại mỗitòa soạn nó có chức năng lan truyền giữa các chủ thể, tăng tính kiên định trong hành vi củacác phóng viên, biên tập viên và đồng thời làm tăng sự ổn định của cơ cấu tổ chức trongtòa soạn Thứ ba, văn hóa tổ chức đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các phóngviên, biên tập viên, kỹ thuật viên cam kết gắn bó vì lợi ích chung của tòa soạn Văn hóa tổchức như chất kết dính giúp gắn kết các bộ phận, thành viên trong tổ chức lại thông quaviệc đưa ra các tiêu chuẩn thích hợp để nhân viên biết phải làm gì, nói gì Đồng thời, vănhóa tổ chức có tác dụng trong việc kiểm soát để định hướng và hình thành nên thái độ,hành vi của nhân viên trong tòa soạn

Trong mỗi tòa soạn, văn hóa tổ chức còn có vai trò trong việc nâng cao sự cam kếtvới tổ chức và làm tăng tính kiên định trong hành vi của nhân sự Những điều này ảnhhưởng trực tiếp đến hiệu quả tổ chức hoạt động của tòa soạn

Trang 21

Một tòa soạn, một cơ quan báo chí chỉ có thể đạt được hiệu quả tối đa trong quátrình hoạt động khi mà có những nhân viên, phóng viên, biên tập viên có thái độ, tinh thầnlàm việc tích cực và sáng tạo Trong môi trường báo chí, truyền thông, văn hóa tổ chức vớinhững chính sách, biện pháp tác động cũng như thủ thuật của các nhà quản lý là cơ sở đểtạo động lực làm việc cho hệ thống phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên Tạo động lựclàm việc là trách nhiệm, là nghĩa vụ của các tổng biên tập nhưng đồng thời cũng là mụctiêu hướng tới của tổng biên tập đối với các nhân viên nhằm làm tăng hiệu quả tổ chức hoạtđộng của họ, là cơ sở để tăng hiệu quả tổ chức hoạt động của chính cơ quan báo chí.

* Hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật.

Báo chí ngày càng có vai trò to lớn thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng dân chủ,tiến bộ, văn minh Nhận thức sâu sắc điều đó, những năm qua, Đảng ta luôn xác định báochí không chỉ là cơ quan ngôn luận và một kênh thông tin quan trọng của Đảng và Nhànước, mà còn là diễn đàn tin cậy của các tầng lớp nhân dân Để báo chí tiếp tục phát triểntoàn diện và phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước trong thời

kỳ hội nhập quốc tế, Văn kiện Đại hội XI nêu rõ: “Phát triển các phương tiện thông tin đại chúng đồng bộ, hiện đại”(1); đồng thời: “Nâng cao chất lượng hệ thống thông tin, báo chí, internet, xuất bản”(2); và: “Rà soát, sắp xếp hợp lý mạng lưới báo chí, xuất bản trong cả nước theo hướng tăng cường hiệu quả tổ chức hoạt động, đồng thời đổi mới mô hình, cơ cấu tổ chức, cơ sở vật chất-kỹ thuật theo hướng hiện đại(3).

Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, khoa học công nghệ phát triển như vũ bão tạo

ra những cơ hội mới để báo chí phát triển mạnh mẽ cả về loại hình, quy mô, tốc độ và mức

độ ảnh hưởng, tác động, lan tỏa, thẩm thấu trong đời sống xã hội Muốn thực hiện tốt chứcnăng, vai trò định hướng dư luận xã hội, hình thành các luồng thông tin tích cực, nhân văn,tiến bộ, báo chí không thể không đi tiên phong trong việc hiện đại hóa cơ sở vật chất-kỹthuật Hay nói cách khác, báo chí Việt Nam muốn hoàn thành sứ mệnh cao cả của mình đốivới xã hội, phải đột phá vào lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật, ứng dụng công nghệ mới, đặc biệt làcông nghệ thông tin vào quá trình sáng tạo tác phẩm báo chí, phổ biến các tác phẩm báochí đến với công chúng

Trang 22

Trước sự cạnh tranh khốc liệt của “cuộc chiến thông tin” hiện nay, việc hiện đạihóa cơ sở vật chất-kỹ thuật, nâng cao năng lực công nghệ của các cơ quan báo chí là nhucầu cấp bách đối với việc bảo đảm an ninh thông tin, an ninh truyền thông của quốc gia.Mặt khác, sự xuất hiện và thâm nhập ngày càng sâu rộng của mạng internet vào mọi ngócngách của cuộc sống, công nghệ kỹ thuật số đang dần được thay thế bằng kỹ thuật phỏngtheo, phương pháp biên soạn truyền thống dần được thay thế bằng phương pháp biên soạntuyến tính Thêm nữa, công chúng trong xã hội hiện đại không còn là những người phụthuộc vào các cơ quan báo chí, truyền thông như trước, mà họ đang chủ động, tích cực tìmkiếm thông tin và cùng tham gia vào quy trình xây dựng, sản xuất thông tin Thực tế chothấy, nếu thông tin “đi sau, đi chậm” một bước do phương tiện kỹ thuật lạc hậu, cơ quanbáo chí rất có thể tự đưa mình ra “ngoài lề” của “thế giới phẳng” với tốc độ thông tin đượccập nhật từng giây, từng phút như hiện nay Do vậy, tăng cường cơ sở vật chất và cácphương tiện kỹ thuật hiện đại của các cơ quan báo chí có ý nghĩa sống còn đối với việcchiếm lĩnh, làm chủ và truyền bá thông tin một cách nhanh nhạy, kịp thời, chính xác, hiệuquả để phục vụ ngày càng tốt những nhu cầu đa dạng, phong phú của các đối tượng côngchúng trong thời đại toàn cầu hóa.

Trong các cơ quan báo chí, cơ sở vật chất, các phương tiện làm việc được coi là tốiquan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tổ chức hoạt động của một tờ báo Hệ thốngcác cơ sở vật chất trong bối cảnh cạnh tranh, yêu cầu từ khâu thu thập thông tin, xử lý vàtruyền tải thông tin cần sự nhanh nhẹn, chính xác, chân thực thì đòi hỏi hệ thống cơ sởvật chất này, hệ thống các công cụ thu thập, sản xuất cũng như truyền dẫn thông tin nàycàng ngày càng hiện đại, phong phú nhằm phù hợp hơn với xu thế của cơ quan báo chíchuyên nghiệp

Hệ thống cơ sở vật chất phục vụ tại các cơ quan báo chí rất phong phú và đa dạng,bao gồm: các phương tiện phục vụ đi lại, công cụ phục vụ quá trình tác nghiệp (máy ảnh,máy quay, máy ghi âm ) hay các phương tiện phục vụ sản xuất tin bài (máy tính, máy in,thiết bị mạng )

Hệ thống trang thiết bị, cơ sở vật chất ngày càng được khẳng định tầm quan trọngcủa nó trong sự phát triển của các cơ quan báo chí nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại công

Trang 23

nghệ thông tin cũng như phù hợp hơn với xu hướng hiện đại hóa, chuyên nghiệp hóa hiệnnay Do vậy, công tác đổi mới và hiện đại hóa các trang thiết bị và cơ sở vật chất nói chungtrong các cơ quan báo chí là những nhu cầu cần thiết đòi hỏi các nhà quản lý, tổng biên tậpquan tâm hơn sâu sắc hơn nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động của các cơ quan báochí này.

Hiện đại hóa cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật-công nghệ các cơ quan báo chí là xuhướng tất yếu trong quá trình hội nhập quốc tế

1.2 Các nội dung tổ chức hoạt động của cơ quan báo chí

Trong quá trình tổ chức hoạt động của các cơ quan, tổ chức nói chung và các cơquan báo chí nói riêng, các nội dung tổ chức hoạt động rất phong phú và đa dạng, tuynhiên, tại các cơ quan báo chí hiện nay, các khía cạnh tổ chức hoạt động thường xoayquanh các nội dung cơ bản như sau:

1.2.1 Thiết kế và phân tích công việc

Thiết kế công việc có vị trí và vai trò quan trọng trong sự hoạt động của các cơquan báo chí Việc thiết kế công việc hiệu quả cho phép xác lập trình độ, năng lực của từng

vị trí công việc tại cơ quan

Thiết kế công việc là sự phân chia các loại công việc lớn nhỏ trong cơ quan báo chímột cách hợp lý Quá trình này xác định nhiệm vụ cụ thể và trách nhiệm của từng nhà báotrong cơ quan trong việc thực hiện nhiệm vụ cũng như tham gia các hoạt động chung của

cơ quan

Thiết kế công việc là quá trình kết hợp các phần việc rời rạc lại với nhau để hợpthành một công việc trọn vẹn nhằm giao phó cho một cá nhân hay một nhóm nhân viênthực hiện Nói cách khác, thiết kế công việc là quá trình xác định các công việc cụ thể cầnhoàn thành và các phương pháp được sử dụng để hoàn thành công việc đó, cũng như mốiquan hệ của công việc đó với các công việc khác trong tổ chức

“Thiết kế công việc là quá trình xác định nhiệm vụ, các trách nhiệm cụ thể được thực hiện bởi từng cá nhân trong cơ quan cũng như các điều kiện cụ thể để thực hiện các nhiệm vụ, trách nhiệm đó.” [28,tr.46]

Trang 24

Việc thiết kế công việc tại các cơ quan nói chung và cơ quan báo chí nói riêng có ýnghĩa lớn trong việc tạo ra khả năng sáng tạo, đam mê trong công việc của các phóng viênkhi giải quyết công việc, đồng thời tạo ra khả năng phối hợp nhuần nhuyễn trong quá trìnhgiải quyết công việc.

Công tác thiết kế các hệ thống công việc trong các cơ quan báo chí có hiệu quả làmột quá trình tổng thể cần được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau Kết hợp các công việcvới các mục tiêu cụ thể của tòa soạn trên cơ sở tôn trọng pháp luật, thực hiện đúng theo tônchỉ, mục đích của tòa soạn mình sẽ tạo động lực lớn cho người làm báo, đạt được các tiêuchuẩn thực hiện công việc, phù hợp giữa các khả năng và kỹ năng của từng phóng viên,biên tập viên đòi hỏi của từng việc được phân công là những nhìn nhận cơ bản trong việcthiết kế công việc tại các cơ quan báo chí hiện nay

Phân tích công việc được xem là quá trình xem xét toàn diện và có hệ thống nộidung của từng công việc đề ra để xác định một cách thức giải quyết tối ưu nhằm mang lạihiệu quả cho các hoạt động của cơ quan Có thể khẳng định, phân tích công việc là quátrình phản ánh năng lực của nhà quản lý

Trong các cơ quan báo chí, phân tích công việc được xác định là việc làm sáng tỏtính chất, nội dung của công việc được đề ra trong mối tương quan với chức năng, nhiệm

vụ chung của tòa soạn; xem xét những điều kiện vật chất, môi trường mà trong đó côngviệc sẽ được giải quyết Những yếu tố này giúp cho các tổng biên tập, nhà quản lý báo chíthấy được công việc cần giải quyết theo cách thức, phương pháp nào, trên cơ sở nào đểthực hiện có hiệu quả tổ chức hoạt động của tòa soạn

Việc phân tích công việc tại cơ quan báo chí thường tập chung ở khía cạnh như: lựachọn, sắp xếp, bố trí nhân sự hợp lý; xác định mục tiêu và định hướng bài viết, chuyênmục; đánh giá ảnh hưởng của môi trường tới công tác làm báo; xác định nhu cầu đào tạo,bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí cho phóng viên, biên tập viên;

Để việc phân tích công việc đạt hiệu quả, trước hết cần nắm vững chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn và phạm vi được phép điều hành của tòa soạn cũng như yêu cầu cáctổng biên tập, nhà quản lý các cơ quan báo chí cần nắm được đầy đủ thông tin về công

Trang 25

việc, và những cán bộ phóng viên, biên tập viên được phân công thực hiện, cùng các quyđịnh của pháp luật liên quan đến công việc phân công đó.

1.2.2 Tổ chức và điều hành cuộc họp

Cuộc họp, phiên họp là một hình thức của hoạt động quản lý, điều hành tổ chức,một cách thức phổ biến nhất để giải quyết các công việc trong cơ quan; thông qua đó, lãnhđạo các cơ quan, tổ chức thực hiện sự lãnh đạo, điều hành của mình thực hiện các chứcnăng, vai trò theo quy định của Nhà nước và Pháp luật nhằm đạt mục tiêu nâng cao hiệuquả tổ chức hoạt động chung của tổ chức

Tổ chức và điều hành cuộc họp tại cơ quan, tổ chức là hoạt động quản lý mọi mặtcủa tổ chức đó, nó liên quan đến việc sử dụng các nguồn lực của tổ chức, bố trí, sắp xếp,kiểm tra hoạt động của các cá nhân, bộ phận, đảm bảo cho hoạt động của tổ chức diễn raliên tục, bình thường, đạt đến mục tiêu Để tổ chức và điều hành công việc tại cơ quan hiệuquả đòi hỏi tổ chức được thiết lập phải là một cơ cấu khoa học, hợp lý với phương thứcđiều hành linh động và môi trường văn hoá tổ chức lành mạnh

Trong các cơ quan báo chí, tổ chức và điều hành cuộc họp thường xoay quanh cácnội dung chủ yếu như: bàn về tăng cường, đổi mới hệ thống trang thiết bị, cơ sở vật chất;nhân sự; khen thưởng, kỷ luật; về định hướng nội dung chuyên mục, bài viết; về đào tạo,bồi dưỡng cán bộ

Tổ chức và điều hành cuộc họp là chức năng, nhiệm vụ của các nhà quản lý, cáctổng biên tập với chức năng là lãnh đạo các cơ quan báo chí Việc tổ chức và điều hànhcuộc họp tại cơ quan báo chí là việc cần phải thực hiện thường xuyên, vừa định kỳ nhưngvừa đột xuất, nếu thực hiện tốt hoạt động này sẽ mang lại hiệu quả cao trong công việc, tạođộng lực làm việc cho phóng viên, biên tập viên , từ đó tăng năng xuất cũng như hiệu quảcông việc, giảm thiểu được những rủi ro liên quan đến nghề: phạm quy, trái tôn chỉ, mụcđích hoạt động của cơ quan

Để tổ chức và điều hành cuộc họp trong các cơ quan báo chí mang lại hiệu quả caođòi hỏi từ nhà quản lý, các tổng biên tập cũng như các cán bộ trong cơ quan phải có sựchuẩn bị tốt nhất, từ: cơ sở vật chất, trang thiết bị đến hệ thống máy móc, thiết bị kỹ thuật,nội dung trình bày tại phiên họp Hiện nay, các cơ quan báo chí, cuộc họp không chỉ diễn

Trang 26

ra với sự có mặt trực tiếp của tất cả những cán bộ liên quan mà có thể thực hiện họp trựctuyến dựa trên sự hỗ trợ của các phương tiện truyền thông hiện đâị, cùng với đó các phầnmềm trực tuyến vì vậy, đòi hỏi các nhà quản lý báo chí luôn luôn quán triệt yếu tố côngnghệ mới được áp dụng trong cuộc hop nhằm vừa đầy đủ nội dung, vừa đảm bảo người cóliên quan cần có mặt nhưng vẫn giảm được nhiều chi phí phát sinh không cần thiết, tránhlãng phí nhân lực, vật lực cũng như tài chính Đây là nội dung quan trong nhằm nâng caohiệu quả tổ chức hoạt động của các cơ quan báo chí hiện nay.

Họp trực tuyến, họp trực tiếp hiện nay tại cơ quan báo chí để đạt hiệu quả tối ưunhất luôn là mục tiêu, định hướng chuyên nghiệp của tất cả các cơ quan báo chí hướngđến, nhằm đáp ứng, phù hợp với sự thay đổi của môi trường, phù hợp với định hướng báochí mà trong chỉ thị của Đảng và Nhà nước đặt ra với hoạt động của ngành báo chí

1.2.3 Xây dựng kế hoạch làm việc

Kế hoạch là một trong những hoạt động rất quan trọng của mỗi cơ quan, đơn vị.Việc lập một kế hoạch sẽ cho ta thấy được lộ trình nhằm đạt mục tiêu đề ra của tổ chức,đồng thời hạn chế được những khả năng xảy ra rủi ro trong công việc cũng như tính toán,xác định được định hướng để đạt mục tiêu chung của tổ chức một cách tối ưu nhất

Kế hoạch là một loại chương trình công tác, là phương án tổ chức công việc trongquá trình hoạt động của cơ quan ,công sở Kế hoạch là sự lựa chọn một trong nhữngphương án hành động tương lai cho toàn bộ hoặc một bộ phận trong tổ chức bao gồm sựlựa chọn các mục tiêu cho tổ chức hoặc từng bộ phận trong tổ chức và xác định cácphương thức để đạt được các mục tiêu

Kế hoạch có thể là các chương trình hành động hoặc bất kỳ danh sách, sơ đồ, bảngbiểu được sắp xếp theo lịch trình, có thời hạn, chia thành các giai đoạn, các bước thời gianthực hiện, có phân bổ nguồn lực, ấn định những mục tiêu cụ thể và xác định biện pháp, sựchuẩn bị, triển khai thực hiện nhằm đạt được một mục tiêu, chỉ tiêu đã được đề ra Thôngthường kế hoạch được hiểu như là một khoảng thời gian cho những dự định sẽ hành động

và thông qua đó ta hy vọng sẽ đạt được mục tiêu Nói đến kế hoạch là nói đến những ngườivạch ra mà không làm nhưng họ góp phần vào kết quả đạt được như bản kế hoạch đề ra

Kế hoạch có thể ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn tùy vào việc xác lập các mục tiêu,tuy nhiên việc lập ra kế hoạch càng chi tiết, khoa học, tỷ mỷ thì việc đạt mục tiêu của tổchức sẽ trở nên dễ dàng hơn

Trang 27

Kế hoạch làm việc tại các cơ quan báo chí là kiểu kế hoạch đặc thù, không giốngnhư các kế hoạch lập ra tại các cơ quan khác Kế hoạch lập tại các cơ quan báo chí yêu cầunhanh gọn, nhạy bén, linh hoạt nhằm phù hợp với sự thay đổi của thông tin, phù hợp vớinhu cầu cập nhật thông tin của độc giả.

Lập kế hoạch tại các cơ quan báo chí là quá trình xây dựng các mục tiêu và xácđịnh các nguồn lực, quyết định cách tốt nhất để thực hiện các mục tiêu đã đề ra của cơquan Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà hiện nay hầu hết tất cả các cơ quanbáo chí đang chú trọng thực hiện định kỳ Bởi lẽ, kế hoạch gắn liền với việc lựa chọn vàtiến hành các chương trình hoạt động trong tương lai của một cơ quan

Đồng thời, lập kế hoạch cũng là việc lựa chọn phương pháp tiếp cận hợp lý cácmục tiêu định trước Kế hoạch bao gồm việc lựa chọn một đường lối hành động mà tòasoạn và mọi bộ phận của nó sẽ tuân theo Kế hoạch có nghĩa là xác định trước phải làm gì,làm như thế nào, vào khi nào và ai sẽ làm Việc làm kế hoạch là bắc một nhịp cầu từ trạngthái hiện tại tới chỗ mà chúng ta muốn có trong tương lai Lập kế hoạch làm việc là mộttrong những khâu cụ thể hóa việc phân công, thiết kế công việc, nhân sự tại các cơ quanbáo chí hiện đại ngày nay

Lập kế hoạch là được coi là một trong những chức năng rất quan trọng đối với mỗinhà quản lý của cơ quan báo chí, bởi vì nó gắn liền với việc lựa chọn mục tiêu và chươngtrình hành động trong tương lai, giúp nhà quản lý tại cơ quan báo chí xác định được cácchức năng khác còn lại nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu truyền thông đề ra Các nhàquản lý các đơn vị báo chí, các tổng biên tập tại cơ quan báo chí cần phải lập kế hoạch bởi

vì lập kế hoạch cho biết phương hướng hoạt động trong tương lai , làm giảm sự tác độngcủa những thay đổi từ môi trường , tránh được sự lãng phí và dư thừa nguồn lực , và thiếtlập nên những tiêu chuẩn thuận tiện cho công tác kiểm tra

Công tác lập kế hoạch như vậy tại các tòa soạn báo được coi là đặc trưng cho quản

lý hiện đại Tính linh hoạt, nhạy bén trong các kế hoạch đặt ra được coi là đặc trưng củaviệc lập kế hoạch tại các cơ quan báo chí hiện đại ngày nay

Kế hoạch là một trong những công cụ có vai trò quan trọng trong việc phối hợp nỗlực của các thành viên trong một tòa soạn Lập kế hoạch cho biết mục tiêu , và cách thứcđạt được mục tiêu của cơ quan báo Khi tất cả phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viêntrong cùng một tòa biết được cơ quan mình sẽ định hướng truyền thông ra làm sao, họ sẽ

Trang 28

cần phải đóng góp gì để đạt được mục tiêu đó , thì chắc chắn họ sẽ cùng nhau phối hợp ,hợp tác và làm việc một cách có tổ chức.

Lập kế hoạch có tác dụng làm tăng sự ổn định của tòa soạn Sự bất ổn định và thayđổi của môi trường chính trị, xã hội làm cho công tác lập kế hoạch trở thành tất yếu và rấtcần thiết đối với mỗi tòa soạn, mỗi tổng biên tập Lập kế hoạch buộc những tổng biên tậpphải nhìn về phía trước , dự đoán được những thay đổi trong nội bộ cơ quan mình cũngnhư môi trường bên ngoài và cân nhắc các ảnh hưởng của chúng để đưa ra những giải phápứng phó thích hợp

Lập kế hoạch làm giảm được sự chồng chéo và những hoạt động làm lãng phínguồn lực của tòa soạn Khi lập kế hoạch thì những mục tiêu đã được xác định , nhữngphương thức tốt nhất để đạt mục tiêu đã được lựa chọn nên sẽ sử dụng nguồn lực một cách

có hiệu quả , hạn chế nhất chi phí bởi vì nó chủ động vào các hoạt động hiệu quả và phùhợp

Lập kế hoạch sẽ thiết lập được những tiêu chuẩn tạo điều kiện cho công tác kiểmtra đạt hiệu quả cao Một tòa soạn nếu không có kế hoạch thì giống như là một khúc gỗtrôi nổi trên dòng sông thời gian Một khi tòa soạn không xác định được là mình phải đạttới cái gì và đạt tới bằng cách nào , thì đương nhiên sẽ không thể xác định đựợc liệu mình

có thực hiện được mục tiêu hay chưa , và cũng không thể có được những biện pháp để điềuchỉnh kịp thời khi có những lệch lạc xảy ra Do vậy, có thể nói nếu không có kế hoạch thìcũng không có cả kiểm tra, kiểm soát

1.2.4 Kiểm tra và kiểm soát

Kiểm tra, kiểm soát công việc là một quá trình tất yếu tại mỗi cơ quan nói chung,

nó gắn liền với công tác hoạch định, tổ chức và chỉ đạo công việc Kiểm tra, kiểm soát làmột chức năng cơ bản và quan trọng trong toàn tiến trình hoạt động của mỗi cơ quan, đơn

vị Nó không phải là một pha bất kỳ nào trong quá trình ấy mà nó diễn ra, thường xuyên,liên tục trong toàn bộ quá trình hoạt động của cơ quan, đơn vị ấy

Kiểm tra, kiểm soát là một biện pháp của quá trình tổ chức, điều hành hoạt độngcủa cơ quan báo chí Hoạt động kiểm tra, kiểm soát tại các cơ quan báo chí bao gồm việckiểm tra, kiểm soát đối với nguồn thông tin xử lý; đối với việc sử dụng phượng tiện làmviệc, cũng như đối với việc sử dụng, bố trí nhân lực, tài chính

Trang 29

Nhờ có công tác kiểm tra, kiểm soát, các nhà quản lý cơ quan báo chí, các tổng biêntập sẽ nắm rõ hơn tình hình, thực trạng của đơn vị mình, xác định được những vấn đề trọngtâm cần giải quyết, từ đây đề ra các biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm đạt mục tiêu củađơn vị mình.

Thực hiện tốt công tác kiểm tra, kiểm soát tại cơ quan sẽ tạo ra chất lượng, hiệu quảhơn cho mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, thực hiện đúng kế hoạch đã định ra cũng nhưngăn chặn được các sai lầm trong việc xử lý, truyền tải thông tin đến bạn đọc, ngăn đượcnhững hậu quả đáng tiếc xảy ra đối với tòa soạn

Việc kiểm tra, kiểm soát tại cơ quan báo chí là cơ sở để các nhà quản lý, các tổngbiên tập thông qua đó nắm được nhịp độ, tiến độ cũng như hiệu quả trong việc thực hiệncác công việc được giao của các phóng viên, biên tập viên; từ đó, các tổng biên tập nắmđược chất lượng các công việc hoàn thiện, từ đây phát hiện ra những ưu điểm, hạn chếtrong toàn bộ hoạt động của đơn vị mình, là cơ sở để đưa ra các giải pháp nhằm đạt mụatiêu quản lý

Công tác kiểm tra, kiểm soát tại các toa soạn nhằm giảm thiểu việc sử dụng dư thừacác nguồn lực, tận dụng tối ưu các nguồn lực hiện có cũng như xác định các nguồn lực cần

có để đạt mục tiêu của tòa soạn Bên cạnh đó, việc kiểm tra, kiểm soát này giúp cho tòasoạn, các tổng biên tập có định hướng, có thay đổi tích cực nhằm đối phó với sự thay đổi,biến động của môi trường chính trị - xã hội, một khía cạnh đặc biệt được quan tâm, chú ýđối với các cơ quan thông tấn, truyền thông hiện đại

Kiểm tra, kiểm soát không chỉ dừng ở việc kiểm tra độ chính xác của nguồn tin, sứcnóng của thông tin, chiều sâu của thông tin hay không mà còn kiểm soát được tính pháp

lý, tuân thủ quy định pháp luật hiện hành, tuân thủ theo đúng như quy định trong tôn chỉ,mục đích mà cơ quan đã đăng ký với cơ quan chủ quản, điều này mang tính sống còn đốivới mỗi tòa soạn

1.3 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả tổ chức hoạt động tại các cơ quan báo chí

Theo hai học giả Johnes & Taylor, tiêu chí được xem như “những điểm kiểm soát

và là chuẩn để đánh giá chất lượng của đầu vào và quá trình r [40, tr.156] Theo quan

điểm này, thì tiêu chí được xác định trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, được coi như là

Trang 30

thước đo chuẩn để đánh giá một quá trình sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm cũng như chấtlượng của nguyên liệu đầu vào để tạo ra sản phẩm ấy.

Theo từ điển ngôn ngữ học, tiêu chí là “Tính chất, dấu hiệu đặc trưng để nhận biết, xem xét, hoặc phân loại một vật, sự vật”[35, tr.89] Theo quan điểm này, tiêu chí lại được

coi như một khái niệm trừu tượng, chỉ tính chất, đặc trưng của các sự vật, sự việc và lấy nó

để so sánh, đánh giá với một sự vật, sự việc khác

Tiêu chí đánh giá bao gồm hệ thống các hạng mục, tiêu chuẩn khác nhau, được xácđịnh dùng để kiểm định, đánh giá một đối tượng nào đó mà nhà quản lý muốn hướng tới.Việc xây dựng và thiết lập các tiêu chí đánh giá được coi là yếu tố quan trọng trong côngtác quản lý, là cơ sở để căn cứ vào đó các nhà quản lý đánh giá được kết quả và hiệu quảthực thi nhiệm vụ của các cá nhân, bộ phận trong tổ chức

Từ những quan điểm nêu trên, có thể thấy rằng, tiêu chí đánh giá là “những chỉ báo cụ thể, là công cụ, là thước đo để căn cứ vào đó đánh giá về một sự việc, một vấn đề

có đạt được mục tiêu đặt ra hay không".

Và cũng từ đây có thể kết luận, tiêu chí đánh giá hiệu quả tổ chức hoạt động “bao gồm những hạng mục,tiêu chuẩn, căn cứ cụ thể, như chỉ số, chỉ báo; như là công cụ, thang

đo để xác định, đánh giá về hoạt động chung của cơ quan có đạt được những mục tiêu đề

ra hay không.”

Hiệu quả tổ chức hoạt động của các cơ quan báo chí về cơ bản được đo lường dựatrên việc thực hiện các nội dung, nhiệm vụ của đơn vị Điều này được thể hiện thông quacác tiêu chí cụ thể như sau:

1.3.1 Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho từng vị trí việc làm

Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạncủa từng vị trí việc làm trong cơ quan là quátrình nghiên cứu nội dung công việc nhằm xác định rõ các nhiệm vụ, quyền hạn, tráchnhiệm của các cá nhân, tổ chức trong quá trình thực thi công việc cũng như xác định rõ cácđiều kiện thực hiện công việc và các phẩm chất, kỹ năng cần thiết phải có của cán bộ đểthực hiện tốt công việc Vì vậy, hoạt động này cần phải được quan tâm, thực hiện tốt Nếuthực hiện tốt, hoạt động này sẽ là nguồn động lực để tăng năng suất lao động, nâng caohiệu quả tổ chức hoạt động trong cơ quan, và ngược lại, nếu không thể thực hiện tốt hoạt

Trang 31

động này, sẽ gây ra những hậu quả tiêu cực trong mỗi cơ quan như: tạo sự không côngbằng, bình quân chủ nghĩa, gây mất đoàn kết nội bộ, gây xung đột, là những nguyên nhângây nên làm việc không hiệu quả trong cơ quan

1.3.2Tính khả thi của kế hoạch được xây dựng và áp dụng

Xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động là một trong những nội dung cơ bản vàquan trọng trong hoạt động của mỗi cơ quan, tổ chức Chương trình, kế hoạch giúp cho cơquan đạt được mục tiêu một cách tương đối chính xác Chương trình, kế hoạch góp phầnđảm bảo tính ổn định trong hoạt động của cơ quan, vì vậy, để chương trình, kế hoạch thực

sự phát huy vai trò, hiệu quả trong hoạt động của cơ quan, tổ chức thì việc xây dựng và ápdụng phải mang tính khả thi, khoa học

Tính khả thi được thể hiện ở việc chương trình, kế hoạch phải đảm bảo bám sátchức năng nhiệm vụ cũng như tình hình thực tế của đơn vị, đảm bảo tính trọng tâm, trọngđiểm: xác định đúng mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm đồng thời có tính đến ưu tiên cho cácnhiệm vụ chính trong từng thời điểm cụ thể, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trong quátrình triển khai triển khai các hoạt động của cơ quan Bên cạnh đó, kế hoạch, chương trìnhcũng cần phải phù hợp với khả năng, nguồn lực và thời gian thực hiện; tránh đưa ra kếhoạch quá sức, ngoài tầm khiến cho kế hoạch không thể thực hiện được

Vì vậy, khi xem xét, đánh giá tính khả thi của việc xây dựng và áp dụng cácchương trình, kế hoạch trong thực tiễn hoạt động của cơ quan là một tiêu chí quan trọng đểđánh giá hiệu quả tổ chức hoạt động của cơ quan, tổ chức

1.3.3Áp dụng có hiệu quả hệ thống quy trình, thủ tục làm việc trong thực tế hoạt động

Quy trình được hiểu đơn giản nhất là quá trình sản xuất nhằm đạt được mục tiêu đềra: tạo ra sản phẩm ưng ý nhất Nó bao gồm các khâu khác nhau được tổ chức theo trình

tự, chuyên môn nhất định nhằm đạt mục tiêu của tổ chức

Trong thực tế, quy trình nhằm thực hiện một quá trình nhất định nào đó như:Nghiên cứu xây dựng một Văn bản pháp quy; Xét, cấp giấy phép xây dựng; Xét, cấp đăng

ký ký kinh doanh; Xem xét, giải quyết một Đơn khiếu tố của Công dân; Tiến hành mộtcuộc kiểm tra hay thanh tra; Tuyển dụng cán bộ, công chức; Quản lý văn bản đi-đến; Lưutrữ hồ sơ

Trang 32

Tại cơ quan báo chí, việc xây dựng và thực hiện theo đúng quy trình làm việc cónhững nét đặc thù riêng biệt so với các cơ quan, tổ chức hành chính thông thường bởi yếu

tố thông tin là nòng cốt, nó bao trùm cả đầu vào và đầu ra, chỉ khác ở cách xử lý luồngthông tin đó theo cách nào để không vi phạm yếu tố “phạm quy” mà vẫn đảm bảo được cácyêu cầu khác của nhà quản lý Trên cơ sở đó, xây dựng quy trình và thực hiện công việctheo quy trình có ảnh hưởng đến các khía cạnh hoạt động của cơ quan như sau:

Nhờ có quy trình làm việc hiệu quả sẽ tăng cường được tốc độ làm việc một cáchnhanh chóng và hiệu quả nhất

Xây dựng quy trình làm việc hợp lý, khoa học sẽ đảm bảo được tính kế thừa, tínhliên tục trong công việc Đặc biệt, nhờ có quy trình này mà sẽ giải phóng bớt áp lực chongười quản lý, lãnh đạo

Với quy trình làm việc hiệu quả sẽ nâng cao khả năng chuyên môn hóa trong việcsản xuất, lao động nhưng đồng thời tạo ra sự hưng phấn nhất định trong công việc Đây làyếu tố quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động của cơ quan

Bên cạnh đó, xây dựng quy trình làm việc hiệu quả sẽ làm giảm đi nhưng bước,khâu thừa trong quá trình làm việc, từ đây sẽ tránh được sự lãng phí, tiết kiệm được nguồnlực cho tổ chức mình

Xây dựng quy trình làm việc hợp lý tăng cường khâu kiểm soát chất lượng sảnphẩm đầu ra, đồng thời có kế hoạch ngăn chặn yếu tố xấu, ảnh hưởng đến hiệu quả tổ chứchoạt động

Đặc biệt, xây dựng quy trình làm việc khoa học, hiệu quả, hợp lý sẽ tạo ra địnhhướng phát triển lâu dài cho cơ quan, từ đó hướng đến sự phát triển bền vững hơn

1.3.4 Khai thác và sử dụng hợp lý nguồn thông tin trong tổ chức hoạt động

Thông tin là tất cả các tin tức, sự việc, sự kiện, hiện tượng, ý tưởng, phán đoán, làmtăng thêm sự hiểu biết của con người Trong hoạt động quản lý, thông tin là những gì mànhà quản lý cần cho việc ra quyết định Bên cạnh các nhà quản lý có vô vàn dữ liệu, thôngtin Như vậy, thông tin là tập hợp tất cả các thông tin dữ liệu đã được xử lý, mã hóa, sắpxếp nhằm giúp cho các nhà quản lý đưa ra các quyết định đúng đắn và kịp thời

Trang 33

Khai thác và sử dụng hợp lýnguồn thông tin trong quản lý cơ quan là việc tác độngvào thông tin đang được quản lý: loại bỏ thông tin nhiễu, liên kết thông tin theo những mốiliên hệ bản chất, vốn có, nhằm rút ra những thông tin thật sự có giá trị, phục vụ cho việcgiải quyết nhiệm vụ chung của cơ quan Thông tin tự nó không có giá trị, giá trị của nó là

do việc sử dụng nó như thế nào Vì vậy, trong quản lý của các cơ quan cần có quy trình vànhững phương pháp hiệu quả trong xử lý thông tin như: tập hợp và phân loại thông tin; tómtắt thông tin; tổng hợp thông tin; phân tích thông tin; xác định độ tin cậy của thông tin; lựachọn thông tin Trên cở sở những thông tin được lựa chọn, các cán bộ cần có những ý kiếntham mưu giải quyết tin để đảm bảo việc sử dụng thông tin có hiệu quả Cuối cùng, cần lưu

ý đến việc lưu trữ thông tin theo quy định Đặc biệt, cần chú ý lưu trữ các thông tin phảimất nhiều công thu thập, tổng hợp hoặc các số liệu quan trọng vì nó sẽ giúp cho ngườicông chức, viên chức thu thập, xử lý thông tin có hiệu quả và nhanh chóng ở những lầnsau

1.3.5 Khả năng phối hợp thống nhất, đồng bộ giữa cá nhân, bộ phận trong quá trình thực thi nhiệm vụ

Sự phối hợp thống nhất, đồng bộ giữa các cá nhân, bộ phận trong quá trình thực thinhiệm vụ được phân công có ý nghĩa quan trọng trong việc đạt mục tiêu hoạt động của mỗi

cơ quan, tổ chức Bởi cơ quan, tổ chức là một tập thể mà mỗi cá nhân trong đó là một tếbào, để một tập thể đó có thể hoạt động tốt, yêu cầu không chỉ mỗi tế bào đó cần khỏemạnh, mà còn đòi hỏi giữa chúng phải có sự liên kết chặt chẽ, tác động qua lại và bổkhuyết với nhau, và trong đó, vai trò quan trọng của mỗi cá nhân, bộ phận là khác nhau,không có sự trùng lắp, thừa thiếu nào Vì vậy, sự phát triển của mỗi cá nhân cũng như sựphối hợp thống nhất, đồng bộ giữa các cá nhân, bộ phận trong quá trình thực thi nhiệm vụ

có vai trò quan trọng, tác động rất lớn đến việc nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động, đạtmục tiêu đề ra của cơ quan, tổ chức

1.3.6 Hoạt động kiểm tra, kiểm soát được thực hiện thường xuyên, liên tục Kiểm tra, kiểm soát là một nội dung thiết yếu của quản lý Nhà nước Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã nói rằng “Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh giấy giờ, muốn biết các nghị quyết có được thực hành hay không, muốn biết ai ra sức làm, ai làm cho

Trang 34

qua chuyện chỉ có một cách khéo léo đó là kiểm soát” Như vậy, kiểm tra, kiểm

soát là một nội dung rất quan trọng đối với hoạt động quản lý, điều hành

Kiểm tra, kiểm soát là một nội dung quan trọng của quá trình điều hành, tổ chứchoạt động của các cơ quan Trong quá trình hoạt động của mỗi cơ quan, tổ chức, chức năngnày được thực hiện thường xuyên Muốn thực hiện tốt nội dung này, các cơ quan đều phải

có cán bộ đủ năng lực, phải xây dựng được một cơ chế kiểm tra, kiểm soát thích hợp cho

cơ quan mình Đồng thời, đây cũng là một biện pháp quản lý cực kỳ quan trọng trong tổ

quả kiểm tra sẽ cho các nhà quản lý, lãnh đạo đánh giá về mặt hình thức, mức độhiệu quả, nguyên nhân thành công và sai lệch của công việc từ đây đưa ra các biện phápnhằm loại bỏ những sai lệch đó

Mặc dù quy mô và kỹ thuật kiểm tra, kiểm soát phụ thuộc vào từng hoạt động, từngcon người cụ thể song các hoạt động này đều có mối quan hệ hữu cơ, hỗ trợ lẫn nhau, làmtiền đề cho nhau nhằm đạt mục đích đề ra Trong quá trình quản lý và điều hành các công

sở, cơ quan, để đảm bảo hiệu quả tổ chức hoạt động, tất yếu mỗi cơ quan, đơn vị đều phảixem xét laị hoạt động của mình trong tất cả các khâu, rà soát lại các tiềm lực, kiểm tra lạicác dự báo, các mục tiêu và định mức; đối chiếu và truy tìm các thông số về sự kết hợp;soát xét lại các thông tin thực hiện để điều chỉnh kịp thời trên quan điểm đảm bảo hiệunăng của mọi nguồn lực và hiệu quả cuối cùng của các hoạt động

Trong hoạt động quản lý các cơ quan, công sở, các phương pháp kiểm tra, kiểmsoát được vận dụng linh hoạt, và phải gắn với quá trình điều hành công việc Không nên lơilỏng cũng như không nên quá cứng nhắc trong hoạt động này Lơi lỏng kiểm tra sẽ dẫn đến

sự vi phạm, nhưng nếu quá cứng nhắc, máy móc sẽ có thể làm giảm mọi khả năng sáng tạocủa cán bộ cấp dưới Kết quả của việc kiểm tra, kiểm soát là thúc đẩy được công việc, độngviên được cán bộ trong cơ quan làm việc tự giác vì mục tiêu chung, gắn bó với cơ quan,công sở hơn ộ, phóng viên hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ của mình

TIỂU KÉT CHƯƠNG 1

Trong bối cảnh sự phát triển của công nghệ thông tin, báo chí như vũ bão ngày nay,vai trò của thông tin trong mọi hoạt động, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội ngày càng trởnên quan trọng, việc phát huy vai trò của hệ thống báo chí cũng như nâng cao hiệu quả tổ

Trang 35

chức hoạt động của các cơ quan báo chí ngày càng trở nên quan trọng và cấp bách hơn baogiờ hết.

Trong quá trình nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động của mình, các cơ quan báo chítrực thuộc Liên hiệp Hội cũng chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau, đó là các yếu

tố bên ngoài (môi trường pháp lý, chính trị, văn hóa, xã hội) và các yếu tố bên trong (cơ sởvật chất, trang thiết bị làm việc; quy trình thủ tục làm việc, cơ cấu tổ chức, văn hóa tổchức, năng lực nhân sự.) Đồng thời, công tác tổ chức hoạt động của các cơ quan báo chítrực thuộc Liên hiệp Hội rất đa dạng như: thiết kế và phân tích công việc, tổ chức và điềuhành cuộc họp, xây dựng kế hoạch làm việc, kiểm tra, kiểm soát công việc Trong bối cảnhngày nay, việc nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động của các cơ quan báo chí này càng trởnên quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết, vì vậy, việc nghiên cứu, xây dựng hệ thốngtiêu chí làm công cụ, thước đo đánh giá hiệu quả hoạt động của các cơ quan báo chí là cầnthiết Các tiêu chí ấy bao gồm: Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho từng vịtrí việc làm trong cơ quan, tính khả thi của kế hoạch được xây dựng và áp dụng; áp dụng

có hiệu quả hệ thống quy trình, thủ tục làm việc trong thực tế hoạt động;hoạt động kiểmtra, kiểm soát được thực hiện thường xuyên, liên tục;khai thác và sử dụng hợp lý nguồnthông tin trong tổ chức và hoạt động;khả năng phối hợp thống nhất, đồng bộ giữa cá nhân,

bộ phận trong quá trình thực thi nhiệm vụ

Những vấn đề mang tính lý luận đã nêu ở trên chính là cơ sở, tiền đề cho việc phântích, đánh giá thực tế việc tổ chức hoạt động tại các cơ quan báo chí trực thuộc Liên hiệpHội Việt Nam trong chương 2

Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TẠI CÁC CƠ QUAN BÁO CHÍ TRỰC THUỘCLIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬTVIỆT NAM

2.1 Khái quát chung về Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam

2.1.1 Chức năng của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam

Trang 36

Thứ nhất: tập hợp, đoàn kết đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ ở trong nước, trí thức khoa học và công nghệ người Việt Nam ở nước ngoài; điều hoà, phối hợp hoạt động của các hội thành viên.

Liên hiệp hội Việt Nam là tổ chức chính trị xã hội với hơn 300 cơ quan là các tổchức khoa học công nghệ được thành lập theo quyết định số 81 của Liên hiệp hội các tổchức khoa học công nghệ này là nơi tập hợp các nhà khoa học hàng đầu của Việt Nam, cónhà khoa học có thâm niêm cao nhưng cũng có nhiều nhà khoa học thâm niên trẻ trongnghề, lĩnh vực Với chức năng là tập hợp đội ngũ những nhà khoa học này, LHHVN đã vàđang thực hiện tốt các nhiệm vụ của mình

Bên cạnh đó, LHHVN là tổ chức quy tụ hàng trăm các hội thành viên, trong đó phải

kể đến các hội khoa học lớn, có tên tuổi và uy tín như: tổng hội y học, tổng hội địa chất khoáng sản, tổng hội xây dựng Là cơ quan chủ quản, LHHVN thực hiện chức năng điềuphối, phối hợp hoạt động cho các hội thành viên này

-Thứ hai: làm đầu mối giữa các hội thành viên và các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức khác nhằm giải quyết những vấn đề chung trong hoạt động của Liệp hiệp Hội Việt Nam.

Bên cạnh chức năng phối hợp, điều phối hoạt động của các hội thành viên, với tưcách của cơ quan đại diện Nhà nước trong việc tập hợp, điều phối giữa các hội thành viên,LHHVN còn là đầu mối thông tin, liên lạc, kết nối, chia sẻ thông tin, đánh giá, trao đổi.giữa các nhà khoa học đầu ngành của các hội ngành với các cơ quan Đảng, Nhà nước, vàmặt trận tổ quốc về các vấn đề chung của cả nước, đặc biệt là các vấn đề chuyên môn màcần ý kiến của các chuyên gia trong ngành, thực hiện đúng các chức năng tư vấn, phảnbiện, giám định xã hội của Liên hiệp hội

Thứ ba: đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các hội viên, hội thành viên, của trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam.

Cùng với chức năng tập hợp, đoàn kết tri thức cũng như cầu nối, kết nối giữa cáchội thành viên và các tổ chức khoa học công nghệ với các cơ quan Nhà nước, Đảng và mặttrận, LHHVN còn thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cáchội viên, hội thành viên, của trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam Chức năng này quyđịnh LHHVN với tư cách là cơ quan chủ quản cần phải thay mặt, đại diện cao nhất về pháp

Trang 37

lý đứng ra giải quyết các vấn đề vi phạm pháp luật cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của các đơn vị trược thuộc mình quản lý.

2.1.2 Nhiệm vụ của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam

Củng cố, phát triển tổ chức và đẩy mạnh hoạt động của các hội thành viên Là cơquan chủ quản về pháp lý, với tư cách là đại diện Nhà nước nhằm tập hợp các tri thức khoahọc công nghệ của cả nước, với vai trò quan trọng của mình thì tập hợp, củng cố phát triển

tổ chức, đẩy mạnh hoạt động của các hội thành viên được coi là nhiệm vụ tất yếu tronghoạt động thường xuyên của mình

Tham gia thực hiện xã hội hoá hoạt động khoa học và công nghệ, giáo dục và đàotạo, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, phát triển cộng đồng, xóa đói giảm nghèo Trong hoạtđộng thường xuyên của mình, là nơi tập hợp đông đảo đội ngủ trí thức khoa học và côngnghệ của cả nước, LHHVN có nhiệm vụ quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏenhân dân, phát triển cộng đồng, hỗ trợ kỹ thuật giúp cộng đồng kém phát triển ngày càngđẩy mạnh phát triển hơn, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo dựatrên những ứng dụng thành tựu khoa học của các thành viên mình

Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho các cán bộ tham gia hoạt động hội;phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ trong nhân dân; tổ chức và hướng dẫn phongtrào quần chúng tiến quân vào khoa học và công nghệ

Tổ chức hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội nhằm góp phần xây dựng

cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chương trình, kế hoạch, chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, giáo dục và đàotạo, bảo vệ môi trường, xây dựng pháp luật, tăng cường củng cố an ninh - quốc phòng;tham gia giám sát độc lập đối với các đề án, công trình quan trọng

Tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; chuyển giao các tiến bộ khoahọc và công nghệ vào sản xuất, đời sống và bảo vệ môi trường Tham gia tổ chức các hoạtđộng giáo dục, đào tạo và dạy nghề, góp phần xây dựng xã hội học tập, nâng cao dân trí,đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Tham gia các hoạt động phát triển cộng đồng, xoáđói giảm nghèo, chăm sóc sức khoẻ nhân dân

Trang 38

Phát triển công tác vận động trí thức khoa học và công nghệ Tập hợp đội ngũnhững nhà khoa học hàng đầu trong cả nước tham gia vào các tổ chức khoa học công nghệcủa mình, các hội thành viên nhằm đóng góp thêm tri thức, tạo thành sức mạnh to lớntrong lĩnh vực khoa học công nghệ, để trở thành tổ chức khoa học công nghệ đông đảo,đoàn kết, uy tín, hàng đầu của cả nước; để trở thành cánh tay phải của Đảng, nhà nướctrong lĩnh vực khoa học, công nghệ.

Phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm công dân,tinh thần hợp tác, tính cộng đồng, tính trung thực và đạo đức nghề nghiệp Tuyên truyền,phổ biến rộng rãi đường lối, chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước.Vận động trí thức khoa học và công nghệ người Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào côngcuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tạo điều kiện nâng cao trình độ nghề nghiệp, góp phầncải thiện đời sống tinh thần, vật chất của những người làm công tác khoa học và côngnghệ

Thực hiện vai trò thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Phối hợp với các tổchức thành viên khác của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam triển khai các hoạt động chung nhằmphát huy sức mạnh tổng hợp và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc Phản ánh nguyệnvọng và ý kiến đóng góp của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với Đảng, Nhà nước

và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Tham gia đấu tranh bảo vệ hoà bình, chống chiến tranh, vìtình hữu nghị, sự hiểu biết và hợp tác giữa các dân tộc

Tăng cường hợp tác với các hội, các tổ chức phi chính phủ của cácnước, tham gia các tổ chức khoa học và công nghệ của khu vực và quốc tế

Là kênh thông tin hàng đầu của cả nước về khoa học công nghệ, nơi tập hợpđông đảo các nhà khoa học tại các hội thành viên, các tổ chức khoa học côngnghệ uy tín; LHHVN còn là kênh thông tin giao lưu, trao đổi các khía cạnhkhác nhau về khoa học công nghệ giữa các hội thành viên, các tổ chức khoahọc công nghệ trong và ngoài nước; là kênh kết nối giao lưu, chia sẻ kinhnghiệm giữa các tổ chức trong và ngoài nước; là thành viên của hàng hoạt các

tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ trên thế giới: Hội hội kỹ sư quốc tế,

quỹ Vifotec, Oxfam, UNDP

Trang 39

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Liên hiệp các Hội Khoa học

và Kỹ thuật Việt Nam Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của LHHVN

Trang 40

Hiện nay theo thống kê, LHHVN đang trực tiếp và gián tiếp quản lý 197 cơ quanbáo chí bao gồm các báo, tạp chí, bản tin, đặc san, trang tin, báo điện tử Ngoài một số cơquan báo chí thuộc Đoàn chủ tịch Liên hiệp hội Trung ương trực tiếp quản lý, một số cơquan báo chí thuộc cơ quan chủ quản là Đơn vị 81 thuộc LHHVN thì đa số các cơ quanbáo chí đều có cơ quan chủ quản là hội ngành địa phương, họa liên hiệp hội địa hương, làcác đơn vị tự nguyện gia nhập LHHVN Các cơ quan báo chí này không chịu quản lý trựctiếp từ LHHVN.

Nhìn ở góc độ cơ quan chủ quản, theo thống kê biểu đồ, tỷ lệ các cơ quan báo chíthuộc các Hội ngành toàn quốc chiếm phần lớn (74.3%), trong khi trực thuộc các tổ chứckhoa học - kỹ thuật chỉ có 15.4% còn dưới sự quản lý trực tiếp của LHHVN chỉ có 10.3%

Hệ thống báo chí LHHVN phản ánh tính đặc thù là quản lý “từ xa” nên phần lớn cơ quanbáo chí trực thuộc các tổ chức khoa học, các hội ngành

Biểu đồ 01 Tỉ lệ các cơ quan báo chí thuộc đầu mối chủ quản tại LHHVN

Đặc điểm chung nhất của các cơ quan báo chí thuộc hệ thống báo chí của LHHVNlà: Về luật, ở Việt nam không có cơ quan hội trực thuộc không được hưởng ngân sách từNhà nước, không có biên chế từ Nhà nước hay văn phòng hoạt động Các cơ quan báo chínày phải tự chủ, tự hạch toán, hoạt động theo mô hình

74.30%

15.40%

Ngày đăng: 07/10/2021, 01:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạ Hữu Ánh, (2002), Công tác hành chính - văn phòng trong cơ quan Nhà nước, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạ Hữu Ánh, (2002), Công tác hành chính - văn phòng trong cơ quan Nhànước
Tác giả: Tạ Hữu Ánh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 2002
2. Nguyễn Phương Anh (2015), Chất lượng hoạt động của Văn phòng cơ quan cấp Sở tại Ninh Bình, Luận văn Thạc sĩ Quản lý công Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Phương Anh (2015), Chất lượng hoạt động của Văn phòng cơ quancấp Sở tại Ninh Bình
Tác giả: Nguyễn Phương Anh
Năm: 2015
5. Bộ Chính Trị, Chỉ thị 45-CT/TW của Bộ Chính trị Trung ương Đảng ”Về đẩy mạnh hoạt động của Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Chính Trị, Chỉ thị 45-CT/TW của Bộ Chính trị Trung ương Đảng ”Về đẩy mạnhhoạt động của Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam
9. Chính Phủ (2000), Chỉ thị 14/2000/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ”Về việc triển khai thực hiện các biện pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kĩ thuật Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính Phủ (2000), Chỉ thị 14/2000/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ”Về việctriển khai thực hiện các biện pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa Liên hiệp các Hội Khoa học và Kĩ thuật Việt Nam
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2000
13. Học viện Hành chính Quốc gia (2002) Nghiệp vụ thư kỷ văn phòng và tổ chức, NXB Đại học Quốc gia Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ thư kỷ văn phòng và tổ chức
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà nội
14. Học viện Hành chính, (2008), Giáo trình Hành Chính Công, Nxb Khoa học - Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Hành Chính Công
Tác giả: Học viện Hành chính
Nhà XB: Nxb Khoa học - Kỹthuật
Năm: 2008
15. Học viện Hành chính, (2007), Giáo trình Kỹ thuật tổ chức và điều hành công sở, Nxb Khoa học - Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kỹ thuật tổ chức và điều hành công sở
Tác giả: Học viện Hành chính
Nhà XB: Nxb Khoa học - Kỹ thuật
Năm: 2007
16. Học viện Hành chính, (2002), Hành chính văn phòng trong cơ quan hành chính Nhà nước, Nxb Đại học Quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành chính văn phòng trong cơ quan hành chínhNhà nước
Tác giả: Học viện Hành chính
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2002
17. Học viện Hành chính (2011), Giáo trình Quản lý nguồn nhân lực, Nxb Khoa học - Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý nguồn nhân lực
Tác giả: Học viện Hành chính
Nhà XB: Nxb Khoa học -Kỹ thuật
Năm: 2011
23. Ngôn ngữ Việt Nam, Từ điển Tiếng Việt (2008), NXB Thanh Niên 24. Hoàng Phê, (1990), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt" (2008), NXB Thanh Niên24. Hoàng Phê, (1990), "Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Ngôn ngữ Việt Nam, Từ điển Tiếng Việt (2008), NXB Thanh Niên 24. Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Thanh Niên24. Hoàng Phê
Năm: 1990
28. Nguyễn Đức Quân (2006), Giáo trình quản trị nhân lực, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản trị nhân lực
Tác giả: Nguyễn Đức Quân
Nhà XB: NXB Đại học Kinh TếQuốc Dân
Năm: 2006
29. Nguyễn Văn Thâm (2006), Giáo trình Tổ chức và Điều hành Công sở, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tổ chức và Điều hành Công sở
Tác giả: Nguyễn Văn Thâm
Nhà XB: Nxb Chínhtrị Quốc gia
Năm: 2006
30. Nguyễn Văn Thâm, (2012), Tổ chức và điều hành công sở, NXB Khoa học kỹ thuật 31. Nguyễn Đăng Thành (2012), Đo lường và đánh giá hiệu quả quản lý hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và điều hành công sở," NXB Khoa học kỹ thuật31
Tác giả: Nguyễn Văn Thâm, (2012), Tổ chức và điều hành công sở, NXB Khoa học kỹ thuật 31. Nguyễn Đăng Thành
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật31. "Nguyễn Đăng Thành (2012)
Năm: 2012
34. Phan Hữu Trí (2012), Lý thuyết tổ chức, Nxb Chính trị Quốc Gia 35. Từ điển ngôn ngữ học,(2003) NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết tổ chức
Tác giả: Phan Hữu Trí
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia35. Từ điển ngôn ngữ học
Năm: 2012
36. Vương Hoàng Thuấn (2000), Kỹ năng nghiệp vụ Văn phòng, Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: năng nghiệp vụ Văn phòng
Tác giả: Vương Hoàng Thuấn
Nhà XB: Nxb Trẻ Thành phốHồ Chí Minh
Năm: 2000
38. Bùi Thế Vĩnh, Võ Kim Sơn, Lê Thị Văn Hạnh , Đinh Văn Tiến, (1998), Thiết kế tổ chức Hành chính Nhà nước, Nxb Thống kê Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế tổchức Hành chính Nhà nước
Tác giả: Bùi Thế Vĩnh, Võ Kim Sơn, Lê Thị Văn Hạnh , Đinh Văn Tiến
Nhà XB: Nxb Thống kê Hà Nội
Năm: 1998
39. Nguyễn Thu Vân (2006), Nghiên cứu xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý hành chính, Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 126 (7/2006)Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lýhành chính
Tác giả: Nguyễn Thu Vân
Năm: 2006
3. Ban Chấp hành TW (2007), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X họp tháng 7-2007 Khác
4. Ban Chấp hành TW, Kết luận của Ban Bí thư số 145-TB/TW về tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chỉ thị 45-CT/TW đối với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trong giai đoạn từ nay đến năm 2010 Khác
6. Bộ Chính Trị, Chỉ thị số 42-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Liên hiệp Hội Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Biểu đồ 02: Tỉ lệ hoại hình báo/ tạp chí/ bản tin kháo sát thuộc LHHVN - Luận văn, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan báo chí trực thuộc liên hiệp các hội KHKT việt nam
i ểu đồ 02: Tỉ lệ hoại hình báo/ tạp chí/ bản tin kháo sát thuộc LHHVN (Trang 41)
Bảng 2.1 Thống kê các cuộc họp tại cơ quanbáo chí năm 2015 - Luận văn, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan báo chí trực thuộc liên hiệp các hội KHKT việt nam
Bảng 2.1 Thống kê các cuộc họp tại cơ quanbáo chí năm 2015 (Trang 51)
Bảng 2.2 Thống kê các kế hoạchđược xâydựng tại cơ quanbáo chí năm 2015 - Luận văn, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan báo chí trực thuộc liên hiệp các hội KHKT việt nam
Bảng 2.2 Thống kê các kế hoạchđược xâydựng tại cơ quanbáo chí năm 2015 (Trang 55)
Bảng 2.3 Thống kê các phiên kiểm tra, kiểm soát tại cơ quanbáo chí năm 2015 - Luận văn, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan báo chí trực thuộc liên hiệp các hội KHKT việt nam
Bảng 2.3 Thống kê các phiên kiểm tra, kiểm soát tại cơ quanbáo chí năm 2015 (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w